dinsdag 4 oktober 2016

Tiềm lực quân sự Châu Á: So sánh Trung Quốc và Việt Nam

October 3, 2016
Trở thành không gian chiến lược mới từ cuối những năm 1980, Biển Đông tiêu biểu cho tình thế căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam. Là tâm điểm của việc hiện đại hóa quân lực, Trung Quốc và Việt Nam khai triển tiến trình thu nạp vũ khí mới dựa trên chủ thuyết hải quân đổi mới.

nhiệm vụ quốc phòng và tiếp theo là tự trị kỹ thuật về sản xuất hoặc bản quyền sản xuất. Tân tiến hóa có sẵn trong việc mua, không là đe dọa kinh tế hay ngoại giao.
Trình độ quốc phòng cần phải hợp lý và phải đáp ứng tỉ lệ tác dụng của khả năng hòa nhập trên phí tổn bảo trì. Trong những điều kiện ấy, mức độ sẵn sàng là yếu tố chính để Trung Quốc và Việt Nam đổi mới hệ thống vũ khí của mình.






Chủ thuyết hỏa tiễn của Việt Nam. (Hình: Benoit Noget)
Việt Nam không phạm sai lầm là xếp đặt việc mua vũ khí tùy thuộc vào viễn kiến của Tung Quốc. Điều ấy Có thể tạo ra cuộc chạy đua vũ trang hoàn toàn tiêu cực và cuối cùng không thích hợp cho quân đội của mình. Khi việc đổi mới khỏi đầu, Việt Nam dự tính theo mẫu mực cũ như khi mua sắm vũ khí thời thập niên 1970 và 1980. Nhưng phương pháp này lỗi thời, căn cứ theo sự tái lượng giá thường xuyên các trang bị cũ. Nó bảo đảm được phí tổn bảo trì thấp, nhưng không ứng phó hiệu quả với mối đe dọa từ Trung Quốc. Do đó Việt Nam quyết định tập trung nỗ lực vào những chương trình vũ khí có thể thu nạp nhiều hệ thống vũ khí quen thuộc và đảm nhận được nhiều nhiệm vụ đa năng.
Việc hiện đại hóa quân sự của Việt Nam chú trọng vào trang bị hải quân nhưng không bỏ quên đổi mới hệ thống vũ khí cho lực lượng lục quân. Không thể cùng lúc quản lý việc đổi mới và tái lượng giá toàn bộ trang bị, lực lượng lục quân Việt Nam dự tính hội nhập với những kết quả của hải quân, lục quân sẽ tăng tầm hoạt động mới và gia nhập vào mạng lưới liên lạc hỗn hợp.
Phần được quan tâm trong hệ thống vũ khí trên bộ là các giàn hỏa tiễn duyên phòng BAL-E và K-300P Bastion cùng với hệ thống hỏa tiễn phòng không K-300P. Hàng trang bị thứ nhì như chiến xa và trọng pháo, chủ lực của lục quân, chỉ nhận được những trang bị quang học và điều khiển tác xạ mới nhằm duy trì huệ lực về tầm hoạt động. Mối đe chính không còn giống như mấy chục năm trước.

Trang bị hải quân hiện nay, đối chiếu giữa Trung Quốc và Việt Nam. (Hình: Benoit Noget)
Theo học thuyết quân sự Việt Nam, hiện đại hóa quân đội dựa trên sự linh động chiến lược giữa lục quân, không quân và hải quân sẽ là nhiệm vụ đa năng và phối hợp để chống địch quân. Chiến lược này sử dụng hỏa tiễn để tiêu diệt và vô hiệu hóa tất cả những phương tiện quân sự của Trung Quốc trong vùng an ninh được xác định bằng tầm bắn của hỏa tiễn. Nhưng những yếu tố ấy và số lượng các giàn phóng làm tăng phí tổn về mức khả hữu. Thế phòng thủ của Việt Nam bằng hỏa tiễn chỉ có thể xử lý một phần đe dọa Trung Quốc và chỉ có hiệu lực với một số lượng không ngừng tăng thêm.
Hưởng thụ kỹ nghệ vũ khí có khả năng sản xuất cao, việc canh tân quân đội của Trung Quốc hoàn toàn khác. Dựa vào nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực cải tiến trang bị, Trung Quốc đã bắt đầu điều chỉnh phí tổn quản lý và nghiên cứu. Trong ngắn hạn, hiện đại hóa cũng được đưa vào việc nhập cảng và xuất cảng kỹ thuật sản xuất vũ khí. Hệ quả của nhãn quan đó sẽ là tự nhiên để Trung Quốc đặt mua và tự chế tạo một số khổng lồ các hệ thống vũ khí tập trung quanh nhóm hải/không lực mới của họ là hàng không mẫu hạm Liêu Ninh. Mục tiêu chính của Trung Quốc là đạt và phát triển khả năng quản lý kỹ thuật mới mà không bị rủi ro vì phát triển. Sự quy hoạch và sản xuất nhanh hơn trong 40 chương trình vũ khí mới từ 1994 đến 2015 dựa trên những phát triển của bộ binh Trung Quốc những năm 80.
Chủ thuyết phòng thủ mới của Trung Quốc đặt trên sự phát triển lực lượng và hỏa lực với giả định là kiểm soát và phòng vệ không gian và biên cương mới. Nếu chênh lệch hỏa lực rõ ràng nghiêng về Trung Quốc thì Việt Nam vẫn có tác động khuyến ngăn quan điểm hiếu chiến của Trung Quốc.
Trong tình thế tốt nhất, Việt Nam có thể hy vọng duy trì nguyên trạng để tránh khỏi một cuộc xung đột với Trung Quốc. Một cuộc thăm dò cho thấy mức độ triển khai lực lượng của Việt Nam còn rất hạn chế. Nhưng thái độ phòng thủ tốt nhất của Việt Nam là phối hợp những hệ thống phòng vệ mạnh nhất bao gồm cả lợi thế ngoại giao và kinh tế.

(1) Liu Huaqing (1916 – 2011), chỉ huy Hải Quân Trung Quốc từ 1982 đến 1987, được xem là “cha đẻ” của chủ thuyết hiện đại hóa Hải Quân Trung Quốc.
(2) “Học Thuyết Mâu Thuẫn” là danh từ chính thức của chủ thuyết phòng vệ của Việt Nam từ 2000 đến 2009. Thuật ngữ này mang hình ảnh tấm khiêng và cây giáo, thay cho từ mâu thuẫn.

http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/tiem-luc-quan-su-trung-quoc-viet-nam/

Mời độc giả xem video: Hàng chục ngàn người biểu tình đòi đuổi công ty Formosa

 

Geen opmerkingen:

Een reactie plaatsen