woensdag 30 september 2026

When Padre Pio flew in the sky to stop the bombs on the Italian small town San Giovanni Rotondo with Capuchin monastery.

 


During World War II, Allied forces repeatedly targeted the area around San Giovanni Rotondo, Italy, believing German munitions were stored nearby. Yet the small town and its Capuchin monastery remained unharmed. Padre Pio had reassured the people that no bomb would fall on their city—and according to multiple accounts, he kept that promise in extraordinary ways.
Pilots reported mysterious malfunctions that caused bombs to drop harmlessly in open fields or forced planes to turn aside. The most striking stories describe a “flying monk” appearing in the sky. One American pilot, about to release his bombs, suddenly saw the image of a monk gesturing firmly for him to turn back. Startled, he obeyed and jettisoned his payload elsewhere. After the war he traveled to San Giovanni Rotondo and recognized the figure as Padre Pio.
While such reports cannot be independently verified in every detail, the historical fact remains that San Giovanni Rotondo was spared. Believers see in these accounts a sign of Padre Pio’s deep union with God, who alone can accomplish what is humanly impossible. The story continues to inspire faith that, even in the darkest hours of war, divine protection can intervene in unexpected ways.
Saint Padre Pio, pray for us!

Vietnam Airlines: Chuyến bay thẳng đang giữ kỷ lục dài nhất cất cánh từ Việt Nam : SGN (TPHCM) - SFO (San Francisco) = 12.598 km & SGN - LHR (London) = 10.219 km.

 


Bạn có bao giờ thắc mắc chuyến bay thẳng nào đang giữ kỷ lục dài nhất cất cánh từ Việt Nam? 🛫
Để duy trì những hành trình "xuyên lục địa" kéo dài từ 12 đến hơn 14 tiếng đồng hồ liên tục trên không, các hãng hàng không phải sử dụng đến những cỗ máy khổng lồ và hiện đại nhất thế giới như Boeing 787-9 Dreamliner hay Airbus A350-900.
Do đặc thù vị trí địa lý, khoảng cách từ miền Nam đến các sân bay tại châu Âu và Bắc Mỹ xa hơn đáng kể so với miền Bắc. Vì vậy, toàn bộ Top 5 đường bay thẳng quốc tế (ultra-long-haul) dài nhất của nước ta hiện nay đều xuất phát từ Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.
Nổi bật nhất trong số đó phải kể đến hai hành trình:
🥇 Kỷ lục số 1: Chặng bay xuyên Thái Bình Dương SGN - SFO (San Francisco, Mỹ) với cự ly lên tới 12.598 km.
🥈 Á quân: Chặng bay SGN - LHR (London, Anh) dài 10.219 km. Hành trình vắt kiệt sức này thường xuyên được thực hiện bởi đội bay Boeing 787-9, trong đó có cả sự góp mặt của chiếc máy bay mang lớp sơn "Chim Lạc" tuyệt đẹp.
Mỗi chuyến bay siêu dài không chỉ là một bài toán phức tạp về kỹ thuật, tính toán nhiên liệu, giới hạn tải trọng mà còn là minh chứng cho sức mạnh của ngành hàng không dân dụng, giúp rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các cường quốc trên thế giới.

Giáo sư Stéphane Nguyễn Khắc Dương, cựu Khoa trưởng Văn khoa Viện đại học Đà Lạt trước 1975, từ trần ngày 28/9/2026 ở Hàm Tân (Lâm Đồng) thọ 102 tuổi [R.I.P.]

 










https://www.facebook.com/reel/1448088437210662








Vĩnh biệt hành giả Stéphane Nguyễn Khắc Dương
Mới bốn ngày trước, 24 tháng Chín, những người từng học, từng đọc, từng kính trọng một đời trí thức và đức tin còn gửi về Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương những lời mừng thọ tuổi 102. Một trăm lẻ hai năm, quãng đời hiếm có của một con người đã đi qua gần trọn những biến thiên lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 và những thập niên đầu thế kỉ 21. Những lời chúc ấy tưởng còn nguyên hơi ấm, thì tối thứ Hai, ngày 28 tháng Chín năm 2026, lúc 20 giờ 15 phút, Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương đã được Chúa gọi về nhà.
Bốn ngày nằm giữa sinh nhật cuối cùng và từ biệt cõi đời. Ngắn ngủi đến mức người ta chưa kịp thôi vui vì hôm qua Thầy vẫn còn đó thì hôm nay hàng ngàn người đã phải cúi đầu trước tin buồn. Những lời chúc thọ bỗng chốc thành lời cầu nguyện. Một đời người hơn một thế kỉ, đi qua chiến tranh, chia cắt, lưu lạc, tù đày, giảng đường, tu viện và bao biến thiên của thời cuộc đất nước, cuối cùng khép lại trong một buổi tối bình an. Với người Công giáo, đó là giờ trở về. Với những ai từng biết Thầy, đó còn là giây phút một nhân cách lớn của giới trí thức Việt Nam khuất bóng thế gian.
Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 tháng 9 năm 1925, tại làng Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học danh giá. Thân phụ là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, từng làm quan triều Nguyễn. Anh ruột của Thầy là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Trong một gia đình như thế, chữ nghĩa không phải chỉ để tiến thân. Học vấn đi liền với đạo lí, và người có học phải tự thấy mình mang một phần trách nhiệm trước xã hội và thời cuộc.
Từ chiếc nôi Nho học, Nguyễn Khắc Dương đi đến một lựa chọn tinh thần khác thường đối với một thanh niên Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ trước. Khi theo học tại trường Thiên Hựu (Collège de la Providence) ở Huế, Thầy có duyên lành được tiếp xúc sâu hơn với Kitô giáo. Đầu năm 1949, tại Nghĩa Yên, Thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội và chọn thánh Stéphane làm thánh bổn mạng.
Sự trở lại ấy không khiến Thầy quay lưng với truyền thống đã nuôi dưỡng mình từ thuở nhỏ. Trái lại, từ đó bắt đầu một thao thức theo Thầy gần suốt đời. Người Công giáo Việt Nam phải sống thế nào với đạo hiếu của tổ tiên. Việc thờ kính ông bà có thể gặp gỡ đức tin Kitô giáo ở đâu. Một trí thức Á Đông bước vào triết học phương Tây bằng con đường nào để không đánh mất nền tảng tinh thần đã tạo nên mình. Những câu hỏi ấy theo Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương suốt cuộc đời, trong việc học, việc dạy, đời sống đức tin và những suy tư về con người, văn hóa và Thiên Chúa.
Năm 1950, Nguyễn Khắc Dương bước vào đời sống tu trì với Dòng Franciscain. Sau nhiều biến động, Thầy sang Pháp, học và nghiên cứu triết học tại Đại học Sorbonne, Paris. Con đường học thuật đưa Thầy vào trung tâm của tư tưởng phương Tây, nhưng điều gây ấn tượng nơi Thầy lại là sự khiêm nhường gần như khắc khổ trước tri thức. Thầy không xem triết học như một kho chân lí đã được đóng thành hệ thống để người thầy đem truyền đạt cho học trò. Học, đối với Thầy, trước hết là biết đặt câu hỏi, biết xét lại chính mình và biết thận trọng trước những xác quyết tưởng như đã chắc chắn.
Cuối năm 1965, Nguyễn Khắc Dương trở về Việt Nam và giảng dạy tại Viện Đại học Đà Lạt. Thầy từng đảm nhiệm chức trưởng ban Triết học và quyền khoa trưởng Đại học Văn khoa. Với nhiều thế hệ sinh viên, dấu ấn Thầy để lại nằm ở cách Thầy dạy họ suy tư. Thầy không muốn học trò chỉ ghi nhớ những hệ thống triết học hay những khái niệm đã thành khuôn mẫu. Điều Thầy trao cho họ là thói quen tự hỏi, biết truy đến căn nguyên của một ý tưởng, và sau cùng tự mình chịu trách nhiệm trước những lựa chọn tinh thần của chính mình.
Cuộc đời Stéphane Nguyễn Khắc Dương đi qua gần trọn một thế kỉ nhiều biến động, trong đó có những thời đoạn Thầy phải sống xa môi trường học thuật từng gắn bó với mình. Nhưng dù hoàn cảnh đổi thay, mối liên hệ với sách vở, triết học và việc giảng dạy chưa bao giờ đứt đoạn. Thầy vẫn viết, vẫn trao đổi về triết học và thần học, vẫn dành tâm sức cho nhiều thế hệ chủng sinh, linh mục và trí thức Công giáo. Ở Thầy, người ta kính trọng không chỉ vốn học vấn uyên thâm mà còn ở cách Thầy sống với tri thức, thanh đạm, chuyên cần, không phô trương và luôn xem việc học là một bổn phận phải được tiếp tục bằng sự trao truyền cho người khác.
Có một điều đặc biệt nơi Nguyễn Khắc Dương. Thầy dành gần cả đời để suy nghĩ về con người nhưng lại hết sức dè dặt khi nói về chính mình. Thầy không thích dựng nên một chân dung đạo mạo cho bản thân, càng không muốn biến những khổ nạn đã trải qua thành vốn liếng để đòi hỏi sự tôn kính. Ngay trong hồi kí Thế Tâm của mình, người ta vẫn bắt gặp một Nguyễn Khắc Dương thường xuyên tự xét lại, nhắc đến những điều bất toàn, những sai lầm, những điều đã không làm được. Cách Thầy nhìn lại đời mình có phần nghiêm khắc của một nhà tu và sự tỉnh táo minh triết của một người suốt đời học triết.
Trong con người ấy, Nho giáo và Kitô giáo không đứng thành hai phần tách biệt. Đông phương và Tây phương cũng không phải hai cực để chọn lấy một và loại bỏ một. Suốt đời, Thầy tìm một nơi gặp gỡ mà ở đó đức tin vẫn giữ được đạo hiếu, triết học phương Tây vẫn có thể đi cùng nền tảng văn hóa Việt Nam, và con người bước vào thế giới hiện đại mà không đánh mất phần căn cốt đã nuôi dưỡng tâm hồn. Có lẽ cũng từ đó mà đến tận cuối đời, Nguyễn Khắc Dương vẫn luôn giữ tư thế của một người không ngừng học hỏi, suy tư, tự xét mình và thận trọng trước những điều tuyệt đối. Một đời theo đuổi chân lí, nhưng chưa bao giờ Thầy sống như thể chân lí đã nằm trọn trong tay.
Nhìn lại cuộc đời ấy, hậu bối thấy một hành trình dài hơn một thế kỉ, từ Hương Sơn đến Paris, từ Sorbonne đến Đà Lạt, từ tuổi trẻ trong một gia đình Nho học đến những năm cuối đời của một tín hữu dành phần lớn đời mình cho triết học, thần học và giáo dục. Những thế hệ sau rồi sẽ biết đến Nguyễn Khắc Dương chủ yếu qua sách vở và lời kể của những người từng học, từng gần gũi với Thầy. Những học trò từng ngồi dưới giảng đường ấy, trong đó có nhiều giám mục, linh mục và trí thức Công giáo, rồi cũng thưa dần theo năm tháng. Nhưng điều Thầy để lại vẫn còn trong cách họ suy nghĩ, trong thói quen tự chất vấn, trong ý thức phải tự chịu trách nhiệm trước những lựa chọn tinh thần. Có lẽ đó là phần di sản cao quý nhất của Thầy Nguyễn Khắc Dương.
Giờ đây, cuộc hành trình ấy đã khép lại. Xin cúi chào bái biệt vị hành giả Stéphane Nguyễn Khắc Dương bằng lời cầu nguyện của chính đức tin mà Thầy đã chọn và gìn giữ suốt đời. Xin Thiên Chúa đón nhận người tôi tớ đã hiến dâng trọn đời cho tri thức, con người và đức tin. Xin cho linh hồn Stéphane được yên nghỉ thảnh thơi trong tay Chúa sau một đời đi đến tận cùng những thao thức của trí tuệ và tâm linh. Vĩnh biệt Thầy. ✝️🙏
— tino cao

 

THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG – MỘT THẾ KỶ ĐI TÌM CHÂN LÝ


Có những người sinh ra đã được trao cho một đức tin. Cũng có những người phải đi qua rất nhiều ngả đường, rất nhiều hệ tư tưởng và cả những năm tháng kiếm tìm, mới nhận ra nơi mình muốn thuộc về.
Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương là một người như thế.
Thầy sinh ngày 24/9/1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học. Cha của thầy là cụ Nguyễn Khắc Niêm, một nhà Nho và quan lại triều Nguyễn nổi tiếng thanh liêm.
Lớn lên giữa một môi trường chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Nho giáo, thầy sớm quan tâm đến những câu hỏi lớn về con người, cuộc sống, đau khổ, sự chết và ý nghĩa của đời người.
Thầy từng tìm hiểu Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, rồi tiếp xúc ngày càng sâu hơn với Kitô giáo.
Đó không phải là một quyết định đến trong một sớm một chiều.
Con đường đến với đức tin của thầy là một hành trình suy tư, tìm kiếm và đấu tranh nội tâm khá dài. Cuối cùng, năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội và chọn thánh Stêphanô làm bổn mạng.
Từ đó, cuộc đời thầy bước sang một hướng khác.
Thầy gia nhập Dòng Phanxicô, bắt đầu đời sống tu trì và tiếp tục theo đuổi việc học. Sau này, thầy sang Pháp, học Triết tại Đại học Sorbonne, một trong những trung tâm học thuật danh tiếng của châu Âu.
Trong hành trình tìm kiếm ơn gọi, thầy còn từng tìm hiểu đời sống Cát Minh và Biển Đức.
Nhưng cuối cùng, thầy không trở thành linh mục.
Có lẽ chính điều đó lại làm cho cuộc đời thầy trở nên đặc biệt.
Thầy từng bước nhận ra rằng việc thuộc về Chúa không nhất thiết phải được đo bằng một chức vụ hay một danh xưng. Sau những năm tháng tìm kiếm, thầy sống như một Kitô hữu độc thân, một nhà giáo, một trí thức và một người dành phần lớn đời mình để suy tư về đức tin.
Năm 1965, thầy trở về Việt Nam.
Từ năm 1966 đến 1975, thầy giảng dạy tại Viện Đại học Đà Lạt, từng đảm nhận trách nhiệm Trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa trưởng Khoa Văn. Thầy cũng thỉnh giảng tại nhiều nơi khác.
Với nhiều thế hệ học trò, thầy không chỉ là một giáo sư triết học.
Điều người ta nhớ nơi thầy còn là sự nghiêm túc trong tư duy, lòng yêu sự thật và một cách sống không dễ thỏa hiệp với điều mình cho là sai.
Thầy đã đi qua rất nhiều hệ thống tư tưởng, nhưng cuối cùng không chọn ở lại trong những lý thuyết.
Thầy chọn Đức Kitô.
Và càng về cuối đời, điều ấy càng trở nên rõ ràng.
Sau một hành trình dài hơn một thế kỷ, người từng đọc nhiều, học nhiều, suy tư nhiều và tìm kiếm nhiều cuối cùng lại trở về với những điều rất đơn sơ: đức tin, cầu nguyện, lòng biết ơn và sự phó thác.
Những năm cuối đời, thầy sống gắn bó với Tu Đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ.
Ngày 24/9/2025, thầy mừng tròn 100 tuổi.
Một năm sau, ngày 24/9/2026, thầy bước sang tuổi 102.
Và chỉ ít ngày sau đó, hành trình dài của người thầy già khép lại.
Nhìn lại cuộc đời Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, có lẽ điều đáng nhớ nhất không phải là thầy đã học ở đâu, từng giữ chức vụ gì hay đã đọc bao nhiêu sách.
Điều đáng nhớ hơn cả là một con người đã dành gần trọn đời để đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi lớn nhất của kiếp người.
Và sau tất cả những kiếm tìm ấy, thầy chọn đặt niềm hy vọng của mình nơi Đức Kitô.
Một thế kỷ đi tìm chân lý.
Một đời người đi qua Nho học, triết học, đời tu, giảng đường và biết bao biến động của đất nước.
Cuối cùng, tất cả cũng trở về với một điều thật đơn sơ:
“Lạy Chúa, con thuộc về Ngài.”
Xin Chúa đón nhận Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương vào bình an của Ngài.
Một người thầy đã đi hết hành trình rất dài của mình.

 


Lâu đài Moritzburg, Đức
©ZGPhotography / Alamy Stock

Được xây dựng lần đầu vào năm 1542 như một nhà nghỉ săn bắn hoàng gia, Lâu đài Moritzburg sau đó đã được mở rộng thêm một nhà nguyện. Vào đầu thế kỷ 18, nơi đây gần như được chuyển đổi hoàn toàn sang phong cách Baroque tráng lệ, trở thành tòa lâu đài đồ sộ mà chúng ta thấy ngày nay. Nhà nguyện, hoàn thành năm 1671, ban đầu là nơi thờ tự của đạo Tin Lành. Chỉ vài thập kỷ sau, nơi đây đã được cung hiến theo nghi thức Công giáo khi Augustus Đại vương chuyển đạo để theo đuổi ngai vàng Ba Lan. Vào cuối thế kỷ 18, điền trang tiếp tục được làm đẹp với các công trình như Lâu đài Gà lôi nhỏ, một bến cảng thu nhỏ và ngọn hải đăng duy nhất của bang Saxony—trong khi ở bên trong, những điểm nhấn như Căn phòng Lông vũ nổi tiếng trưng bày các tác phẩm nghệ thuật làm từ hơn một triệu chiếc lông vũ đầy màu sắc.

Yvoire, Pháp
©clubfoto/iStock / Getty Images Plus

Tản bộ trên những con đường lát đá cuội của Yvoire (hoặc chỉ cần ngắm ảnh) là bạn sẽ hiểu vì sao nơi đây được vinh danh là một trong những ngôi làng đẹp nhất nước Pháp. Ngôi làng nằm trong một góc tuyệt đẹp thuộc phần dãy Alps của vùng Auvergne‑Rhône‑Alpes, ngay bên bờ hồ Geneva (còn gọi là Lac Léman). Yvoire giống như một “hộp thời gian” thời Trung Cổ, nơi những ngôi nhà đá đổ bóng xuống các ngõ nhỏ và tường thành cổ vẫn gợi nhớ quá khứ là một pháo đài phòng thủ kiên cố. Công trình trong ảnh là Lâu đài Yvoire, được xây dựng lần đầu vào năm 1306 như một pháo đài, và đến nay vẫn là trung tâm của ngôi làng ven hồ yên bình này.

Lâu đài Neuschwanstein, Đức
©Maurizio Rellini / SOPA / eStock Photo

Bạn đã bao giờ muốn rời xa nhịp sống ồn ào để tìm về một chốn thôn dã yên tĩnh chưa? Vua Ludwig Đệ Nhị của Bavaria chắc chắn đã từng cảm thấy như vậy, vì vào năm 1869, một lâu đài đủ xa Munich được khởi công để phục vụ vị vua sống khép mình này. Ludwig muốn sống như một hiệp sĩ thời trung cổ, vì vậy lâu đài Neuschwanstein được xây dựng theo phong cách Phục hưng La Mã. Công trình này được xây trong gần hai thế kỷ, với nhiều tháp Gothic và không gian nội thất mang cảm hứng Byzantine để tăng phần huyền ảo. Trớ trêu thay, nhà vua chỉ kịp sống trong "giấc mơ cổ tích" của mình trong thời gian ngắn. Chẳng bao lâu sau, chính quyền Bavaria phế truất ông và cưỡng chế đưa ông ra khỏi lâu đài nằm trên đỉnh đồi Alps.

Lâu đài Mow Cop, Anh
©robertharding / Adobe Stock

Trên vùng đồng hoang lộng gió có một công trình dường như là tàn tích của lâu đài thời trung cổ hùng vĩ một thời. Đừng để vẻ ngoài ấy đánh lừa bạn, vì nơi này không phải lâu đài, cũng không cũ đến mức đấy. Công trình này là được xây dựng chủ yếu để trang trí, thường được thiết kế để trông cổ kính hơn nhiều so với tuổi thật. Điểm khác biệt duy nhất của Lâu đài Mow Cop là dù không đến mức trung cổ, công trình này cũng được tính là "có tuổi". Được xây dựng vào năm 1754, lâu đài này đủ lâu đời để mang giá trị lịch sử theo cách riêng của mình. Ngày nay, Lâu đài Mow Cop đứng chót vót trên một sống núi, nhìn ra đồng bằng Cheshire rộng lớn. Một sáng tạo đầy ngẫu hứng đã trở thành một dấu mốc lịch sử độc đáo.

Château de Suscinio, Pháp
©Riccardo Spila / Sime / eStock

Nằm duyên dáng bên bờ Đại Tây Dương của vùng Brittany, lâu đài Château de Suscinio là minh chứng sống động cho nghệ thuật trùng tu bậc thầy. Câu chuyện của Suscinio bắt đầu từ năm 1213, khi công trình được khởi dựng như một nhà nghỉ khi đi săn dành cho các Công tước xứ Brittany. Thế nhưng theo thời gian, nơi vốn phục vụ thú vui nhàn tản này dần được gia cố phòng thủ. Đến cuối thế kỷ 15, Suscinio đã ghi dấu ấn lịch sử khi trở thành nơi lánh nạn của Henry Tudor cùng những người theo phe Lancaster trong Cuộc chiến Hoa Hồng của nước Anh. Sau nhiều thế kỷ bị bỏ quên và xuống cấp, Suscinio đã được phục dựng một cách tỉ mỉ. Điểm đặc biệt là công trình phục dựng cố gắng bám sát diện mạo trung cổ ban đầu. Đây thực sự là ngoại lệ đáng quý trong bối cảnh nhiều lâu đài khác thường pha trộn đá cổ với các bổ sung hiện đại.

Lâu đài Alnwick, Anh
©jimmonkphotography/ Shutterstock

Dù đã được mở rộng, tu sửa và trùng tu nhiều lần kể từ khi những viên đá đầu tiên được đặt vào khoảng năm 1096, lâu đài Alnwick vẫn mang dáng vẻ như thể thời gian bỏ quên. Bức ảnh này được chụp từ Cầu Lion bắc qua sông Aln, vị trí lý tưởng để chiêm ngưỡng những bức tường đá và các tòa tháp uy nghi, gợi lên hình ảnh một pháo đài trung cổ kiên cường. Trong thế kỷ 18, kiến trúc của Alnwick được hiện đại hóa đáng kể, cả ở trong lẫn ngoài. Nhưng đến thế kỷ 19, chủ nhân lâu đài quyết định "quay ngược thời gian", cho phục dựng các pháo đài và tháp theo phong cách Tân Gothic, khôi phục vẻ uy nghi cổ xưa của một thành trì phong kiến.

Lâu đài Tarasp, Thụy Sĩ
©KvdB50 / E+ / Getty Images

Để có thể tỏa sáng giữa khung cảnh hùng vĩ của dãy Alps Thụy Sĩ, một lâu đài phải thật đặc biệt. Lâu đài Tarasp nổi bật theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Bắt đầu từ thế kỷ 10, lâu đài trên đồi được mở rộng qua nhiều thế kỷ, ngày càng hùng vĩ và ấn tượng hơn. Tarasp bị bỏ hoang vào năm 1815 và rơi vào cảnh hoang tàn như nhiều tòa lâu đài khác. Nhưng rồi về sau, công trình kiến trúc này được các nhà bảo tồn khôi phục. Sau hơn một thế kỷ cải tạo, Lâu đài Tarasp hiện là một di sản có tầm quan trọng quốc gia của Thụy Sĩ.

Lâu đài Walzin, Bỉ
©M / Adobe Stock

Lâu đài Walzin trông như thể mọc thẳng ra từ mỏm đá nhọn. Nằm trên đỉnh mũi đất cao, công trình này nhìn ra Sông Lesse ở miền đông nước Bỉ từ thế kỷ 13. Dù phần lớn kiến trúc ban đầu đã bị người Pháp thiêu rụi vào năm 1554, một tòa tháp hình móng ngựa từ thế kỷ 15 và bốn cổng pháo vẫn sống sót sau trận hỏa hoạn. Sau nhiều công tác trùng tu phục hồi, Lâu đài Walzin giờ là tượng đài minh chứng cho kiến trúc tuyệt vời của Bỉ. Bên cạnh Walzin, vùng Wallonia này cũng có nhiều tòa lâu đài xinh đẹp khác, như Lâu đài Vêves gần đó được xây vào khoảng năm 1410.

Lâu đài Füzér, Hungary
©Pecold / Adobe Stock

Dù Füzér được lịch sử nhắc đến lần đầu từ năm 1264, đến bây giờ nơi đây vẫn giữ được vẹn nguyên nét huy hoàng. Là nơi tập trung quyền lực trong hơn 400 năm kể từ khi được xây dựng, Lâu đài Füzér đã bị bỏ hoang và cố tình thiêu rụi vào năm 1676 để tránh không bị rơi vào tay kẻ thù. Trong vòng ba thế kỷ sau đó, tòa lâu đài này chỉ là tàn tích ở độ cao hơn 548 mét trên đỉnh ngọn núi lửa ở miền đông Hungary. Đến năm 2014, một dự án trùng tu được triển khai để đưa một trong những tòa lâu đài đầu tiên của Hungary về lại vẻ đẹp huy hoàng trước đây.

Lâu đài Bobolice, Ba Lan
©bbsferrari / Adobe Stock

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh Lâu đài Bobolice ở miền nam Ba Lan, nhưng câu chuyện hay nhất chắc hẳn sẽ liên quan đến sự tái sinh của nơi này. Được xây dựng lần đầu tiên vào thế kỷ 14, tòa lâu đài qua tay nhiều đời chủ. Từ năm 1587, hàng loạt các cuộc tấn công nhắm vào đây đã khiến Bobolice gần như trở thành đống hoang tàn. Tòa lâu đài tiếp tục chìm vào đổ nát cho đến khi kế hoạch tái thiết quy mô lớn được triển khai vào năm 1999. Như đã thấy ở trong hình, dự án xây dựng lại thành công rực rỡ và Bobolice là 1 trong 25 tòa lâu đài dọc Đường mòn Tổ chim Đại bàng, một tuyến du lịch nổi tiếng ở khu vực lịch sử xinh đẹp Silesia.