Posts tonen met het label ngân hàng. Alle posts tonen
Posts tonen met het label ngân hàng. Alle posts tonen

maandag 16 december 2013

Việt Nam nhìn nhận có 'nhóm lợi ích' trong hệ thống tín dụng

VN nhìn nhận có 'nhóm lợi ích' trong hệ thống tín dụng

Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện có nhiều tổ chức tín dụng bị chi phối bởi 1 nhóm cổ đông giữ chức danh lãnh đạo trong tổ chức. Dư nợ cho nhóm cổ đông này vay chiếm đến 90% trong tổng dư nợ, vá điều này vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.

vn-money
Ngân hàng Việt Nam
canthotv photo

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ông Nguyễn Văn Bình, hôm nay thừa nhận có nhóm lợi ích trong hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều trần trước quốc hội, ông Bình cho biết qua công tác thanh tra 27 tổ chức tín dụng trên toàn quốc, Ngân hàng nhà nước đã phát hiện có nhiều tổ chức tín dụng bị chi phối bởi 1 nhóm cổ đông giữ chức danh lãnh đạo trong tổ chức.
Dư nợ cho nhóm cổ đông này vay chiếm đến 90% trong tổng dư nợ, vá điều này vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói trong hoàn cảnh bất động sản còn đang đóng băng, lợi ích nhóm đã làm tỷ lệ nợ xấu tăng lên.
Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cam kết trước quốc hội sẽ tiến hành thanh tra triệt để để có biện pháp xử lý.
Trường hợp chỉ vi phạm pháp luật về dân sự, kinh tế, Ngân hàng Nhà nước sẽ để các đối tượng có thể khắc phục những sai phạm của mình, nhằm khôi phục tình trạng tài chính lành mạnh, đảm bảo tiền của dân và nhà nước.

zondag 3 november 2013

Mỹ trừng phạt các ngân hàng gây khủng hoảng địa ốc subprime

Thứ bảy 02 Tháng Mười Một 2013

Mỹ trừng phạt các ngân hàng gây khủng hoảng subprime

Bank of America cùng với các ngân hàng khác như JP Morgan, Wells Fargo, Citigroup, Goldman Sachs, Morgan Stanley sẽ phải trả tiền phạt - © REUTERS /Brendan McDermid các
Bank of America cùng với các ngân hàng khác như JP Morgan, Wells Fargo, Citigroup, Goldman Sachs, Morgan Stanley sẽ phải trả tiền phạt - © REUTERS /Brendan McDermid các

Anh Vũ
Năm năm sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng tín dụng địa ốc Subprime, hàng loạt các các ngân hàng tại Hoa Kỳ đang phải trả những khoản tiền phạt khổng lồ. Nhưng tiếp sau các vụ kiện tụng dân sự sẽ còn có các vụ việc hình sự đang chờ nhiều tập đoàn ngân hàng, tác nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ khiến nước Mỹ cho đến bây giờ vẫn chưa hồi phục.


Tổng thống Barack Obama cam kết sẽ trừng phạt những cơ sở ngân hàng là thủ phạm gây ra vụ đổ bể tín dụng địa ốc năm 2007. Lời hứa này giờ đang được thực hiện, trước mắt là những vụ kiện dân sự với hệ quả là các khoản tiền phạt khổng lồ đang tới tấp đổ xuống nhiều ngân hàng có dính líu vào vụ Subprime.
Nhằm giải quyết dứt điểm những vụ việc trong quá khứ có liên quan đến vụ đổ bể tín dụng Subprime nổ ra từ năm 2007, các ngân hàng Mỹ đến lúc này đã phải chi ra 107 tỷ đô la. Chỉ riêng 6 ngân hàng lớn nhất Mỹ dính líu vào các vụ này gồm JP Morgan, Bank of America, Wells Fargo, Citigroup, Goldman Sachs và Morgan Stanley, từ năm 2010 đã phải chi trả 66 tỷ đô la. Khoản tiền này còn cao hơn cả lãi tức của họ trong năm 2012 mà vẫn chỉ là những phí tổn khởi điểm cho nhiều vụ kiện còn tiếp diễn.
Hầu hết các vụ kiện đều liên quan đến các hoạt động cung cấp tài chính của các ngân hàng trên trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2007, đó là thời điểm bùng phát cuộc khủng hoảng tín dụng địa ốc Subprime, nhất là từ khi các khoản vay thế chấp được các ngân hàng này sau đó đem bán lại cho các nhà đầu tư tư nhân hoặc các định chế Nhà nước chuyên phối cấp lại nguồn tín dụng bất động sản như Freddie Mac và Fannie Mae. Cả hai cơ quan này nếu không được Bộ Tài chính khẩn cấp bơm 188 tỷ đô la để cứu thì cũng đã vỡ nợ từ năm 2008.
Giờ đây, Washington đang quyết tìm cho ra thủ phạm gây ra tai họa tài chính, ngân sách cho nước Mỹ. Vào năm 2012, trong một thông điệp liên bang gửi đến toàn thể dân Mỹ, Tổng thống Barack Obama hứa sẽ trừng phạt những ngân hàng đã lôi nước Mỹ vào vòng xoáy khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ năm 1930. Sau đó đích thân Tổng chưởng lý Eric Holder được giao nhiệm vụ trên. Thành lập một nhóm chuyên viên, ông Holder đã tiến hành đàm phán với các ngân hàng trong khuôn khổ các thủ tục pháp lý. Ông cảnh báo : Bất kỳ ai vi phạm quy định của thị trường tài chính đừng nghĩ là có thể an toàn được.
Tiêu biểu nhất là vụ JP Morgan. Tập đoàn này có lẽ đã phải trả 13 tỷ đô la để thanh lý các vụ kiện dân sự do nhiều cơ quan liên bang đòi khởi tố vì cho rằng ngân hàng này đã lừa dối trên giá trị tài sản thế chấp được bán ra. Đó là chưa kể đến con số từ 6 đến 8 tỷ đô la mà ngân hàng này có thể còn phải thanh toán thêm cho các nhà đầu tư tư nhân. Hiện tại, cũng như nhiều ngân hàng khác, JP morgan vẫn đang phải tiếp tục các cuộc thương lượng với Bộ Tư pháp xử lý kiện tụng.
Bộ Tư pháp Mỹ có lẽ đang đưa vào tầm ngắm 8 ngân hàng Mỹ và Châu Âu. Đó là những cái tên như Bank of America, Citigroup, Crédit Suisse, Deutsche Bank, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Royal Bank of Scotland, UBS và Wells Fargo. Các cuộc thương lượng đang diễn ra hối hả cũng như sắp tới sẽ còn nhiều món tiền phạt được công bố.
Với các ngân hàng trên thì mối đe dọa tư pháp này khôgn thể được xem nhẹ vì họ hiểu rằng, ngoài những món tiền phạt lớn kia, từ nhiều tháng nay, các thủ tục pháp lý vẫn đang được tiến hành xung quanh những vụ việc nghiêm trọng.
Cụ thể là tuần qua ngân hàng Bank of America đã phải chịu hậu quả. Sau một tháng ra trước tòa án New York, một chi nhánh tập đoàn là ngân hàng Countrywide đã bị buộc tội thông tin sai lệch cho Fannie Mae và Freddie Mac. Đây chỉ là trường hợp đầu tiên bị đưa ra tòa phán xử, từ trước đến giờ các ngân hàng đều đạt dược thỏa thuận với chính quyền.
Chưa hết ông chưởng lý Liên bang của hạt Sacramento tại California, tiểu bang bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng địa ốc và vỡ nợ, đã được giao trách nhiệm điều tra JP Morgan. Những thủ tục kiện tụng như vậy có thể dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự cho chính các lãnh đạo của ngân hàng .
Cuộc khủng hoảng địa ốc Subprime tại Hoa Kỳ sau đó đã nhanh chóng lây lan tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khi những nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng cũng bắt đầu bán tháo tài sản đang nắm giữ. Vòng xoáy khủng hoảng tài chính đã nhấn chìm không chỉ các định chế tài chính lớn trên thế giới mà thậm chí cả các nền kinh tế.
Đã có tới trên 40 quốc gia lâm vào suy thoái hoặc đứng trên bờ vực suy thoái trong năm 2008. Nếu Ai Len thành quốc gia đầu tiên đối diện diện với thảm cảnh phá sản trong cơn bão tố khủng hoảng tín dụng toàn cầu vào tháng 10/2008 thì danh sách này, cho tới tận năm 2010, vẫn cứ tiếp tục kéo dài với Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… và cả khu vực sử dụng đồng euro cũng lao đao đến nay vẫn chưa tìm ra lối thoát thực sự.
tags: Hoa Kỳ - Khủng hoảng - Kinh tế - Mỹ - Ngân hàng - Quốc tế - Tài chính - Địa ốc
 
http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20131102-my-trung-phat-hang-loat-cac-ngan-hang-gay-do-be-tin-dung-bat-dong-san

vrijdag 11 oktober 2013

Nhận diện nhóm lợi ích và lợi ích nhóm ở Việt Nam

Nhận diện nhóm lợi ích và lợi ích nhóm ở Việt Nam

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2013-08-07
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

000_Hkg542947-305.jpg
Một nhân viên trạm xăng của Tổng công ty xăng dầu Petrolimex đang đổ xăng cho khách.
AFP photo


Sự hoạt động của các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội là sự cấu kết giữa những chủ đầu tư với các quan chức trong bộ máy Đảng và  Nhà nước. Đây là nguyên nhân làm cho kinh tế đất nước suy kiệt. Sự thực của vấn đề này đang diễn ra ở Việt Nam như thế nào, Anh Vũ phỏng vấn TS. Kinh tế Phạm Chí Dũng.
Các nhóm lợi ích
Anh Vũ: Thưa ông, lâu nay ta thấy cụm từ “nhóm lợi ích” được nhắc tới rất nhiều. Trên thực tế ,các nhóm lợi ích xuất hiện và phát triển rất mạnh. Nó có thể khuynh đảo cả kinh tế - xã hội và kể cả chính trị. Xin ông đánh giá khái quát về vấn đề này?
TS. Phạm Chí Dũng: Ở Việt Nam cho dù đã hình thành và gây hậu quả từ lâu, nhưng đến đầu năm 2011 cụm từ “nhóm lợi ích” mới bắt đầu được dư luận xã hội đề cập một cách chính thức. Khái niệm “nhóm lợi ích” thường được hiểu là mối quan hệ cấu kết giữa hai thành phần tư sản tư nhân và quan chức cấp cao của nhà nước, với mục đich nhằm trục lợi.
Nhóm lợi ích tạm chia thành ba loại: Nhóm lợi ích thứ nhất là nhóm đầu cơ liên quan đến tài chính như ngân hàng, vàng, bất động sản, chứng khoán; điển hình như nhóm ngân hàng G5, Công ty vàng SJC... Nhóm lợi ích thứ hai liên quan đến tính bao cấp là những nhóm độc quyền như xăng dầu, điện, nước mà điển hình là Tổng công ty xăng dầu (Petrolimex), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)  là những điển hình. Nhóm lợi ích thứ ba là các Tổng công ty nhà nước như Vinashin, Vinalines… Các nhóm lợi ích tuy không được bao cấp, phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh, nhưng lại được hưởng lợi khá lớn từ hệ thống chính sách ưu đãi của chính phủ.
Các nhóm lợi ích tuy không được bao cấp, phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh, nhưng lại được hưởng lợi khá lớn từ hệ thống chính sách ưu đãi của chính phủ.
- TS. Phạm Chí Dũng
Trong hai năm 2011 và 2012, làn sóng thâu tóm ngân hàng cho thấy một sự chiếm đoạt và giành giật lẫn nhau giữa các nhóm lợi ích. Trong bối cảnh nền kinh tế còn tương đối ổn định thì các nhóm lợi ích vẫn còn đất sống, nhưng khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì đã có những nhóm lợi ích như BĐS và chứng khoán đã gặp khốn đốn. Khi ấy, chỉ còn một số nhóm lợi ích như vàng, ngân hàng, xăng dầu, điện, nước vẫn có thể tồn tại.
Trong các nhóm lợi ích thì nhóm lợi ích thứ nhất được đánh giá là nhóm trục lợi ghê gớm nhất, có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong các chiến dịch đầu cơ vào thời điểm các năm 2006-2009. Giai đoạn này nhiều triệu phú đô la ở Việt Nam xuất hiện, có nhiều đại gia có tài sản từ vài trăm triệu đến hàng tỷ USD. Đáng chú ý là theo dư luận, trong nhóm đại gia này còn có sự liên quan đến không ít các quan chức.
Anh Vũ: Xin ông cho biết về sự nguy hại của nó đối với đất nước như thế nào?
TS. Phạm Chí Dũng: Rất nguy hại làm cho kinh tế suy thoái. Trong thời gian qua, các tập đoàn và nhóm lợi ích đã lũng đoạn và thao túng nền kinh tế và khiến cho các doanh nghiệp hết sức khốn đốn, lâm vào tình trạng phá sản và đời sống dân sinh trở nên kiệt quệ. Từ đó dẫn đến khoảng cách lớn về phân hóa thu nhập trong xã hội. Tuy nhiên, bất chấp làn sóng phản ứng gay gắt của dư luận, các nhóm lợi ích xăng dầu, điện vẫn không ngừng tăng giá, một phần để bù đắp cho những khoản lỗ ngoài ngành, phần khác để gia tăng lợi nhuận. Vừa rồi đã giá xăng tăng 3 lần và giá điện tăng 5%.
Điều đáng lưu ý là các nhóm lợi ích ở Việt Nam đang có dấu hiệu hoạt động theo kiểu mafia với hai yếu tố quyền lực và tiền bạc để lũng đoạn. Khác với ban đầu là các nhóm lợi ích chỉ dùng quyền để trục lợi thì bây giờ, người ta dùng cả quyền lẫn tiền không những nhằm khuynh loát chính trị mà còn lợi dụng vét kiệt hết tài nguyên của đất nước và tài sản của dân chúng.
Từ năm 2011, dưới sự bảo trợ của Ngân hàng nhà nước, nhóm lợi ích vàng xuất hiện, đã khuấy đảo và thao túng thị trường vàng trong tất cả các khâu. Tính chất độc quyền trong kinh doanh vàng đã tạo ra sự chênh lệch khá lớn giữa giá vàng trong nước với thế giới 5- 7 triệu đồng/lượng và gây thiệt hại cho người dân.
Mâu thuẫn phát sinh
Bat-dong-san-_-1-_-411-250.jpg
Một khu dân cư cao cấp đang xây dựng ở Hà Nội, ảnh minh họa. RFA photo

Anh Vũ: Hiện nay, giữa các phe nhóm lợi ích đang có vấn đề mâu thuẫn về quyền lợi và quyền lực. Xin ông cho biết về hậu quả của việc xung đột ở đỉnh điểm trong tương lai (nếu có) sẽ diễn ra theo chiều hướng nào?
TS. Phạm Chí Dũng: Vì khó khăn của nền kinh tế mà thị phần và tỷ suất lợi nhuận của các nhóm lợi ích đã bị giảm đi tương đối. Từ đó, các nhóm lợi ích phải quay sang cạnh tranh với nhau như trong vài năm vừa rồi. Sự tồn tại và chiếm lĩnh của các nhóm lợi ích sẽ phụ thuộc rất lớn vào biến động của nền kinh tế Việt Nam. Khi đó, kênh tạo ra lợi nhuận tối ưu lại phụ thuộc vào các chính sách độc quyền và tạo ra đặc quyền của nhà nước.
Muốn có được chính sách độc quyền và đặc quyền lại cần có những người tạo ra chính sách. Trong trường hợp này, nhóm thân hữu xuất hiện và các nhóm lợi ích đã bắt rễ với nhau và hình thành nên mối liên kết hữu cơ, hay còn gọi là mối quan hệ “ăn chịu”.
Nếu không có được một thay đổi đột biến về chính sách vào ngay lúc này, tất yếu sẽ kéo theo phản ứng bùng nổ mang tính cách mạng của nhân dân. Tương lai bùng nổ như thế sẽ không còn bao lâu nữa.
Anh Vũ: Ngoài nguyên nhân về trục lợi, sự tồn tại của nhóm lợi ích còn là hệ quả tâm lý của các quan chức, ông có đánh giá  như thế nào?
TS. Phạm Chí Dũng: Mục tiêu của mối quan hệ nhóm lợi ích – nhóm thân hữu ở Việt Nam không chỉ thuần túy là tạo ra lợi nhuận. Như bài học lịch sử ở các nước tư bản từ thời kỳ đầu đến nay, tiền bạc luôn có khuynh hướng biến thái thành quyền lực, thông qua phương tiện chính trị. Thì hoạt động chính trị ở Việt nam không chỉ nhằm gia tăng và bảo vệ tài sản cá nhân, mà còn để thỏa mãn tâm lý ham thích và thể hiện quyền lực đối với đối tượng bị cai trị.
Nếu không có được một thay đổi đột biến về chính sách vào ngay lúc này, tất yếu sẽ kéo theo phản ứng bùng nổ mang tính cách mạng của nhân dân. Tương lai bùng nổ như thế sẽ không còn bao lâu nữa.
- TS. Phạm Chí Dũng
Nền chính trị Việt Nam đã tạo ra cho quan chức thói quen thích thể hiện quyền lực và đặc biệt thích cai trị. Với cố tật của nó, nó có khả năng sẽ bị biến thái trong những năm tới, với một phần lớn nền chính trị sẽ rơi vào tay các nhóm tài phiệt và chính khách tham lam.
Anh Vũ: Vậy theo ông cần có những giải pháp nào để khắc phục tình trạng này?
TS. Phạm Chí Dũng: Chính quyền phải có biện pháp ngay, không thì sẽ quá muộn. Trong những năm qua, mặc dù không ít vụ việc lợi dụng chính sách trục lợi đã bị công luận và dư luận phanh phui và lên tiếng phản ứng mạnh mẽ. Tuy vậy vẫn không có bất kỳ một hành động cụ thể nào của các cơ quan đảng và nhà nước đối với bất kỳ một nhóm lợi ích nào.
Vì thế một yêu cầu cần phải tiến hành cuộc đại phẫu đối với khối doanh nghiệp nhà nước là hết sức bức thiết. Nhưng cần hơn tất cả, là phải có nhát cắt đại phẫu vào vị trí của những nhóm lợi ích. Nếu không, nguy cơ nền kinh tế Việt Nam bị thao túng và lũng đoạn hoàn toàn bởi nhóm lợi ích và nhóm thân hữu là rất dễ xảy ra. Khi đó, mức độ xấu nhất của tình trạng kinh tế xã hội không còn được quy chiếu từ năm 1991 như TS. Lê Đăng Doanh đã nói, mà sẽ ghê gớm hơn gấp bội.
Anh Vũ: Xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Chí Dũng.

maandag 29 juli 2013

Điểm danh “ông lớn” trả lương khủng nhất Việt Nam

Monday, July 29, 2013

Điểm danh “ông lớn” trả lương khủng nhất Việt Nam

QLB  - Các "ông lớn" nằm trong diện mạnh tay chi trả cho người lao động là những doanh nghiệp, tập đoàn thuộc lĩnh vực dầu khí, viễn thông, ngân hàng...

Về lĩnh vực ngân hàng, trong danh sách những doanh nghiệp trả lương trên 18 triệu/tháng, ngành ngân hàng đã có tới 3 đại diện là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Quân đội (MBBank).

Theo số liệu trong báo cáo tài chính hợp nhất 3 tháng đầu năm của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), số nhân viên hiện đang làm việc tại ngân hàng này là 19.671 người, giảm 169 nhân viên so với cuối năm 2012. Bình quân 3 tháng đầu năm, lương và phụ cấp nhân viên Vietinbank là 21,01 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức 21,13 triệu đồng/tháng của cuối năm 2012. 3 tháng đầu năm 2012, nhân viên ngân hàng vẫn nhận lương và phụ cấp bình quân 22,4 triệu đồng/tháng, theo số liệu từ báo cáo tài chính quý I/2012. 3 tháng đầu năm nay, dù kết quả kinh doanh thấp hơn so với cùng kỳ 2012, nhưng Vietinbank vẫn trả khá hậu hĩnh cho cán bộ nhân viên với mức bình quân lương và phụ cấp là 20,01 triệu đồng/tháng. Năm 2011, Vietinbank là nhà băng trả lương cao nhất cho người lao động, với mức bình quân 20,27 triệu đồng/tháng. Năm 2012, bình quân, nhân viên Vietinbank nhận lương 18,9 triệu đồng/tháng.

Nằm trong top 2 ngân hàng trả lương cao nhất ngành là Ngân hàng Vietcombank. Dù đã giảm gần 10% so với năm ngoái nhưng thu nhập bình quân của nhân viên ngân hàng này vẫn vượt 19 triệu đồng/tháng.

Tuy chỉ lọt vào top 3 ngân hàng cổ phần hóa có tài sản lớn nhất năm 2012 nhưng nhân viên MBBank lại có thu nhập dẫn đầu trong nhóm ngân hàng ngoài quốc doanh với mức 18 triệu đồng/tháng.

Trong lĩnh vực viễn thông, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) đã vượt lên cả Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) với lãi "khủng" 27.000 tỷ đồng năm 2012. Doanh thu cao, lợi nhuận lớn, Viettel cũng có mức chi trả tiền lương vào loại cao nhất so với các doanh nghiệp quân đội.

Ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng giám đốc Viettel cho biết, hiện tập đoàn này có 25.000 nhân sự và thu nhập bình quân đầu người của Viettel khoảng 18 triệu đồng/tháng, khá cao so với mức trung bình khoảng 10 triệu đồng/tháng tại FPT và VNPT. Thu nhập bình quân của một kỹ sư trưởng có 5 năm kinh nghiệm tại Viện Nghiên cứu và phát triển Viettel khoảng 32 triệu đồng/tháng. Ông Dũng cho biết, Viettel trả lương theo khối quản lý với mức lương cao nhất là Tổng giám đốc và khối chuyên gia. Các chuyên gia giỏi (cả người Việt và người nước ngoài) cũng có thể được trả lương như Tổng giám đốc, không cần có chức vụ và không cần phải làm công việc quản lý. Mặc dù ông Dũng từ chối tiết lộ mức lương cao nhất trong khối lãnh đạo hoặc chuyên gia của Viettel, song, một nguồn tin cho biết, tại Viettel có những chuyên gia được trả lương tới vài trăm triệu mỗi tháng. Ông Dũng cho biết sở dĩ Viettel có chính sách trả lương như trên bởi tập đoàn này đã xin Thủ tướng cho cơ chế thí điểm trả lương theo hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Có cùng mức lương khủng và cùng là doanh nghiệp quân đội như Viettel, Công ty Tân Cảng Sài Gòn (SNP) cũng trả lương trung bình cho nhân viên ở mức 18 triệu đồng/người. Riêng năm 2012, nhân viên của SNP nhận 17 tháng lương, tức là khoảng hơn 300 triệu đồng/người/năm. Đây là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong 2 lĩnh vực chủ yếu là khai thác cảng biển và logistics.

Trong lĩnh vực dầu khí, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng chi trả mức lương trên 15 triệu đồng/tháng cho nhân viên.

Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012, Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) chi thưởng cho ban lãnh đạo gồm HĐQT và ban kiểm soát khoảng 1,6 tỷ đồng. Thực tế, mức lương cứng mà ông chủ HAGL ký hợp đồng với công ty này để giữ vị trí Chủ tịch HĐQT là 240 triệu đồng/tháng, tương ứng 2,88 tỷ đồng mỗi năm. Ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức) từng chia sẻ, bản thân hài lòng với mức lương này, nhưng đây chỉ là thu nhập tượng trưng, không nhận không được.

Kể từ năm 2007, Công ty cổ phần Cơ điện lạnh REE trả mức lương khoảng 100 triệu đồng/tháng, tương ứng 1,2 tỷ đồng/năm cho Chủ tịch kiêm CEO Nguyễn Thị Mai Thanh. Ngoài ra, hàng năm, bà Mai Thanh và các thành viên ban điều hành của REE còn được nhận thưởng theo tỷ lệ vượt mức kế hoạch lợi nhuận. Số tiền mà ban điều hành của REE nhận trong năm 2012 đã gần 20 tỷ đồng, gấp 4 lần so với con số được nhận trong năm 2011.

Theo báo cáo tại cuộc họp đại hội cổ đông của Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) năm 2012, lương và trợ cấp của bà Cao Thị Ngọc Dung, Tổng giám đốc PNJ năm 2011 là 111 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, CEO này còn nhận tiền thưởng tương đương 2,5 tháng lương. Tổng thu nhập của bà Dung khi làm CEO là gần 1,6 tỷ đồng (lương và thưởng). Ngoài ra, với chức vụ chủ tịch HĐQT công ty năm 2011, bà Dung còn nhận thêm thù lao 10 triệu đồng một tháng. Như vậy, thu nhập của bà Dung khi đảm nhiệm cả 2 chức vụ chủ tịch và CEO PNJ là 121 triệu đồng một tháng, cộng thưởng 2,5 tháng lương sẽ tương đương hơn 1,7 tỷ đồng/năm.

Mới đây, trong đại hội cổ đông của Tổng công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), thù lao cho HĐQT năm 2012 là trên 3 tỷ đồng, ban kiểm soát là 1,8 tỷ đồng, giảm lần lượt khoảng 800 triệu và 600 triệu đồng so với năm 2011. Điều đáng nói, năm 2012, PVC lỗ hợp nhất 1.847 tỷ đồng, trong khi năm 2011 lãi trên 97 tỷ đồng nhưng lương thưởng của lãnh đạo vẫn thuộc hàng cao ngất ngưởng.

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cũng chi trả lương cao cho các lãnh đạo mặc dù trong năm 2012, tập đoàn này lỗ nặng. Theo Kiểm toán Nhà nước, năm 2012, Petrolimex đã kinh doanh thua lỗ 1.671 tỷ đồng. Trong khi đó, Phó Tổng giám đốc Petrolimex vẫn hưởng lương 40 triệu đồng/tháng, còn Chủ tịch HĐQT Petrolimex lương hơn 50 triệu đồng/tháng.

Cũng trong diện này, lương của lãnh đạo 2 tổng công ty lương thực là Vinafood 1 và Vinafood 2 cũng thuộc hàng cao.

Cụ thể, thu nhập bình quân của lãnh đạo Vinafood 1 là 56,5 triệu đồng/người/tháng. Ngay cả những người khối văn phòng cũng hưởng 28,4 triệu đồng/người/tháng.

Thu nhập của lãnh đạo Tổng công ty Vinafood 2 đạt kỷ lục 79,749 triệu đồng/người/tháng, khối văn phòng 32,9 triệu đồng/người/tháng.

Diên Lệ (Tổng hợp) - Kiến thức
 

donderdag 18 juli 2013

Dân ngân hàng Anh 'lương cao nhất EU'

Dân ngân hàng Anh 'lương cao nhất EU'


Cập nhật: 11:36 GMT - thứ ba, 16 tháng 7, 2013

Canary Wharf, London
2.346 người làm ngân hàng ở Anh có thu nhập hơn một triệu Euro
Số người Anh làm trong lĩnh vực ngân hàng có thu nhập cá nhân hơn một triệu Euro trong năm 2011 nhiều hơn toàn bộ số người làm cùng ngành ở khối liên minh châu Âu (EU), theo công bố của Cơ quan Ngân hàng châu Âu (EBA).
Số liệu của cơ quan theo dõi hoạt động ngân hàng của EU cho thấy, 2.346 người làm trong lĩnh vực ngân hàng ở Anh quốc có thu nhập hơn 1 triệu Euro, so với 739 người ở các nước còn lại trong khối EU.
Ở Đức, nền kinh tế lớn thứ hai châu Âu, cũng chỉ có 170 người.
Con số trên giải thích quyết định của Anh phản đối kế hoạch hạn chế mức tiền thưởng của EU.
Kế hoạch này được các nước thành viên ủng hộ vì cho rằng nó sẽ giúp ngăn các chủ nhà băng có những quyết định rủi ro có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
Theo kế hoạch, những người có chức vụ cao trong ngành ngân hàng không được thưởng quá 100% mức lương, hoặc 200% giá trị cổ phiếu nếu là cổ đông.
“Dữ liệu cho thấy những điều chúng ta đã lo ngại từ khá lâu,” theo ông Nicholas Stretch từ văn phòng luật CMS Cameron McKenna.
“Vì London có số người nhận lương cao rất lớn, nên luật sắp tới về mức trần tiền thưởng... sẽ có ảnh hưởng nhất định tới ngành công nghiệp dịch vụ tài chính và dẫn tới thay đổi sâu rộng về cách phân phối lương thưởng.”
Nhưng biên tập viên mảng kinh tế của BBC, ông Rober Peston chỉ ra rằng rất nhiều người làm trong ngành ngân hàng ở UK – có lẽ lên tới quá bán – thực ra lại không phải người Anh.
Ông Peston cũng cho rằng tiền lương của năm 2011 thấp hơn so với năm trước. Mức trả lương trung bình của năm này là 1.3 triệu bảng Anh so với 2.5 triệu bảng so với năm 2010.
“Còn một điểm nữa có thể khiến mọi người bất bình,” phóng viên của BBC nói. “EBA thu thập dữ liệu này bởi họ muốn cân nhắc giới hạn tiền thưởng của chính mình... nhưng những người làm trong ngành ngân hàng nói với tôi rằng mức trần chỉ thêm cổ vũ cho các ngân hàng tăng tiền lương cố định của nhân viên lên mà thôi.”
Điều thú vị là ở Tây Ban Nha, nơi ngành công nghiệp tài chính được khối EU cứu trợ năm 2012, có mức lương trung bình cao nhất so với bất kỳ các nước EU nào khác trong năm 2011.
Những người chức vụ cao có thể được trả tới 2.44 triệu euro một năm – nhưng con số đó chỉ áp dụng với 124 cá nhân.
Hy Lạp chỉ có hai người làm việc trong ngành ngân hàng kiếm hơn một triệu euro một năm, do quốc gia này còn đang thương lượng về gói cứu trợ.


Thêm về tin này

zaterdag 2 juni 2012

10 ngân hàng cho doanh nghiệp Nhà nước vay nhiều nhất

01/06/2012

Vietinbank đứng đầu trong danh sách này, với 106.845 tỷ đồng.




Theo đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Bộ Tài chính, tính đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp Nhà nước là 415.347 tỷ đồng tương đương 16,9% tổng dư nợ cả nước. Trong đó, 12 tập đoàn kinh tế nhà nước vay 218.738 tỷ, chiếm 8,76%.

4 tập đoàn nợ lớn nhất là PetroVietnam (72.300 tỷ), EVN (62.800 tỷ), Vinacomin (20.500 tỷ) và Vinashin (19.600 tỷ). PetroVietnam đã vượt qua EVN trở thành tập đoàn có dư nợ lớn nhất, cuối 2008, dư nợ tập đoàn này chỉ ở mức 21.477 tỷ.

Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp Nhà nước của 10 ngân hàng có tổng dư nợ năm 2011 lớn nhất

Theo các số liệu trong báo cáo tài chính 2011, Vietinbank là ngân hàng cho vay doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất với giá trị 106.845 tỷ đồng, chiếm 36,4% tổng dư nợ của ngân hàng này.

So với năm 2010, dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước của Vietinbank tăng thêm 18%, tương đương 16.197 tỷ đồng. Năm 2011, dư nợ của ngân hàng này tăng 25% đạt 293.937 tỷ đồng, chỉ đứng sau dư nợ của Agribank.

BIDV là ngân hàng có dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước lớn thứ 2 với giá trị 91.190 tỷ đồng, chiếm 31% tổng dư nợ 2011 của ngân hàng này. So với năm 2010, BIDV đã giảm dư nợ doanh nghiệp Nhà nước 1.900 tỷ đồng, tương đương 2,1%.

Vietcombank cũng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước hơn 55.776 tỷ đồng, chiếm 27% tổng dư nợ của cả ngân hàng. Năm 2011, khoản dư nợ này đã giảm 5.519 tỷ đồng trong khi tổng dư nợ của Vietcombank đã tăng 18% đạt 209.417 tỷ đồng.

Đáng chú ý là dư nợ doanh nghiệp Nhà nước của Agribank chỉ là 23.953 tỷ đồng, thấp hơn cả Vietinbank, BIDV và Vietcombank. Con số của Agribank được ước tính dựa trên tỷ lệ dư nợ doanh nghiệp Nhà nước công bố năm 2010. Năm 2010, tỷ lệ cho vay khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 5,4% trên tổng dư nợ 414.755 tỷ đồng, tương đương 22.396 tỷ đồng. Năm 2011, Agribank tăng trưởng tín dụng 7%, do đó ước tính dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng 7% và đạt 23.953 tỷ đồng.

Trong số các ngân hàng còn lại trong top 10 có dư nợ lớn nhất cho vay doanh nghiệp Nhà nước, MB cho vay đến 13.857 tỷ đồng, chiếm 23,5% tổng dư nợ. Eximbank cũng cho vay khoảng 9.000 tỷ đồng chiếm 12,1% dư nợ. Các ngân hàng còn lại là ACB cho vay 3.316 tỷ, Sacombank cho vay 3.677 tỷ, Techombank cho vay 2,939 tỷ, SCB cho vay 800 tỷ.

Hai ngân hàng chuẩn bị sáp nhập là SHB và HBB cũng có dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước khá lớn, đặc biệt là SHB. Theo đó, SHB cho doanh nghiệp Nhà nước vay 4.216 tỷ đồng, chiếm 14,5% tổng dư nợ còn HBB cho vay 1.767 tỷ đồng, chiếm 8% tổng dư nợ. Sau khi sáp nhập, dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước của SHB sẽ đạt khoảng 10%.

(Theo TTVN)

donderdag 19 januari 2012

Ngành tài chính, bảo hiểm trả lương cao nhất

19/1/2012

Năm 2011, mức lương trung bình của người lao động trong ngành tài chính, bảo hiểm là 5,61 triệu đồng mỗi tháng. Kế đến là ngành thông tin và truyền thông với 5,43 triệu đồng.
> Lương cao nhất 50 triệu đồng mỗi tháng
> Lương Vinashin 3,5 triệu đồng một tháng
> Sông Đà Đất Vàng nợ nhân viên 10 tháng lương


Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công bố chiều 19/1, tiền lương trung bình theo tháng của người lao động trong năm 2011 là 3,84 triệu đồng, tăng 19,6% so với năm 2010. Con số trên thấp hơn mức thu nhập bình quân là gần 700.000 đồng.

Ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm có lương cao nhất trong năm 2011. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.

Trong đó, ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm trả lương cao nhất với trung bình là 5,61 triệu đồng, tiếp đến là ngành thông tin và truyền thông với 5,43 triệu đồng, ngành thương nghiệp bán buôn, bán lẻ với 4,68 triệu đồng... Mức lương bình quân thấp nhất thuộc về một số ngành như nông nghiệp - lâm nghiệp, thủy sản và khai khoáng - chế tạo với con số lần lượt là 3,78 triệu đồng, 3,85 triệu đồng và 3,95 triệu đồng.

Tuy nhiên, nếu xét theo lương của công nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh thì ngành mỏ, hầm lò giữ mức cao nhất với trên 10 triệu đồng, gấp gần 5 lần nhân viên phục vụ bàn, dệt may... Còn với viên chức quản lý, cán bộ ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm vẫn được trả lương cao nhất, trung bình gần 16 triệu đồng một người, gấp 1,5 lần so với công nghiệp khai thác, chế biến và gấp đôi so với ngành xây dựng, nông - lâm nghiệp.

Nếu xét theo loại hình doanh nghiệp, lương bình quân của người lao động ở công ty 100% vốn nhà nước đạt 4,41 triệu đồng, đơn vị có vốn nước ngoài là 3,88 triệu đồng, khối FDI là 3,63 triệu đồng và thấp nhất là khu vực tư nhân với 3,32 triệu đồng.

Chênh lệch mức lương cao nhất - thấp nhất trong doanh nghiệp FDI khoảng 19,3 lần, trong khu vực 100% vốn nhà nước là 8 lần và đơn vị tư nhân khoảng 5,5 lần. Theo ông Phạm Minh Quân, Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, con số trên vẫn là khá lớn và cần rút ngắn để đảm bảo mức sống ổn định, giảm sự phân biệt khoảng cách giàu nghèo trong toàn ngành lao động.

Số liệu thống kê trên được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tiến hành khảo sát trên 1.660 doanh nghiệp, chiếm 3% số doanh nghiệp đang hoạt động và trên 15.000 người lao động, tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các đơn vị được điều tra tại 17 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế của cả nước, có thị trường lao động phát triển như Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hải Dương, Cần Thơ...

Tính đến ngày 31/12/2011, 63 tỉnh thành đã báo cáo về tiền thưởng Tết cho người lao động. Mức thưởng bình quân Tết dương lịch 2012 là 928.000 đồng, giảm 11,4% so với năm 2010, thưởng Tết Nguyên Đán 2012 là 3,218 triệu đồng, tăng 20% so với năm 2010. Trong đó, khu vực FDI có mức thưởng Tết Nguyên Đán cao nhất với đỉnh điểm là 400 triệu đồng, song vẫn giảm hơn 100 triệu đồng so với năm ngoái. Con số trên thuộc về một doanh nghiệp tại TP HCM.

Xuân Ngọc

Taichinh.vnexpress.net

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/01/nganh-tai-chinh-bao-hiem-tra-luong-cao-nhat/