Posts tonen met het label Việt Nam. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Việt Nam. Alle posts tonen

maandag 10 februari 2020

Người thứ 14 bị nhiễm virus Corona ở Việt Nam + Thêm 97 người chết vì virus Corona tại Trung Quốc chỉ trong ngày 9/2/2020

Người thứ 14 bị nhiễm virus Corona ở Việt Nam


Người dân Hà Nội xếp hàng chờ được phát khẩu trang để phòng ngừa dịch virus Corona tại Hà Nội ngày 8 Tháng Hai, 2020. (Hình: Manan Vatsyayana/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bộ Y Tế CSVN hôm Chủ Nhật thông báo kết quả xét nghiệm cho thấy thêm một người nữa tại Việt Nam dương tính với chủng mới của virus Corona (nCoV) vì lây lan từ người khác.
Bệnh nhân mới này là một phụ nữ 55 tuổi tên N.T.Y. sống tại thôn Ái Vân, xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà là bệnh nhân thứ 14 tại Việt Nam, lây nhiễm virus Conona từ một bệnh nhân khác từng trở về từ trung tâm dịch Vũ Hán bên Trung Quốc.
Tờ Lao Động đưa tin: “Bệnh nhân Y là hàng xóm của bệnh nhân N.T.D là ca bệnh được xác định dương tính với nCoV, đã được báo cáo trước đây. Ngày 28 Tháng Giêng, 2020, bệnh nhân đến nhà ca bệnh N.T.D chơi chúc Tết, có ngồi tại nhà bệnh nhân D khoảng 1 tiếng đồng hồ rồi về.”
Cũng theo tờ Lao Động, “Bệnh nhân Y nằm trong danh sách người tiếp xúc gần đang được trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc giám sát chặt chẽ. Qua theo dõi, giám sát người tiếp xúc gần, ngày 4.2, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt, đau đầu, chảy mũi. Bệnh nhân được đưa vào cách ly, khám và điều trị tại phòng khám đa khoa khu vực Quang Hà, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.”
Nơi đây đã lấy mẫu bệnh phẩm gửi Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương xét nghiệm cho kết quả dương tính với virus nCoV. Hiện bà N.T.Y “đang được cách ly tại phòng khám đa khoa khu vực Quang Hà, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc và trong tình trạng ổn định,” tờ Lao Động kể tiếp.
Sở Y Tế của tỉnh Vĩnh Phúc đã lập danh sách 146 người từng tiếp xúc gần với 9 bệnh nhân nhiễm virus Corona, cách ly giám sát chặt chẽ.
Theo truyền thông Trung Quốc, cho tới ngày Chủ Nhật, 9 Tháng Hai, 2020, số người thiệt mạng vì nhiễm nCoV lên thành 811 người ở Trung Quốc trên tổng số 37,198 trường hợp. Bên ngoài Hoa Lục, chỉ có một người chết ở Hồng Kông và một người ở Philippines. Số trường hợp nhiễm bên ngoài Hoa Lục đều bắt nguồn từ du lịch hay làm việc ở Vũ Hán rồi trở về nước để tránh dịch nhưng đã bị rồi.
Vì tình hình dịch bệnh vẫn rất nghiêm trọng, nguy cơ lây nhiễm và thiệt mạng cao lại không có thuốc chủng ngừa và chữa bệnh, nhà cầm quyền CSVN đã cho trường học trên cả nước tiếp tục nghỉ học thêm một tuần.
Không thấy thống kê có bao nhiêu công dân, gồm cả du học sinh, mà người ta tin là phải hàng ngàn, đang có mặt tại Trung Quốc dù Bắc Kinh loan báo dịch nCov trên cả 31 tỉnh. Mấy tuần trước, người ta đã thấy CSVN đề cập chuyện di tản công dân về nước, đặc biệt tại thành phố Vũ Hán, để tránh dịch khi có những chuyến bay chở người Trung Quốc kẹt tại Việt Nam về Hoa Lục.
Chính ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc được báo chí thuật lại từ cuộc họp chính phủ ngày 4 Tháng Hai, 2020 nói máy bay chở hàng hóa đến Vũ Hán giúp Trung Quốc chống nCoV, rồi chở công dân Việt Nam về nước. Ông Bộ Trưởng, Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ CSVN Mai Tiến Dũng cũng cho báo chí biết, hiện ở Vũ Hán, có 24 công dân Việt Nam, trong đó 19 người muốn trở về Việt Nam.
Đến ngày 6 Tháng Hai, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN Lê Thị Thu Hằng cho hay, cho tới ngày này “đã có 29 công dân Việt Nam tại tỉnh Hồ Bắc bày tỏ nguyện vọng về nước.
Hôm Chủ Nhật 9 Tháng Hai, 2020, VNExpress cho hay cùng ngày, sẽ có chuyến bay chở hàng viện trợ, trang thiết bị y tế của Việt Nam tới Vũ Hán tặng Trung Quốc đối phó với dịch bệnh. Sau đó, máy bay khi chở về sẽ “đưa 29 công dân Việt Nam từ Vũ Hán (Trung Quốc) về nước sẽ hạ cánh xuống sân bay quốc tế Vân Đồn” sáng ngày 10 Tháng Hai, 2020. (TN)
https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/nguoi-thu-14-bi-nhiem-virus-corona-o-viet-nam/

Thêm 97 người chết vì virus Corona tại Trung Quốc trong ngày Chủ Nhật

Một cơ xưởng sản xuất khẩu trang ở Trung Quốc. (Hình: Tân Hoa Xã)
BẮC KINH, Trung Quốc (NV) – Con số người thiệt mạng vì nhiễm virus Corona ở Trung Quốc nay đã tăng thêm 97 người trong ngày Chủ Nhật, ngày có nhiều người thiệt mạng nhất từ khi có tình trạng lây lan cho tới nay.
Ủy Ban Y Tế Quốc Gia Trung Quốc (NHC) vào sáng sớm ngày Thứ Hai, 10 Tháng Hai, giờ địa phương, loan báo rằng con số tử vong trên toàn Trung Quốc, tính đến nửa đêm ngày Chủ Nhật, là 908 người, theo bản tin của tờ South China Morning Post.
Như vậy, với một người thiệt mạng ở Hồng Kông và một ở Philippines, số tử vong chính thức trên toàn thế giới là 910 người.
Hôm Thứ Bảy, cơ quan NHC cũng loan báo rằng họ chính thức gọi virus mới này là “novel coronavirus pneumonia (NCP).”  Tên gọi này sẽ còn phải được sự chấp thuận của cơ quan hữu trách quốc tế, dự trù sẽ mất vài ngày nữa.
Trong bản thông cáo công bố vào sáng ngày Thứ Hai, ủy ban NHC nói có thêm 3,062 trường hợp bệnh mới, nâng tổng số các ca bệnh ở Trung Quốc lên thành 40, 171, và ở cả thế giới là 40,553.
Cũng vào sáng sớm ngày Thứ Hai, giới chức tỉnh Hồ Bắc, nơi bệnh này xuất hiện lần đầu hồi Tháng Mười Hai, báo cáo có 2,618 ca bệnh mới, nâng tổng số ca bệnh ở tỉnh lên thành gần 30,000.
Trong số 97 trường hợp tử vong mới loan báo vào sáng Thứ Hai, có 91 người ở Hồ Bắc.
Để so sánh, dịch SARS vào thời gian 2002-2003 đã làm thiệt mạng 813 người, đa số ở Trung Quốc và Hồng Kông, theo các con số do Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đưa ra. Mức tử vong của người nhiễm SARS có cao hơn so với virus Corona (khoảng 10% so với 2%).
Hôm Chủ Nhật, Tổng Thư Ký tổ chức WHO loan báo việc gửi một toán chuyên gia sang Trung Quốc để giúp việc đối phó với virus Corona. Toán chuyên gia này sẽ do nhà dịch tễ học Canada, ông Bruce Alyward, hướng dẫn. (V.Giang)
https://www.nguoi-viet.com/the-gioi/them-97-truong-hop-tu-vong-vi-virus-corona-tai-trung-quoc-trong-ngay-chu-nhat/

zondag 9 februari 2020

Du lịch Việt Nam thiệt hại hơn 7 tỷ đô la vì virus corona

Du lịch Việt Nam thiệt hại hơn 7 tỷ đô la vì virus corona

Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội hôm 7/2/2020.
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội hôm 7/2/2020.
AFP
Du lịch Việt Nam đối mặt với thiệt hại lên tới 7,7 tỷ đô la Mỹ vì dịch bệnh do virus corona phát xuất từ Trung Quốc gây nên.
Reuters trích thông tin vừa nói từ truyền thông nhà nước Việt Nam hôm 7/2.
Cụ thể, ngành du lịch ước tính số du khách từ Trung Quốc sẽ giảm hơn hai triệu lượt người do virus corona, điều này có thể dẫn đến doanh thu du lịch bị mất từ 1,8 - 2 tỷ đô la Mỹ.
Trung Quốc, nơi dịch bệnh bắt đầu vào cuối năm ngoái, là nguồn khách du lịch nước ngoài lớn nhất của Việt Nam, chiếm một phần ba trong số 18 triệu du khách năm 2019, theo số liệu chính thức từ cơ quan chức năng.
Việt Nam cho biết cũng sẽ ngừng cấp thị thực cho du khách nước ngoài đã đến Trung Quốc trong hai tuần qua.
Chính phủ Việt Nam hôm thứ Tư 5/2 cho biết tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội trong quý đầu tiên của năm nay có thể sẽ chậm hơn so với mục tiêu 6,8%.

donderdag 16 januari 2020

Việt Nam mất $12 tỷ mỗi năm do ô nhiễm không khí

Việt Nam mất $12 tỷ mỗi năm do ô nhiễm không khí


Không khí tại Hà Nội đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. (Hình: Tiến Tuấn/Thanh Niên)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm những quốc gia có phẩm chất môi trường không khí ở bậc thấp so với thế giới và bị thiệt hại $10.82-13.63 tỷ mỗi năm.
Đó là một trong những công bố gồm nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân ô nhiễm không khí ở góc độ kinh tế trong chương trình tọa đàm: “Tổn Thất Kinh Tế Của Ô Nhiễm Không Khí và Các Chính Sách Giảm Thiểu Ô Nhiễm,” do trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân tổ chức tại Hà Nội ngày 14 Tháng Giêng, 2020.
Theo báo Thanh Niên, “Ðặt vấn đề định vị ô nhiễm không khí của Việt Nam đang ở đâu so với thế giới, Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Đinh Đức Trường, thuộc Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, trích dẫn chỉ số Environmental Performance Index (EPI) của Trung Tâm Luật và Chính Sách Môi Trường, Đại Học Yale (Mỹ), công bố hằng năm cho thấy, năm 2012 chỉ số EPI của Việt Nam là 79/132 quốc gia, nhưng đến năm 2018 đã tụt xuống mức 132/180. Còn nếu tính theo hai nhóm chỉ số ô nhiễm không khí và phẩm chất lượng môi trường, Việt Nam xếp ở vị trí 159 -161.”
“Chất lượng không khí ở Việt Nam những năm gần đây ngày càng đi xuống và nếu so sánh với thế giới đã nằm trong nhóm có thứ bậc thấp về chất lượng môi trường không khí,” ông Trường nhận định.
Cũng theo Tiến Sĩ  Trường, trong gần 10 năm qua, nhóm nghiên cứu của trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân đã nghiên cứu để tính toán thiệt hại về kinh tế của ô nhiễm không khí tại Việt Nam, dựa vào phương pháp lượng giá tổn thất phúc lợi xã hội.
“Nếu tính theo thời giá trong năm 2018, ô nhiễm không khí gây ra thiệt hại tương đương $10.82-$13.63 tỷ, chiếm khoảng 4.4-5.6% GDP,” ông Trường cho biết.
Nhà máy nhiệt điện, một trong những nơi gây ô nhiễm nặng ở Việt Nam. (Hình: Nguyên Trung/Infonet)
Ngoài ra, theo số liệu từ Quỹ Mirinda and Bill Gate công bố trong năm 2018, Việt Nam có khoảng 50,000 người chết do ô nhiễm không khí, cao gấp năm lần so với số người chết do tai nạn giao thông hằng năm tại nước này.
Về nguyên nhân gây ô nhiễm không khí từ góc nhìn kinh tế, theo báo VNExpress, Tiến Sĩ Đinh Đức Trường cho biết có ba nhóm chính. Đầu tiên đến từ việc sử dụng tài nguyên của nền kinh tế Việt Nam. Nhiên liệu hóa thạch chiếm hơn 90% năng lượng và không có thay đổi theo thời gian. Đặc biệt, tiêu thụ than ở Việt Nam trước đây chiếm 36% thì bây giờ càng tăng thêm.
“Việt Nam được gọi là thiên đường ô nhiễm do FDI (hoạt động đầu tư ngoại quốc). Đây chính là hiện tượng chuyển dịch ô nhiễm từ các quốc gia phát triển sang quốc gia chậm phát triển hơn,” ông Trường nêu nguyên nhân thứ hai.
Nguyên nhân thứ ba là thứ bậc thấp trong phân công lao động quốc tế. Hiện nay các nước đã phát triển chiếm vị trí cao trong chuỗi giá trị. Những hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo gây ô nhiễm được đẩy về Việt Nam.
Tiến Sĩ Hoàng Dương Tùng, chủ tịch Mạng Lưới Không Khí Sạch, cho rằng kết quả nghiên cứu của trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân “có độ tin cậy,” khi mức độ ô nhiễm không khí ở Việt Nam trong thực tế tăng nhanh những năm gần đây.
Việt Nam nằm trong chu kỳ ô nhiễm không khí hằng năm từ Tháng Mười đến Tháng Hai năm sau. Trong năm 2019, số ngày chỉ số phẩm chất không khí AQI vượt quy chuẩn cao hơn các năm trước. Gần đây nhất, trong các Tháng Mười Một và Tháng Mười Hai, 2019, tại Hà Nội liên tiếp xuất hiện các đợt ô nhiễm, có đợt kéo dài cả tuần.
“Ngay trong sáng nay thôi (14 Tháng Giêng), chỉ số AQI tại Hà Nội khắp nơi đều là màu đỏ, một số nơi lên màu tím, chưa khi nào ô nhiễm không khí nặng như bây giờ,” ông Tùng dẫn chứng. (Tr.N)
https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/viet-nam-mat-12-ty-moi-nam-do-o-nhiem-khong-khi/

woensdag 15 januari 2020

Triều đình Việt Nam bỏ thi chữ Hán năm 1919: Cơ hội để Quốc ngữ ''lên ngôi''?

Triều đình Việt Nam bỏ thi chữ Hán năm 1919: Cơ hội để Quốc ngữ ''lên ngôi''?

Phần âm thanh 09:30
Đăng Cổ Tùng Báo, tờ báo song ngữ Hán - Quốc ngữ, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút (năm 1907). Trong ảnh, trang bìa chữ Hán và trang Quốc ngữ có bài ''Gái đảm''.
Đăng Cổ Tùng Báo, tờ báo song ngữ Hán - Quốc ngữ, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút (năm 1907). Trong ảnh, trang bìa chữ Hán và trang Quốc ngữ có bài ''Gái đảm''. Copy d'ecran
Năm 2019 vừa qua, trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam, một hiện tượng đáng chú ý là có nhiều hoạt động xoay quanh dịp kỷ niệm 100 năm kỳ thi chữ Hán cuối cùng. Kỷ niệm 100 năm để trở lại với di sản gần 1.000 năm Nho học (1). Nhưng dịp kỷ niệm này cũng là cơ hội để soi tỏ một giai đoạn tương đối ngắn mới đây, tuy được coi là quyết định đối với sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, song trên thực tế còn rất ít được nghiên cứu.
Khoa cử Nho học chấm dứt nhường chỗ tự nhiên cho sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, về mặt lô-gic hình thức thông thường, đó là điều dễ chấp nhận. Thế nhưng trên thực tế, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ diễn ra như thế nào với quyết định đặt dấu chấm hết này đối với khoa cử Nho học?
Đây là chủ đề đã được thảo luận khá rộng rãi trong năm vừa qua tại Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ trên thực tế đã diễn ra từ sớm, trước rất nhiều so với quyết định của vua Khải Định bỏ hoàn toàn thi cử Hán học năm 1919.
1915: Hồi trống báo ''chợ văn-chương'' sắp tàn
Sau đây là nhận định của nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng, Hội Ngôn Ngữ Học thành phố Hồ Chí Minh, với RFI tiếng Việt: ''Tôi hoàn toàn đồng ý là đây là một cơ hội, một cái dịp để cho người ta nhìn lại. Chữ Quốc ngữ như một dòng sông, nó có khởi đầu, và trên dòng chảy của nó chúng ta cắt ra 100 năm để chúng ta kỷ niệm, thì cái đó có những lý do khách quan. (…) Tại sao lại chọn cái đạo dụ của ông Khải Định, một ông vua mà lịch sử đánh giá rất là tệ hại ? Trong lời nói đầu của ông chủ tịch Hội ngôn ngữ học thành phố Hồ Chí Minh, để mở đầu cho hội thảo ngày 21/12 vừa rồi (2), tôi cho nói như vậy là đầy đủ, ông ấy nói thế này: Ta biết rằng chữ Quốc ngữ ở miền Nam sử dụng trước, sau đó lan dần ra cả nước. Và năm 1915, ở miền Bắc đã bãi bỏ thi Hương rồi. Ông Phạm Quỳnh nói đó là ''hồi trống sau cùng đã báo từ nay chợ văn-chương không họp nữa. Ai còn gồng nặng, gánh nhẹ mà quẩy về xoay nghề khác''.
Thực ra nói như thế là đúng, vì phải đến ba năm sau, tức 1918, khi Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học. Và năm 1919, khoa thi Hán học cuối cùng được tổ chức ở miền Trung, thì ''thần Cử-nghiệp'' đến đấy mới chính thức chia tay. Ta biết rằng trên sân khấu có hai nhân vật, một là chữ Nho, hai là chữ Quốc ngữ. Mà nhân vật chữ Nho bị đạo diễn cho đi xuống khỏi sân khấu rồi, thì chữ Quốc ngữ trở nên một mình một ngựa. Nếu không kể tiếng Pháp''.
Hơn một thập niên cải cách
Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến giai đoạn cải cách giáo dục, kéo dài hơn một thập niên, nhằm thay thế dần dần nền khoa cử lâu đời bằng nền giáo dục mới, với chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Một chủ đề hiện còn rất ít được nghiên cứu và gần như không được công chúng đông đảo biết đến.
Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng: ''Không phải là cái đạo dụ chính thức của Khải Định là một cái gì đó ghi nhận công lao của Khải Định đối với văn hóa Việt Nam. Tại sao nói như vậy ? Vì vua Khải Định chẳng qua là thực hiện một chính sách của người Pháp thời đó. Sau khi người Pháp chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ, thì họ đã có một chương trình cải cách giáo dục trong 10 năm, do ông toàn quyền Antony Klobukowski khởi xướng, rồi đến Albert Sarraut hoàn thành, để xóa bỏ dần nhà trường Hán học, bằng cách là trong các kỳ thi Hán học (thi Hương, thi Hội, thi Đình), họ đã xen cài chữ Quốc ngữ. Rồi cho đến lúc quen dần, thì 10 năm sau họ mới chính thức bãi bỏ bằng đạo dụ của Khải Định. Tôi nói rằng, theo cách nói của người Pháp, đấy là dấu chấm trên chữ i thôi, để kết thúc về mặt kỹ thuật, một tiến trình do chính người Pháp chủ trương, chứ không phải chủ trương của ông Khải Định''.
Cho đến nay, vai trò của những người có công đầu tiên trong việc chế tác chữ Quốc ngữ, như Francisco de Pina hay Alexandre de Rhodes đang ngày càng được công nhận trong xã hội Việt Nam, bất chấp một số phản đối ồn ào mới đây chống lại việc đặt tên đường Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes tại Đà Nẵng. Tri ân công lao của những người đóng góp cho văn hóa Việt Nam, dù là người trong hay ngoài nước, là câu chuyện ngày càng trở nên một lẽ dĩ nhiên.
Tâm lý ức chế
Thế nhưng vấn đề chữ Quốc ngữ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dường như vẫn là một câu chuyện ít nhiều vẫn còn được coi là nhạy cảm, có lẽ do bởi gắn liền trực tiếp với giai đoạn thực dân. Và đây có thể là một trong những lý do chính tạo không khí ức chế trong tâm lý của không ít nhà nghiên cứu, giới quan tâm – nguồn gốc sâu xa của việc hầu như rất hiếm công trình nghiên cứu đáng kể nào về sự phát triển của chữ Quốc ngữ giai đoạn bản lề này. Và đây dường như cũng là một lĩnh vực không mấy thu hút các nhà nghiên cứu trẻ.
Tâm lý ức chế khá phổ biến này được nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy (Hà Nội) thuật lại với RFI tiếng Việt. Theo ông, các nhà nho cải cách Việt Nam đầu thế kỷ XX đã ''đành phải chấp nhận'' chữ Quốc ngữ như một chuyện đã rồi, không có cách nào khác, nếu muốn dân tộc đi lên, thì phải chấp nhận nó. Bởi vì chữ Hán tắc đường rồi, và chấp nhận chữ Quốc ngữ thì còn hơn là chấp nhận tiếng Pháp. ''Cái khôn'' của các cụ là ở chỗ ấy, nhưng là cái khôn ngoan trong tình thế bị áp đặt, trong sự đã rồi. Nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cũng ghi nhận một thực tế là những người đứng đầu nhà nước quân chủ Nho giáo Việt Nam đã không tỉnh táo nghĩ đến việc mở đường cho chữ Quốc ngữ Latinh trở thành chữ viết quốc gia – trong thời kỳ còn kiểm soát toàn bộ hoặc một phần đất nước.
Áp đặt hay dung hòa?
Chữ Quốc ngữ dần dần trở thành chữ viết chính thức ở Việt Nam có phải đơn thuần do người Pháp áp đặt hay không là một chủ đề còn để ngỏ. Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền thực dân Pháp trong việc khuyến khích hay không chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này:
''Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ít người chú ý là thực ra việc phổ biến chữ Quốc ngữ ngay cả người Pháp là một chủ trương không dễ dàng. Họ phải đấu tranh nội bộ. Tôi đưa một dẫn chứng. Etienne Aymonier, một người biết nói tiếng Khmer, biết nói tiếng Việt, rồi ông lấy vợ người Chăm. Ông là tác giả của cuốn sách ngữ pháp tiếng Chăm, từ điển Chăm – Pháp. Về mặt chính quyền, ông đã từng làm đến công sứ Bình Thuận, ông đã từng làm hiệu trưởng đầu tiên của trường Hậu Bổ. Aymonier đã hai lần công khai viết rằng: việc phổ biến chữ Quốc ngữ là nguy hiểm cho người Pháp (3). Cách tốt nhất với người Pháp là biến người Việt trở thành một người Pháp gốc Á, tức là dạy tiếng Pháp cho người Việt. Trong nội bộ họ có những cuộc tranh luận rất là gay gắt. Và cuối cùng như ta đã biết là chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ thắng thế. Ý kiến của Aymonier bị gạt đi. Tôi chỉ nhắc lại một chút về lịch sử như thế để thấy rằng việc phổ biến chữ Quốc ngữ ở những năm này là vấn đề không dễ dàng''.
Từ Hà Nội, nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cho biết thêm là, trên thực tế, việc thừa nhận chữ Quốc ngữ có thể coi là một ''biện pháp dung hòa''  tốt nhất trong giai đoạn lịch sử này, khi chính quyền thực dân Pháp đã ra nhiều bài học kinh nghiệm từ những nơi khác, trong đó có việc thực dân Anh ở Ấn Độ, tuy thống trị tiểu lục địa này từ lâu, nhưng đã không thể áp đặt được tiếng Anh, đồng hóa được nền văn hóa Ấn Độ. Theo hướng nhìn nhận này, thì giải pháp thừa nhận chữ Quốc ngữ chính là một sự thỏa hiệp giữa quyền lực thống trị thực dân với xã hội bản địa.
Chữ Quốc ngữ là ''hồn trong nước''
Vẫn về bước ngoặt đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đặc biệt lưu ý đến sự thức tỉnh bất ngờ của giới nhà nho cấp tiến. Trong hoàn cảnh đặc biệt này, đã nhận ra trong chữ Quốc ngữ, đến từ trời Tây, một phương tiện gây lại ''hồn nước'':
''Thái độ đối với chữ Quốc ngữ của nhà nho đương nhiên là phân hóa theo nhiều xu hướng. Xu hướng những nhà nho cấp tiến, chủ trương Duy Tân, đã tìm thấy ở chữ Quốc ngữ một phương tiện hết sức là tích cực, hết sức là căn bản, trong việc gây lại cái gọi là ''hồn nước'', diễn đạt cái tinh thần dân tộc, cái bản lĩnh dân tộc, tố chất dân tộc. Họ gửi gắm vào chữ Quốc ngữ rất là nhiều.
Mặc dù, nếu khảo sát kỹ, các nhà nghiên cứu thấy rằng các nỗ lực của các nhà nho người Việt suốt nhiều thế kỷ chế tác các chữ Nôm, và phương pháp làm chữ Nôm cũng rất đáng kể, đến mức có thể ghi được những sáng tác bằng tiếng Việt, mà điển hình là Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán… Ví dụ như vần điệu của các tác phẩm thơ như thế chứng tỏ những nỗ lực cực kỳ lớn của những người đã làm ra bộ chữ Nôm, dựa trên các mẫu tự chữ Hán.
Thế nhưng, các nhà nho ở thời hiện đại, đầu thế kỷ XX trở đi, thì lại nhìn thấy trong chữ Quốc ngữ rõ hơn cái tinh thần độc lập của dân tộc mình. Theo tôi, những nhà nho Duy Tân đó đã gửi vào trong chữ Quốc ngữ một kỳ vọng cực kỳ lớn. Đằng sau nó là những giá trị hết sức quan trọng, mang tính xu hướng, giá trị về tính độc lập. Rất có thể trước đó dùng các chữ mượn các phương cách của chữ Hán, thì đến lúc này người ta nhận ra là những cái bản sắc thể hiện ở đó không thể nào rõ bằng việc viết bằng chữ cái abc''.
Vì sao Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh vốn xa lạ, lại có thể trở nên thân thiết với người Việt đến như vậy trong nhãn quan của giới nho sĩ, trí thức Hán – Nôm đầu thế kỷ XX ? Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết cảm nhận của ông:
''Theo tôi, người ta nhìn thấy chữ viết Quốc ngữ ghi tiếng Việt ở dạng hoàn thiện của nó, như một cái gì đó cực kỳ gắn bó với tiếng Việt (4). Bởi vì, cũng là abc, nhưng là một dòng chữ, một câu tiếng Pháp chẳng hạn, thì nó khác, dòng chữ Bồ Đào Nha thì nó khác. Nhưng đây là từng từ một của tiếng Việt. Người ta thấy tiếng Việt hiển hiện ra trong đó. Và người ta thấy: À, đây là Việt Nam! Còn cái việc đằng sau các ký tự này là chữ Latinh chẳng hạn, thì đối với họ, điều đó trở nên không quan trọng nữa. Theo tôi, (ý nghĩa gắn bó thiết thân của chữ Quốc ngữ với người Việt) là ở chỗ đó''.
Nhiều câu hỏi để ngỏ
Đối với nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, kỷ niệm một thế kỷ chấm dứt nền khoa cử chữ Hán, tồn tại trong suốt gần 1.000 năm, đã là một cơ hội tốt để soi tỏ giai đoạn bản lề cuối thế kỷ XIX - đầu XX, khi chữ Latinh ghi âm tiếng Việt bằng nhiều ngả đường khác nhau, từng bước khẳng định, vươn lên trở thành chữ viết quốc gia. Sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, trên thực tế, không gắn nhiều với cái mốc bỏ thi chữ Hán, với kỳ thi Hội – thi Đình cuối cùng tại Huế năm 1919.
Một số nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh, để phục dựng lịch sử chữ Quốc ngữ giai đoạn này, rất cần khai thác những mảng tư liệu lớn trong đó có các loại sách dạy Quốc ngữ, chương trình giảng dạy liên quan đến Quốc ngữ, do các chủ thể khác nhau soạn thảo, từ chính quyền cho đến các tổ chức tư nhân, nội bộ Giáo hội Công Giáo…
Nhiều vấn đề mang tính lý thuyết cần được đào sâu, như quan hệ giữa chữ viết với tiếng nói, sự trưởng thành của chữ Quốc ngữ Latinh có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của bản thân tiếng Việt? Vì sao chữ Quốc ngữ Latinh lại trở nên gần gũi, gắn bó với người Việt hơn chữ Nôm truyền thống? Do dễ học, dễ đọc hay vì một lý do nào khác (4)? Cú pháp tiếng Việt đã phát triển ra sao trong giai đoạn đột biến này, trong bối cảnh tiếp xúc mạnh mẽ với tiếng Pháp (5)?
RFI xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu Hoàng Dũng, Hồ Hải Thụy và Lại Nguyên Ân.
Ghi chú :
1 - Tháng 8/2019, Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế ''Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 - 1919)''  là dịp thảo luận về toàn bộ tiến trình phát triển của khoa cử Nho học tại Việt Nam, các giai đoạn manh nha, phát triển, đỉnh cao, thoái trào, ảnh hưởng sâu rộng của khoa cử Nho học trong văn hóa Việt Nam, trong so sánh với các nền văn hóa sử dụng chữ Hán.
2- Hội Ngôn Ngữ Học thành phố Hồ Chí Minh tổ chức một hội thảo mang tựa đề ''100 năm chữ Quốc ngữ'', cuối tháng 12/2019, quy tụ hơn 30 báo cáo, tham luận. 
3 - ''Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19'', Lại Như Bằng dịch và giới thiệu, NXB Thế giới, 2018. 
4 – Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hệ chữ cái abc ghi tiếng Việt, dễ hiểu, dễ học, gắn bó rõ ràng với phát âm của tiếng nói hàng ngày, người bản địa dù ít học cũng có thể dễ dàng sử dụng, trong lúc những con chữ Nôm, để hiểu được thường phải thông qua chữ Hán. Xét trên phương diện phát âm, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến tính chất phản dân chủ tiềm tàng của chữ Hán. Các nhà nho trên thực tế, ngay từ trước Công Nguyên, đã biết cách phân tách phụ âm, phần vần và thanh điệu (kỹ thuật phiên thiết trong các sách về Vận Thư). Tuy nhiên, kiến thức này đã không được phổ biến rộng, và phát triển theo hướng trở thành công cụ ghi âm vị. Chỉ giới nhà nho mới có thể sử dụng. Sự tồn tại và hưng thịnh của chữ Hán về cơ bản gắn liền với sự độc quyền về văn hóa của tầng lớp nho sĩ. Về các xã hội Đông Á sử dụng chữ Hán, nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam, vì lý do này hay khác, đã cố tình bỏ qua việc xã hội Hàn Quốc (hay Triều Tiên), ngay từ thế kỷ XV, đã chế tác ra được hệ chữ cái phiên âm tiết (Hangul), hệ chữ vốn bị lép vế, hoặc bị cấm đoán trong suốt thời kỳ chữ Hán thống trị, nhưng đã trở thành chữ viết chính thức của người Triều Tiên, người Hàn Quốc hiện nay. Hệ chữ phiên âm Hangul của dân Hàn được giới nghiên cứu đánh giá rất cao trên phương diện ghi âm. Chữ Hangul ắt hẳn đã là một phương tiện giúp cho xã hội Triều Tiên thoát khỏi sự thống trị của văn hóa Hán.
5 – Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ (1922-1999), cố viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, từng nhấn mạnh đến ý nghĩa của tiếp xúc Pháp – Việt trong sự phát triển của tiếng Việt nói chung và chữ Quốc ngữ nói riêng: ''thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp đâu có dài. Nhưng tuy ngắn mà rất quan trọng trong ý nghĩa một đổi mới. Xã hội Việt Nam vốn khép kín đã, với tiếng Pháp, mở rộng dần tầm nhìn ngôn ngữ và văn hoá sang một không gian khác lạ là Pháp và phương Tây. (…) Ảnh hưởng quan trọng của tiếng Pháp đối với tiếng Việt là về hành văn, như có thể thấy rõ trong thơ mới và trong văn xuôi mới, văn xuôi mới nghệ thuật (…) văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học cũng đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học Pháp. (…) Như vậy, tiếng Pháp đã có mặt trong tiếng Việt. Sự có mặt ấy vẫn còn sức sống. Mất đi đâu được! Nó đã được đưa vào trong ý thức của người Việt qua những câu thơ Việt, những câu văn xuôi Việt'' (bài ''Nhìn lại thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp'', Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/1997).

Các bài liên quan
http://www.rfi.fr/vi/việt-nam/20200115-việt-nam-bỏ-chữ-hán-1919-cơ-hội-quốc-ngữ-lên-ngôi