Posts tonen met het label nghĩa trang. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nghĩa trang. Alle posts tonen

woensdag 4 juni 2014

Đọ độ xa hoa các công viên nghĩa trang Việt

Đọ độ xa hoa các công viên nghĩa trang Việt

Chủ Nhật, 01/06/2014 - 05:45
(Kienthuc.net.vn) - Những công viên nghĩa trang này không chỉ có vị thế phong thủy, cảnh sắc tuyệt đẹp mà còn có nhiều dịch vụ đa dạng, hoàn hảo. 

http://kienthuc.net.vn/nha-dat/do-do-xa-hoa-cac-cong-vien-nghia-trang-viet-347048.html?p=14





















donderdag 17 april 2014

Việt Nam : Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-03-25
 
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Một đền thờ Hồi giáo người Chăm tại Xuân Lộc Đồng Nai
Một đền thờ Hồi giáo người Chăm tại Xuân Lộc Đồng Nai
RFA file
Gần đây người Chăm dòng Bani dấy lên lo ngại sự mất dấu vết của những nghĩa trang mà theo phong tục họ chôn cất người chết rất sơ sài. Đã có dấu hiệu bị người Kinh lấn đất và chính quyền cũng có những biểu hiệu thiếu minh bạch về việc trưng thu đất đai của họ. Mặc Lâm phỏng vấn nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inra Sara để biết thêm chi tiết việc này.
Mặc Lâm: Xin anh giải thích phong tục chôn cất của người Chăm thuộc hai dòng tôn giáo Chăm Bà-la-môn và Chăm Bà-ni.
Inra Sara: Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận hiện có hai dòng tôn giáo, tín ngưỡng chính, đó là Chăm Bà-la-môn, còn gọi là Cham Ahier và Chăm Bà-ni, còn gọi là Cham Awal, hay Hồi giáo cũ. Cho dù sinh hoạt của hai hệ tôn giáo tín ngưỡng này có sự hòa hợp rất nhuần nhị, nhưng giữa hai vẫn có các khác biệt, rõ nhất là ở việc tang chế. Nếu người Chăm Bà-la-môn hỏa táng, thì ngược lại, người Chăm Bà-ni địa táng.
Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu. Trong buổi sáng hỏa thiêu, 9 miếng xương trán được giữ lại, rồi mài tròn như đồng xu và cất vào lọ nhỏ gọi là Klong.
Vài chục năm sau, khi trong dòng họ tập hợp được nhiều bộ tinh cốt như thế, người ta tổ chức Lễ nhập Kut. Kut là nghĩa trang thuộc tộc mẫu bên Chăm Bà-la-môn. Trong tối cuối cùng của cuộc lễ, 9 miếng tinh cốt của tất cả Klong được cho vào hầm mộ ở trung tâm Kut. Hầm mộ này rộng khoảng 3-4 thước vuông, vậy thôi Kut cũng chứa đến cả vạn sinh linh Chăm Bà-la-môn. Vì mỗi dòng họ mẹ có một Kut riêng, nên một palei Chăm Bà-la-môn có thể có nhiều Kut.
Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu
Inra Sara
Người Chăm Bà-ni khác hơn, mỗi palei chỉ có một nghĩa trang duy nhất. Nghĩa trang này tiếng Chăm gọi là Ghur. Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên, chỉ sau này người ta mới dùng xi-măng đúc theo hình khối hay hòn đá được mài có tính mĩ thuật hơn.
Nếu Kut của người Chăm Bà-la-môn chỉ cần một sào đất cố định cũng đủ, thì Ghur Chăm Bà-ni mở rộng lớn nhất có thể. Do biến thiên lịch sử, nhiều làng Chăm Bà-ni dời đi xa, khi đó, bà con lập Ghur mới làm nơi chôn cất, còn Ghur cũ coi như xong nhiệm vụ. Thế nhưng không như Kut bên Chăm Bà-la-môn – khi người nữ cuối cùng thuộc dòng tộc đã mất thì Kut bị bỏ hoang hẳn, còn Ghur cũ của người Bà-ni vẫn còn được phụng tự. Mỗi năm người Chăm Bà-ni vẫn còn đi thăm các Ghur này tảo mộ một lần vào dịp đại lễ Ramưwan, là tháng Chín chay tịnh.
Nghĩa trang (Ghur Girai Neh) của người Chăm ở  Ninh Thuận
Nghĩa trang (Ghur Girai Neh) của người Chăm ở Ninh Thuận. Courtesy Kiều Maily
Mặc Lâm: Vấn đề hiện nay đang xảy ra đối với người Chăm Bà-ni theo anh có nghiêm trọng hay không nếu xét về việc mất dần những Ghur vì thiếu sự bảo tồn cũng như do việc lấn đất?
Inra Sara: Đây là chuyện nghiêm trọng. Vì đó là tội xâm hại mồ mả tổ tiên, xâm phạm đến đức tin tôn giáo của một bộ phận dân tộc. Chỉ có những Ghur mới, nghĩa là Ghur đang hoạt động, khi có người chết, người ta mới mang thi hài đi chôn. Còn Ghur cũ, mỗi năm người Chăm Bà-ni chỉ tảo mộ một lần, sau đó Ghur bị bỏ lại. Bà con tin đó là khu đất linh thiêng không ai dám động tới. Mà thực sự là xưa nay chưa có vụ xâm phạm nên không ai nghĩ đến rào chắn. Nhưng sự vụ không đơn giản như bà con tưởng! Nhất là với người khác tín ngưỡng, họ đâu có tin. Đối với người khác dân tộc lại càng không tin.
Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên
Inra Sara
Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà.
Mặc Lâm: Vai trò của chính quyền trong vấn đề này như thế nào, sự lơ là hay tiếp tay của họ có rõ ràng và cụ thể hay không?
Inra Sara: Ở trên tôi nói chính quyền còn làm thế là có chứng cớ. Con đường từ Ninh Chữ xuống Vĩnh Hi chạy băng qua và cắt Ghur Girai Neh làm hai. Tại sao, không ai biết vì sao cả. Ghur này ở trong khu vực thôn Khánh Nhơn, huyện Ninh Hải nằm sát biển, vốn thuộc hạng cổ và đẹp nhất trong các Ghur Chăm. Sau đó, mỗi năm Ghur đều có dấu vết xâm lấn. Thời Pháp cũng không khác mấy, Ghur Kađuk ở Hộ Diêm thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải bị san phẳng mà không cần thông qua ý kiến bà con Chăm.
Còn chính quyền hiện tại, có hay không việc “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại” đất Ghur thì chưa ai biết được cụ thể thế nào. Theo tôi, sự thể cũng do lỗi ở người Chăm ỷ y mà ra. Bà con biết có xâm hại, và xâm hại nhiều lần, nhưng không có ai lên tiếng, và lên tiếng tới nơi tới chốn cả. Từ tâm lí mẹ chung không ai khóc dễ đẩy sự vụ đến chỗ nguy hiểm. Đã có vài xung đột lẻ tẻ rồi. Nếu không xử lí kịp thời, e xảy ra sự cố lớn thì khó mà chữa chạy kịp.
Chuyện nhỏ lẻ mang tính tranh chấp địa phương làng xóm qua đó sẽ được đẩy lên hàng mâu thuẫn dân tộc, là điều nhỡn tiền. Các cán bộ là người Chăm ở Tỉnh, Huyện không thấy trước nguy cơ này mới lạ.
Mặc Lâm: Hội đồng chức sắc thôn và trí thức Chăm có được chính quyền công nhận là một thực thể giá trị trong cộng đồng hay không và nếu có sự tiếp tay vận động của họ thì kết quả sẽ ra sao?
Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà
Inra Sara
Inra Sara: Có, chứ không phải không! Nếu các vị không sợ hãi, sợ cái điều không đáng sợ. Tôi từng nói, nếu các cán bộ địa phương, các trí thức và các vị chức sắc trong làng, vì Ghur Chăm chỉ thuộc phạm vi palei, đứng ra làm, quyết tâm làm, là họ đang giúp Nhà nước ngăn ngừa cái xấu về tương lai. Việc gì phải sợ cơ chứ.
Khi ta dám nói, dám làm; nói cụ thể hơn ở đây là, nếu ta quyết làm cho xong Sổ đỏ, cái Giấy chứng nhận sử dụng đất đó mà, nếu ta đứng lên huy động tiền bạc để rào lại khu đất thuộc sở hữu của ta (như nhiều Kut Chăm Bà-la-môn đã giải quyết như thế, và giải quyết rất ổn thỏa), thì không có cấp chính quyền nào cấm cản ta cả. Còn phần đất bị hộ cá thể nào đó lấn chiếm, ta cứ làm đơn trình. Trong lộ trình đơn thư này, việc chính quyền có “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại đất Ghur” như anh đặt ra ở trên hay không, thì biết ngay thôi.
Theo tôi, không có chính quyền nào dại dột đi bênh vực cá thể nào đó vi phạm thuần phong mĩ tục một dân tộc cả. Làm thế khác gì đi bao che cái xấu, là bênh vực cá nhân tham lam, mà gây mất lòng cả một tập thể. Còn hơn thế, hành động thế là gây mất đoàn kết dân tộc – điều mà lâu nay Nhà nước Việt Nam rất ngại.
Mặc Lâm: Theo chúng tôi được biết thì giờ này anh đang ở làng Phước Nhơn, điểm nóng diễn ra sự việc mà chúng ta đang bàn đến. Xin anh cho biết công việc đã giải quyết tới đâu rồi, thưa anh?
Inra Sara: Về sự xâm phạm Ghur Chăm Bà-ni, tôi đã nhiều lần đi thực địa, chẳng những ở Ninh Thuận mà cả Bình Thuận. Tháng 7 năm ngoái, tôi có mở cuộc thảo luận về Chuyên đề này trên Inrasara.com, đầu tháng 3 năm nay, tôi mở cuộc thảo luận lần hai. Qua hai cuộc thảo luận, tôi nhận được nhiều phản hồi quý giá.
Còn lúc này, cũng xin báo tin vui với anh, hôm qua Hội đồng Sư cả Bà-ni và vài trí thức Chăm palei Phước Nhơn Pabblap đang có đơn thư lên Thường vụ Tỉnh, cạnh đó họ còn thảo Bức Tâm thư gửi các Mạnh thường quân xin tài trợ để công việc tiến hành sớm. Dĩ nhiên, mấy năm trước, tôi cũng đã nhiều lần nghe bà con làm thế, nhưng rồi chẳng đi tới đâu cả.
Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.

vrijdag 18 oktober 2013

Thuyền nhân Việt Nam – những ký ức khó quên

Thuyền nhân Việt Nam – những ký ức khó quên

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-10-17
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

ZoneF371-305.jpg
Nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong đã được trùng tu.
Courtesy VKTNVN



Những thảm cảnh khó nhạt nhòa

Có lẽ một trong những thảm cảnh khó nhạt nhòa trong nhân tâm, nhất là trong ký ức của cựu thuyền nhân Việt Nam, là tình cảnh thuyền nhân Việt Nam một thời ở Đông Nam Á; và nhất là tình cảnh của những thuyền nhân kém may mắn đã gởi lại nắm xương tàn ở các đảo xa xôi hoang vắng từ đó cho tới giờ. Những mộ phần ấy giờ ra sao?
Nhắc tới thuyền nhân Việt Nam là nhắc tới một biến cố sẽ mãi đậm nét trong dòng lịch sử dân tộc Việt dù giới cầm quyền trong nước có ra sức xóa sổ giai đọan lịch sử này hay không; và, đặc biệt là, nhắc tới số thuyền nhân kém may mắn đã nằm lại ngàn thu ở rừng sâu, núi thẳm hoặc tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á là nhắc tới một bi cảnh thương tâm không bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn của người thân, của những cựu thuyền nhân và của cả những tấm lòng nhân hậu, nói chung, thương cảm cho những nắm xương tàn nằm lại vĩnh viễn ở các hoang đảo xa xôi! Cảnh đau buồn đó, được một số thân nhân, cũng từng là thuyền nhân, mô tả:
Tôi là một thuyền nhân ở đảo Galang, Indonesia, đã may mắn đến được bến bờ tự do. Nhưng chẳng may đứa con tôi chết và hiện giờ còn đang nằm lại ở đó. Tôi rất xúc động. Tôi đã từng nhìn thấy mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi. Sau suốt 29 năm chúng tôi rất đau khổ, buồn, không biết dùng lời nào mà diễn tả… Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả.”
Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả.
-Một thuyền nhân
Khi những đoàn cựu thuyền nhân Việt Nam, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam tổ chức, đầu tiên trở về Đông Nam Á thăm lại những vết tích kỷ niệm ấy, đã không khỏi bùi ngùi xúc động sâu xa trước nhiều “mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ không ra mộ, bia thì cái ngã, cái nghiêng, cái bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu – rất thảm thương” khiến họ không cầm được nước mắt. Ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam nêu lên câu hỏi:
“Mọi người đã tự hỏi là bạn bè của những người đã nằm xuống ở đâu? Thân nhân của những người đã nằm xuống ở đâu? Đồng đội của những người đã nằm xuống ở đâu? Và lòng nhân đạo cùng tình nghĩa đồng bào của chúng ta ở đâu? Chính vì những điều ray rứt như vậy mà chúng tôi nỗ lực trùng tu lại mộ phần thuyền nhân Việt Nam, trước là để cho những người đã nằm xuống được yên lòng nhắm mắt, sau nữa là để chúng ta hãnh diện rằng chúng ta đã không bỏ quên đồng đội của mình nơi rừng hoang núi vắng dù đã qua 20 năm, 30 năm hay là 40 năm…”

Trùng tu mộ phần thuyền nhân

ZoneF272-250.jpg
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.

Sau nhiều đợt “về bến Tự Do” để thăm lại những trại tỵ nạn ở Đông Nam Á ngày nào cũng như trùng tu mộ phần thuyền nhân, thì hồi tháng Tư năm 2013 vừa rồi, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam có tổ chức một chuyến cắm trại 6 ngày 5 đêm tại đảo Bidong ở Malaysia để trùng tu khoảng 300 mộ thuyền nhân. Và trong chuyến đi thăm di tích tỵ nạn vào tháng Bảy sau đó, phái đoàn cũng đã đến viếng thăm nghĩa trang thuyền nhân ở đảo Galang của Indonesia và cắm trại 2 ngày 1 đêm để lo trùng tu khoảng 500 mộ thuyền nhân ở đó. Tổng cộng khoảng 800 mộ thuyền nhân ở hai nơi này bị bỏ hoang trong nhiều thập niên trước khi được trùng tu. Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất khoảng 70% công trình trùng tu nghĩa trang Galang, khi tất cả mộ ở đó đã được sửa sang, chỉ còn khoảng 60 ngôi mộ chưa làm xi măng, sẽ được hoàn tất trước khi 500 ngôi mộ ở đó được rửa sạch và sơn lại để công tác trùng tu nghĩa trang Galang này sẽ hoàn tất vào năm 2014 hoặc 2015.
Còn ở đảo Bidong, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất 70% công tác trùng tu 4 khu nghĩa trên đảo Bidong vốn nằm cách xa đất liền Malaysia chừng 30 dặm. Đây là nơi có địa hình phức tạp, việc di chuyển khó khăn, cây cỏ um tùm, với bốn nghĩa trang thuyền nhân gồm một khu nằm ở đất bằng, một khu ở lưng chừng đồi phía sau Chùa Từ Bi, một khu trên đồi F khá cao và một khu trên đồi khu G rất cao, rất khó tới, khiến công tác trùng tu gian nan hơn, đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, như ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, mô tả:
ZoneF225-250.jpg
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.

“Dụng cụ máy móc chúng tôi mang ra đảo khoảng 12 tấn, gồm máy phát điện, máy cắt cây, máy rửa mộ áp suất cao, những trụ xi măng, nhiều bao xi măng, ngay cả những dụng cụ cầm tay như dao, cuốc, xẻng, bao tay... cũng phải chuẩn bị. Và máy móc cũng phải mua máy mới, vì chúng tôi có mướn máy để sử dụng thử nhưng không tin cậy được bởi vì nó chạy chốc lát rồi lại ngưng. Ngoài ra cũng phải chuẩn bị những phụ tùng cho máy móc... Như vậy công tác chuẩn bị rất công phu. Do việc chuẩn bị khá chu đáo nên trong 6 ngày 5 đêm trên Bidong, chúng tôi đạt được yêu cầu đề ra từ trước, đó là dọn sách các nghĩa trang, rửa sạch các mộ và sơn 3 lớp (sơn lót, sơn chính thức, sơn chống thời tiết). Theo nhận xét của một vị tu sĩ Phật Giáo ở Bidong từ lúc còn nhỏ thì những nghĩa trang ở Bidong bây giờ còn mới hơn lúc ngày xưa khi người ta mới làm ra - và trông rất đẹp.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì ở vùng Kuku và Ariya của Indonesia còn khoảng 300 mộ thuyền nhân Việt Nam, và tại Bataan của Philippines cũng còn khoảng 300 mộ nữa. Số mộ hai nơi này chưa trùng tu dù Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đã làm thí điểm 50 ngôi mộ. Như vậy, theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, tổng cộng còn 600 mộ vừa nói sẽ được trùng tu từ đầu.
Riêng 1.000 ngôi mộ thuyền nhân trong đất liền Malaysia đã được Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trùng tu xong. Ông Trần Đông cho biết:
“Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng tới cuối năm 2015 sẽ hoàn tất công trình mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại tất cả những nơi vừa nói. Hiện giờ chúng tôi đang xúc tiến ráo riết tổ chức gây quỹ trong năm 2014 song song với việc trùng tu mộ thuyền nhân trong 2014 và 2015. Chúng tôi rất hy vọng được sự đóng góp giúp đỡ của tất cả đồng hương khắp nơi trong đợt gây quỹ lần cuối cùng vào năm 2014 và có thể có những cuộc gây quỹ nhỏ nữa trong năm 2015 để hoàn tất công tác trùng tu tất mộ thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á vào cuối năm 2015.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì 2.500 mộ thuyền nhân được tìm thấy trong toàn vùng và được trùng tu là chứng tích của một biến cố lịch sử có khoảng 500.000 người đi tỵ nạn nhưng nằm lại vĩnh viễn ở tất cả các quốc gia trong vùng. 2.500 ngôi mộ ấy là chứng nhân lịch sử cuối cùng. Và Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam xem việc hoàn tất công tác trùng tu mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại vùng Đông Nam Á là một hình thức hoàn thành nghĩa vụ đối với đồng hương, đồng bào và đồng đội của mình ra đi nhưng không may mắn phải bỏ thân xác nơi rừng hoang, đảo vắng và cũng bị quên lãng trong khoảng thời gian gần 40 năm qua.

donderdag 21 maart 2013

Nghi án kiếm 48 triệu USD từ bán nghĩa trang

Thứ năm, 21/3/2013, 16:32 GMT+7

Twitter
Facebook

Nghi án kiếm 48 triệu USD từ bán nghĩa trang


Giới chức Trung Quốc nghi ngờ một đại biểu hội đồng nhân dân tại tỉnh Quảng Đông kiếm lời bất chính hàng chục triệu USD nhờ đấu thầu một nghĩa trang.


Một nghĩa địa tại Trung Quốc. Ảnh: AP.
Một nghĩa địa tại Trung Quốc. Ảnh: AP.

Lin Shaoyang - chủ một doanh nghiệp và cũng là đại biểu hội đồng nhân dân thị xã Lục Phong, thành phố Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông - từng được mệnh danh là “Bố già của những phần mộ”. Ông nhận xây dựng và quản lý nghĩa trang Anfu thuộc thị xã Lục Phong từ tháng 7/ 2008. Sau khi xây xong các ngôi mộ, Lin đã bán chúng với giá hơn 2.000 nhân dân tệ/m2. Đến nay, hơn 8.000 phần mộ đã được bán.

Một người dân tố cáo rằng Lin đã kiếm được hơn 300 triệu tệ (hơn 48 triệu USD) từ việc bán mộ. Ngay lập tức Sở Nội vụ tỉnh Quảng Đông yêu cầu chính quyền thị xã Lục Phong điều tra vụ việc.

"Chúng ta nên chấm dứt những hợp đồng bất hợp pháp của các công ty và cá nhân bao gồm cả những hợp đồng cai thầu các nghĩa trang công cộng", nhật báo Nam Phương dẫn lời thông cáo của Sở Nội vụ Quảng Đông .

Nhà chức trách phạt ông Lin 80 nghìn tệ. Tuy nhiên, cơ quan Nội vụ Lục Phong từ chối nhận xét về vụ việc khi vụ điều tra chưa kết thúc.

Ding Li, một nhà nghiên cứu của Học viện Khoa học Xã hội tỉnh Quảng Đông, bình luận rằng các công ty và cá nhân không nên dùng các nghĩa trang công cộng nhằm trục lợi.

“Các nghĩa trang công cộng nên được xây dựng để phục vụ người dân chứ không phục vụ mục đích thương mại. Chính quyền địa phương nên quan tâm đến lợi ích lâu dài chứ không phải lợi ích trước mắt”, ông nói.

Theo ông Ding, các cơ quan chính quyền có thể đưa ra hình thức đấu thầu công khai để tìm các công ty quản lý nghĩa địa và người dân có thể mua đất ở đó thông qua chính quyền.

“Trong khi đó, chính phủ có thể kiểm soát việc đầu tư xây dựng các nghĩa địa, đặt mức giá trần và hỗ trợ các công ty phi lợi nhuận quản lý nghĩa trang”, ông nói.

Đoàn Hạnh