Posts tonen met het label mộ phần. Alle posts tonen
Posts tonen met het label mộ phần. Alle posts tonen

vrijdag 18 oktober 2013

Thuyền nhân Việt Nam – những ký ức khó quên

Thuyền nhân Việt Nam – những ký ức khó quên

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-10-17
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

ZoneF371-305.jpg
Nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong đã được trùng tu.
Courtesy VKTNVN



Những thảm cảnh khó nhạt nhòa

Có lẽ một trong những thảm cảnh khó nhạt nhòa trong nhân tâm, nhất là trong ký ức của cựu thuyền nhân Việt Nam, là tình cảnh thuyền nhân Việt Nam một thời ở Đông Nam Á; và nhất là tình cảnh của những thuyền nhân kém may mắn đã gởi lại nắm xương tàn ở các đảo xa xôi hoang vắng từ đó cho tới giờ. Những mộ phần ấy giờ ra sao?
Nhắc tới thuyền nhân Việt Nam là nhắc tới một biến cố sẽ mãi đậm nét trong dòng lịch sử dân tộc Việt dù giới cầm quyền trong nước có ra sức xóa sổ giai đọan lịch sử này hay không; và, đặc biệt là, nhắc tới số thuyền nhân kém may mắn đã nằm lại ngàn thu ở rừng sâu, núi thẳm hoặc tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á là nhắc tới một bi cảnh thương tâm không bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn của người thân, của những cựu thuyền nhân và của cả những tấm lòng nhân hậu, nói chung, thương cảm cho những nắm xương tàn nằm lại vĩnh viễn ở các hoang đảo xa xôi! Cảnh đau buồn đó, được một số thân nhân, cũng từng là thuyền nhân, mô tả:
Tôi là một thuyền nhân ở đảo Galang, Indonesia, đã may mắn đến được bến bờ tự do. Nhưng chẳng may đứa con tôi chết và hiện giờ còn đang nằm lại ở đó. Tôi rất xúc động. Tôi đã từng nhìn thấy mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi. Sau suốt 29 năm chúng tôi rất đau khổ, buồn, không biết dùng lời nào mà diễn tả… Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả.”
Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả.
-Một thuyền nhân
Khi những đoàn cựu thuyền nhân Việt Nam, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam tổ chức, đầu tiên trở về Đông Nam Á thăm lại những vết tích kỷ niệm ấy, đã không khỏi bùi ngùi xúc động sâu xa trước nhiều “mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ không ra mộ, bia thì cái ngã, cái nghiêng, cái bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu – rất thảm thương” khiến họ không cầm được nước mắt. Ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam nêu lên câu hỏi:
“Mọi người đã tự hỏi là bạn bè của những người đã nằm xuống ở đâu? Thân nhân của những người đã nằm xuống ở đâu? Đồng đội của những người đã nằm xuống ở đâu? Và lòng nhân đạo cùng tình nghĩa đồng bào của chúng ta ở đâu? Chính vì những điều ray rứt như vậy mà chúng tôi nỗ lực trùng tu lại mộ phần thuyền nhân Việt Nam, trước là để cho những người đã nằm xuống được yên lòng nhắm mắt, sau nữa là để chúng ta hãnh diện rằng chúng ta đã không bỏ quên đồng đội của mình nơi rừng hoang núi vắng dù đã qua 20 năm, 30 năm hay là 40 năm…”

Trùng tu mộ phần thuyền nhân

ZoneF272-250.jpg
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.

Sau nhiều đợt “về bến Tự Do” để thăm lại những trại tỵ nạn ở Đông Nam Á ngày nào cũng như trùng tu mộ phần thuyền nhân, thì hồi tháng Tư năm 2013 vừa rồi, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam có tổ chức một chuyến cắm trại 6 ngày 5 đêm tại đảo Bidong ở Malaysia để trùng tu khoảng 300 mộ thuyền nhân. Và trong chuyến đi thăm di tích tỵ nạn vào tháng Bảy sau đó, phái đoàn cũng đã đến viếng thăm nghĩa trang thuyền nhân ở đảo Galang của Indonesia và cắm trại 2 ngày 1 đêm để lo trùng tu khoảng 500 mộ thuyền nhân ở đó. Tổng cộng khoảng 800 mộ thuyền nhân ở hai nơi này bị bỏ hoang trong nhiều thập niên trước khi được trùng tu. Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất khoảng 70% công trình trùng tu nghĩa trang Galang, khi tất cả mộ ở đó đã được sửa sang, chỉ còn khoảng 60 ngôi mộ chưa làm xi măng, sẽ được hoàn tất trước khi 500 ngôi mộ ở đó được rửa sạch và sơn lại để công tác trùng tu nghĩa trang Galang này sẽ hoàn tất vào năm 2014 hoặc 2015.
Còn ở đảo Bidong, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất 70% công tác trùng tu 4 khu nghĩa trên đảo Bidong vốn nằm cách xa đất liền Malaysia chừng 30 dặm. Đây là nơi có địa hình phức tạp, việc di chuyển khó khăn, cây cỏ um tùm, với bốn nghĩa trang thuyền nhân gồm một khu nằm ở đất bằng, một khu ở lưng chừng đồi phía sau Chùa Từ Bi, một khu trên đồi F khá cao và một khu trên đồi khu G rất cao, rất khó tới, khiến công tác trùng tu gian nan hơn, đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, như ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, mô tả:
ZoneF225-250.jpg
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.

“Dụng cụ máy móc chúng tôi mang ra đảo khoảng 12 tấn, gồm máy phát điện, máy cắt cây, máy rửa mộ áp suất cao, những trụ xi măng, nhiều bao xi măng, ngay cả những dụng cụ cầm tay như dao, cuốc, xẻng, bao tay... cũng phải chuẩn bị. Và máy móc cũng phải mua máy mới, vì chúng tôi có mướn máy để sử dụng thử nhưng không tin cậy được bởi vì nó chạy chốc lát rồi lại ngưng. Ngoài ra cũng phải chuẩn bị những phụ tùng cho máy móc... Như vậy công tác chuẩn bị rất công phu. Do việc chuẩn bị khá chu đáo nên trong 6 ngày 5 đêm trên Bidong, chúng tôi đạt được yêu cầu đề ra từ trước, đó là dọn sách các nghĩa trang, rửa sạch các mộ và sơn 3 lớp (sơn lót, sơn chính thức, sơn chống thời tiết). Theo nhận xét của một vị tu sĩ Phật Giáo ở Bidong từ lúc còn nhỏ thì những nghĩa trang ở Bidong bây giờ còn mới hơn lúc ngày xưa khi người ta mới làm ra - và trông rất đẹp.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì ở vùng Kuku và Ariya của Indonesia còn khoảng 300 mộ thuyền nhân Việt Nam, và tại Bataan của Philippines cũng còn khoảng 300 mộ nữa. Số mộ hai nơi này chưa trùng tu dù Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đã làm thí điểm 50 ngôi mộ. Như vậy, theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, tổng cộng còn 600 mộ vừa nói sẽ được trùng tu từ đầu.
Riêng 1.000 ngôi mộ thuyền nhân trong đất liền Malaysia đã được Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trùng tu xong. Ông Trần Đông cho biết:
“Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng tới cuối năm 2015 sẽ hoàn tất công trình mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại tất cả những nơi vừa nói. Hiện giờ chúng tôi đang xúc tiến ráo riết tổ chức gây quỹ trong năm 2014 song song với việc trùng tu mộ thuyền nhân trong 2014 và 2015. Chúng tôi rất hy vọng được sự đóng góp giúp đỡ của tất cả đồng hương khắp nơi trong đợt gây quỹ lần cuối cùng vào năm 2014 và có thể có những cuộc gây quỹ nhỏ nữa trong năm 2015 để hoàn tất công tác trùng tu tất mộ thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á vào cuối năm 2015.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì 2.500 mộ thuyền nhân được tìm thấy trong toàn vùng và được trùng tu là chứng tích của một biến cố lịch sử có khoảng 500.000 người đi tỵ nạn nhưng nằm lại vĩnh viễn ở tất cả các quốc gia trong vùng. 2.500 ngôi mộ ấy là chứng nhân lịch sử cuối cùng. Và Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam xem việc hoàn tất công tác trùng tu mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại vùng Đông Nam Á là một hình thức hoàn thành nghĩa vụ đối với đồng hương, đồng bào và đồng đội của mình ra đi nhưng không may mắn phải bỏ thân xác nơi rừng hoang, đảo vắng và cũng bị quên lãng trong khoảng thời gian gần 40 năm qua.

maandag 29 april 2013

Việt Nam Phân biệt đối xử với cả mộ phần

Phân biệt đối xử với cả mộ phần

Uyên Nguyên tường trình cho RFA từ Việt Nam
2013-04-28
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

nghia-trang-bien-hoa-305-1.jpg
Cọc "GPMB" cắm trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đầu tháng 4/2013.
Photo courtesy of letungchau.blogspot.com

Nghĩa trang Biên Hòa

Dường như, nơi nào cũng gợi lên một nỗi buồn nào đó thật khó tả. Những ngôi mộ hoang vu, cỏ cây um tùm, bia đá trơ trọi và trâu bò giẫm nát mọi thứ… Có một điều lạ là cách nghĩa trang Biên Hòa chưa đầy 30 cây số đường chim bay, nghĩa trang Lái Thiêu của người Hoa nằm cạnh quốc lộ 13 thì rất khang trang, kín cổng cao tường, có bảo vệ nghiêm ngặt, trừ con cháu người Hoa, bất kì ai cũng không được bước vào bên trong nghĩa trang dù chỉ vài mét.
Sau Tết Nguyên Đán, người ta cho xây dựng hai bệ thắp nhang ở nghĩa trang Biên Hòa để đón khách, mà khách ở đây là những sứ giả của cộng đồng Châu Âu, tổ chức Nhân Quyền quốc tế, hoặc các dân biểu Mỹ.
Sự chăm chuốt qua loa, lấy lệ của nhà cầm quyền địa phương dường như có sự tính toán, có tính phô trương cái gọi là “lượng khoan hồng của chính thể mới” hơn là lòng trắc ẩn của con người với con người, sự tôn kính đối với người đã khuất, đặc biệt là những chiến binh đã nằm xuống sau một cuộc chiến tranh dài của đất nước. Liền sau đó, không bao lâu, nhà cầm quyền lại cho phóng tuyến mở đường băng qua khu nghĩa trang Biên Hòa, những cột mốc được cắm khắp nơi trong khuôn viên nghĩa trang. Điều này cũng cho thấy rằng có một chiến dịch ngấm ngầm nhằm xóa sổ nghĩa trang Biên Hòa.

Nghĩa trang Phú Ninh

Ở nghĩa trang Phú Ninh, đây là một khu mộ cải táng từ một hố chôn tập thể ngay chùa Dương Lâm, thôn Dương Lâm, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh. Theo những nhân chứng là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tham gia trận đánh còn sống sót thì ngày 29 tháng 3 năm 1975, hai binh đoàn Dù và Biệt Động Quân ở phía Tây Quảng Nam đã rút về cố thủ ở thôn Dương Lâm, gom quân vào chùa Dương Lâm để tìm đường thoát ra biển. Những người lính không hề hay biết là mình đang lọt vào sào huyện của đối phương, những ngọn đồi Phú Ninh đã được đặt sẵn các ụ súng nhắm vào chùa Dương Lâm.
Trưa 29 tháng 3, phía Cộng sản Bắc Việt bắc loa kêu gọi đầu hàng. Các chiến sĩ VNCH vẫn cố thủ, không trả lời. Chiều hôm đó, một đặc công Bắc Việt bò vào đến bờ rào chùa Dương Lâm thì dính mìn phòng thủ của phía VNCH. Tiếp theo sau đó là trận pháo kích nảy lửa và các du kích, bộ đội Cộng sản tấn công tứ phía. Những chiến sĩ VNCH chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, bị dính pháo kích, đạn bắn tỉa và lựu đạn, đã hy sinh gần như là toàn bộ. Vài ngày sau, người dân chung quanh tìm đến chùa, đào một hố chôn tập thể sau chùa để chôn xác các chiến sĩ VNCH.
Mãi đến hơn ba mươi năm sau, ngôi chùa bỏ hoang được một trụ trì trẻ pháp danh là Thích Pháp Tánh kêu gọi các đồng đạo, Phật tử, nhà hảo tâm tìm cách soi môi, cầu hồn báo mộng để các chiến sĩ về chỉ nơi mình đang nằm. Nhà chùa cải táng, âm thầm bốc mộ tập thể, mang lên đồi Phú Ninh, chôn thành từng mộ phần riêng lẻ. Nhờ vào các thẻ bài còn nằm trong thi hài nên việc nhận dạng từng liệt sĩ cũng không khó khăn mấy.
Và, cho đến bây giờ, khu mộ liệt sĩ Việt Nam Cộng Hòa ở Phú Ninh vẫn được nhang khói tử tế, tuy không được gắn tên cho khu nghĩa trang, chưa có tường thành chung quanh nhưng dẫu sao, những ngôi mộ chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ở Phú Ninh, Quảng Nam vẫn có bà con Phật tử khói nhang hằng tháng, mỗi rằm và xây dựng thêm một am thờ tập thể trước nghĩa trang. Người đến đây thăm viếng, thắp nhang không bị công an làm khó dễ.
Đây là điểm khá đặc biệt của nhà cầm quyền Quảng Nam so với nhà cầm quyền các địa phương khác.

Nghĩa trang Đồi Hoa Sim

nghia-trang-trung-quoc-binh-duong-250.jpg
Cổng vào nghĩa trang Trung Quốc ở Bình Dương. Hình do thính giả gửi cho RFA.
Nghĩa trang Đồi Hoa Sim ở xã Hiệp Hòa, Bảo An, Lagi – Bình Thuận thì bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, đến mùa hạ cháy trơ phơi gốc, trâu bò giẫm nát những độc bình sứ gắn bên cạnh bia mộ, người ta thi nhau xúc cát trong nghĩa trang về xây dựng, theo chúng tôi đoán là để xây dựng công trình công cộng, chứ không có nhà dân nào dám mang cát nghĩa trang về xây nhà cho mình cả. Nhiều áo quan lộ thiên giữa mưa nắng, thậm chí các hài cốt nổi lên, xương tay chân và sọ người lộ thiên. Nhìn vào, chỉ biết xót xa, đau buồn cho một kiếp chiến binh đã bỏ mình vì lý tưởng dân tộc, để rồi, cuối cùng phải phơi xương ngay trên mưa nắng quê nhà. Rất may, Soeur Nguyễn Thị Thanh Mai, Dòng Mến Thánh Giá, phụ trách cộng đoàn Đồng Tiến, đã vận động, quyên góp tài chánh để cải táng nhiều mộ về nghĩa trang của Giáo xứ.
Dường như tất cả những nghĩa trang Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều bị bỏ hoang, trừ những nghĩa trang đã cải táng như Phú Ninh và nghĩa trang mà các Soeur qui tập trong Giáo xứ Đồng Tiến. Còn lại, có nhiều nghĩa trang đã mất dấu, mọc lên nhiều công trình, xác người lẫn lộn với đất đá, làm nền cho những ngôi nhà đồ sộ. Riêng phần nghĩa trang mất dấu, chúng tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác.

Đến bao giờ?

Người Việt với người Việt, trước cái chết của đồng bào, đồng tộc, sao chỉ thấy dửng dưng và hờ hững, chỉ thấy phá phách, xóa sổ và san bằng phần yên nghĩ của liệt sĩ đối phương. Trong khi đó, ở Lái Thiêu, nghĩa trang rộng 400 hecta, cây xanh um tùm, có chùa, hồ nước, sân quần vợt và đài tưởng niệm, có bảo vệ nghiêm ngặt, mộ nằm thẳng thớm, khang trang của người Trung Quốc ngay trên đất Việt. Sau mấy ngày tìm cách tiếp cận, chúng tôi vào được bên trong nghĩa trang. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng trước sự đồ sộ, rộng lớn và nghiêm mật của khu nghĩa trang này.
Tự dưng, chúng tôi nghĩ đến thân phận người Việt Nam, cũng là người Việt với nhau, nhưng sau ba mươi mấy năm, tình anh em một nhà vẫn cứ là cừu thù, mặc dù trên ngôn từ vẫn là hòa hợp, hòa giải. Nhưng thực tế, trước cái chết, trước mộ phần của đối phương, người ta không những không biết kính cẩn nghiêng mình đúng đạo làm người mà còn đập phá, xóa sổ một cách không hề thương tâm. Và, sau ba mươi mấy năm, những cái chết mang dòng máu Việt Nam bị dày vò, giẫm đạp, không may mắn như những cái chết của người Trung Quốc tại đất nước này, họ được chôn cất tử tế, có người chăm sóc mộ phần và có nghĩa trang rộng bao la để tiếp tục duy trì phần Tổng lãnh sự âm ti của mình trên đất khách.
Đến bao giờ người Việt biết yêu thương nhau? Đến bao giờ người Việt thôi giẫm đạp lên cái chết của nhau? Đến bao giờ người Việt sống tử tế và biết nghiêng mình trước cái chết? Câu hỏi này đã bỏ ngõ suốt ba mươi mấy năm nay. Câu hỏi này sẽ rất khó trả lời trong khi Việt Nam chúng ta đang sống dưới triều đại xã hội chủ nghĩa. Vì sao lại như thế? Lại thêm một câu hỏi khác trong hàng tỉ câu hỏi về quyền làm người!
Uyên Nguyên, tường trình từ Biên Hòa, Việt Nam.