Trưa ngày 30/4/1975 bộ đội cộng sản tiến vào Thủ đô Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng và người Mỹ rút lui khỏi Việt Nam sau hơn hai thập niên can dự. Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford gọi “Đó là giờ phút buồn nhất trong thời gian ông ở Bạch Ốc.”
Hơn một trăm nghìn người đã rời Việt Nam vào tháng Tư 1975. Tại Bảo tàng Tổng thống Gerald Ford ở tiểu bang Michigan còn di vật là cầu thang đã đưa người Việt lên nóc sân thượng tòa đại sứ Mỹ để được di tản bằng trực thăng trong chiến dịch “Frequent Wind” (Gió nhanh).
Năm 1975 có 130 nghìn người Việt được định cư tại Hoa Kỳ. Trong hai thập niên kế tiếp, gần một triệu người tiếp tục trốn khỏi chế độ cộng sản Việt Nam bằng thuyền và đã được nhiều nước nhận cho định cư, đông nhất là vào Mỹ.
Trại Palawan, Philippines. Người vượt biển đến các quốc gia Đông nam Á được Cao ủy Tị nạn bảo vệ để chờ định cư.
Một gia đình trong trại tị nạn ở Indonesia
Lớp học tiếng Anh học trong trại Panat Nikom, Thái Lan.
Người vượt biển chăm chú đón nhận thông tin liên quan đến sinh hoạt trại tị nạn và chương trình định cư.
Trại tị nạn Galang II ở Indonesia.
Thiện nguyện viên người Úc, cô Ann Cusack, chụp hình lưu niệm với thuyền nhân dịp Tưởng niệm 30/4 trong trại Chi Ma Wan, Hong Kong năm 1987.
Ba em bé trong trại tị nạn ở Indonesia.
Vẫy tay từ giã người thân quen và cuộc sống tạm dung để lên đường đi định cư.
Ông Lý Quang Diệu làm Thủ tướng đầu tiên của Singapore với nhiệm kỳ từ 1959-1988.
Ông Lý Quang Diệu trong thời kỳ nắm quyền lãnh đạo ở Singapore trước đây đã từng theo đuổi một chính sách được cho là 'sắt đá' có lúc, có phần gây bất lợi cho một số thuyền nhân Việt Nam, những người đã từ bỏ đất nước trên những con thuyền trên Biển Đông, theo lời nhân chứng nói với BBC.
Tuy nhiên, cũng cần 'thông cảm' và 'công bằng' đối với ông Lý Quang Diệu vì ông không phải là lãnh đạo duy nhất ở Đông Nam Á đã nói 'không' với nhiều trường hợp thuyền nhân cần tìm chỗ 'đáp lên bờ' và 'tị nạn' khẩn cấp vì các lý do thiết yếu, vẫn theo lời nhân chứng.
Trao đổi với BBC hôm 28/3/2015, một nhân chứng trong chương trình người Việt tự cứu thuyền nhân trên Biển Đông, được biết tới là chương trình 'Máu chảy ruột mềm' những năm nửa cuối thuộc thập niên 1970, sau diễn biến 30/4 ở Sài Gòn, trước hết nói với BBC về cảm nghĩ của mình trước tin vị quốc phụ của Singapore vừa tạ thế.
"Tôi nghĩ là ông Lý Quang Diệu vừa qua đời, thì thế hệ sau này chắc là ai cũng ca ngợi ông ấy hết," Sư cô Chân Không, từ Đạo tràng Làng Mai, một cộng đồng Phật giáo Việt Nam, tại Tây Nam nước Pháp nói.
"Và tôi thấy gần như 99% ai cũng ca ngợi, dĩ nhiên trong những câu ca ngợi họ cũng nói là nhờ chính sách sắt đá, thì thôi, thì tôi muốn để cho qua, nhưng muốn hỏi một nhân chứng chân thực thì hồi năm 1976, 1977, lúc đó thuyền nhân (Việt Nam) đang bị cư xử rất tàn tệ ở Singapore.
"Lúc đó tôi đang ở Singapore để trong chương trình Đại hội Tôn giáo Thế giới vì Hòa Bình (World Conference on Religion and Peace) họ mời Sư ông (Thích Nhất Hạnh) làm giám đốc chương trình 'Máu chảy, Ruột mềm', và Sư ông mời tôi qua làm phụ tá, với 8 người đệ tử của Sư ông, cư sỹ nữa, thì đi qua hết để làm.
"Lúc đó, báo chí đăng tin có một tàu Nhật vớt 99 thuyền nhân ghé tạm Singapore để trao hàng và đi các nước khác để giao hàng nữa, thì ở đó (Singapore) họ không cho vô và họ bắt tàu Nhật đó phải đóng thuế 1 triệu USD thì họ mới cho tạm để ghé giao hàng rồi mới đi, thì khi mà tàu đi mà đem đủ 99 thuyền nhân đó rồi, thì họ mới cho đi.
"Tôi nhớ chung chung là một thuyền nhân được một người đánh cá ở Singapore mà vớt và cho vào bờ, thì sẽ bị phạt 5.000 đô-la Singapore, và một người đánh cá mà phạt năm ngàn thì sống làm sao nổi?"
'Những người có lòng'
Nhân chứng này tường thuật tiếp về cách thức mà những người muốn cứu giúp các thuyền nhân Việt Nam tới Singapore đã phải sử dụng ra sao, kể cả liên kết với 'giới ngoại giao' của 'một nước thứ ba' để đối phó với luật pháp và chính sách nhập cư của đảo quốc Đông Nam Á dưới thời ông Lý Quang Diệu.
Ông Lý Quang Diệu được coi là bậc 'quốc phụ', là người có công kiến thiết Singapore hậu thuộc địa. "Nhưng mà trong khi đó, cũng có những người đánh cá có lòng, và có những người Phật tử Việt Nam có lòng, mấy vị đó là vợ của những người Hoa Kỳ, hay người của các nước khác, là vợ của những vị đó, những bà đó có một ít tiền vì chồng cũng khá giả, thành ra mới lại nói với mấy người đánh cá Singapore, nói là anh mà vớt được một thuyền nhân, thì tôi cho anh 100 đô-la, rồi anh báo tin âm thầm cho chúng tôi biết," Sư cô Chân Không, người đã có hẳn một cuốn sách với tựa đề 'Con đường mở rộng' trong đó có một chương nói về thuyền nhân Việt Nam ở Singapore, nói tiếp với BBC.
"Rồi chúng tôi mới âm thầm lấy xe, vì họ khá giả, họ lấy xe nhà, mà chở tới tòa Đại sứ Pháp, thì ở trong Tòa đại sứ Pháp lúc bấy giờ cũng có một người thư ký rất 'chịu chơi', lén vô mở cửa cho thuyền nhân. Mỗi lần vớt được 3 thuyền nhân, 5 thuyền nhân, thì mấy bà ấy phải hùn tiền nhau, mỗi bà 100 đô-la, để cho 500 đô-la hay 300 đô-la, rồi chở vô tòa Đại sứ Pháp rồi khóa cửa lại như là mấy người này nhảy vào hay sao 'không biết'.
"Sáng hôm sau, Tòa Đại sứ mở cửa nói 'Có ba tên nhập cảnh bất hợp pháp, thì họ phải báo tin cho Singapore biết, 'có ba người này (chúng) tôi không biết, toàn nói tiếng Việt không, (họ) nói chúng tôi thuyền nhân, 'chúng tôi mò từ biển, tụi tôi đi bộ lên'.
"Ông Đại sứ Pháp là một người rất có lòng, lúc đó, ông tên là Jacques Gasseau, ông khai báo với cảnh sát Singapore là có 3 người nhập cư bất hợp pháp ở trong lãnh thổ Pháp, thì chúng tôi sẽ làm giấy tờ để cho mấy người bay được đi Pháp."
Theo nhân chứng này, nhiều lần các nhà vận động Việt Nam đã tiến hành các cuộc họp báo ở quốc tế hay khu vực, vận động công khai tới chính quyền của ông Lý Quang Diệu, nhưng dường như nhà lãnh đạo này đã trong suốt thời gian dài không thay đổi chính sách với thuyền nhân Việt Nam, ngược lại được cho là còn 'trục xuất' nhiều nhà hoạt động trong các chương trình 'Cứu giúp thuyền nhân', trong đó có Thiền sư Nhất Hạnh và các trợ lý.
'Đẩy ngược ra biển'
Cũng hôm 28/3/2015, một đại diện của Tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam xác nhận với BBC rằng Singapore trong thời gian lãnh đạo của ông Lý Quang Diệu đã có các chính sách 'push back policy', tức là đẩy lại ra biển những người thuyền nhân tị nạn từ Việt Nam từ cuối thập niên 1970's, kể cả những trường hợp được cho là cần 'hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp', mà chỉ nhận những hồ sơ tị nạn nào đã được các nước thứ ba tiếp nhận về nguyên tắc cho tị nạn 'xong xuôi'.
Hôm thứ Bảy, ông Trần Đông, một người chuyên tìm hiểu về thuyền nhân trên Biển Đông từ tổ chức này, nói với BBC:
"Vấn đề đó cũng là phản ánh sự thật, nhưng không riêng gì ở Singapore có chính sách gọi là 'push back policy' đẩy ngược tàu thuyển ra biển, Malaysia cũng sử dụng như vậy, Thái Lan cũng sử dụng như vậy, chỉ có hai quốc gia không áp dụng, đó là Indonesia và Philippines. Cho nên đối với Indonesia và Philippines thì thuyền nhân tới là họ nhận hết."
Theo ông Đông, Singapore cũng có một số nỗ lực nhất định, tuy nhiên cũng có những 'giới hạn' về chính sách.
Ông nói: "Singapore cũng đã có những nỗ lực tiếp nhận thuyền nhân, thế nhưng giới hạn của Singapore là trại tị nạn ở tại Singapore chỉ dành cho những thuyền nhân được các quốc gia khác nhận cho đi định cư.
"Thí dụ nếu một tàu quốc tế nào đó vớt thuyền nhân, quốc gia đó nhận cho những người ở trên tàu đi định cư, thì như vậy Singapore tiếp nhận cho họ ở tạm tại Singapore trong một khoảng thời gian ngắn vài ba tháng, để làm thủ tục đi định cư."
Theo người đã nhiều năm sưu tầm tư liệu về thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông, việc Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam trong nhiều lần tiếp xúc với ông Lý Quang Diệu đã không bao giờ nhắc tới chính sách này của ông và Singapore dưới thời mà ông cầm quyền là một điều 'dễ hiểu' trong ngoại giao.
Các con số thống kê còn chưa thống nhất, khi có những gợi ý cho rằng có thể từ vài chục ngàn tới cả trăm ngàn thuyền nhân từ VN đã có thể bị tai nạn và tử nạn trên Biển Đông. Ông Trần Đông nói: "Về vấn đề không chất vấn thảm cảnh thuyền nhân đối với một lãnh tụ của một quốc gia khác, tôi nghĩ rằng vấn đề đó cũng thường xảy ra, người ta cũng không muốn vì quyền lợi quốc gia, vì vấn đề bang giao, cho nên người ta cũng không muốn đưa một vấn đề khó xử hoặc là khó trả lời đối với lãnh tụ của một quốc gia là quốc khách của mình được mời đến.
"Cho nên tôi nghĩ là người ta không đặt ra các vấn đề đó, thì những vấn đề đó cũng là sự thường thôi."
'Như một bài toán'
Hôm thứ Bảy, nhân chứng từ cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Pháp, Làng Mai, giải thích với BBC vì sao chính quyền của ông Lý Quang Diệu đã không chiếu cố những trường hợp, dù được cho là 'chỉ một, hay hai cá nhân' đơn lẻ trong số các thuyền nhân là 'trẻ em, con nít, phụ nữ, hay người già, người bị bệnh nặng' để họ được lên bờ vào Singapore tiếp nhận 'hỗ trợ khẩn cấp', mà trái lại, lại bị 'đẩy ngược ra biển', mặc dù nhiều cuộc họp báo, vận động khi đó đã được cho là chuyển thông tin tới quốc tế và chính quyền của ông bằng nhiều cách thức.
Sư cô Chân Không, trợ lý của Thiền sư Nhất Hạnh trong chương trình cứu giúp thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông, nói:
"Tôi nghĩ là ông Lý Quang Diệu chỉ nghĩ trong đầu như một bài toán thôi. Ông không có cơ hội để thấy được những đứa con nít mà thoi thóp ở trong tay mẹ mà không còn nước, không có nước, không thức ăn, đang đói, đang khát.
"Ông chỉ thấy việc của Singapore như một bài toán, một nước mà không có tài nguyên thiên nhiên, thì chỉ có một cách là đem tiền vô càng nhiều, càng tốt, chỉ nhận những công dân có tiền nhiều, đầu tư nhiều, vậy thôi.
"Thành ra ông ấy không có thì giờ tiếp xúc với sự thật... Ông Lý Quang Diệu, ông ấy tiếp xúc với những bài toán kinh tế của nước ông, một đất nước không có tài nguyên gì hết, thì ông ấy phải làm việc trên cái lý thuyết đó thôi."
Nhân chứng từ Pháp còn cho hay trong các thời kỳ cao điểm của 'thuyền nhân Việt Nam' trên Biển Đông và Đông Nam Á, Singapore vừa áp dụng chính sách đẩy thuyền nhân 'ngược trở ra biển', vừa được cho là 'mở cửa, trải thảm' đỏ tiếp các công dân quốc tế, khu vực vào Singapore sống để có 'thẻ xanh', 'vô dân', 'nhập quốc tịch', nếu có tài lực từ '300 nghìn tới 500 nghìn Mỹ Kim trở lên'.
Bình luận về điều được cho là 'chính sách hai mặt' về nhập cư này của chính quyền của ông Lý Quang Diệu thời gian đó, ông Trần Đông từ Australia nói:
"Khi người ta quyết định một chính sách, thì người ta đặt quyền lợi quốc gia của người ta ở trên hết.
"Và khi một điều xảy ra mà trở thành một gánh nặng cho quốc gia của người ta và người ta khó có thể kham nổi, thì người ta có quyền từ chối," nhà quan sát từ Tổ chức Văn khố Thuyền nhân Việt Nam nói với BBC.
Nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong đã được trùng tu.
Courtesy VKTNVN
Những thảm cảnh khó nhạt nhòa
Có lẽ một trong những thảm cảnh khó nhạt nhòa trong nhân tâm, nhất là trong ký ức của cựu thuyền nhân Việt Nam, là tình cảnh thuyền nhân Việt Nam một thời ở Đông Nam Á; và nhất là tình cảnh của những thuyền nhân kém may mắn đã gởi lại nắm xương tàn ở các đảo xa xôi hoang vắng từ đó cho tới giờ. Những mộ phần ấy giờ ra sao?
Nhắc tới thuyền nhân Việt Nam là nhắc tới một biến cố sẽ mãi đậm nét trong dòng lịch sử dân tộc Việt dù giới cầm quyền trong nước có ra sức xóa sổ giai đọan lịch sử này hay không; và, đặc biệt là, nhắc tới số thuyền nhân kém may mắn đã nằm lại ngàn thu ở rừng sâu, núi thẳm hoặc tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á là nhắc tới một bi cảnh thương tâm không bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn của người thân, của những cựu thuyền nhân và của cả những tấm lòng nhân hậu, nói chung, thương cảm cho những nắm xương tàn nằm lại vĩnh viễn ở các hoang đảo xa xôi! Cảnh đau buồn đó, được một số thân nhân, cũng từng là thuyền nhân, mô tả: “Tôi là một thuyền nhân ở đảo Galang, Indonesia, đã may mắn đến được bến bờ tự do. Nhưng chẳng may đứa con tôi chết và hiện giờ còn đang nằm lại ở đó. Tôi rất xúc động.Tôi đã từng nhìn thấy mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi. Sau suốt 29 năm chúng tôi rất đau khổ, buồn, không biết dùng lời nào mà diễn tả… Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả.”
Nhưng trong cái xui cũng có cái may là mẹ tôi hiện có mộ, có bia hết rồi. Nhưng những thuyền nhân khác chết không tên, không có gì cả. -Một thuyền nhân
Khi những đoàn cựu thuyền nhân Việt Nam, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam tổ chức, đầu tiên trở về Đông Nam Á thăm lại những vết tích kỷ niệm ấy, đã không khỏi bùi ngùi xúc động sâu xa trước nhiều “mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ không ra mộ, bia thì cái ngã, cái nghiêng, cái bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu – rất thảm thương” khiến họ không cầm được nước mắt. Ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam nêu lên câu hỏi: “Mọi người đã tự hỏi là bạn bè của những người đã nằm xuống ở đâu? Thân nhân của những người đã nằm xuống ở đâu? Đồng đội của những người đã nằm xuống ở đâu? Và lòng nhân đạo cùng tình nghĩa đồng bào của chúng ta ở đâu? Chính vì những điều ray rứt như vậy mà chúng tôi nỗ lực trùng tu lại mộ phần thuyền nhân Việt Nam, trước là để cho những người đã nằm xuống được yên lòng nhắm mắt, sau nữa là để chúng ta hãnh diện rằng chúng ta đã không bỏ quên đồng đội của mình nơi rừng hoang núi vắng dù đã qua 20 năm, 30 năm hay là 40 năm…”
Trùng tu mộ phần thuyền nhân
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.
Sau nhiều đợt “về bến Tự Do” để thăm lại những trại tỵ nạn ở Đông Nam Á ngày nào cũng như trùng tu mộ phần thuyền nhân, thì hồi tháng Tư năm 2013 vừa rồi, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam có tổ chức một chuyến cắm trại 6 ngày 5 đêm tại đảo Bidong ở Malaysia để trùng tu khoảng 300 mộ thuyền nhân. Và trong chuyến đi thăm di tích tỵ nạn vào tháng Bảy sau đó, phái đoàn cũng đã đến viếng thăm nghĩa trang thuyền nhân ở đảo Galang của Indonesia và cắm trại 2 ngày 1 đêm để lo trùng tu khoảng 500 mộ thuyền nhân ở đó. Tổng cộng khoảng 800 mộ thuyền nhân ở hai nơi này bị bỏ hoang trong nhiều thập niên trước khi được trùng tu. Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất khoảng 70% công trình trùng tu nghĩa trang Galang, khi tất cả mộ ở đó đã được sửa sang, chỉ còn khoảng 60 ngôi mộ chưa làm xi măng, sẽ được hoàn tất trước khi 500 ngôi mộ ở đó được rửa sạch và sơn lại để công tác trùng tu nghĩa trang Galang này sẽ hoàn tất vào năm 2014 hoặc 2015.
Còn ở đảo Bidong, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cho biết đã hoàn tất 70% công tác trùng tu 4 khu nghĩa trên đảo Bidong vốn nằm cách xa đất liền Malaysia chừng 30 dặm. Đây là nơi có địa hình phức tạp, việc di chuyển khó khăn, cây cỏ um tùm, với bốn nghĩa trang thuyền nhân gồm một khu nằm ở đất bằng, một khu ở lưng chừng đồi phía sau Chùa Từ Bi, một khu trên đồi F khá cao và một khu trên đồi khu G rất cao, rất khó tới, khiến công tác trùng tu gian nan hơn, đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, như ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, mô tả:
Trùng tu nghĩa trang Thuyền Nhân tại Khu F ở đảo Bidong. Courtesy VKTNVN.
“Dụng cụ máy móc chúng tôi mang ra đảo khoảng 12 tấn, gồm máy phát điện, máy cắt cây, máy rửa mộ áp suất cao, những trụ xi măng, nhiều bao xi măng, ngay cả những dụng cụ cầm tay như dao, cuốc, xẻng, bao tay... cũng phải chuẩn bị. Và máy móc cũng phải mua máy mới, vì chúng tôi có mướn máy để sử dụng thử nhưng không tin cậy được bởi vì nó chạy chốc lát rồi lại ngưng. Ngoài ra cũng phải chuẩn bị những phụ tùng cho máy móc... Như vậy công tác chuẩn bị rất công phu. Do việc chuẩn bị khá chu đáo nên trong 6 ngày 5 đêm trên Bidong, chúng tôi đạt được yêu cầu đề ra từ trước, đó là dọn sách các nghĩa trang, rửa sạch các mộ và sơn 3 lớp (sơn lót, sơn chính thức, sơn chống thời tiết). Theo nhận xét của một vị tu sĩ Phật Giáo ở Bidong từ lúc còn nhỏ thì những nghĩa trang ở Bidong bây giờ còn mới hơn lúc ngày xưa khi người ta mới làm ra - và trông rất đẹp.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì ở vùng Kuku và Ariya của Indonesia còn khoảng 300 mộ thuyền nhân Việt Nam, và tại Bataan của Philippines cũng còn khoảng 300 mộ nữa. Số mộ hai nơi này chưa trùng tu dù Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đã làm thí điểm 50 ngôi mộ. Như vậy, theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, tổng cộng còn 600 mộ vừa nói sẽ được trùng tu từ đầu.
Riêng 1.000 ngôi mộ thuyền nhân trong đất liền Malaysia đã được Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trùng tu xong. Ông Trần Đông cho biết: “Chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng tới cuối năm 2015 sẽ hoàn tất công trình mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại tất cả những nơi vừa nói. Hiện giờ chúng tôi đang xúc tiến ráo riết tổ chức gây quỹ trong năm 2014 song song với việc trùng tu mộ thuyền nhân trong 2014 và 2015. Chúng tôi rất hy vọng được sự đóng góp giúp đỡ của tất cả đồng hương khắp nơi trong đợt gây quỹ lần cuối cùng vào năm 2014 và có thể có những cuộc gây quỹ nhỏ nữa trong năm 2015 để hoàn tất công tác trùng tu tất mộ thuyền nhân trong vùng Đông Nam Á vào cuối năm 2015.”
Theo Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thì 2.500 mộ thuyền nhân được tìm thấy trong toàn vùng và được trùng tu là chứng tích của một biến cố lịch sử có khoảng 500.000 người đi tỵ nạn nhưng nằm lại vĩnh viễn ở tất cả các quốc gia trong vùng. 2.500 ngôi mộ ấy là chứng nhân lịch sử cuối cùng. Và Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam xem việc hoàn tất công tác trùng tu mộ phần thuyền nhân Việt Nam tại vùng Đông Nam Á là một hình thức hoàn thành nghĩa vụ đối với đồng hương, đồng bào và đồng đội của mình ra đi nhưng không may mắn phải bỏ thân xác nơi rừng hoang, đảo vắng và cũng bị quên lãng trong khoảng thời gian gần 40 năm qua.
Trong loạt bài mùa hè nói về những con tàu chở di dân đã đánh dấu lịch sử thế giới, báo La Croix hôm nay dẫn độc giả quay trở lại thời kỳ người dân Việt Nam ồ ạt vượt biên sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Tờ báo đặc biệt đề cập đến con tàu huyền thoại mang tên « Đảo ánh sáng ».
Con tàu này đã đưa hàng nghìn người Việt Nam thời bấy giờ vượt biên, chạy trốn chế độ cộng sản. Nhờ vào con tàu, hàng nghìn thuyền nhân Việt Nam đã làm lại cuộc đời. Đây là nơi dùng làm bệnh viện để chữa bệnh cho những người vượt biên. Đồng thời, con tàu còn chứng kiến nhiều giây phút trọng đại của người Việt, như một số đôi đã nên duyên vợ chồng trên chuyến tàu này.
La Croix nhắc lại lịch sử và bối cảnh của việc hàng nghìn người Việt Nam chạy trốn khỏi đất nước lúc bấy giờ. Ngày 08/11/1978, người Pháp hay tin chiếc tàu chở hàng Hai Hong chở 2 564 thuyền nhân miền Nam Việt Nam, nhưng không có một đất nước châu Á nào chấp nhận đón tiếp. Đây chỉ là một trong nhiều con tàu khác. Vào thời kỳ đó, có hàng trăm nghìn thuyền nhân muốn rời khỏi miền Nam Việt Nam, lãnh thổ trước đây được Hoa Kỳ yểm trợ và sau đó bị chế độ cộng sản miền Bắc Việt Nam chiếm vào năm 1975.
Vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ, vào tháng 5/1975, 3743 người Việt Nam đầu tiên đến Hồng Kông. Để cứu giúp họ, một số trí thức Paris đã nghĩ đến việc lập ra « chiếc tàu cho người Việt Nam ». Một số đã từng ủng hộ miền Bắc trong cuộc chiến chống quân Mỹ. Trong một bản tin thời sự trên truyền hình, nghệ sĩ Yves Montand phát biểu : « Người Việt Nam đang chết chìm, nên chúng ta phải giúp họ ». Từ đó, chiếc tàu « Đảo ánh sáng » ra đời để đến biển Đông cứu vớt người Việt.
Vào tháng 7/1979, một hội nghị được tổ chức tại Genève để bàn về số phận của những người vượt biên Việt Nam. Hội nghị này lập ra một Hiệp ước giữa Việt Nam, các nước Đông Nam Á cho tỵ nạn trong thời gian đầu và các nước cho phép định cư lâu dài. Indonesia và Philippines thành lập các trung tâm tị nạn tạm thời. Việt Nam hứa hẹn cho phép những người vượt biên có tổ chức. Các nước thứ ba sẽ tăng tốc trong việc tái định cư dân Việt Nam lâu dài.
Từ 07/1979 đến 07/1982, hơn 20 nước như Mỹ, Úc, Pháp và Canada đã tái định cư 623 800 người Đông Dương tị nạn. Về phía mình, chính quyền Việt Nam cho phép người Việt ra đi nếu họ muốn. Trong năm 1984, có 30 000 người Việt ra đi theo dạng này. Hội nghị này tổ chức việc gửi tàu đến một số nước không tiếp nhận người tị nạn để cứu vớt họ. Trong 5 tháng đầu năm 1979, 81 tàu chuyên chở tổng cộng 4 031 người trên biển, trong đó có con tàu « Đảo ánh sáng ». Từ năm 1975 đến năm 1990, 67 000 người Việt Nam được cứu vớt trên biển.
Thuyền trưởng con tàu « Đảo ánh sáng » nhận xét : « Người Việt Nam thật sự làm tôi bất ngờ. Có nhiều tài năng khác nhau. Họ rất có tổ chức, có phẩm cách và muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn ». Theo báo La Croix thì Hoa Kỳ là đất nước mà người dân Việt Nam muốn được đến định cư nhiều nhất. Trung Quốc : sữa ngoại nhiễm khuẩn, các bà mẹ vỡ mộng
Hết các vụ tai tiếng sữa nội địa Trung Quốc nhiễm khuẩn, giờ đây lại đến các nhãn hiệu sữa ngoại tại Trung Quốc. Báo Le Figaro trong mục kinh tế chú ý tình hình này qua bài viết : « Một vụ bê bối sữa mới làm lung lay cả Trung Quốc ».
Tờ báo nhận định, hiện nay, các bậc cha mẹ Trung Quốc không còn biết phải tìm đến loại sữa nào. Do uy tín của sữa nội địa đã mất từ lâu, các bậc phụ huynh tìm đến các loại sữa ngoại, cho dù với giá đắt hơn, nhưng bây giờ lại đến lượt các hiệu sữa này gặp phải bê bối.
Hôm qua 07/08/2013, tổng giám đốc hãng sữa Fonterra của New Zealand đã khẳng định một số sản phẩm nhiễm vi khuẩn có thể gây chứng liệt và gây tử vong cho trẻ sơ sinh đã được thu hồi khỏi thị trường sữa. Vụ bê bối này đã bắt đầu khiến các bà mẹ lo ngại khi mua sữa ngoại. Từ thứ hai vừa rồi, tổng giám đốc hãng sữa Fonterra, Theo Spierings đã giải thích và xin lỗi người tiêu dùng ở Bắc Kinh.
Thêm vào đó, Fonterra cùng với hai hãng sữa phương Tây khác còn bị phạt nặng vì đã nâng giá trên thị trường. Tờ báo nhận định, đây là tuần lễ đen tối của các công ty sữa ngoại. Hãng sữa Mead Johnson Nutrition của Mỹ phải trả 33 tỷ đô la.
Sự trùng hợp giữa vụ bê bối của hãng Fonterra vừa xảy ra cùng lúc với chiến dịch phạt các công ty sữa đã nâng giá sản phẩm trên thị trường, chủ yếu là các hãng ngoại quốc làm một số người nghi ngờ đây là chiến dịch của Trung Quốc nhằm làm bại hoại danh tiếng của các hãng sữa ngoại.
Thứ hai 05/08/2013, tờ Nhân dân nhật báo đã đăng nhiều bài đánh bóng lại tên tuổi các hãng sữa nội. Một giáo sư đại học phát biểu : « Đây không phải là việc thiên vị ai cả mà là vấn đề về sức khỏe cộng đồng ».
Theo nhận định của các cư dân mạng, cuộc khủng hoảng khiến không ai tin vào sữa ngoại nữa, nhưng không có nghĩa là nó vực dậy uy tín của các hãng sữa nội Trung Quốc. Một blogger nhận xét : « Fonterra đã nhìn nhận trách nhiệm của mình. Nhưng khi một công ty Trung Quốc đứng trước một vấn đề chất lượng, thì họ luôn tìm cách tránh né và không thừa nhận ». Nhật báo động rò rỉ chất phóng xạ tại Fukushima
Sự cố rò rỉ chất phóng xạ tại Fukushima, Nhật Bản tiếp tục được báo chí Pháp hôm nay quan tâm. Báo Le Monde thông báo : « 300 tấn nước nhiễm chất phóng xạ chảy ra biển hàng ngày ». Tờ báo nhận định : « thái độ chối bỏ và che đậy của tập đoàn Tepco chỉ làm cho dân chúng thêm lo ngại ». Báo Le Figaro cũng đăng bài : « Nhật báo động rò rỉ chất phóng xạ tại Fukushima ».
Báo Libération thì dành hai trang lớn nói về đề tài này qua bài viết : « Fukushima lại trở thành đề tài trung tâm ». Thủ tướng Nhật Shinzo Abe cho biết : « Thay vì dựa vào tập đoàn Tepco, chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp ». Ông còn nói thêm là muốn đảm bảo rằng « tập đoàn điện lực Tepco quản lý một cách phù hợp việc tẩy rửa trung tâm hạt nhân ». Công việc này có lẽ sẽ phải kéo dài hơn 40 năm và tốn hết 11 tỷ đô la. Số tiền dành cho việc này vẫn chưa được công bố, nhưng nó sẽ có tác động đến ngân sách năm 2014.
Paul J.Scalise, nhà kinh tế học và chuyên gia năng lượng tại đại học Tokyo phân tích : « Ngay sau khi xảy ra sự cố Fukushima, Tepco đã nhận được khoản vay 200 tỷ yên (15,5 tỷ euro) từ 4 ngân hàng lớn nhất Nhật Bản. Tuy nhiên, số tiền đó không đủ, vì Tepco còn phải chi tiêu cho việc nhập khẩu dầu hỏa và bồi thường cho nạn nhân của tai nạn. Để có được số tiền này, chỉ có thể tăng giá điện, mà hiện tại giá điện tại Nhật đã thuộc loại cao nhất thế giới ». Tờ báo đặt câu hỏi : tại sao lại không nhờ thế giới trợ giúp ? Câu trả lời là Nhật xem đây là vấn đề danh dự của đất nước, theo như phân tích của Alieen Mioko Smith, giám đốc tổ chức chống hạt nhân GreenAction. Mỹ-Nga : hơi hướng chiến tranh lạnh
Việc Nga cấp giấy tị nạn cho cựu nhân viên tư vấn Mỹ Snowden gây nhiều sóng gió cho mối quan hệ Mỹ-Nga vốn đã không êm thấm. Ngày hôm nay, báo chí đồng loạt quan tâm đến việc tổng thống Mỹ Obama hủy chuyến công du đến Nga gặp tổng thống Putin trước thềm hội nghị G20 sẽ diễn ra tại St-Pétersbourg đầu tháng 9.
Nguyên nhân, theo báo Le Figaro, là thiếu « tiến triển » trong mối quan hệ song phương giữa hai nước. Đặc biệt là quyết định của Nga cho phép Snowden tị nạn làm cho Washington thịnh nộ. Tờ báo dùng từ « thất vọng » để chỉ thái độ của Nga. Trên trang nhất báo Le Figaro chạy dòng tựa : « Tức giận, tổng thống Obama hủy cuộc gặp tổng thống Putin ».
Báo L’Humanité cũng quan tâm đến sự kiện này qua bài viết : « Snowden : Obama dỗi Putin ». Báo La Croix thì nhận định : việc tổng thống Obama hủy cuộc gặp tổng thống Putin giống như một cái tát mạnh vào chủ nhân điện Kremlin. Giữa hai nước, căng thẳng đã dâng cao trên mọi hồ sơ. Hơn nữa, những mối bất hòa gần đây nhất giữa hai nước là trên lĩnh vực kinh tế. Washington cáo buộc Matxcơva đã không tôn trọng các cam kết từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Nhưng tờ báo nhấn mạnh rằng các căng thẳng về tự do nhân quyền mới là con sóng lớn nhất trong mối quan hệ song phương. Gần đây nhất là vụ kết án nhà đối lập Navalny và luật cấm tuyên truyền đồng tính với trẻ vị thành niên. Quốc hội Mỹ lo ngại về hậu quả của đạo luật này tại thế vận hội mùa đông vào tháng 2/2014. Một số vận động viên hay cổ động viên có thể bị bắt giữ nếu họ vô tình đề cập đến chủ đề đồng tính một cách quá thẳng thắn. Báo Libération thì nhận định thấy hơi hướng của một cuộc chiến tranh lạnh giữa Obama và Putin. Cháy rừng tại khu vực Địa Trung Hải tăng
Trong hồ sơ môi trường, báo le Monde hôm nay quan tâm đến khí hậu và điều kiện sinh sống đang gây nên những nguy cơ cháy rừng tại khu vực Địa Trung Hải. Theo tờ báo, tại vùng Valence, thuộc Tây Ban Nha, trong vòng 40 năm qua, các vụ cháy rừng đã tăng gấp đôi và diện tích rừng bị cháy đen tăng gấp 8 lần.
Báo Le Monde cho biết mỗi mùa hè, rừng Địa Trung Hải bị cháy nghiêm trọng. Trong 5 quốc gia châu Âu bị thiệt hại, nặng nhất là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Ý và Hy Lạp, trung bình 500 000 hecta bị ngọn lửa thiêu rụi hàng năm. Về phía Pháp, do được ưu đãi có mưa nhiều về mùa xuân, nên tương đối ít bị cháy đầu năm này, với chưa đầy 700 hecta bị cháy trong số 424 vụ.
Báo Le Monde nhận định trong các thập niên tới, nạn cháy rừng còn gia tăng hơn nữa. Có hai nguyên nhân. Thứ nhất là do khí hậu trái đất nóng lên, biểu hiện là nắng hạn kéo dài. Thứ hai là mật độ thành thị cao. Người dân bỏ nông thôn lên thành thị. Đất đai canh tác thu hẹp, đất bị bỏ hoang và sau đó thành rừng. Tóm lại, cháy rừng gia tăng là do các nguyên nhân thay đổi khí hậu, xã hội và kinh tế. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu châu Âu (FUME) sẽ được công bố vào cuối tháng 11. Kinh tế Pháp bị thiệt hại do thiên tai gây nên
Báo kinh tế Les Echos hôm nay cũng đặc biệt quan tâm đến thảm họa thiên nhiên gây thiệt hại cho nền kinh tế Pháp qua bài viết : « Các cơn giông đánh lên kinh tế của nhiều tỉnh thành ». Theo tờ báo, sấm sét, giông gió, mưa đá đã hủy hoại hàng nghìn hecta đất trồng trọt từ 15 ngày nay. Phía Tây Nam của Pháp, hàng nghìn hộ gia đình không có điện để xài.
Phải chăng vấn đề thuyền nhân Việt Nam lại nóng bỏng trở lại ? Trong một bản tin đề ngày hôm qua, 10/05/2013, hãng tin Mỹ AP cho biết là riêng trong 4 tháng đầu năm nay, đã có khoảng 460 người Việt Nam, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em, dạt vào bờ biển nước Úc. Số lượng này đã cao hơn hẳn số người Việt vượt biển qua Úc trong 5 năm trước đó cộng lại. Làn sóng thuyền nhân tăng vọt bất ngờ này thu hút mối quan tâm về tình hình nhân quyền xấu đi tại Việt Nam, cho dù các khó khăn kinh tế hiện tại cũng có thể giải thích lý do vượt biên.
Theo hãng AP, nhiều nhân chứng trên bờ cho biết là chiếc thuyền gần đây nhất chở người vượt biên Việt Nam đến Úc đã dạt vào đảo Christmas vào tháng trước. Biển số trên vỏ tàu cho thấy đây là một tàu đánh cá đăng ký tại tỉnh Kiên Giang, miền Nam Việt Nam, ở cách đảo Christmas của Úc hơn 2.300 km.
Rất nhiều thuyền nhân Việt Nam vượt biên qua Úc đã bị biệt giam. Chính phủ Úc không cho biết chi tiết về tôn giáo và nơi xuất xứ của những người này tại Việt Nam, hai thông tin có thể giúp hiểu rõ về lý do tại sao các thuyền nhân này lại vượt biên qua Úc tị nạn.
Trả lời hãng AP qua điện thoại, một người Việt tại Trung tâm giam giữ người nhập cư bất hợp pháp Villawood ở vùng ngoại ô Sydney, không tiết lộ chi tiết về trường hợp của mình nhưng xác định : « Tôi thà chết ở đây hơn là bị buộc phải trở về Việt Nam ».
Thanh niên 23 tuổi này đã rời Việt Nam cách đây 5 năm, nhưng trên đường qua Úc đã bị giam giữ tại Indonesia 18 tháng trời. Theo anh, nếu chỉ để kiếm tiền nhiều hơn, thì không nên vượt biên, thế nhưng : « Nếu một người đang phải sống khổ cực, lại phải đối mặt với các sự đe dọa và đàn áp của chính quyền, thì người đó nên đi ».
Theo hãng AP, một số người Việt Nam đến Úc qua Indonesia, theo cùng một tuyến đường với những người tị nạn đến từ các nước xa xôi hơn tận Nam Á và Trung Đông. Một số người khác thì khởi hành trực tiếp từ Việt Nam, trong một hành trình xa hơn và rủi ro hơn.
Trong những thông báo riêng biệt, hai chính phủ Úc và Việt Nam khẳng định là tuyệt đại đa số - nếu không muốn nói là tất cả các thuyền nhân đều thuộc diện di tản vì lý do kinh tế, do đó không đủ điều kiện xin tị nạn chính trị.
Quan điểm trên đây đã bị một số người đấu tranh trong cộng đồng người Việt tại Úc và các luật sư từng đại diện cho các người xin tị nạn đến từ Đông Nam Á phản bác. Họ cũng hoài nghi về tính chất đúng đắn của tiến trình phân loại mà chính quyền Úc đang sử dụng. Những người này cũng nêu bật thái độ quan ngại về tương lai bấp bênh của các thuyền nhân này, không được Úc cho định cư trong lúc lại không được Việt Nam sẵn lòng nhận lại.
Cùng với những người đến từ các nước khác, thuyền nhân Việt Nam đang bị tạm giam trên đất liền, trên đảo Christmas gần Indonexia hơn là gần Úc, hay trên các đảo xa xôi vùng Thái Bình Dương như Nauru và Manus. Theo các luật sư và giới hoạt động nhân quyền, trong số 101 người Việt Nam đến Úc vào năm 2011, chỉ có sáu người cho đến nay bị trả lại cho Việt Nam, trong lúc chỉ có rất ít là họa may đã được cấp quy chế tị nạn.