Posts tonen met het label Himalaya. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Himalaya. Alle posts tonen

zaterdag 6 oktober 2018

'Hậu duệ Alexander Đại đế' trên dãy Himalaya, Ấn Độ

'Hậu duệ Alexander Đại đế' trên dãy Himalaya, Ấn Độ

  • 22 tháng 9 2018
Alamy Bản quyền hình ảnhAlamy
Image caption Cư dân làng Malana được cho là hậu duệ của các chiến binh thuộc đội quân Alexander Đại đế
Thung lũng Parvati của Ấn Độ được đông đảo du khách biết đến là nơi có những bữa tiệc phê thuốc và loại thuốc lá hashish được tự do mua bán xuất phát từ ngôi làng Malana cổ xưa ở bang Himachal Pradesh thuộc Bắc Ấn.
Nhưng nếu nhìn ra khỏi làn sương khói đó, bạn sẽ tìm thấy một kho tàng những thần thoại, những điều kỳ thú và những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Khái niệm gây ấn tượng của Ấn Độ về hư vô
Những phụ nữ góa không chốn nương thân
Vada Pav: 'hamburger Ấn Độ’

Tổ tiên bí ẩn

Lọt thỏm giữa những đỉnh núi của dãy Himalaya, làng Malana được bao bọc bởi những vách núi dựng đứng và những sườn núi tuyết phủ.
Từ lâu du khách đã kéo đến ngôi làng chỉ có gần 1.700 dân này và ở lại trong nhiều ngày liên tục giữa những cơn gió thốc lạnh lẽo và những hàng cây thông tuyết xanh sẫm để tận hưởng thứ mà dân địa phương xem là thảo dược thần kỳ trong khi người ngoài xem là một cách để giải thoát tâm hồn: kem Malana nổi danh và từng đoạt giải thưởng.
Loại nhựa cần sa này nổi tiếng với kỹ thuật chà tay dùng để sản xuất nó cũng như công dụng được cho là làm người ta túy lúy.
Nhưng tôi đến Malana là để cố giải thích những huyền thoại bao quanh ngôi làng.
Truyền thuyết kể rằng đạo quân của Alexander Đại đế đã trú ẩn ở ngôi làng hẻo lánh này vào năm 326 trước Công nguyên sau khi quân lính bị thương trong trận chiến với Porus, một thủ lĩnh ở vùng Punjab của Ấn Độ.
Những binh sỹ này thường được cho là tổ tiên của dân Malana. Những di chỉ có từ thời kỳ này đã được tìm thấy trong làng, chẳng hạn một thanh gươm được cho là được cất giữ bên trong ngôi đền.
Tuy nhiên, mối liên hệ huyết thống với những người quân lính xưa kia vẫn chưa được nghiên cứu và xác lập.
Thật ra, nhiều người dân địa phương mà tôi có dịp trao đổi đều không biết truyền thuyết đó bắt nguồn từ đâu.
"Giả thiết quan trọng rằng dân Malana có nguồn gốc từ đạo quân của Alexander Đại đế đã trở thành một sự thật được thừa nhận rộng rãi, nhưng tôi không tìm thấy bất cứ bằng chứng thực sự nào để hỗ trợ cho nó. Người ta đã tìm thấy một số vũ khí và những thứ khác vốn chỉ ra mối liên hệ này, nhưng tôi chắc rằng câu chuyện này không có bằng chứng gì cả," ông Amlan Datta, một nhà làm phim dành cả một thập niên làm việc ở Malana, cho biết.

Ngôn ngữ kỳ lạ

Nhưng những giả thiết này được hình thành dựa trên những khác biệt rất dễ nhận thấy trong đặc điểm thể chất cũng như ngôn ngữ của người dân địa phương vốn không hề giống bất cứ sắc dân bản địa nào khác, càng làm tăng thêm bí ẩn xung quanh người Malana và bản sắc của họ.
Alamy Bản quyền hình ảnhAlamy
Image caption Người Malani nói tiếng Kanashi, thứ ngôn ngữ được cho là thiêng liêng và không có ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới
Họ nói ngôn ngữ Kanashi, vốn được nhìn nhận là một tiếng nói thiêng liêng và không được dạy cho người ngoài. Ngôn ngữ này không hề được nói ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
Trong chuyến thăm của tôi, tôi gọi những người đàn ông mà tôi đã gặp là 'Bhaiji' (một cách lịch sự để nói anh em), vốn là một cách xưng hô thông dụng đối với nam giới ở Himachal. Mặc dù người dân địa phương hiểu khi tôi nói tiếng Hindi với họ, câu trả lời của họ trong tiếng Kanashi khiến tôi không thể hiểu được.
'Tôi đến từ một quốc gia không còn tồn tại'
Nơi người chết treo trên vách đá
Thị trấn kỳ lạ chỉ có một người sống ở Mỹ
Hiện tại Đại học Uppsala ở Thụy Điển đang nghiên cứu về Kanashi dưới sự chủ trì của giáo sư ngôn ngữ học Anju Saxena.
"Kanashi đủ điều kiện để được xem là ngôn ngữ tuyệt đối khẩn nguy với tư cách là một ngôn ngữ không có văn bản viết và gần như là không được mô tả," Saxena nói với tôi. "Nó thuộc về hệ ngôn ngữ Hán-Tạng, và trong số tất cả các ngôi làng xung quanh, người dân nói các ngôn ngữ thuộc hệ Ấn-Âu vốn hoàn toàn không có liên hệ gì với tiếng Kanashi. Điều này đặt ra câu hỏi thú vị liên quan đến lịch sử trước đây và cấu trúc ngôn ngữ của nó."
Ngay cả việc đi đến Malana cũng là hành trình đến một nơi ít người biết.
Không có con đường nào xe có thể chạy đến ngôi làng được, và tôi đã mất khoảng bốn tiếng đồng hồ để lội bộ từ làng Jari ở tận cùng thung lũng Parvati.
Khi đến gần ngôi làng, đường đi dốc và đáng sợ đến nghẹt thở. Không lâu sau đó tôi bắt đầu đi ngang qua người Malana - với đặc trưng nhận diện là mái tóc màu nâu nhạt, mũi cao và nước da ngăm đặc trưng hay màu da nâu vàng - phần đông đều ăn vận theo kiểu truyền thống với áo choàng nâu nhạt, mũ và giày đế bệt.
Đối với tôi, họ trông giống người Địa Trung Hải hơn là người Himachal.

Thiết chế dân chủ

Khi tôi tiến vào làng, tôi tiến đến một nhóm các thiếu niên và chúng hỏi tôi rằng tôi có muốn mua hashish hay không.
Alamy Bản quyền hình ảnhAlamy
Image caption Người Malani có hình dáng cơ thể và nét mặt giống với những sắc dân sống ở vùng Địa Trung Hải
Mặc dù lâu nay cần sa vẫn là xương sống trong nền kinh tế của ngôi làng nhỏ này, nó cũng đã dẫn đến một loạt các vấn đề văn hóa-xã hội, chẳng hạn như trẻ em bị lôi kéo vào việc buôn bán chất kích thích.
Có lẽ đó là lý do vì sao mà một năm trước đây, vị thần bảo hộ cho làng là Jamdagni Rishi - mà dân làng đặt biệt danh là Jamlu Devta và là một nhà thông thái vĩ đại theo truyền thuyết Hindu - đã chỉ dụ thông qua thị giả của Ngài (the Gur) rằng tất cả các nhà nghỉ trong làng phải bị đóng cửa, khiến cho ngôi làng chỉ tiếp đón người ngoài vào ban ngày mà thôi.
Loài quả dẫn đến cuộc binh biến huyền thoại
Santorini, hòn đảo Hy Lạp xinh đẹp và nền văn minh đã mất
Hòn đảo ma cựu thuộc địa của Anh giữa đại dương
Jamlu Devta là một nhân vật đứng đầu quan trọng trong chính quyền của làng, một thiết chế chính trị vốn lâu nay đã làm đau đầu các nhà nghiên cứu và các du khách vốn không thể hiểu làm sao mà một cơ chế quản lý tân tiến như thế có thể có ở một ngôi làng Himalaya xa xôi và kỳ lạ này.
Chế độ dân chủ độc đáo của Malana được cho là nằm trong số lâu đời nhất trên thế giới, và, tương tự như hệ thống dân chủ Hy Lạp cổ đại.
Thể chế của họ cũng bao gồm thượng viện và hạ viện. Tuy nhiên, nó có một điểm nhấn tâm linh độc đáo: quyền quyết định cuối cùng nằm ở thượng viện vốn bao gồm ba nhân vật quan trọng, một trong số đó là người đại diện của vị thần của ngôi làng, Jamlu Devta.
"Devta là tiếng nói cuối cùng và chúng tôi có tổ chức bao gồm một hội đồng và ba nhân vật chính trị mà một trong số đó là thị giả Gur, người mà thần Jamlu nhập vào để truyền đạt cho chúng tôi quyết định của Jamlu Devta," Rohan, một trong những thiếu niên bán hashish, giải thích với tôi.
Datta đã kể cho tôi nghe về một truyền thuyết địa phương cho rằng Jamlu Devta đã từng cư trú ở làng Malana mà ông được Thần Shiva ban cho.
Trong làng có hai ngôi đền, một dành để thờ ông và một dành cho vợ ông, bà Renuka Devi.
Khi bước trên những con đường hẹp của ngôi làng cổ này vốn được điểm xuyết với những ngôi nhà gạch và gỗ, tôi bước vào một khoảng sân lớn nơi hạ viện họp và một ngôi đền thờ Jamlu Devta. Đó là một quang cảnh để chiêm ngưỡng giữa nền những ngọn núi tuyết phủ trắng xóa.

Né tránh người ngoài

Ngôi đền này, với những chiếc cột gỗ rộng, những cánh cửa với họa tiết tinh vi và một mớ xương, hộp sọ và những bộ phận cơ thể động vật được hiến tế treo trên một bức tường trông có vẻ lý thú. Tuy nhiên, bên ngoài có một tấm biển báo là du khách phải trả 3.500 rupee để chạm tay vào nơi chốn linh thiêng của thần Jamdagni Rishi'.
Alamy Bản quyền hình ảnhAlamy
Image caption Người Malani rất hạn chế tiếp xúc với người ngoài
Tấm biển thông báo đó là sự thể hiện ra bên ngoài của một truyền thống nữa vốn rất hiển hiện ở làng Malana: nỗ lực gìn giữ sự thuần khiết của ngôi làng.
Người dân trên khắp vùng Himachal Pradesh sẽ nói với bạn rằng dân Malana được biết đến là hạn chế tiếp xúc với người ngoài, nhất là tiếp xúc cơ thể trực tiếp. Bản thân tôi cũng được người tài xế đưa tôi đến Jari vào sớm hôm đó cảnh báo là phải giữ khoảng cách.
Mặc dù tôi có thấy một số những người trẻ ôm hôn hay bắt tay, đa số người dân ở đây vẫn hết sức tuân theo điều cấm kỵ là không được đụng vào người ngoài.
Khi tôi đi trả tiền cho một chai nước, người chủ quán yêu cầu tôi để tiền trên quầy thay vì đưa trực tiếp cho ông ấy.
Tôi cũng biết được rằng hôn nhân phải diễn ra trong làng, nếu có ai vi phạm nguyên tắc này sẽ bị cộng đồng tẩy chay.
Ý thức rõ rằng người ngoài không được chào đón ở đây, tôi có cảm giác mình giống như là một kẻ xâm nhập khi tôi tiếp tục dò xét mọi người để tìm hiểu thêm những thông tin về ngôi làng.
Người Himachal nhìn chung là nồng ấm và thích trò chuyện, và họ thích chia sẻ những câu chuyện và đồ ăn với khách đến thăm; còn ở Malana, ngược lại, những cuộc trò chuyện lâu với người dân bản địa là rất hiếm.
Xuống núi và trở về từ một thế giới khác này, tôi nhìn nhận vị trí của mình là một du khách mà sẽ mãi luôn là kẻ ngoài lề của ngôi làng bí ẩn trên dãy Himalaya này. Cho dù tôi có thích hay không thì dân làng cũng không dẫn tôi vào, và tôi cần phải tôn trọng văn hóa của họ.
Nhưng giờ đây, sau nhiều tuần, tôi nhìn lại hành trình đi giải mã những huyền thoại của làng Malana, tôi đã nhận ra rằng cái đẹp của trải nghiệm của tôi là dựa trên chính bản chất của những bí ẩn đó, chính là ẩn số đó. Trân trọng bản chất này của làng Malana cuối cùng đã khiến tôi biết quý trọng vùng đất xa lạ, lạnh lẽo này của một tộc người bí ẩn.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan

zaterdag 2 mei 2015

Hành trình trên 'Nóc nhà Thế giới' Himalaya

Hành trình trên 'Nóc nhà Thế giới'

  • 19 tháng 2 2015
Xa lộ Pamir Highway, có tên gọi chính thức là đường M41, kéo dài 1.252 km từ thị trấn Osh miền nam Kyrgyzstan, qua Dãy núi Pamir, hay còn được gọi là “Nóc nhà Thế giới”, và dọc biên giới với Afghanistan cho tới điểm cuối tại Dushanbe, thủ đô của Tajikistan.
Thuở ban đầu là một phần của tuyến buôn bán Con đường Tơ lụa, Xa lộ Pamir đã được dùng gần 2.000 năm qua.
Marco Polo, thương gia nổi tiếng người Venice của Ý, đã đi dọc đường này khi tới Trung Quốc hồi thế kỷ 13. Nhưng không có mấy lữ khách chọn đi ngả này. (Hình Audrey Scott)

Lên lịch trình

Phương tiện giao thông công cộng dọc Pamir Highway thì không có, hoặc có thì không thường xuyên. Những sườn núi dốc đá và việc bảo dưỡng duy tu không được đầu tư khiến xe cộ chạy trên đường cứ xóc tung người.
Bởi vậy, người ta thường khởi hành từ Osh, chọn thuê một tài xế địa phương dùng xe UAZ, loại xe của Nga chuyên để chạy trên những địa hình hiểm trở. (Hình: Daniel Noll)

Cột biên cô độc

Chừng 220km về phía nam Osh, có một bức tượng chú cừu của Marco Polo, một loài động vật rất được quý ở nơi này, đánh dấu cột mốc biên giới chính chức và hoang vắng giữa Kyrgyzstan và Tajikistan ở độ cao 4.282m của hẻm núi Kyzylart Pass.
Công viên Quốc gia Tajik nằm bao quanh hầu hết Dãy núi Pamir đã được đưa vào danh sách Di sản Thế giới của Unesco hồi 2013. Đây là một lời nhắc nhở đáng quý cho ta biết những nơi đẹp đẽ nhất thế giới cũng là những nơi khó đến nhất. (Hình: Audrey Scott)

Quán cà phê hoang vắng trên cao

Thị trấn Murghab của Tajikistan phủ đầy bụi bặm, hoang vắng trên cao, nằm cách điểm đánh dấu đường biên chừng 190 km về phía nam là nơi đầu tiên chúng tôi dừng chân nghỉ qua đêm.
Nằm gần nơi các con đường chính giao nhau, thị trấn này theo lẽ tự nhiên trở thành tiền đồn thương mại giữa Tajikistan, Kyrgyzstan và Trung Quốc. Bởi vậy, khu chợ Murghab chất đầy các thùng container chở hàng dùng cho tàu hỏa và tàu biển. Trong hình là một công-te-nơ đã được cải tạo để làm quán cà phê tạm.
Bởi Murghab nằm ở trên cao, độ cao 3.560m, việc trồng hoa màu hay chăn nuôi gia súc là rất khó khăn. Hầu hết các loại rau cỏ, ngũ cốc đều khó trồng trọt được, và người ta chỉ nuôi được duy nhất loài bò lông dài và lừa, những loài gia súc có tim khỏe, chịu được áp suất trên cao. (Hình: Audrey Scott)

Một thoáng văn hóa địa phương

Trên đường từ Murghab tới làng Langar của Tajikistan, chúng tôi dừng lại ăn trưa ở một lữ quán vắng vẻ trên cao của hai phụ nữ Kyrgyzstan.
Đa số người dân sống ở các khu vực phía đông của Dãy núi Pamir là người dân tộc Kyrgyz nói tiếng Thổ, khác với các láng giềng sống ở phía tây Pamir dùng một loại thổ ngữ của Iran.
Trước khi Liên bang Xô-viết được thành lập, vùng này của Tajikistan được công nhận là Kyrgyztan. Tuy nhiên, khi nhà lãnh đạo Xô-viết khi đó, Joseph Stalin đã vẽ đường biên của Cộng hòa Xô viết Tajik vào 1929, ông đã tùy tiện phân chia dân số địa phương và tạo ra các điểm sinh sống của các sắc tộc thiểu số khác nhau. (Hình: Audrey Scott)

Về nhà ban đêm

Chúng tôi theo một đàn lừa nhỏ cõng đầy gỗ củi và những người chủ của chúng trở về làng Langar.
Trông ra những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng của dãy núi Hindu Kush của Pakistan xa xa là những gì trong tầm mắt khi chúng tôi bắt đầu xuôi xuống Thung lũng Wakhan của Tajikistan.
Tuy sông Panj là biên giới tự nhiên giữa Tajikistan và Afghanistan, nhưng các cư dân Pamir sống hai bên bờ sông dùng chung một ngôn ngữ, có chung tôn giáo và có lối sống giống nhau. (Hình: Daniel Noll)

Bữa sáng trong gia đình Pamir

Chẳng hề có khách sạn nào trong những ngôi làng nhỏ bé dọc theo thung lũng Wakhan Valley.
Thay vào đó, những người đi đường ở lại các gia đình Pamir, mà một số gia đình như vậy ta có thể tìm thấy nhờ thông tin từ các mạng lưới cho ở ké (homestay) kiểu tổ chức phi lợi nhuận, như Murghab Ecotours Association hay Pamirs Eco-Cultural Tourism Association.
Căn nhà truyền thống của người Pamir, được gọi là huneuni chid, có gắn những biểu tượng của Hồi giáo Shia Ismaili, là phái tôn giáo được đa số người Pamir theo. Từ bên ngoài, các căn nhà trông giống như một khối đã được ốp gỗ đơn giản và được trát vữa sơ sài, nhưng bầu không khí bên trong rất ấm cúng, hiếu khách.
Tại căn nhà ‘homestay’ của chúng tôi ở Langar, chúng tôi được đãi bữa sáng gồm bánh mỳ tự làm và trà sữa.
Nổi tiếng là hiếu khách từ hàng trăm năm nay, một số gia đình Pamir đã mời chúng tôi ghé nhà khi chúng tôi đi qua các ngôi làng của họ.
Chúng tôi luôn được họ mời uống trà, ngay cả khi bản thân gia chủ cũng không có gì nhiều cho chính họ. (Hình: Audrey Scott)

Dọn đồng ruộng cho mùa đông

Thung lũng Wakhan Valley chủ yếu làm nông nghiệp, bởi nó ở độ cao khá thấp so với xung quanh, khiến rau cỏ hoa màu có thể phát triển được.
Các gia đình thường có những mảnh đất nhỏ để trồng khoai tây, lúa mạch hay lúa mì.
Người dân địa phương cũng chăn nuôi bò, dê và cừu, nhưng chỉ ăn thịt trong dịp đặc biệt hay trong ngày lễ.
Trong các bữa ăn của chúng tôi với các gia đình Pamir, chúng tôi ăn bánh mỳ, khoai tây, cháo và món lúa mạch hầm.
Quan sát các gia đình chuẩn bị cho mùa đông mới thấy hết mức độ khó khăn của cuộc sống nơi xa xôi hẻo lánh này, khi mà họ phải thuận theo nhịp thay đổi của thời tiết. (Hình: Audrey Scott)

Chào đón bên triền đồi

Khi chúng tôi tới thăm làng Vrang, một nhóm trẻ em địa phương đã dẫn chúng tôi tới tham quan một cụm tháp Phật giáo nằm ở rìa làng.
Truyền thuyết nơi này kể rằng những ai là người Pamir nhưng có da sáng hơn và có mắt xanh đều là hậu duệ của các nhà thám hiểm Macedonia, những người đã tới định cư tại vùng này sau các cuộc chinh chiến của Alexander Đại Đế hồi năm 300 trước Công nguyên.
Các em nhỏ thường nói bằng hàng loạt thứ ngôn ngữ đầy ấn tượng, tiếng Nga và tiếng Anh bên cạnh thứ thổ ngữ Pamir của mình.
Aga Khan, lãnh tụ tinh thần của người Hồi giáo Ismaili, đã đầu tư mạnh vào các trường học địa phương và đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các bé gái và của việc học ngoại ngữ. (Hình: Daniel Noll)

Đống đổ nát từ thế kỷ thứ ba, pháo đài Yamchun

Được các thương gia xây trên vách đá nhìn xuống thung lũng Wakhan, pháo đài Yamchun là một tiền đồn trên Con đường Tơ lụa có từ hồi thế kỷ thứ ba.
Nằm cách đường R-45 5km và cách Khorog khoảng 180 km về phía đông nam, đây là một trong số các pháo đài ở khu vực được xây dựng nhằm đảm bảo quyền kiểm soát đối với các tuyến đường buôn bán từ Trung Quốc sang phía tây, tới Iran và xuống phía nam, tới Ấn Độ.
Các cấu trúc như tòa pháo đài này giúp củng cố vai trò của xa lộ cổ, Pamir Highway, vốn được tăng sức mạnh nhờ hoạt động thương mại và cư dân địa phương chính là bằng chứng về sự giao thoa văn hóa.
Ngày nay, không mấy người đi lại tới vùng hẻo lánh này. Những ai tới thì đều được tưởng thưởng bằng những cảnh tượng cực kỳ ấn tượng, bằng sự hiếu khách của người Pamir, và bằng một hành trình hứa hẹn đầy chất sử thi. (Hình: Daniel Noll)
Bản gốc tiếng Anh bài này đã được đăng trên BBC Travel.

zondag 21 april 2013

Himalaya : Quân đội Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Độ

Chủ nhật 21 Tháng Tư 2013

Himalaya : Quân đội Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Độ

Himalaya ảnh chụp từ trạm không gian ISS.
Himalaya ảnh chụp từ trạm không gian ISS.
(Photo : NASA)

Trọng Thành
Ngày 20/04/2013 chính phủ Ấn Độ cho biết, hàng chục binh sĩ Trung Quốc đã thiết lập một căn cứ ở Himalaya, nơi có các tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia. Theo New Delhi bất đồng lãnh thổ với Trung Quốc có thể giải quyết bằng con đường ngoại giao.


Nguồn tin trên cho biết, hàng chục lính Trung Quốc trong đêm ngày 15/04/2013 đã dựng trại tại vùng Ladakh thuộc bang Jammu và Kashmir ở cực bắc Ấn Độ, nơi New Delhi tuyên bố chủ quyền.
Trả lời AFP, một giới chức cao cấp của chính quyền Ấn khẳng định : « biến cố này có thể giải quyết bằng con đường hòa bình, trên cơ sở các hiệp định song phương hiện có và nhờ những cơ chế mà các hiệp định kể trên đã trù liệu ». Cũng giới chức này nhận xét rằng các binh sĩ Trung Quốc đang có mặt tại « một khu vực, nơi có những quan niệm khác nhau về đường Kiểm soát hiện thực (Line of Actual Control – LAC) ».
Tại vùng lãnh thổ tranh chấp này, mặc dù chưa có đường phân ranh chính thức, New Delhi và Bắc Kinh đã hai lần ký kết hiệp định vào năm 1993 và 1996 để duy trì hòa bình.
Cũng theo nguồn tin kể trên, Ấn Độ và Trung Quốc đang tiến hành tham vấn về biến cố mới đây tại Ladakh, qua trung gian một ủy ban giải quyết các vấn đề biên giới, được lập ra năm 2012.
Theo hãng thông tấn Ấn Độ PTI, đơn vị gồm khoảng 50 quân nhân Trung Quốc đã xâm nhập sâu vào vùng LAC đến 10 km, tại Daulat Beg Oldi, nơi có một đường băng máy bay quân sự của Ấn Độ. Tại đây họ đã bị một đơn vị biên phòng Ấn Độ-Tây Tạng chặn lại. Phía Ấn Độ đã đóng quân cách đơn vị Trung Quốc khoảng 300 mét.
Giữa Ấn Độ và Trung Quốc có nhiều tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết. Vào năm 1962, một cuộc chiến tranh biên giới đã nổ ra tại vùng đông bắc bang Arunachal Pradesh và tại Ladakh. Theo New Delhi, Trung Quốc đã dành thắng lợi trong cuộc chiến đẫm máu này và chiếm được của Ấn Độ 38.000 km² tại vùng Himalaya. Trong khi đó, Bắc Kinh đòi hỏi toàn bộ chủ quyền đối với toàn bộ bang Arunachal Pradesh, với diện tích khoảng 90.000 km².
Việc Trung Quốc gia tăng xây dựng cơ sở hạ tầng tại vùng biên giới tranh chấp gây lo ngại lớn cho New Delhi. Ấn Độ ngày càng coi Trung Quốc như một đe dọa đối với an ninh quốc gia về dài hạn, nhiều hơn là đối thủ Pakistan truyền thống.
Viết trên tờ Mint, nhà phân tích chính trị Ấn Độ Brahma Chellaney, một cựu chiến binh, cho rằng : « Chính quyền Ấn Độ phải có phản ứng để giảm thiểu các hành động từ phía Trung Quốc, mà không làm gia tăng sự đối đầu ». Nhà phân tích này cũng cho biết, theo các số liệu của New Delhi, số lượng các vụ xâm nhập bí mật của Trung Quốc vào khu vực lãnh thổ mà Ấn Độ tuyên bố chủ quyền, đã liên tục gia tăng.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130421-himalaya-quan-doi-trung-quoc-tien-sau-vao-lanh-tho-an-do