Posts tonen met het label Đất đai. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Đất đai. Alle posts tonen

donderdag 17 april 2014

Việt Nam : Đất đai – Nguồn sống và hiểm họa

Đất đai – Nguồn sống và hiểm họa

Nguyễn Thanh Giang, gửi RFA từ Việt Nam
2013-11-07
 
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg8693604-305.jpg
Một người nông dân đốt rơm rạ ở ngoại thành Hà Nội vào ngày 14 tháng 6 năm 2013.
AFP PHOTO
Trăn trở trước hiện trạng các đoàn biểu tình khiếu kiện đông người ngày càng rầm rộ kéo về 110 Cầu Giấy – Hà Nội và trụ sở Văn phòng 2 của Quốc hội ở Sài Gòn, trong bài “Quản lý đất đai – Những khía cạnh đặc thù” đăng trên báo Lao Động trong số ra hồi nửa cuối tháng 8 năm 2007, ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, một đồng hương lớp sau của tôi đã nêu mấy câu hỏi khái quát:
-“Có nhiều ý kiến cho rằng, trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ các cấp yếu kém và tiêu cực là nguyên nhân chủ yếu gây nên bất bình khiếu kiện của người dân. Liệu giải thích như vậy đã thật đúng chưa ?
-Ý kiến khác cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do người dân hiểu sai, làm sai hoặc cố tình đòi hỏi những lợi ích không thể đáp ứng được. Lẽ nào nhân dân ta nhiều người thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng luật pháp đến vậy ?
-Có ý kiến giải thích, cái sai này chủ yếu là do các cấp bên dưới, do có sự hiểu sai, làm sai. Nghe ra cũng không ổn. Vậy vì sao cái sai chỉ chủ yếu tập trung chủ yếu ở lĩnh vực này mà không là các lĩnh vực khác, bên trên thì đúng, còn bên dưới thì sai?”
Những câu hỏi vừa như đặt vấn đề, vừa có phần tự trả lời ấy có yếu tố dũng cảm, dám nhìn thẳng vào sự thật và tỏ ra muốn tiếp cận chân lý. Tuy nhiên, liệu như vậy là đã dám đi vào cốt lõi vấn đề chưa ?

Tư hữu hóa đất đai, tiến bộ thời phong kiến VN

Trong tư duy tổng hợp của người Việt Nam về những cương vực núi sông, mây gió; về quốc sử, tổ tiên; về bản quán, họ hàng …, yếu tố “đất” luôn luôn xuất hiện đầu tiên. Người Việt Nam gọi tổ quốc mình là “đất nước”. Trong kho tàng thi ca Việt Nam thời chống Pháp, có lẽ bài thơ hùng tráng nhất là bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi. Theo nhà thơ này, tổ quốc được hồi sinh sau cách mạng như cũng từ đất trồi lên: “Nước Việt Nam từ máu lửa. Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.
Từ thuở vua Hùng dựng nước đến nhiều thế kỷ về sau, đất đai đều của nhà vua. Đất của các lãnh chúa đều do vua ban qua những thác đao điền. Đến thế kỷ thứ X, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất vẫn tồn tại. Tuy nhiên, trong quá trình vận động phát triển của xã hội, bắt đầu từ thế kỷ XII, sở hữu tư nhân về ruộng đất đã xuất hiện dần dần từ cá biệt đến phổ biến. Nhà nước Lý và Trần không những không ngăn chặn mà còn tạo điều kiện để sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển bằng nhiều cách: bán ruộng công cho dân, cho phép mua, bán, chuộc theo luật lệ, cho phép vương hầu, quý tộc, phò mã, cung tần lập điền trang…
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Giáp Dần (1254) vua Trần Thái Tông xuống chiếu: “ Bán ruộng công, mỗi diện (mẫu) là 5 quan tiền, cho phép dân mua làm ruộng tư ”.
024_450245-250.jpg
Đất trồng hoa màu bên cạnh những tòa nhà căn hộ cao cấp tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hôm 24 tháng 06 năm 2010. AFP.
Để tạo điều kiện cho mua, bán, chuộc, nhượng đất đai được dễ dàng, tháng chạp năm Nhâm Tuất (1142) vua Lý Anh Tông xuống chiếu: “ Những người cầm đợ ruộng thục trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại; việc tranh chấp ruộng đất trong vòng 5 năm hay 10 năm thì còn được tâu kiện; ai có ruộng đất bỏ hoang bị người khác cầy cấy, trồng trọt trong vòng một năm thì được kiện mà nhận lại, quá hạn ấy thì cấm. Làm trái thì xử 80 trượng”.
Để tránh tình trạng sử dụng quyền uy cướp đoạt đất đai, nhà vua lại xuống chiếu: “Những người tranh nhau ruộng ao, của cải không được nhờ cậy nhà quyền thế, làm trái thì đánh 80 trượng xử tội đồ”.
Để bồi hoàn thỏa đáng khi trưng thu đất đai, năm Mậu Thân (1248) vua Trần Thái Tông cho phép trưng thu đất để dắp đê nhưng quy định: “Chỗ nào đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo thời giá trả lại tiền”.
Để phát triển đất canh tác, ngay từ thời Lý đã tương truyền câu chuyện về một người có tên là Hoàng Lệ Mật người huyện Gia Lâm vì có công mò được xác một công chúa nên được nhà vua cho đem dân nghèo ở Lệ Mật đến khai hoang lập làng ở phía tây thành Thăng Long, hiện còn di tích đền thờ gần với khu “thập tam trại ”.
Năm Bính Dần (1266), Trần Thánh Tông “ xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán, không sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang”. Do tác động của chủ trương này, một loạt điền trang xuất hiện như: điền trang của thượng tướng Trần Phó Duyệt, (cha của Trần Khánh Dư) ở ven sông Kinh Thầy (Chí Linh, Hải Dương); điền trang của An sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) ở An Lạc (xã Bảo Lộc, huyện Mỹ Lộc, Nam Định); điền trang của công chúa Trần Khắc Hãn ở An Nội và Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội); điền trang của Trần Khánh Dư ở Linh Giang …
Đến cuối đời Trần, hoàng hậu Bạch Ngọc (vợ vua Trần Duệ Tông), người huyện Hương Khê đã đưa 172 người về khẩn hoang ở vùng đất giáp hai huyện Can Lộc và Đức Thọ ngày nay rồi lập thành bốn điền trang mới: Lai Sơn, Hằng Nga, Ngũ Khê, Tùng Chính với tổng diện tích đến 3985 mẫu ….
Năm 1397, nhân việc hạn danh điền (ruộng có chủ đứng tên) theo chủ trương của Hồ Quý Ly, sử chép rằng: “Trước kia các nhà tôn thất thường sai nô tỳ của mình đắp đê bối ở bờ biển để ngăn nước mặn, sau hai ba năm khai khẩn thành ruộng, cho họ lấy nhau và ở ngay đấy, lập ra nhiều ruộng đất tư trang”.
Nhờ chủ trương tư hữu hóa đất đai, tạo cơ sở thực thi khẩn hoang bằng nhiều hình thức, cha ông ta đã mở đường cho ruộng đất không ngừng sinh sôi, từ đấy ngày mỗi ngày càng mở mang bờ cõi.
Trong “Chủ nghĩa Mác … tản mạn ký ”, khi bàn về “Tư hữu và khát vọng cá nhân” Vũ Cao Quận đã ngợi ca: “Với riêng Tễu tôi, xin viết hoa hai chữ “Tư hữu” là sáng tạo vĩ đại thiêng liêng nhất vượt lên mọi thời gian, vĩ đại nhất của mọi vĩ đại để từ con vật tiến lên để thành “con người”. Hai anh em “Động lực cá nhân” và “Tư hữu” chính là động lực phát triển của xã hội loài người ” .

Công hữu làm nghèo đất đai

Chính quyền Sài Gòn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu đất đai, tuy nhiên, để hữu sản hóa những nông dân vô sản, họ đã tiến hành hai cuộc phân chia lại ruộng đát. Trong cuộc phân chia thứ nhất, từ năm 1955 đến 1960, họ chỉ để lại cho mỗi địa chủ nhiều nhất là 115 ha, số còn lại bị trưng thu rồi bán cho tá điền. Một phần ba tổng diện tích đất canh tác tại Miền Nam lúc bấy giờ (650.000 ha) đã về tay nông dân.. Sau năm 1970, cuộc cải cách thứ nhì mang tên “ Người cày có ruộng ” lại được xúc tiến nhằm hợp lý hóa thêm vấn đề sở hữu đất đai. (Tư liệu từ cuốn “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay ” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia)
000_Hkg8377467-250.jpg
Một người dân tộc thiểu số chăn bò tại Gia Lai, ảnh chụp 12 tháng 3 năm 2013. AFP PHOTO.
Trong khi đó, ở Miền Bắc, cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất đã nổ ra cướp đi trên dưới ba mươi vạn sinh mạng và để lại những oan khiên dầy vò đằng đẵng hàng triệu số phận con người. Với đầm đìa xương máu thê lương, oán hờn chồng chất, từ 1949 đến 1953, một triệu rưỡi hecta ruộng đất cũng đã được phân chia cho 2,4 triệu hộ ở nông thôn. Từ năm 1953 đến năm 1955, lại có thêm 895.000 ha được đem chia.
Dẫu sao, có thể xem đấy là biện pháp xúc tiến cho đất đai được tư hữu hóa sâu hơn, nhờ vậy sản xuất nông nghiệp cũng được đẩy mạnh, sản lượng lương thực năm 1957 đạt được 3,95 triệu tấn, cao hơn cả sản lượng cao nhất tại Miền Bắc trước Đại chiến Thế giới lần thứ hai (2,4 triệu tấn).
Niềm vui “người cày có ruộng” chưa nhen nhúm được bao lâu, chẳng hiểu ma nào đưa lối, quỷ nào dẫn đường, người ta bỗng lùa hết nông dân vào hợp tác xã. Hiến pháp sửa đổi năm 1980 quy định rõ rành: đất đai là sở hữu của toàn dân. Từ đó, hầu hết đất đai được giao cho các hợp tác xã và nông trường khai thác. Ngay từ khi chính sách này được thực thi, từ năm 1976 đến năm 1980 năng suất lúa giảm từ 2,23 tấn/ha xuống chỉ còn 2,08 tấn/ha mặc dù Nhà nước đã tăng cường đầu tư vào nông nghiệp.
Người ta không những không tích cực trồng cấy mà cũng chẳng thiết gì đến khai hoang khẩn hóa. Việt Nam có tiềm năng nhất định về đất đai nhưng hiệu quả sử dụng tiềm năng này vào nhũng năm đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa càng rất thấp. Diện tích đất chưa sử dụng, tính đến năm 1993 còn tới trên 14,2 triệu ha, chiếm gần một nửa (43%) tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó: miền núi và trung du Bắc Bộ 6,5 triệu ha, Khu Bốn 2,3 triệu ha, duyên hải Miền Trung 2,1 triệu ha, Tây nguyên 1,6 triệu ha, đồng bằng Cửu Long 0,8 triệu ha. Đến năm 1993 cả nước còn 11.420 ha đất trống đồi trọc, chiếm 57% diện tích đất lâm nghiệp. (Theo Vietnam Discoverry – Nhà xuất bản Thống kê).
Lợi dụng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, các quan chức Nhà nước đua nhau phát huy sáng kiến vẽ ra đủ loại bản đồ quy hoạch, trong đó hàng loạt “kế hoạch treo” rải rác khắp nơi đã để hoang hóa hàng vạn hecta đất qua nhiều năm, suốt từ thành thị, đồng bằng đến trung du …
Trong cuốn “Viết cho Mẹ và Quốc hội” cụ Nguyễn Văn Trấn kể lại: Một lần, đến thăm một lớp học chính trị của cán bộ trung cao cấp, khi được hỏi: “Dân chủ tập trung là gì?”, cụ Hồ đã giải đáp: “Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó thì các chú các cô là chủ, đó là dân chủ. Các chú các cô không biết giữ. Tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây. Đó là tập trung!”.
Thay cho hợp tác hóa nông nghiệp, hòng nhích tý chút ra khỏi cái cùm công hữu ruộng đất, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc dũng cảm đề xuất chủ trương khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Ông bị tổng bí thư Trường Chinh đập tơi bời qua nhiều trang báo Nhân Dân dày đặc. Rồi ông bị trù dập, đầy ải cho đến chết. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị mãi sau này mới thắp được một nén nhang muộn màng cho oan hồn Kim Ngọc.

Công hữu hay tư hữu hóa bằng quyền lực

Trong bài “Nông dân Bắc Phi” in trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (tập Một), Nguyễn Ái Quốc có đoạn viết sau: “Đối với người Tuynidi, người ta thường sử dụng những mánh khóe kiểu như sau: 25 khu ruộng của người Tuynidi làm thành một babu tập thể. Những người nông dân canh tác đất đai ấy được hưởng một phần mừa màng, phần khác dành cho phúc lợi xã hội, giáo dục, xây nhà, phương tiện thông tin và những xí nghiệp có ý nghĩa tập thể khác nhau.
Babu tập thể không thể được sử dụng cho cá nhân, nhưng có thể chuyển từ một xí nghiệp tập thể sang xí nghiệp khác, vì đó là do lợi ích công cộng. Về sau Phủ Toàn quyền cứ lấy cớ dùng cho lợi ích công cộng mỗi khi cần lấy đất của người bản xứ cho bọn chủ đồn điền. Một thí dụ: một nhà báo và chủ đồn điền, khi thấy người dân bản xứ từ chối bán đất cho hắn, mà hắn thì muốn mua cho mình, liền đến nhờ bạn - là viên công sứ tỉnh ấy. Tên này liền ra ngay một sắc lệnh trưng thu dất ấy cho lợi ích công cộng, đuổi người dân bản xứ ra khỏi đất ấy và chuyển cho người bạn của mình.
Chế độ thuộc địa ấy đem lại lợi ích gì cho những người nông dân nghèo Pháp? Không! Chỉ có những tên chính khách bẩn thỉu, những con buôn tham lam và tư bản lớn được lợi mà thôi
Những công ty đồn điền lớn chiếm những khu đất đai mênh mông, không phải nhắm làm cho nó sản sinh, mà chỉ với mục tiêu đầu cơ ”.
024_450312-305.jpg
Ảnh chụp tại tỉnh Ninh Bình, Việt Nam ngày 13-06-2010.
Tước đoạt kiểu như vậy còn phải sử dung mánh khóe vất vả. Ở Việt Nam, đã xẩy ra cuộc tước đoạt ruộng đất đại quy mô mà cứ tỉnh bơ, mà ngon xơi, thoải mái hơn nhiều. Ông Vũ Cao Quận chỉ ra cái phương thức tước đoạt trong cuốn “Gửi lại trước khi về cõi” như sau: “Công hữu của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: tài nguyên, hầm mỏ, đất đai, nhà cửa, ruộng đồng … được Đảng và Chính phủ “giữ dùm” cho nhân dân. Nói chung là như vậy, nhưng Đảng và Nhà nước cũng phải cử một ông Kèo, ông Cột cụ thể rồi giao con dấu và chữ ký có quyền hành quản lý cho ông ấy…. Khi có quyền hành, con dấu và chữ ký, việc đầu tiên của ông Kèo, ông Cột là xắn miếng công hữu ngon nhất cho sếp - người đã giao quyền hành và con dấu cho ông. Rồi tuần tự, ông tiếp tục tùng xẻo miếng công hữu tùy theo thân thủ, tim gan… cho vợ, cho con cháu, họ hàng và các chiến hữu thân thiết của ông. Còn nhân dân – “người chủ” của ông ? Cứ yên trí đi, sẽ được một mảnh vỏ sò là cái chắc !”. Hai nhà lý luận chống cộng Trung Quốc Mã Lập Thành và Lăng Chí Quân trong “Giao Phong” cũng nhất trí với Vũ Cao Quận:  “Công hữu của Mác” là “sở hữu của toàn dân ” mà “sở hữu của toàn dân” là “sở hữu của nhà nước” mà “sở hữu của nhà nước” là “sở hữu của chính phủ”, tức … tức là “sở hữu của quan chức”.
Bài “Giám đốc Sobexco có “xé rào” pháp luật?” trên báo Lao Động ra ngày 30 tháng 8 năm 2007 có chạy mấy dòng chữ lớn : “Những tài liệu mới nhất thể hiện ông Nguyễn Thanh Hải – giám đốc công ty chế biến cây trồng nông nghiệp xuất khẩu (Sobexco) – đã “cầm đèn chạy trước ôtô”, vi phạm luật pháp trong vụ “biếu không” 700 ha đất công ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương”.
Một ông giám đốc nho nhỏ như vậy mà có thể biếu không 700ha đất! Hỏi, những thủ trưởng cấp trên ông dăm bảy bậc có thể biếu không bao nhiêu, bao nhiêu hecta đất? Cho nên các “địa chủ đỏ” ngày nay không phải chỉ có hàng trăm (Chính quyền Sài Gòn trước 1975 chỉ giới hạn 115 ha cho mỗi địa chủ) mà hàng chục nghìn hecta đất.
Nhiều “địa chủ đen” ngày nào chưa có nổi một hecta đất đã bị trói vào cột trường đấu để tá điền đốt râu rồi chết tức tưởi trong lao đầy. Các “điạ chủ đỏ” ngày nay không tốn một giọt mồ hôi mà ung dung quá, phè phỡn quá.
Ôi những oan hồn dân tộc! và hỡi các sủng nhi, sủng tử của chế độ công hữu…!

Giá đất

Ở Việt Nam đã tồn tại khá lâu những khái niệm, những thuật ngữ rất quái đản. Không nói đến những khái niệm, những thuật ngữ kỳ dị xuất hiện trong các tác phẩm thơ văn của những nhà văn, những thi sỹ siêu việt hay trong các luận văn khoa học làm choáng váng trí tuệ con người, thử đề cập đến một số văn liệu hành chính quốc gia như Hiến pháp chẳng hạn. Trong bản “Thảo luận về dự thảo sửa đổi hiến pháp Việt Nam năm 1980” gửi Nhà nước cách đây 15 năm, một trong những khuyến nghị tôi nêu là: “Không nên lạm dụng cụm từ XHCN. Việc đưa ý niệm   “Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản XHCN” làm cho điều 76HP vừa không xác định, vừa mâu thuẫn với một số điều khác. “Thế nào là tài sản XHCN?” Đối với các di sản văn hóa, di tích lịch sử, các tài sản của các thành phần kinh tế khác thì sao? ”.
Thế nào là tài sản XHCN? Câu hỏi rất rõ rành và câu trả lời nghiêm túc là cần thiết và rất hệ trọng nhưng chẳng ai dám đụng đến. Cam đoan rằng, cho đến nay, không phải chỉ những người it học như tổng bí thư Đỗ Mười hay có được du hoc ngoại quốc như tổng bi thư Nông Đức Mạnh mà cả nhũng người có học vấn thực sự cũng không thể xác định được đâu là tài sản XHCN.
Hiến pháp là luật mẹ của các luật trong một nước mà còn lơ mơ, nhập nhằng như vậy thì làm sao mà xây dựng được nhà nước pháp quyền, dù chỉ là pháp quyền XHCN!
Tương tự là trường hợp thuật ngữ: “Giá quyền sử dụng đất”.
Luật Đất đai công bố năm 2003 quy định:
-“Giá quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất.
-Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định ”.
Thật là “bối rối chẳng xong bề nào”. Đất và quyền sử dụng đất là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, cho nên không thể có chuyện: “Giá quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giá đất)” được. Cái ghế tổng bí thư ngồi thì có giá chứ quyền ngồi trên cái ghế tổng bí thư thì làm sao định giá bằng tiền được. Có chăng chỉ định bởi sự chấn hưng của đất nước hay nỗi thống khổ của nhân dân.
000_Hkg3834100-305.jpg
Nông dân phơi lúa trên một cánh đồng ở huyện Phú Nhuận, tỉnh Tiền Giang, ảnh chụp trước đây.
Cho nên đã qua mấy đời thủ tướng rồi mà trong bài phát biểu trước Quốc hội ngày 31 tháng 3 năm 2007 thủ tường Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn phải trần tình: “Vấn đề giá đất, thưa Quốc hội, đây là một trong những vấn đề mà trong lãnh đạo, điều hành, trong quản lý của Chính phủ là đang khó khăn, vướng mắc rất nhiều và Chính phủ cũng tốn rất nhiều thời gian về vấn đề này”. Không đành tỏ ra bất lực, ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị, trong bài viết đã nêu trên đây chỉ thành khẩn van nài: “Quả thật, đây là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng, khó khăn, phức tạp và bức xúc không chỉ với đông đảo nhân dân mà các cấp chính quyền cũng đang mong chở Chính phủ và Quốc hội khóa XII sớm xem xét, giải quyết” .
Cũng trong bài “Nông dân Bắc Phi” đã nêu trên, Nguyễn Ái Quốc tố cáo “những tên chính khách bẩn thỉu, những bọn con buôn tham lam” như sau:
“Những tên địa chủ biết rõ là, dân bản xứ luôn luôn lo sợ bị trưng thu. Vì vây, khi nào họ muốn chiếm đất, họ sử dụng luật về trưng thu như một con ngoáo ộp. Dân bản xứ tất nhiên muốn bán đất của mình với giá rẻ mạt, còn hơn là để cho chính quyền hành chính bỗng chốc làm mình phá sản…..
Công ty này mua của dân bản xứ mối hecta giá từ 20 đến 30 phrăng và sau một thời gian ngắn bán lại với giá 1.000 và 1.200 phrăng trong một vài tháng lãi tới 858.000 phrăng”.
Họ, ở Châu Phi, mới ăn lãi được gấp (1.100 / 25 =) 44 lần đã bị cụ Nguyễn Ái Quốc căm phẫn rủa xả là “những tên chính khách bẩn thỉu”. Cái bọn sủng nhi, sủng tử của chế độ công hữu ở Việt Nam ngày nay chúng chỉ trả cho người dân (trong đó có bà mẹ Việt Nam anh hùng, có cựu chiến binh đã để lại một phần máu thịt ở chiến trường) vài nghìn đồng để bán được mấy triệu đồng, vài chục nghìn đồng để bán được mấy chục triệu đồng. Thưa Cụ, không phải chỉ có 44 lần như ở Châu Phi đâu, ở Việt Nam bây giờ bọn chúng thu lợi bất chính gấp nghìn lần Cụ ạ!
Chỉ một vụ rất nhỏ của Sobexco nêu trên đã được báo Lao động công bố: “Nhiều cơ quan chức năng khẳng định: Việc hợp pháp hóa giá trị đất công cho tư nhân, dẫn tới hậu quả gần 400 tỷ đồng tiền Nhà nước, hiện nay đã thật sự chẩy vào túi tư nhân”.
Cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên- Môi trường Đặng Hùng Võ thì cho biết: với việc áp dụng hai giá đất trong 20 năm qua Nhà nước đã để rơi vào túi các quan tham và đệ tử của họ 70 tỷ USD.

Kiến nghị

Đến đây, tưởng đã có thể trả lời mấy câu hỏi liên quan đến các vụ biểu tình khiếu kiện đang diễn ra ngày càng đông người của ông Phạm Quang Nghị như sau:
-Có phần do trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ các cấp yếu kém và tiêu cực nhưng đấy không phải là nguyên nhân chủ yếu gây nên bất bình khiếu kiện của người dân.
-Không phải nguyên nhân chủ yếu là do người dân hiểu sai, làm sai hoặc cố tình đòi hỏi những lợi ích không thể đáp ứng được.Càng không phải do người dân bị các thế lực thù địch, bọn bất mãn, cơ hội chính trị, bọn tôn giáo phản động xúi giục, kích động.
-Không phải cái sai này chủ yếu là do các cấp bên dưới, do có sự hiểu sai, làm sai, mà do các Bộ Chính trị ĐCSVN tử trước đến nay mù quáng đưa chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, vạch ra nhiều đường lối sai lầm, trong đó có chủ trương công hữu hóa ruộng đất.
Ruộng đất phải có chủ cụ thể, phải “hạn danh điền”, phải được tư hữu hóa; đấy là lẽ đời mà cha ông ta đã nhận ra và thực thi từ gần nghìn năm trước. Nay Việt Nam đã vào WTO, muốn hay không, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố phải xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao. U mê, trì trệ mãi nhưng rón rén rón rén rồi cũng phải cho mở lại nhà thương tư, trường tư thục…, phải thừa nhận lao động, chất xám… cũng là hàng hóa. Chỉ còn bước cuối cùng sao sống chết cứ phải ngoan cố giữ cho được đất đai là tài sản của Nhà nước? Phải chăng vì miếng ăn này to quá, phải chăng chỉ vì đất đai đang là cái kho vô tận để các quan tham bấu xấu. Tham thực cực thân. Tước đoạt tàn bạo lắm thì phản ứng của nhân dân sẽ càng mạnh. Đàn áp đi, để rồi lại cú phải đàn áp mãi, đàn áp nữa, đàn áp ngày càng dữ dội hơn. Để rồi, oán giận cứ thế mà chồng chất lên cao ngút tròi… Đất đai là nguồn sống của nhân dân, của đất nước nhưng là hiểm họa của chính quyền chính vì vậy. Hiểm họa dẫn đến sụp đổ, đến tang thương không phải vì kẻ thù đâu mà do chính từ lòng tham và sự ngu muội của chính quyền.
Hãy thực sự cầu thị nhận ra cho được sai lầm tai hại đã mắc phải và dũng cảm, chân thành sửa sai, đừng loanh quanh dối mình, lừa người, đừng vá víu chằng đụp. Thay áo đi để có áo mới đẹp hơn, đừng để áo cũ phải bục nát, tả tơi, rơi rụng. Có thể phải tiết chế bớt sự kiêu hãnh, lòng tự hào đã có một cách giả tạo, quá trớn; có thể phải san bớt cửa, sẻ bớt nhà; có thể phải nhả bớt miếng ăn (đã ăn vụng, ăn chặn) nhưng đấy là đòi hỏi của lẽ công bằng, của ý trời không thể không thành khẩn sám hối mà nhận ra cho kỳ được.
Tư hữu hóa ruộng đất phải được tiến hành từng bước thận trọng nhưng cần hết sức khẩn trương. Có thể là nên thảm khảo ý kiến sau đây của ông Nicolaus Tideman – cựu thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế của tổng thống Mỹ và ông Bruno Moser – chuyên gia quốc tế về đất đai: “Cấp ‘Giấy chứng nhận sở hữu cá nhân’ cho người sử dụng đất. Tất cả mọi người sử dụng đất sẽ phải nộp thuế đất hàng năm. Việc định thuế đất dựa vào giá trị đất với những lợi thế tự nhiên của nó: độ màu mỡ, vị trí… Giấy chứng nhận sở hữu cá nhân về đất đai được tự do chuyển đổi với mức phí tương ứng với chi phí cấp một giấy chứng nhận mới. Sẽ không có bất kỳ khoản thuế chuyển nhượng dựa trên giá trị nào, vì điều này làm tăng chi phí, ngăn cản sự linh động của thị trường và tạo cơ hội cho tham nhũng và các hành vi trốn thuế. Các mảnh đất chưa có chủ sẽ được đấu giá công khai, dành cho những người sẵn sàng nộp thuế cao nhất …. Thông tin về mức thuế ở mỗi khu vực được công khai trên Internet và tại mỗi văn phòng quản lý đất đai. Bất kỳ ai muốn tranh cãi về việc định giá sẽ được yêu cầu đệ trình đề án của mình. Tin rằng, nếu chính sách này được thực thi, sẽ chấm dứt ngay tình trạng đầu cơ đất và giúp hạ nhiệt giá đất. Người nghèo và những người sử dụng hiệu quả sẽ được tiếp cận với những thửa đất theo đúng nhu cầu. Các tòa nhà, cơ sở hạ tầng sẽ mọc lên nhanh chóng vì mọi người sử dụng các cơ hội mới để cải thiện mảnh đất của mình. Không còn cảnh mua đất rồi ngâm đấy, chờ Nhà nước đền bù giải tỏa hoặc chờ giá đất lên cao để bán… Thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh (Thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp…) không phải là công cụ tốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc tăng thu ngân sách từ thuế đất và giảm gánh nặng thuế kinh doanh sẽ giúp Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) một cách vượt trội, thậm chí các tập đoàn sẽ chuyển cả tổng hành dinh vào Việt Nam chứ không phải chỉ chuyển nhà máy ”.
Nguy cơ hiểm họa từ đất đã nhỡn tiền, hãy sáng suốt lắng nghe thế giới tiên tiến và học lại cha ông tư hữu hóa ruộng đất để giải tỏa hiểm họa, đồng thời làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn sống cường thịnh của đất nước.
TS Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội 6 tháng 9 năm 2007
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

dinsdag 12 november 2013

Đất đai - Nguồn sống và Hiểm hoạ (Nguyễn Thanh Giang)

Monday, November 11, 2013


Đất đai - Nguồn sống và Hiểm hoạ

QLB
 - Trăn trở trước hiện trạng các đoàn biểu tình khiếu kiện đông người ngày càng rầm rộ kéo về 110 Cầu Giấy – Hà Nội và trụ sở Văn phòng 2 của Quốc hội ở Sài Gòn, trong bài “ Quản lý đất đai – Những khía cạnh đặc thù ” đăng trên báo Lao Động trong số ra hồi nửa cuối tháng 8 năm 2007, ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, một đồng hương lớp sau của tôi đã nêu mấy câu hỏi khái quát: “ Có nhiều ý kiến cho rằng, trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ các cấp yếu kém và tiêu cực là nguyên nhân chủ yếu gây nên bất bình khiếu kiện của người dân. Liệu giải thích như vậy đã thật đúng chưa ?

Ý kiến khác cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do người dân hiểu sai, làm sai hoặc cố tình đòi hỏi những lợi ích không thể đáp ứng được. Lẽ nào nhân dân ta nhiều người thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng luật pháp đến vậy ?

Có ý kiến giải thích, cái sai này chủ yếu là do các cấp bên dưới, do có sự hiểu sai, làm sai. Nghe ra cũng không ổn. Vậy vì sao cái sai chỉ chủ yếu tập trung chủ yếu ở lĩnh vực này mà không là các lĩnh vực khác, bên trên thì đúng, còn bên dưới thì sai ? ”

Những câu hỏi vừa như đặt vấn đề, vừa có phần tự trả lời ấy có yếu tố dũng cảm, dám nhìn thẳng vào sự thật và tỏ ra muốn tiếp cận chân lý. Tuy nhiên, liệu như vậy là đã dám đi vào cốt lõi vấn đề chưa ?

Tư hữu hóa đất đai, một tiến bộ lịch sử thời phong kiến Việt Nam –



Trong tư duy tổng hợp của người Việt Nam về những cương vực núi sông, mây gió; về quốc sử, tổ tiên; về bản quán, họ hàng …, yếu tố đất luôn luôn xuất hiện đầu tiên. Người Việt Nam gọi tổ quốc mình là đất nước. Trong kho tàng thi ca Việt Nam thời chống Pháp, có lẽ bài thơ hùng tráng nhất là bài “ Đất nước ” của Nguyễn Đình Thi. Theo nhà thơ này, tổ quốc được hồi sinh sau cách mạng như cũng từ đất trồi lên: “ Nước Việt Nam từ máu lửa. Rũ bùn đứng dậy sáng lòa ”.

Từ thuở vua Hùng dựng nước đến nhiều thế kỷ về sau, đất đai đều của nhà vua. Đất của các lãnh chúa đều do vua ban qua những thác đao điền. Đến thế kỷ thứ X, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất vẫn tồn tại. Tuy nhiên, trong quá trình vận động phát triển của xã hội, bắt đầu từ thế kỷ XII, sở hữu tư nhân về ruộng đất đã xuất hiện dần dần từ cá biệt đến phổ biến. Nhà nước Lý và Trần không những không ngăn chặn mà còn tạo điều kiện để sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển bằng nhiều cách: bán ruộng công cho dân, cho phép mua, bán, chuộc theo luật lệ, cho phép vương hầu, quý tộc, phò mã, cung tần lập điền trang …

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Giáp Dần ( 1254 ) vua Trần Thái Tông xuống chiếu: “ Bán ruộng công, mỗi diện ( mẫu ) là 5 quan tiền, cho phép dân mua làm ruộng tư ”.

Để tạo điều kiện cho mua, bán, chuộc, nhượng đất đai được dễ dàng, tháng chạp năm Nhâm Tuất ( 1142 ) vua Lý Anh Tông xuống chiếu: “ Những người cầm đợ ruộng thục trong vòng 20 năm thì cho phép chuộc lại; việc tranh chấp ruộng đất trong vòng 5 năm hay 10 năm thì còn được tâu kiện; ai có ruộng đất bỏ hoang bị người khác cầy cấy, trồng trọt trong vòng một năm thì được kiện mà nhận lại, quá hạn ấy thì cấm. Làm trái thì xử 80 trượng ”.

Để tránh tình trạng sử dụng quyền uy cướp đoạt đất đai, nhà vua lại xuống chiếu: “ Những người tranh nhau ruộng ao, của cải không được nhờ cậy nhà quyền thế, làm trái thì đánh 80 trượng xử tội đồ”.

Để bồi hoàn thỏa đáng khi trưng thu đất đai, năm Mậu Thân ( 1248 ) vua Trần Thái Tông cho phép trưng thu đất để dắp đê nhưng quy định: “ Chỗ nào đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo thời giá trả lại tiền ”.

Để phát triển đất canh tác, ngay từ thời Lý đã tương truyền câu chuyện về một người có tên là Hoàng Lệ Mật người huyện Gia Lâm vì có công mò được xác một công chúa nên được nhà vua cho đem dân nghèo ở Lệ Mật đến khai hoang lập làng ở phía tây thành Thăng Long, hiện còn di tích đền thờ gần với khu “ thập tam trại ”.

Năm Bính Dần ( 1266 ), Trần Thánh Tông “ xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán, không sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang”. Do tác động của chủ trương này, một loạt điền trang xuất hiện như: điền trang của thượng tướng Trần Phó Duyệt, ( cha của Trần Khánh Dư ) ở ven sông Kinh Thầy ( Chí Linh, Hải Dương ); điền trang của An sinh vương Trần Liễu ( cha của Trần Hưng Đạo ) ở An Lạc ( xã Bảo Lộc, huyện Mỹ Lộc, Nam Định ); điền trang của công chúa Trần Khắc Hãn ở An Nội và Cổ Nhuế ( Từ Liêm, Hà Nội ); điền trang của Trần Khánh Dư ở Linh Giang …

Đến cuối đời Trần, hoàng hậu Bạch Ngọc ( vợ vua Trần Duệ Tông ), người huyện Hương Khê đã đưa 172 người về khẩn hoang ở vùng đất giáp hai huyện Can Lộc và Đức Thọ ngày nay rồi lập thành bốn điền trang mới: Lai Sơn, Hằng Nga, Ngũ Khê, Tùng Chính với tổng diện tích đến 3985 mẫu ….

Năm 1397, nhân việc hạn danh điền ( ruộng có chủ đứng tên ) theo chủ trương của Hồ Quý Ly, sử chép rằng: “ Trước kia các nhà tôn thất thường sai nô tỳ của mình đắp đê bối ở bờ biển để ngăn nước mặn, sau hai ba năm khai khẩn thành ruộng, cho họ lấy nhau và ở ngay đấy, lập ra nhiều ruộng đất tư trang ”.

Nhờ chủ trương tư hữu hóa đất đai, tạo cơ sở thực thi khẩn hoang bằng nhiều hình thức, cha ông ta đã mở đường cho ruộng đất không ngừng sinh sôi, từ đấy ngày mỗi ngày càng mở mang bờ cõi.

Trong “ Chủ nghĩa Mác … tản mạn ký ”, khi bàn về “ Tư hữu và khát vọng cá nhân ” Vũ Cao Quận đã ngợi ca: “ Với riêng Tễu tôi, xin viết hoa hai chữ “ Tư hữu ” là sáng tạo vĩ đại thiêng liêng nhất vượt lên mọi thời gian, vĩ đại nhất của mọi vĩ đại để từ con vật tiến lên để thành “ con người ”. Hai anh em “ Động lực cá nhân ” và “ Tư hữu ” chính là động lực phát triển của xã hội loài người ” .

Công hữu làm nghèo đất đai -

Chính quyền Sài Gòn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu đất đai, tuy nhiên, để hữu sản hóa những nông dân vô sản, họ đã tiến hành hai cuộc phân chia lại ruộng đát. Trong cuộc phân chia thứ nhất, từ năm 1955 đến 1960, họ chỉ để lại cho mỗi địa chủ nhiều nhất là 115 ha, số còn lại bị trưng thu rồi bán cho tá điền. Một phần ba tổng diện tích đất canh tác tại Miền Nam lúc bấy giờ ( 650.000 ha ) đã về tay nông dân.. Sau năm 1970, cuộc cải cách thứ nhì mang tên “ Người cày có ruộng ” lại được xúc tiến nhằm hợp lý hóa thêm vấn đề sở hữu đất đai. ( Tư liệu từ cuốn “Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay ” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia )

Trong khi đó, ở Miền Bắc, cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất đã nổ ra cướp đi trên dưới ba mươi vạn sinh mạng và để lại những oan khiên dầy vò đằng đẵng hàng triệu số phận con người. Với đầm đìa xương máu thê lương, oán hờn chồng chất, từ 1949 đến 1953, một triệu rưỡi hecta ruộng đất cũng đã được phân chia cho 2,4 triệu hộ ở nông thôn. Từ năm 1953 đến năm 1955, lại có thêm 895.000 ha được đem chia.

Dẫu sao, có thể xem đấy là biện pháp xúc tiến cho đất đai được tư hữu hóa sâu hơn, nhờ vậy sản xuất nông nghiệp cũng được đẩy mạnh, sản lượng lương thực năm 1957 đạt được 3,95 triệu tấn, cao hơn cả sản lượng cao nhất tại Miền Bắc trước Đại chiến Thế giới lần thứ hai ( 2,4 triệu tấn ).

Niềm vui “ người cày có ruộng ” chưa nhen nhúm được bao lâu, chẳng hiểu ma nào đưa lối, quỷ nào dẫn đường, người ta bỗng lùa hết nông dân vào hợp tác xã. Hiến pháp sửa đổi năm 1980 quy định rõ rành: đất đai là sở hữu của toàn dân. Từ đó, hầu hết đất đai được giao cho các hợp tác xã và nông trường khai thác. Ngay từ khi chính sách này được thực thi, từ năm 1976 đến năm 1980 năng suất lúa giảm từ 2,23 tấn/ha xuống chỉ còn 2,08 tấn/ha mặc dù Nhà nước đã tăng cường đầu tư vào nông nghiệp.

Người ta không những không tích cực trồng cấy mà cũng chẳng thiết gì đến khai hoang khẩn hóa. Việt Nam có tiềm năng nhất định về đất đai nhưng hiệu quả sử dụng tiềm năng này vào nhũng năm đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa càng rất thấp. Diện tích đất chưa sử dụng, tính đến năm 1993 còn tới trên 14,2 triệu ha, chiếm gần một nửa ( 43% ) tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó: miền núi và trung du Bắc Bộ 6,5 triệu ha, Khu Bốn 2,3 triệu ha, duyên hải Miền Trung 2,1 triệu ha, Tây nguyên 1,6 triệu ha, đồng bằng Cửu Long 0,8 triệu ha. Đến năm 1993 cả nước còn 11.420 ha đất trống đồi trọc, chiếm 57% diện tích đất lâm nghiệp. ( Theo Vietnam Discoverry – Nhà xuất bản Thống kê ).

Lợi dụng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, các quan chức Nhà nước đua nhau phát huy sáng kiến vẽ ra đủ loại bản đồ quy hoạch, trong đó hàng loạt “ kế hoạch treo ” rải rác khắp nơi đã để hoang hóa hàng vạn hecta đất qua nhiều năm, suốt từ thành thị, đồng bằng đến trung du …

Trong cuốn “ Viết cho Mẹ và Quốc hội ” cụ Nguyễn Văn Trấn kể lại: Một lần, đến thăm một lớp học chính trị của cán bộ trung cao cấp, khi được hỏi: “ Dân chủ tập trung là gì ? ”, cụ Hồ đã giải đáp: “ Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó thì các chú các cô là chủ, đó là dân chủ. Các chú các cô không biết giữ. Tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây. Đó là tập trung ! ”.

Thay cho hợp tác hóa nông nghiệp, hòng nhích tý chút ra khỏi cái cùm công hữu ruộng đất, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc dũng cảm đề xuất chủ trương khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Ông bị tổng bí thư Trường Chinh đập tơi bời qua nhiều trang báo Nhân Dân dày đặc. Rồi ông bị trù dập, đầy ải cho đến chết. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị mãi sau này mới thắp được một nén nhang muộn màng cho oan hồn Kim Ngọc.

Công hữu hay tư hữu hóa bằng quyền lực -


Trong bài “ Nông dân Bắc Phi ” in trong “ Hồ Chí Minh toàn tập ” ( tập Một ), Nguyễn Ái Quốc có đoạn viết sau: “ Đối với người Tuynidi, người ta thường sử dụng những mánh khóe kiểu như sau: 25 khu ruộng của người Tuynidi làm thành một babu tập thể. Những người nông dân canh tác đất đai ấy được hưởng một phần mừa màng, phần khác dành cho phúc lợi xã hội, giáo dục, xây nhà, phương tiện thông tin và những xí nghiệp có ý nghĩa tập thể khác nhau.

Babu tập thể không thể được sử dụng cho cá nhân, nhưng có thể chuyển từ một xí nghiệp tập thể sang xí nghiệp khác, vì đó là do lợi ích công cộng. Về sau Phủ Toàn quyền cứ lấy cớ dùng cho lợi ích công cộng mỗi khi cần lấy đất của người bản xứ cho bọn chủ đồn điền. Một thí dụ: một nhà báo và chủ đồn điền, khi thấy người dân bản xứ từ chối bán đất cho hắn, mà hắn thì muốn mua cho mình, liền đến nhờ bạn - là viên công sứ tỉnh ấy. Tên này liền ra ngay một sắc lệnh trưng thu dất ấy cho lợi ích công cộng, đuổi người dân bản xứ ra khỏi đất ấy và chuyển cho người bạn của mình.

Chế độ thuộc địa ấy đem lại lợi ích gì cho những người nông dân nghèo Pháp ? Không! Chỉ có những tên chính khách bẩn thỉu, những con buôn tham lam và tư bản lớn được lợi mà thôi

Những công ty đồn điền lớn chiếm những khu đất đai mênh mông, không phải nhắm làm cho nó sản sinh, mà chỉ với mục tiêu đầu cơ ”.

Tước đoạt kiểu như vậy còn phải sử dung mánh khóe vất vả. Ở Việt Nam, đã xẩy ra cuộc tước đoạt ruộng đất đại quy mô mà cứ tỉnh bơ, mà ngon xơi, thoải mái hơn nhiều. Ông Vũ Cao Quận chỉ ra cái phương thức tước đoạt trong cuốn “ Gửi lại trước khi về cõi ” như sau: “ Công hữu của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: tài nguyên, hầm mỏ, đất đai, nhà cửa, ruộng đồng … được Đảng và Chính phủ “ giữ dùm ” cho nhân dân. Nói chung là như vậy, nhưng Đảng và Nhà nước cũng phải cử một ông Kèo, ông Cột cụ thể rồi giao con dấu và chữ ký có quyền hành quản lý cho ông ấy …. Khi có quyền hành, con dấu và chữ ký, việc đầu tiên của ông Kèo, ông Cột là xắn miếng công hữu ngon nhất cho sếp - người đã giao quyền hành và con dấu cho ông. Rồi tuần tự, ông tiếp tục tùng xẻo miếng công hữu tùy theo thân thủ, tim gan … cho vợ, cho con cháu, họ hàng và các chiến hữu thân thiết của ông. Còn nhân dân – “ người chủ ” của ông ? Cứ yên trí đi, sẽ được một mảnh vỏ sò là cái chắc !”. Hai nhà lý luận chống cộng Trung Quốc Mã Lập Thành và Lăng Chí Quân trong “ Giao Phong ” cũng nhất trí với Vũ Cao Quận: “ Công hữu của Mác ” là “ sở hữu của toàn dân ” mà “ sở hữu của toàn dân ” là “ sở hữu của nhà nước ” mà “ sở hữu của nhà nước ” là “ sở hữu của chính phủ ”, tức … tức là “ sở hữu của quan chức ”.

Bài “ Giám đốc Sobexco có “ xé rào ” pháp luật ? ” trên báo Lao Động ra ngày 30 tháng 8 năm 2007 có chạy mấy dòng chữ lớn : “ Những tài liệu mới nhất thể hiện ông Nguyễn Thanh Hải – giám đốc công ty chế biến cây trồng nông nghiệp xuất khẩu ( Sobexco ) – đã “ cầm đèn chạy trước ôtô ”, vi phạm luật pháp trong vụ “ biếu không ” 700 ha đất công ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương ”.

Một ông giám đốc nho nhỏ như vậy mà có thể biếu không 700ha đất ! Hỏi, những thủ trưởng cấp trên ông dăm bẩy bậc có thể biếu không bao nhiêu, bao nhiêu hecta đất ? Cho nên các “ địa chủ đỏ ” ngày nay không phải chỉ có hàng trăm ( Chính quyền Sài Gòn trước 1975 chỉ giới hạn 115 ha cho mỗi địa chủ ) mà hàng chục nghìn hecta đất.

Nhiều “ địa chủ đen ” ngày nào chưa có nổi một hecta đất đã bị trói vào cột trường đấu để tá điền đốt râu rồi chết tức tưởi trong lao đầy. Các “ điạ chủ đỏ ” ngày nay không tốn một giọt mồ hôi mà ung dung quá, phè phỡn quá.
Ôi những oan hồn dân tộc! và hỡi các sủng nhi, sủng tử của chế độ công hữu …!

Giá đất –

Ở Việt Nam đã tồn tại khá lâu những khái niệm, những thuật ngữ rất quái đản. Không nói đến những khái niệm, những thuật ngữ kỳ dị xuất hiện trong các tác phẩm thơ văn của những nhà văn, những thi sỹ siêu việt hay trong các luận văn khoa học làm choáng váng trí tuệ con người, thử đề cập đến một số văn liệu hành chính quốc gia như Hiến pháp chẳng hạn. Trong bản “ Thảo luận về dự thảo sửa đổi hiến pháp Việt Nam năm 1980 ” gửi Nhà nước cách đây 15 năm, một trong những khuyến nghị tôi nêu là: “ Không nên lạm dụng cụm từ XHCN. Việc đưa ý niệm “ Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản XHCN ” làm cho điều 76HP vừa không xác định, vừa mâu thuẫn với một số điều khác. Thế nào là tài sản XHCN ? Đối với các di sản văn hóa, di tích lịch sử, các tài sản của các thành phần kinh tế khác thì sao ? ”.

Thế nào là tài sản XHCN ? Câu hỏi rất rõ rành và câu trả lời nghiêm túc là cần thiết và rất hệ trọng nhưng chẳng ai dám đụng đến. Cam đoan rằng, cho đến nay, không phải chỉ những người it học như tổng bí thư Đỗ Mười hay có được du hoc ngoại quốc như tổng bi thư Nông Đức Mạnh mà cả nhũng người có học vấn thực sự cũng không thể xác định được đâu là tài sản XHCN.

Hiến pháp là luật mẹ của các luật trong một nước mà còn lơ mơ, nhập nhằng như vậy thì làm sao mà xây dựng được nhà nước pháp quyền, dù chỉ là pháp quyền XHCN !

Tương tự là trường hợp thuật ngữ: “ Giá quyền sử dụng đất ”.


Luật Đất đai công bố năm 2003 quy định:

“ Giá quyền sử dụng đất ( sau đây gọi là giá đất ) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất.

Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định
”.

Thật là “ bối rối chẳng xong bề nào ”. Đất và quyền sử dụng đất là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, cho nên không thể có chuyện: “ Giá quyền sử dụng đất ( sau đây gọi là giá đất ) ” được. Cái ghế tổng bí thư ngồi thì có giá chứ quyền ngồi trên cái ghế tổng bí thư thì làm sao định giá bằng tiền được. Có chăng chỉ định bởi sự chấn hưng của đất nước hay nỗi thống khổ của nhân dân.

Cho nên đã qua mấy đời thủ tướng rồi mà trong bài phát biểu trước Quốc hội ngày 31 tháng 3 năm 2007 thủ tường Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn phải trần tình: “ Vấn đề giá đất, thưa Quốc hội, đây là một trong những vấn đề mà trong lãnh đạo, điều hành, trong quản lý của Chính phủ là đang khó khăn, vướng mắc rất nhiều và Chính phủ cũng tốn rất nhiều thời gian về vấn đề này ”. Không đành tỏ ra bất lực, ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị, trong bài viết đã nêu trên đây chỉ thành khẩn van nài: “ Quả thật, đây là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng, khó khăn, phức tạp và bức xúc không chỉ với đông đảo nhân dân mà các cấp chính quyền cũng đang mong chở Chính phủ và Quốc hội khóa XII sớm xem xét, giải quyết ” .

Cũng trong bài “ Nông dân Bắc Phi ” đã nêu trên, Nguyễn Ái Quốc tố cáo “ những tên chính khách bẩn thỉu, những bọn con buôn tham lam ” như sau:

“ Những tên địa chủ biết rõ là, dân bản xứ luôn luôn lo sợ bị trưng thu. Vì vây, khi nào họ muốn chiếm đất, họ sử dụng luật về trưng thu như một con ngoáo ộp. Dân bản xứ tất nhiên muốn bán đất của mình với giá rẻ mạt, còn hơn là để cho chính quyền hành chính bỗng chốc làm mình phá sản …..

Công ty này mua của dân bản xứ mối hecta giá từ 20 đến 30 phrăng và sau một thời gian ngắn bán lại với giá 1.000 và 1.200 phrăng trong một vài tháng lãi tới 858.000 phrăng
”.

Họ, ở Châu Phi, mới ăn lãi được gấp ( 1.100 / 25 = ) 44 lần đã bị cụ Nguyễn Ái Quốc căm phẫn rủa xả là “ những tên chính khách bẩn thỉu ”. Cái bọn sủng nhi, sủng tử của chế độ công hữu ở Việt Nam ngày nay chúng chỉ trả cho người dân ( trong đó có bà mẹ Việt Nam anh hùng, có cựu chiến binh đã để lại một phần máu thịt ở chiến trường ) vài nghìn đồng để bán được mấy triệu đồng, vài chục nghìn đồng để bán được mấy chục triệu đồng. Thưa Cụ, không phải chỉ có 44 lần như ở Châu Phi đâu, ở Việt Nam bây giờ bọn chúng thu lợi bất chính gấp nghìn lần Cụ ạ!

Chỉ một vụ rất nhỏ của Sobexco nêu trên đã được báo Lao động công bố: “ Nhiều cơ quan chức năng khẳng định: Việc hợp pháp hóa giá trị đất công cho tư nhân, dẫn tới hậu quả gần 400 tỷ đồng tiền Nhà nước, hiện nay đã thật sự chẩy vào túi tư nhân ”.

Cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên- Môi trường Đặng Hùng Võ thì cho biết: với việc áp dụng hai giá đất trong 20 năm qua Nhà nước đã để rơi vào túi các quan tham và đệ tử của họ 70 tỷ USD.

Kiến nghị -


Đến đây, tưởng đã có thể trả lời mấy câu hỏi liên quan đến các vụ biểu tình khiếu kiện đang diễn ra ngày càng đông người của ông Phạm Quang Nghị như sau:

Có phần do trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ các cấp yếu kém và tiêu cực nhưng đấy không phải là nguyên nhân chủ yếu gây nên bất bình khiếu kiện của người dân.

Không phải nguyên nhân chủ yếu là do người dân hiểu sai, làm sai hoặc cố tình đòi hỏi những lợi ích không thể đáp ứng được.Càng không phải do người dân bị các thế lực thù địch, bọn bất mãn, cơ hội chính trị, bọn tôn giáo phản động xúi giục, kích động.

Không phải cái sai này chủ yếu là do các cấp bên dưới, do có sự hiểu sai, làm sai, mà do các Bộ Chính trị ĐCSVN tử trước đến nay mù quáng đưa chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, vạch ra nhiều đường lối sai lầm, trong đó có chủ trương công hữu hóa ruộng đất.

Ruộng đất phải có chủ cụ thể, phải “ hạn danh điền ”, phải được tư hữu hóa; đấy là lẽ đời mà cha ông ta đã nhận ra và thực thi từ gần nghìn năm trước. Nay Việt Nam đã vào WTO, muốn hay không, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố phải xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao. U mê, trì trệ mãi nhưng rón rén rón rén rồi cũng phải cho mở lại nhà thương tư, trường tư thục …, phải thừa nhận lao động, chất xám … cũng là hàng hóa. Chỉ còn bước cuối cùng sao sống chết cứ phải ngoan cố giữ cho được đất đai là tài sản của Nhà nước ? Phải chăng vì miếng ăn này to quá, phải chăng chỉ vì đất đai đang là cái kho vô tận để các quan tham bấu xấu. Tham thực cực thân. Tước đoạt tàn bạo lắm thì phản ứng của nhân dân sẽ càng mạnh. Đàn áp đi, để rồi lại cú phải đàn áp mãi, đàn áp nữa, đàn áp ngày càng dữ dội hơn. Để rồi, oán giận cứ thế mà chồng chất lên cao ngút tròi.. Đất đai là nguồn sống của nhân dân, của đất nước nhưng là hiểm họa của chính quyền chính vì vậy. Hiểm họa dẫn đến sụp đổ, đến tang thương không phải vì kẻ thù đâu mà do chính từ lòng tham và sự ngu muội của chính quyền.

Hãy thực sự cầu thị nhận ra cho được sai lầm tai hại đã mắc phải và dũng cảm, chân thành sửa sai, đừng loanh quanh dối mình, lừa người, đừng vá víu chằng đụp. Thay áo đi để có áo mới đẹp hơn, đừng để áo cũ phải bục nát, tả tơi, rơi rụng. Có thể phải tiết chế bớt sự kiêu hãnh, lòng tự hào đã có một cách giả tạo, quá trớn; có thể phải san bớt cửa, sẻ bớt nhà; có thể phải nhả bớt miếng ăn ( đã ăn vụng, ăn chặn ) nhưng đấy là đòi hỏi của lẽ công bằng, của ý trời không thể không thành khẩn sám hối mà nhận ra cho kỳ được.

Tư hữu hóa ruộng đất phải được tiến hành từng bước thận trọng nhưng cần hết sức khẩn trương. Có thể là nên thảm khảo ý kiến sau đây của ông Nicolaus Tideman – cựu thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế của tổng thống Mỹ và ông Bruno Moser – chuyên gia quốc tế về đất đai: “ Cấp “ Giấy chứng nhận sở hữu cá nhân ” cho người sử dụng đất. Tất cả mọi người sử dụng đất sẽ phải nộp thuế đất hàng năm. Việc định thuế đất dựa vào giá trị đất với những lợi thế tự nhiên của nó: độ màu mỡ, vị trí …Giấy chứng nhận sở hữu cá nhân về đất đai được tự do chuyển đổi với mức phí tương ứng với chi phí cấp một giấy chứng nhận mới. Sẽ không có bất kỳ khoản thuế chuyển nhượng dựa trên giá trị nào, vì điều này làm tăng chi phí, ngăn cản sự linh động của thị trường và tạo cơ hội cho tham nhũng và các hành vi trốn thuế. Các mảnh đất chưa có chủ sẽ được đấu giá công khai, dành cho những người sẵn sàng nộp thuế cao nhất …. Thông tin về mức thuế ở mỗi khu vực được công khai trên Internet và tại mỗi văn phòng quản lý đất đai. Bất kỳ ai muốn tranh cãi về việc định giá sẽ được yêu cầu đệ trình đề án của mình. Tin rằng, nếu chính sách này được thực thi, sẽ chấm dứt ngay tình trạng đầu cơ đất và giúp hạ nhiệt giá đất. Người nghèo và những người sử dụng hiệu quả sẽ được tiếp cận với những thửa đất theo đúng nhu cầu. Các tòa nhà, cơ sở hạ tầng sẽ mọc lên nhanh chóng vì mọi người sử dụng các cơ hội mới để cải thiện mảnh đất của mình. Không còn cảnh mua đất rồi ngâm đấy, chờ Nhà nước đền bù giải tỏa hoặc chờ giá đất lên cao để bán … Thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh ( Thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp …) không phải là công cụ tốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc tăng thu ngân sách từ thuế đất và giảm gánh nặng thuế kinh doanh sẽ giúp Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài ( FDI ) một cách vượt trội, thậm chí các tập đoàn sẽ chuyển cả tổng hành dinh vào Việt Nam chứ không phải chỉ chuyển nhà máy ”.

Nguy cơ hiểm họa từ đất đã nhỡn tiền, hãy sáng suốt lắng nghe thế giới tiên tiến và học lại cha ông tư hữu hóa ruộng đất để giải tỏa hiểm họa, đồng thời làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn sống cường thịnh của đất nước.

Hà Nội 6 tháng 9 năm 2007
Nguyễn Thanh Giang
Nhà số 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: ( 04 ) 5 534370
 

zaterdag 26 oktober 2013

Trại dân oan ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội

Trại dân oan

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-25
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

dan-oan-11-305
Dân oan từ nhiều tỉnh thành trong một lần tập trung ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội đòi nhà nước giải quyết các bất công về đất đai, ảnh chụp trước đây.
File photo



Có những trại giam do chính quyền độc tài nghĩ ra để giam giữ tù nhân chính trị. Có những trại giam dùng để thủ tiêu người Do Thái trong chế độ Đức quốc xã, nhưng cũng có những nơi mà người cùng khổ vì bị bóc lột, áp bức đã tự tập trung kéo tới tá túc trong thời gian tranh đấu cho sự sống còn của họ trong một loại trại chưa từng có trong lịch sử loài người “Trại dân oan”.
Vườn hoa Mai Xuân Thưởng Hà Nội từ nhiều năm nay đã trở thành quen thuộc với hàng ngàn dân oan từ khắp nơi trên đất nước đổ về tạm trú thân trong lúc mang đơn gõ cửa các cơ quan tiếp dân của chính phủ với niềm tin là sẽ được giải quyết những vấn đề mà địa phương áp bức. Các tỉnh phía bắc như Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La, Bắc Giang, Điện Biên, Quảng Bình, Ninh Bình, Tuyên Quang… các tỉnh miền Trung và cao nguyên như Ninh Thuận, Gia Lai, Đắc Lắc, Dak Nông, Đồng Nai, Bình Phước rồi miền Nam như Tiền Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau…hầu như không còn chỗ nào mà người dân oan không biết tới Mai Xuân Thưởng, cái tên trở thành nhà, thành một loại trại dân oan không song sắt cho những mảnh đời oan khuất này.

Quốc hội họp: niềm hy vọng mỗi năm

Chính quyền biết rõ từng con người tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng vì  người tới và đi trong gần 15 năm qua cũng bấy nhiêu khuôn mặt. Có khi họ tập trung vài chục, lúc cao điểm tới gần trăm, nhất là vào những ngày khai mạc Quốc Hội số người về đây đông hơn hẳn. Niềm tin vào đại biểu Quốc hội sẽ chú ý tới họ khiến một số rất lớn bỏ hết công ăn việc làm để khăn gói về Hà Nội kêu oan nhưng kết quả nhiều năm qua cho thấy chưa một đại biểu quốc hội nào lên tiếng chính thức tại diễn đàn về sự có mặt không đúng lúc của những con người dân không ra dân, phạm nhân không ra phạm nhân, ăn mày hay công nhân vệ sinh cũng không phải nốt.
Cuộc sống ở đây quá vất vả, người ta thì khác nhưng mấy người dân oan này thì khổ dữ lắm không có gì để mà sống, ăn rau không.
-Chị Hương
Họ không phải là dân vì nhiều người đã mất hộ khẩu, mất nhà cửa và mất cả đất đai. Họ không phạm bất cứ một tội gì để chính quyền xem họ là phạm nhân nhưng công an muốn săn đuổi, quát nạt hay cưỡng chế, đánh đập lúc nào cũng được. Họ không phải là công nhân vệ sinh nhưng người ta thấy không ít người thường xuyên nhặt nhạnh rác thải chung quanh vườn hoa để tạm sống trong khi ở quê nhà họ chưa bao giờ làm công việc này.
Họ đến Hà Nội, tự chấp nhận vào Trại dân oan vì không còn nơi nào khác họ có thể sống để theo đuổi việc khiếu kiện. Đất đai là nguyên nhân chính, trong đó có người đã theo đuổi gần hai mươi năm và cho biết họ sẽ theo tới chết. Chị Hương người An Giang cho biết:
“Cuộc sống ở đây quá vất vả, người ta thì khác nhưng mấy người dân oan này thì khổ dữ lắm không có gì để mà sống, ăn rau không chưa từng thấy. Dân oan này khổ quá rồi, sáng rau muống chiều rau muống!
Bởi vậy. Bây giờ cũng liều rồi. Bây giờ ai cũng khổ hết nằm vất vơ vất vưởng ngoài công viên. Nằm đó lang thang đó. Ăn uống thì rau muống chấm nước tương. Hùn nhau mua gạo về nấu. Tiền xe thì phải lo tiền đi tiền về.

Đất đai, tín ngưỡng

Căn cước của công dân Trại dân oan là những tờ giấy được dán lại thành khổ lớn trên ấy viết đủ thứ yêu cầu giải quyết đất đai bị trưng thu. Khi mệt họ bày những tấm giấy ấy bên vệ đường như đang bán hàng rong mà sản phẩm họ bày ra toàn những thứ đau lòng, rát ruột.
000_Hkg4836083-305
Hàng trăm người dân Hưng Yên tập trung biểu tình trước trụ sở Quốc Hội ở Hà Nội hôm 27-4-2011, phản đối chính quyền trưng thu đất đai xây dựng khu đô thị Ecopark.

Ngoài đất đai, việc bị bạc đãi, sách nhiễu vì niềm tin tôn giáo cũng làm cho hàng trăm người dân tộc thiểu số của các tỉnh miền Bắc và Tây nguyên kéo về Trại dân oan để góp thêm vào đó những tiếng kêu cứu giữa lòng thủ đô Hà Nội.
Trong vài ngày qua hơn 100 người H’Mông tập trung về đây. Anh Sự, Một dân oan từ Bắc Kạn cho biết:
“Tại vì chính quyền đến đàn áp bà con, đánh đập bà con tàn nhẫn quá. Không cho bà con đổi mới là theo phong tục mới không cho bà con chúng tôi có chỗ để ở nên bà con mới xuống đây kêu oan. Hiện tại thì có 108 người của bốn tỉnh về đây.”
Bà Lê Hiền Đức, người gần gũi với dân oan Tây nguyên kể:
“Dân oan ở tỉnh Dak nông hiện nay họ không còn tiền để đi ra nữa. Đất mất, tiền mất, nhà bị đốt. Người ta gọi là ba sạch: phá sạch, đốt sạch và những người nào ra ngăn cản thì bắt sạch! Bây giờ dân khổ quá rồi mà là dân tộc thiểu số M’ Nông.”
Chính quyền đối phó với Trại dân oan bằng nhiều cách. Bao vây bắt bớ nhưng do không thể kết tội nên khi được thả họ lại quay về trại. Rào chắn dày dặc chung quanh Mai Xuân Thưởng cũng không ngăn cản được những con người đã vào bước đường cùng: họ kéo nhau sang một trại dân oan khác có tên: vườn hoa Lý Tự Trọng.
Họ thường xuyên bị xua đuổi, nhất là những dịp lễ lạc. Nhiều nhất là bị bốc lên xe chở về quê nếu gần Hà Nội, nếu xa thì bị chở sang trại Đồng Dầu, Dục Tú, Đông Anh.
Trong khi tìm giải pháp mới để giải tán cư dân của Trại dân oan này, chính quyền đành phải chọn hạ sách: cắt nước. Giải pháp cắt nước không cho họ uống là cách chính quyền thực hiện hồi gần đây nhất, chị Ma Thị Hường, từ Cao Bằng cùng với 108 người bốn tỉnh phía Bắc khác cho biết:
“Em đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng thờ Đức Chúa Trời nhưng bọn em không có đạo bởi vì người ta cho là thay đổi như thế là không có nguồn gốc, làm như thế là phản động nên người ta không cho.
Về vườn hoa này được 7 ngày rồi ở đây ăn uống rất là khổ sở. Người ta thấy dân oan đi đông như vậy nên người ta còn cắt cả nước, không cho uống nước rất là khát nước. Thậm chí ngày hôm kia bà con nhịn nước cả ngày.”

Sống lang thang, chết âm thầm

Chúng tôi nói cho ngay nằm bờ nằm bụi, chị em hùn nhau chỉ có 10 ngàn cũng xong. Nấu cơm luộc rau chấm nước mắm hay nước tương. Cuộc sống tụi tôi rất là khổ.Tuy nhiên cũng được bà con ở Hà Nội người ta âm thầm giúp đỡ.
-Trần Thị Ngọc Anh
Có sống thì có chết, trại tập trung nào trên khắp thế giới cũng thế. Cụ Hà Thị Nhung, sinh năm 1937, cư ngụ tại thôn 6 xã Xuân Thành, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa khiếu kiện đất đai đã nhiều năm khi giành giật một tấm biểu ngữ với công an đã ngã ra chết. Bà là nhân khẩu bị gạch sổ đầu tiên của Trại dân oan Lý Tự Trọng.
Những ngày lễ tết thì sao? Khó thể tưởng tượng được rằng những con người khốn khổ này lại chấp nhận “ăn” Tết trong cảnh màn trời chiếu đất như vậy. Họ ngồi co ro trong giá rét của những ngày cuối đông trên chiếc ghế công viên nhìn dân Hà Nội ăn Tết. Hình ảnh của họ đã ám ảnh rất nhiều cư dân thủ đô và không ít người đã nhường cơm xẻ áo cho những người tù không có số này.
Dân oan, họ tội gì?
Họ chẳng khác mấy với tù nhân tuy nhiên người tù nào cũng được thăm nuôi trong khi đó công dân của Trại dân oan lại không có cái quyền này. Người tốt bụng Hà Nội phải đợi đến nửa đêm khi công an không còn quanh quẩn mới dám thăm nuôi những người mà họ không quen biết.
Chị Trần Thị Ngọc Anh, người dân oan có căn cước khiếu kiện gần hai mươi năm kể lại:
“Chúng tôi nói cho ngay nằm bờ nằm bụi, chị em hùn nhau chỉ có 10 ngàn cũng xong. Nấu cơm luộc rau chấm nước mắm hay nước tương. Cuộc sống tụi tôi rất là khổ.Tuy nhiên cũng được bà con ở Hà Nội người ta âm thầm giúp đỡ cho một gói mì tôm hay là âm thầm nửa đêm vì người ta không dám cho, tối 12 giờ người ta cho mỗi người một gói xôi, một cái bánh để sáng ăn lót dạ, từ chỗ đó tụi tôi lay lắt sống qua ngày.”
Không bị còng tay, không phòng giam và không người quản giáo, tuy nhiên họ không khác gì một tù nhân thứ thiệt vì ngồi trong công viên không biết đi đâu, nhìn ra bên ngoài chỉ để mơ ước nguyện vọng của mình được nhìn tới. Bao nhiêu năm kêu đòi công lý, ban đầu ước mơ được Thủ tướng xem xét: thất vọng, lại ước mơ đến Quốc hội, lại tiếp tục thất vọng. Mơ ước quay về quê với một lắng nghe tối thiểu không còn nữa trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng của những con người khốn khổ này.
Rất nhiều người lặng lẽ ngồi bên lề đường nhìn những con người như mình sinh hoạt bình thường với gia đình mà không khỏi cay đắng khi tự hỏi: họ có tội gì với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?

vrijdag 13 september 2013

Bất bình đất đai : Nổ súng giết cán bộ ở UB Thái Bình, ông Đặng Ngọc Viết

Thứ năm 12 Tháng Chín 2013

Bất bình đất đai : Nổ súng giết cán bộ ở UB Thái Bình

Di ảnh của ông Đặng Ngọc Viết, thủ phạm vụ xả súng tại trụ sở chính quyền Thái Bình. Ảnh : Báo trong nước
Di ảnh của ông Đặng Ngọc Viết, thủ phạm vụ xả súng tại trụ sở chính quyền Thái Bình. Ảnh : Báo trong nước

Thụy My
Theo tin từ báo chí trong nước, chiều ngày 11/09/2013, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố Thái Bình, một người đàn ông đã xông vào Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố và nhắm bắn thẳng vào các cán bộ đang họp. Kết quả là một người chết, ba người bị thương nặng, kẻ nổ súng sau đó trở về quê và tự sát. Nguyên nhân vụ việc được cho là do đền bù giải tỏa không hợp lý.


Cụ thể, báo mạng Dân Trí dẫn nguồn tin từ người nhà của hung thủ Đặng Ngọc Viết (42 tuổi) cho biết, căn nhà ông Viết đang ở có diện tích khoảng 200 mét vuông, nếu muốn chuyển sang tái định cư phải bù thêm tiền nhưng ông Viết không xoay sở được. Sau khi nhận ba đợt tiền đền bù, ông Viết muốn chuyển sang nhận đất và trả lại tiền nhưng không được chấp nhận.
Cũng theo báo chí Việt Nam, Đặng Ngọc Viết đã tự sát bằng viên đạn cuối cùng trong khẩu súng colt dùng để gây án, để lại hai con nhỏ. Trước đó, hung thủ đã chuẩn bị sẵn di ảnh : Tự đi chụp ảnh và treo lên khung. Do bị can duy nhất đã tự sát nên cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án.
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam có việc một người dân dám nổ súng bắn vào cán bộ ngay tại trụ sở ủy ban một thành phố, vì bất bình trong vấn đề giải tỏa đất đai. Khác với vụ anh em Đoàn Văn Vươn chống cưỡng chế ở Tiên Lãng, Hải Phòng, lần này người dân có liên quan đến giải tỏa đất đã chủ động tấn công một cách kiên quyết.
Do luật pháp quy định đất đai tại Việt Nam là « sở hữu toàn dân », trong những năm gần đây liên tiếp xảy ra những vụ cưỡng chế đất của dân một cách tùy tiện để lấy đất làm dự án, gây phản ứng nơi những người dân bị giải tỏa nhưng cho rằng không được đền bù thỏa đáng.
 
tags: Bạo động - Các vấn đề xã hội - Châu Á - Dân chủ - Khủng hoảng - Nhân quyền - Tư pháp - Việt Nam - Xã hội - Đất đai
 
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130912-no-sung-o-thai-binh-2-nguoi-chet-3-nguoi-bi-thuong
 

Luật đất đai: Tu từ, nhóm lợi ích, hay súng nổ?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-09-12



Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này


Co-Nhue-1-305.jpg
Vụ cưỡng chế và san ủi mặt bằng xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm hôm 22/9/2008.
File photo



Sở hữu toàn dân

Một vụ nổ súng có liên quan đến đất đai tại tỉnh Thái Bình là một người chết và hung thủ tự sát. Nguyên nhân sâu xa của sự việc là bộ luật đất đai của Việt Nam không công nhận quyền sỡ hữu tư nhân.
Năm 1997 nông dân tỉnh Thái Bình nổi loạn tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ. Trong một đêm cuối tháng sáu, hàng ngàn người kéo nhau đập phá ủy ban hành chính xã, trụ sở đảng cộng sản cùng nhà của các cán bộ xã. Nguyên nhân của vụ nổi loạn này được cho là do những cán bộ nắm quyền tham nhũng, sử dụng những khoản tiền đóng góp cho mục tiêu công ích làm của riêng.
Mười sáu năm sau, một người dân tỉnh Thái Bình là Đặng Ngọc Viết dùng súng bắn các cán bộ của tỉnh rồi tự sát. Các cán bộ này làm việc cho Trung tâm phát triển quỹ đất. Nguyên nhân của vụ việc được cho là do sự bất đồng giữa  Trung tâm này và gia đình hung thủ về việc bù tiền cho căn nhà của anh ta sẽ bị giải tỏa.
Luật đất đai ở Việt Nam không cho phép người dân được sở hữu mảnh đất của mình, và do vậy không thể quyết định bán mảnh đất ấy theo giá mình muốn, mà giá ấy được quy định bởi Nhà nước, và Nhà nước trong câu chuyện nổ súng này chính là những viên cán bộ làm việc trong Trung tâm phát triển quỹ đất của tỉnh Thái Bình.
Năm 1997, Việt Nam đã thực hiện chương trình cải cách kinh tế được gần 10 năm kể từ khi Đảng cộng sản chấp nhận kinh tế thị trường, nhưng vẫn duy trì sự độc tôn lãnh đạo. Do kinh tế thị trường mà các cán bộ xã An ninh vừa kể trên có thể làm giàu dựa trên quyền lực độc tôn của mình ở xã trong vai trò đại diện của đảng cộng sản cầm quyền. Theo một nghiên cứu của Giáo sư Tương Lai ngay sau cuộc nổi loạn xảy ra, thì sự phân hóa xã hội giữa một bên là các cán bộ giàu có do tham nhũng và những người nông dân vẫn còn nghèo khó là một trong những nguyên nhân đưa đến cuộc đập phá vào đêm cuối tháng sáu ấy.
Khi đã công nhận sở hữu tư nhân thì cứ thuận mua vừa bán thôi. Chứ còn cái sở hữu toàn dân nó gây bao nhiêu là cảnh khốn cùng cho người dân.
-Lê Hiếu Đằng
Trong 13 năm qua, kinh tế xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Nhiều công ty tư nhân ăn nên làm ra, nhiều nông dân đổ xô vào thành thị tìm việc làm, nhiều vùng quê biến thành phố xá, nhà máy, công ty… Tuy vậy có những điều vẫn không đổi. Luật đất đai quy định sở hữu toàn dân vẫn không đổi, và sự độc tôn cầm quyền của đảng cộng sản vẫn không đổi.
Nếu năm 1997 các quan chức địa phương tại Thái Bình tham nhũng một cách đơn giản là lấy tiền từ công quỹ dùng cho gia đình mình, thì mười mấy năm sau, sự nhũng lạm là tinh vi và phức tạp hơn. Bây giờ xuất hiện các nhà tài phiệt giàu có, cần đất đai để làm ăn. Sự thông đồng của họ với các quan chức phụ trách đất đai ở địa phương đã tận dụng tối đa nguyên tắc đất đai là sở hữu toàn dân để thu lợi. Họ cùng nhau lấy đất của người nông dân với một giá rẻ rồi bán lại với giá đắt cho giới có tiền.
Sự tranh cãi về tiền đền bù đất đai giữa nông dân và chính quyền tỏ ra rất mất cân sức vì nông dân không có quyền về mặt pháp lý trên mảnh đất của mình. Trong những nổ lực vô vọng của sự sống còn, người ta chứng kiến hàng đoàn nông dân mất đất lê la từ trong nam ra ngoài bắc, đến bất cứ cửa quan cửa đảng nào mà họ hy vọng đòi lại được đất.

Đất đã thấm máu

Nhà cầm quyền Việt Nam không phải là không biết vấn đề này, và họ đã lập ra các Ban giải phóng mặt bằng, hay Trung tâm phát triển quỹ đất như trường hợp tỉnh Thái Bình, hy vọng tạo ra được… “đất sạch,” tức là loại đất không có người nông dân nào đòi hỏi tiền bạc của mình nữa. Song, quyền lực vẫn là tuyệt đối, và đất đai vẫn là của chung mà không thể sạch được. Không những không sạch mà bây giờ còn thấm máu.
bt-qn-305.jpg
Công an trấn áp người dân phản đối cưỡng chế đất xây dựng khu đô thị tại xã Kim Sơn, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, hôm 21-12-2012.

Nhiều người đã lên tiếng đòi phải thay đổi luật đất đai với việc công nhận đa sở hữu tức là có sở hữu tư nhân. Luật gia Lê Hiếu Đằng nói với chúng tôi:
“Khi đã công nhận sở hữu tư nhân thì cứ thuận mua vừa bán thôi. Chứ còn cái sở hữu toàn dân nó gây bao nhiêu là cảnh khốn cùng cho người dân.”
Những đòi hỏi sửa đổi luật đất đai này đã không được lắng nghe vì đảng cộng sản cho rằng nếu công nhận quyền sở hữu đất đai tư nhân thì nước Việt Nam không còn theo định hướng xã hội chủ nghĩa nữa.
Thực sự cái định hướng xã hội chủ nghĩa ấy với chế độ công hữu về đất đai như những nhà thành lập học thuyết cộng sản chủ trương, có tầm quan trọng đến thế chăng trong cái không khí làm ăn rộn ràng hiện nay của xã hội Việt Nam?
Nhiều nhà quan sát cho rằng đã hình thành các nhóm lợi ích trong xã hội Việt Nam hiện tại, các lợi ích ấy bao gồm cả lợi ích đất đai ở các địa phương. Và chính các nhóm này đã tác động lên việc làm chính sách của quốc gia.
Việc can dự của các nhóm lợi ích này vào chính sách và luật lệ về đất đai thấy rất rõ trong một đề nghị gần đây là thêm vào luật đất đai việc cưỡng chế trưng dụng đất đai cho cả các dự án kinh tế xã hội, thay vì chỉ vì lợi ích công cộng và quốc phòng như trước. Và việc kiềm chế sự tác động của các nhóm lợi ích này chỉ có thể giải quyết theo một cơ chế thị trường thuận mua vừa bán như luật gia Lê Hiếu Đằng đề cập, vì khi đó người nông dân mới có quyền quyết định trên mảnh đất của mình, đương đầu bằng pháp lý với các nhóm lợi ích.
Một nông dân ở làng Trịnh Nguyễn, nơi đang xảy ra giằng co giữa dân làng và chính quyền về việc trưng dụng đất đai, sau khi nghe vụ nổ súng ở Thái Bình nói với chúng tôi như sau:
Cái việc này nó xảy ra vì pháp lý không rõ ràng, làm con người ta ức chế, từ ức chế bộc phát thành hành động thôi.
-Một nông dân
“Cái việc này nó xảy ra vì pháp lý không rõ ràng, làm con người ta ức chế, từ ức chế bộc phát thành hành động thôi. Quyền lợi của người ta là chính đáng, mà cứ đè người ta ra mà cướp đất. Đằng nào cũng chết, mà chết rồi cũng xong.”
Không xa Thái Bình là huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, nông dân Đoàn Văn Vươn đã dùng súng hoa cải bắn vào những người đến “cưỡng chế giải tỏa” khu đất của gia đình. Vụ việc vẫn còn nóng và bản án dành cho anh Vươn vẫn đang được công luận bàn cãi, thì nay lại xảy ra vụ nổ súng tại Thái Bình. Lần này, mặc dù sẽ không đưa đến một phiên tòa nào nhưng để lại hai xác chết.
Khi được hỏi vấn đề sở hữu đất đai, người nông dân ấy trả lời:
“Tôi là một người dân, những vấn đề chính trị tôi không biết gì và tôi cũng không có quyền. Nhưng tôi nghĩ là người dân cần trước hết là sự bình yên, rồi sau đó là quyền lợi của một con người.”
Trách nhiệm nằm ở những người cầm quyền, họ muốn duy trì câu chữ của lý thuyết cộng sản công hữu về đất đai mà dung dưỡng sự lộng hành của các nhóm lợi ích, như Luật gia Lê Hiếu Đằng nói với chúng tôi trong một lần phỏng vấn:
“Bây giờ mà cứ lấn cấn câu chữ, chế độ này chế độ nọ thì không đổi mới được gì.”
Hay là đáp ứng quyền lợi của một con người cho người dân như câu nói của người nông dân làng Trịnh Nguyễn.
Những người nông dân rõ ràng là không hề biết tới các lý thuyết chính trị xã hội như sở hữu toàn dân, hay là sự chi phối của các nhóm lợi ích tuy nhiên họ biết mảnh đất của họ bị mất do ai và từ đó vụ nổ súng Đặng Ngọc Viết xảy ra là điều khó tránh khỏi.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/rhetorical-or-interest-group-or-gunshot-kh-09122013155333.html

Máu lại đổ vì đất

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-09-12



Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này


034_699762-305.jpg
Người dân hiền hòa vùng quê miền Bắc Việt Nam.
AFP photo



Vụ xả súng bắn cán bộ tại nơi làm việc đang làm cho dư luận nhức nhối trước hai cái chết không đáng có của Phó giám đốc Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố Thái Bình và kẻ gây án là anh Đặng Ngọc Viết. Điều gì đã dẫn đến quyết định cùng đường này của một người dân bình thường bỗng trở thành sát nhân khi anh ta biết rằng không thể nào tránh khỏi cái chết của chính mình?
Dân bị dồn vào thế cùng
Chưa bao giờ chính quyền phải đối mặt với một sức ép lớn như hiện nay sau khi một thanh niên vào văn phòng làm việc của UBND thành phố Thái Bình nã súng vào các cán bộ địa chính thuộc Trung tâm Phát triển Quỹ đất của tỉnh gây cho một người chết và ba người khác bị thương. Kẻ gây án cũng tự sát vài giờ sau đó.
Sự thật đã nhanh chóng được sáng tỏ khi chính ông Đỗ Đình An, chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố trong một cuộc họp báo rộng rãi sáng ngày 12 tháng 9 tại Thái Bình đã xác định nguyên nhân dẫn đến vụ bắn người này là từ chuyện bất công trong khâu đền bù giải tỏa chứ không có một hiềm khích cá nhân nào.
Sát thủ là anh Đặng Ngọc Viết, vừa là kẻ sát nhân cũng là nạn nhân của câu chuyện đền bù giải tỏa. Anh Viết xuất hiện trên mặt báo với hai khuôn mặt, một kẻ sát nhân máu lạnh và một người đáng được thông cảm vì suy nghĩ nông cạn mặc dù nguyên nhân khiến anh tiến tới việc bắn người là do chính sách đất đai quá bất công kéo dài nhiều chục năm qua. Điều này chứng tỏ rằng động cơ giết người của anh Viết hoàn toàn có thể chia sẻ: bị dẫn tới đường cùng.
Gia đình anh Viết được láng giềng cho biết đã tận cùng của sự khốn khó. Cha và em trai anh là nạn nhân chất độc da cam. Anh Viết đã ly dị vợ và có hai con phải nuôi trong khi không có một nghề nghiệp gì chắc chắn. Mảnh đất duy nhất của gia đình anh đã qua nhiều đời bỗng nhiên bị trưng thu và đền bù với cái giá thấp hơn giá thật của nó rất nhiều lần. Một người láng giềng của gia đình anh Đặng Ngọc Viết cho chúng tôi biết:
Nó đi miền Nam sống nhưng thấy việc gia đình như vậy mà không giải quyết được nên nó bức xúc quá nó phải bắn vì biết không làm gì được chính quyền này đâu.
-Láng giềng anh Viết
Nó làm đường đi qua nhà người ta và lại đền bù không thỏa đáng. Trên cơ sở nó nói rằng nhà người ta không có giấy tờ nhưng thực ra đất này đã có bốn đời rồi cũng hơn trăm năm rồi. Thực tế là vậy đã dẫn đến bức xúc trước việc lấy quyền lực áp đặt trên đất đai của họ khiến đi kiện mãi nhưng không được thế thì bắn! Nó đi miền Nam sống nhưng thấy việc gia đình như vậy mà không giải quyết được nên nó bức xúc quá nó phải bắn vì biết không làm gì được chính quyền này đâu.
Sự khốn cùng về kinh tế cộng với bất công của chính sách đã đẩy anh vào con đường sát nhân. Sợ hãi và ân hận khiến anh phải tự sát vì biết rằng không thể trốn khỏi lưới pháp luật cùng sự trả thù của hệ thống.
Câu chuyện bi thảm khép lại với cái chết của hai con người và hơn hết hai cái chết ấy là hậu quả của một chính sách sai lầm về đất đai bao năm qua đã làm xã hội đảo điên khi chính sách ấy được dùng để nuôi sống nhiều nhóm lợi ích cũng như giúp nhiều cán bộ làm giàu qua sự tiếp tay của họ.
Do sai lầm chính sách đất đai
docbao-250.jpg
UBND thành phố Thái Bình, nơi anh Viết xả súng bắn cán bộ. Photo courtesy of docbao.vn

Nhà báo Kha Lương Ngãi, nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng cho biết nhận xét của ông về chính sách gây ra những cái chết này:
Luật lệ quy định đất đai là của toàn dân, chính là ở đó. Cái đó đã tạo điều kiện tước đoạt đất của dân cho nên dân người ta mới phản ứng như thế và phản ứng như thế là đúng. Muốn khắc phục phải thay đổi vấn đề “đất đai là của toàn dân” phải bỏ cái đó mới được.
Đại tá Phạm Đình Trọng, nguyên là cây viết quân đội đã trả thẻ đảng và có các bài viết đào sâu về chính sách đất đai cho biết nhận xét của ông:
Chỉ có trả lại quyền sở hữu đất đai thiêng liêng của người dân, cho người dân chứ không thể lấy cái quyền công hữu hóa đất đai là sở hữu toàn dân để cướp đất của người ta được. Chỉ tạo điều kiện cho bọn quan tham nó cướp đất của người dân và nó sẽ đẩy nhà nước này tới chỗ đối lập với toàn bộ dân tộc Việt Nam chứ không phải chỉ mấy người nông dân mà thôi đâu.
Trong lúc các vụ đàn áp tôn giáo đang diễn ra tại Nghệ An chưa ngã ngũ, thì vụ xả súng bắn cán bộ tại Thái Bình như thêm dầu vào lửa. Người giáo dân cảm thấy có một sức mạnh mới phía sau trong khi nông dân mất đất được an ủi rất nhiều qua những phát súng của Đặng Ngọc Viết. Nhân dân không nhẫn tâm với cái chết của Phó giám đốc Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố Thái Bình nhưng họ khó thể thông cảm cho vị trí mà ông này đang nắm giữ.
Hai cái chết ấy mở ra những câu hỏi cho lương tâm của nhiều giới trong đó có những người đang nắm vận mệnh đất nước và có trách nhiệm về chính sách đất đai buộc họ phải can đảm nhìn lại những gì mà từ lâu vẫn khăng khăng xác định là đúng đắn cần phải bảo vệ.
Cái cần phải bảo vệ ấy nay không còn chính đáng vì nó đã được tô bằng máu của người mất đất lẫn kẻ thừa hành chính sách lấy đất của người dân. Chính sách nào cũng do con người lập ra và vì vậy khi nó xâm phạm lương tâm, sinh mạng và tài sản con người thì phải bị đào thải. Nếu không thì chính người làm ra chính sách phi nhân ấy sẽ bị đào thải theo quy luật lịch sử.
Đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết về chính sách đất đai nhưng chưa bao giờ chúng được xem xét một cách triệt để trong tinh thần chia sẻ và phân tích khoa học. Nhà báo Kha Lương Ngãi nhận xét:
Chỉ có trả lại quyền sở hữu đất đai thiêng liêng của người dân, cho người dân chứ không thể lấy cái quyền công hữu hóa đất đai là sở hữu toàn dân để cướp đất của người ta được.
- Đại tá Phạm Đình Trọng
Phải thực hiện theo kiến nghị của nhóm 72, bỏ luật đất đai là sở hữu toàn dân mà phải là đa sở hữu, và muốn trưng thu đất thì phải bồi thường xứng đáng và đúng luật pháp thì mới giải quyết được vấn đề
Người láng giềng của anh Đặng Ngọc Viết cũng là nạn nhân của việc trưng thu đất, ông bức xúc không kém anh Viết và thẳng thắn nói rằng nếu tới bước đường cùng thì ông cũng làm như thế:
Khi nào cảm thấy chán quá rồi thì cũng giống như họ, bắt chước họ là xong: bắn chết mấy cái thằng ấy càng nhiều càng tốt!
Câu nói “đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý” vẫn nằm bệ vệ trong Hiến pháp và không ai có thể lay chuyển được, trong khi đó hệ thống tuyên truyền vẫn nỗ lực cho rằng “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là xu thế tất yếu của quá trình phát triển ở nước ta”.
Sự phát triển ấy chỉ thấy rõ trong từng gia đình đảng viên các cấp khi tài sản của họ mỗi ngày một lớn theo tỷ lệ teo tóp của đất đai khắp nước. Tỷ lệ teo tóp này cùng chiều với đà phát triển của bất công, đàn áp, cưỡng chế một cách dã man và nhiều nơi đã xuất hiện sự phản kháng mạnh mẽ không khoan nhượng của nhân dân.
Trí thức vẫn nhiều lần lên tiếng rằng thay một khẩu hiệu, cải tổ một chính sách không thật sự khó khăn như hệ thống vẫn đưa ra. Lịch sử không thời nào lại chấp nhận sự im lặng kéo dài trước cách rẻ rúng lương tâm và sinh mạng người dân để củng cố quyền lực và lợi ích của phe nhóm nhất là lợi dụng sức mạnh sẵn có để định danh những sai lầm ấy ngay trong Hiến pháp.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/bloodshed-due-to-land-policy-ml-09122013145411.html

Tiếng gọi từ cái chết

Lê Diễn Đức
2013-09-12
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

nguoinha-dnv-305.jpg
Gia đình của Anh Đặng Ngọc Viết đang tổ chức tang lễ cho Anh hôm 12 tháng 9 tại Phường Kỳ Bá, Thành phố Thái Bình.
Courtesy nguoiduatin

Sự bất công quá mức chịu đựng

Báo Thanh Niên đã tin, lúc hơn 14 giờ ngày 11/9, Đặng Ngọc Viết (sinh năm 1971) đã vào trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Thái Bình, xông vào phòng làm việc của Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố Thái Bình bắn vào những người đang ngồi làm việc tại đây.
Vụ nổ súng làm ông Vũ Ngọc Dũng (51 tuổi), Phó giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình, bị bắn vào đầu, được đưa đi cấp cứu và chết tại Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) lúc 19 giờ cùng ngày.
Ngoài ra, 3 người khác cùng là cán bộ của trung tâm này là Nguyễn Thanh Dương (38 tuổi), Vũ Công Cương (23 tuổi), Bùi Đức Xuân (38 tuổi) bị bắn vào đầu phải đưa đi cấp cứu.
Đặng Ngọc Viết đã lên trốn tại một ngôi chùa. Sau đó, một số người dân địa phương đã phát hiện và báo tin Viết đã tự sát. Một nguồn tin cho biết, Viết đã tự sát bằng cách tự bắn vào đầu.
Báo Tiền Phong nói về nguyên nhân mà họ gọi là “do liên quan đến việc giải quyết đền bù đất đai”.
“Cụ thể, cách đây khoảng một tháng, đội giải phóng mặt bằng tiến hành giải quyết đền bù cho một số hộ dân, trong đó có trường hợp của nghi phạm này nhưng gia đình không đồng tình với quan điểm giải quyết của cơ quan chức năng. Nghi phạm này đi làm tại TP.HCM và mới về địa phương được khoảng một tuần”, báo Tiền Phong cho biết.
dnv-1-250.jpg
Công an điều tra hiện trường vụ nổ súng tại trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Thái Bình chiều ngày 11/9. Courtesy VTC.

Rõ ràng phải có gì khuất tất gây nên sự bất công quá mức chịu đựng, gia đình bị dồn vào đường cùng, thì mới nảy sinh ra hành động trả thù khốc liệt như thế.
Chúng ta đã từng chứng kiến sự bất công này khằp ba miền Trung Nam Bắc suốt hơn hai thập niên qua. Cảnh nông dân ăn nằm vật vã nơi vỉa hè, công viên để khiếu kiện đất đai trở thành bức tranh thường lệ. Bi kịch như nông dân Vụ Bản đeo khăn tang, nông dân Dương Nội bày biện âm binh để đòi đất và giữ đất. Biết bao bà mẹ Việt Nam cầm những tấm bằng "Tổ quôc ghi công" lê lết tìm đến các cơ quan công quyền với tờ đơn khiếu nại trong vô vọng và bất lực.
Người ta đã phải khoả thân để chống đối như hai mẹ con bà Phạm Thị Lài ở Cần Thơ, phải tự thiêu như bà Đinh Thị Kim Liêng, phải nổ súng để bảo vệ thành quả mồ hôi nước mắt của mình như Đoàn Văn Vươn ở Tiên lãng, Hải Phòng...

Mất lòng tin với chính quyền

Cho dù chưa rõ hết ngọn nguồn của việc nổ súng giết chết cán bộ, nhưng nói đến "Trung tâm Phát triển Quỹ đất" là ngay lập tức, trong đầu người ta đã phác hoạ ra được hình ảnh của sự chà đạp và các quan tham dùng luật rừng để ép buộc dân giao đất với những điều kiện phi lý.
Đất đai là máu thịt của người nông dân. Mất đất là mất hết. Đa phần, thậm chí có chút tiền đền bù, nhưng đã quen với nghề nông từ bao thế hệ, cũng chỉ biết ăn xài đến lúc hết tiền là cũng hết cơ nghiệp. Đất hay là chết!
Vì thế mới có âm vang tiếng súng Đoàn Văn Vươn mà vì không chết nên anh phải chịu bản án 5 năm tù. Anh Viết không muốn thế. Anh chọn cái chết!
Anh Trương Ba Không đã viết status trên Facebook:
dnv-2-250.jpg
Người tập trung bên ngoài trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Thái Bình sau vụ nổ súng chiều ngày 11/9. Courtesy VTC.

"Mình đã khóc khi đọc 6 bài báo về một chủ đề. Khóc âm thầm cho những nỗi đau riêng của những kiếp người kém may mắn so với số đông cộng đồng, nhưng khi chợt biết anh Đặng Ngọc Viết đã tự sát sau khi xả súng vào một nhóm quan chức địa phương Thái Bình, thì mình đã khóc oà thành tiếng cho nỗi đau của cả một xã hội loạn".
Xã hội không loạn sao được khi mà bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phải kêu lên rằng, giám sát nhiều nơi, thấy chính sách an sinh đến địa phương thì bị “biến dạng”. “Ăn” của dân không chừa chỗ nào, từ tiền bảo hiểm y tế của thương binh đến các cháu nghèo trường dân tộc, liều vắc-xin con con của các cháu cũng bị “ăn”!
Bà Nguyễn Thị Doan đã từng có lúc nói Việt Nam "dân chủ gấp vạn lần các chế độ tư sản", liệu bà có giật mình nhớ lại không?
Quan lớn ăn lớn, quan nhỏ ăn nhỏ, từ trung ương xuống địa phương, bệnh tham nhũng, bớt xén, rút ruột công trình trở thành nạn đại dịch trong hệ thống chính trị. Chính hệ thống "dân chủ gấp vạn lần các chế độ tư sản" này đã tạo ra những đặc quyền, đặc lợi như thế, đã tạo ra một giai cấp thống trị nhẫn tâm và suy thoái như thế.
Xin được thắp nén nhang cho con người bất hạnh Đặng Ngọc Viết.
Bi kịch về cái chết của anh làm lắng đọng một điều tâm đắc: Cuộc sống là vô cùng cao quý, nhưng đôi khi vì những giá trị đích thực của nó, con người buộc phải chết khi không còn nơi nào nương tựa cho pháp lý, không còn lòng tin nào đối với thế lực cầm quyền.
Cái chết của anh là tiếng gọi đánh thức lương tri và tinh thần tranh đấu chống lại bạo quyền của những người còn sống.
Con giun xéo mãi cũng quằn, đó là bài học lớn cho chế độ chuyên quyền, cố vị hiện tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
*Bài viết trích từ trang blog Lê Diễn Đức. Nội dung không phản ảnh quan điểm của RFA.