Chủ tịch Tập đoàn Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim (phải) trao đổi với Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hà Nội vào ngày 23 tháng 2 năm 2016.
AFP photo
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nợ công tăng nhanh nhất. Đây là công bố do Ngân Hàng Thế Giới đưa ra ngày 13 tháng 7 vừa qua.
Theo báo cáo cập nhất do World Bank thực hiện, hiện tổng nợ công của Việt Nam chiếm khoảng 63,7% GDP vào cuối năm 2016, rằng tỷ lệ nợ tính trên GDP tăng 10% trong vòng 5 năm qua tỷ lệ nợ tính trên GDP ở Việt Nam tăng 10% .
Vẫn theo World Bank, Việt Nam từng cam kết rất mạnh việc khôi phục kỷ cương ngân sách và để thực hiện được trong lúc này th2i phải có những biện pháp tích cực và có chất lượng cao để củng cố ngân sách.
Số liệu từ Ngân Hàng Thế Giới World Bank cho thấy năm 2016 mức bội chi ngân sách của Việt Nam ước tính tăng lên trong khoảng 6,5% GDP so với 6,2% năm 2015, dẫn đến mức tổng nợ công gần 64% GDP cuối 2016.
Chuyên gia của World Bank còn cho rằng dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng nhưng nếu nợ công có khuynh hướng tiếp tục tăng như thực tế cho thấy thì Việt Nam sẽ phải đối diện tình trạng khó khăn về bền vững tài khóa.
Một vườn nho ở Napa Valley, California. (Hình minh họa: Kimihiro Hoshino/AFP/GettyImages)SACRAMENTO, California (AP) – Các số liệu mới do Ngân Hàng Thế Giới đưa ra cho thấy nền kinh tế tiểu bang California của Hoa Kỳ hồi năm ngoái lớn vào hàng thứ 6 trên thế giới.
Bản đánh giá hằng năm về tổng sản lượng quốc gia do Ngân Hàng Thế Giới thực hiện, được công bố hôm 30 Tháng Sáu, xác nhận một bản phân tích được Bộ Tài Chánh California đưa ra hồi tháng trước.
Cơ Quan Phân Tích Kinh Tế Liên Bang Hoa Kỳ báo cáo rằng chỉ số GDP của California là $2,500 tỷ trong năm 2015, tức là gia tăng 4.1% so với năm trước đó.
Về nhịp độ gia tăng, mức tăng trưởng kinh tế của California nhanh hơn mức tăng trưởng kinh tế tính chung trên toàn quốc Hoa Kỳ, mà theo các thống kê hồi năm 2015 thì chỉ tăng 2.4% so với năm trước đó.
Năm ngoái, toàn thế giới chỉ có năm nền kinh tế có tổng sản lượng lớn hơn California, đó là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật, Ðức và Anh. (V.P.)
90+4' | Trọng tài kết thúc trận đấu với tỷ số 2-0 nghiêng về Pháp. Trận chung kết ngày 10 tháng 7, 2016 tới đây sẽ là đội chủ nhà Pháp gặp Bồ Đào Nha với siêu sao Ronaldo. 90+3'...
Bà Loretta Lynch, bộ trưởng Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, hôm Thứ Tư cho biết bà Hilllary Clinton, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ, sẽ không bị truy tố trong vụ sử dụng email cá nhân.
Hai cán bộ hải quan có thâm niên trong ngành hải quan tại phi trường Ðà Nẵng bị tố “vòi” tiền của người dân với cớ “trong hành lý của khách có một ít thuốc bổ trị bệnh mang về từ Mỹ.”
Chủ khách sạn ở thành phố Mỹ Tho dán băng rôn lên xe hơi diễu phố bêu xấu tên của một thiếu tá công an gây sóng dư luận hồi tháng 2 chỉ “xử phạt hành chính.”
Trung Quốc loan báo cấm tàu bè qua lại để tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, Hà Nội lên tiếng phản đối thì Bắc Kinh nói rằng đó chỉ là những lời phản đối quá quen thuộc.
Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra nhận định là Việt Nam cần phải cải cách toàn diện và quyết liệt khi thực hiện những cam kết của Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP. Đây là những khuyến cáo rõ rệt nhất từ trước tới nay, được các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đưa vào bản báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam công bố ngày 2/12/2015 tại Hà Nội.
Muốn hưởng lợi phải cải cách
Thời báo kinh tế Sài Gòn Online nằm trong số ít, nếu không nói là báo mạng duy nhất, đề cập tới những vấn đề nhạy cảm mà Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh trong bản báo cáo. Với tính cách một định chế quốc tế tầm cỡ, Ngân hàng Thế giới sử dụng ngôn từ chuẩn mực khi nói rằng việc thực thi các cam kết với TPP mà Việt Nam là thành viên, sẽ ảnh hưởng tới vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước, tăng cường minh bạch cho các chương trình mua sắm của nhà nước, nâng cao chất lượng thực thi luật pháp, chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn lao động và môi trường, an toàn thực phẩm, tự do hóa thương mại và dịch vụ, kể cả dịch vụ tài chính và viễn thông.
Cho dù không có Luật về Hội nhà nước Việt Nam vẫn phải thực thi định chế công đoàn độc lập; chỉ có điều là suốt bao nhiêu năm cho tới nay chưa từng có một tổ chức cơ sở công đoàn độc lập ở Việt Nam, chưa từng có một nghiệp đoàn tự do cho người lao động. -TS Phạm Chí Dũng
Nhìn vào thể chế kinh tế chính trị hiện tại của Việt Nam và thời sự diễn ra hàng ngày, những ai theo dõi tin tức sẽ ngay lập tức nhận thấy là, Việt Nam nếu muốn hưởng những lợi ích đầy hứa hẹn của TPP thì chắc chắn phải cải cách quyết liệt và toàn diện.
Một trong những vấn đề lớn nhất mà Ngân hàng Thế giới đề cập tới, là những cam kết về vấn đề lao động. Sài Gòn Times Online trích báo cáo Ngân hàng Thế giới nhắc lại, TPP bao gồm một cam kết chung của các nước về tôn trọng quyền của người lao động được ghi trong Tuyên ngôn về Nguyên tắc và Quyền lợi cơ bản tại nơi làm việc của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Việt Nam còn cam kết cụ thể hơn trong một hiệp ước phụ, Kế hoạch Tăng cường Quan hệ Công đoàn và Công nhân Hoa Kỳ - Việt Nam.
Theo Sài Gòn Times Online, trong báo cáo ngày 2/12/2015 Ngân hàng Thế giới cho rằng, nếu thực hiện đầy đủ các cam kết này sẽ đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh trong cơ cấu công đoàn hiện nay, cho phép tự do liên kết thay vì toàn bộ các công đoàn đều nằm dưới sự quản lý của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Điều khoản chính qui định như sau: Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật pháp và qui định cho phép người lao động do doanh nghiệp tuyển dụng được thành lập tổ chức người lao động của riêng mình mà không cần sự cho phép từ trước.
Một tổ chức của người lao động đã đăng ký với với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ được quyền tự bầu ra đại diện của mình, xây dựng qui chế và qui tắc của mình, tổ chức quản lý, kể cả quản lý tài chính và tài sản của mình, đàm phán tập thể, tổ chức và lãnh đạo đình công và các hành động tập thể khác liên quan đến quyền lợi nghề nghiệp, kinh tế-xã hội của người lao động trong doanh nghiệp.
Ngân hàng Thế giới cho biết, theo cam kết thì Việt Nam phải công nhận hiệu lực của điều khoản vừa nêu trước ngày TPP có hiệu lực. Ngoài ra Việt Nam cũng đã cam kết cho phép tổ chức cơ sở của người lao động được thành lập các tổ chức lớn hơn giữa các doanh nghiệp trong vòng 5 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực.
12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015.
Nhận định về vấn đề tự do nghiệp đoàn mà các nhà hoạt động xã hội dân sự quen gọi là công đoàn độc lập, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập, một tổ chức không được cấp phép, từ Sài Gòn phát biểu: “Công đoàn độc lập là một định chế một thành phần bắt buộc trong Hiệp định TPP liên quan tới người lao động và quyền lợi của họ cũng như quyền tự do lập hội của người lao động Việt Nam. Cho dù không có Luật về Hội nhà nước Việt Nam vẫn phải thực thi định chế công đoàn độc lập; chỉ có điều là suốt bao nhiêu năm cho tới nay chưa từng có một tổ chức cơ sở công đoàn độc lập ở Việt Nam, chưa từng có một nghiệp đoàn tự do cho người lao động. Tất cả vẫn bó buộc ở trong cơ chế của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Bởi vậy tôi cho rằng có thể phải mất thời gian 5-6 năm để gầy dựng nên nền tảng của công đoàn độc lập ở Việt Nam, riêng ở các cơ sở thôi chưa nói đến tầm mức quốc gia. Đó là tuyên truyền về kiến thức, về ý thức, về kinh nghiệm đấu tranh cho người lao động, thì họ mới có thể gầy dựng được một công đoàn độc lập theo đúng nghĩa của nó.”
Dự đoán sớm nhất đến 2018 TPP mới có hiệu lực thi hành, cộng thêm lộ trình 5 năm đối với việc Việt Nam cho phép tự do nghiệp đoàn ở tầm mức lớn hơn và tự do liên kết ngang dọc giữa các nghiệp đoàn. Ngoài ra người lao động Việt Nam có thể có thể chưa nhận thức đúng mức về quyền tự do nghiệp đoàn của mình. Phải chăng tương lai tự do nghiệp đoàn ở Việt Nam vẫn quá xa vời. Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng cho rằng, vẫn có lối mở vì thời gian 7 năm đó chính là thời gian mà nhà nước Việt Nam có thể thực hiện một số tiểu phần của công đoàn độc lập. Hiện chưa công bố một lộ trình cụ thể, nhưng chỉ biết là sau 3 năm thì phía Hoa Kỳ và các nước trong TPP sẽ họp lại và đánh giá nhà nước Việt Nam đã thực hiện định chế công đoàn độc lập tới đâu. Các nghiệp đoàn ở cơ sở có được liên kết hoặc được nhận sự hỗ trợ kể cả hỗ trợ về tài chính của những tổ chức phi chính phủ về lao động quốc tế hay không. TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh: “Nếu nhà nước Việt Nam không bảo đảm được những điều đó, cũng như không bảo đảm được khung luật sửa đồi về luật lao động, kể cả luật công đoàn thì như vậy không bảo đảm hoạt động của nghiệp đoàn tự do trong TPP, vi phạm TPP và sẽ bị chế tài. Nếu mà không cẩn thận thì hiệp định TPP đối với nhà nước Việt Nam chắc chắn sẽ là con dao hai lưỡi. Tôi cho rằng nói gì thì nói, mọi thứ cũng đang dần mở ra, chỉ có điều đây là một cuộc đấu tranh từng góc phố từng ngôi nhà để tiến trình dân chủ hóa Việt Nam có thể nhích dần lên từng bước chứ mọi thứ sẽ không thể đến nhanh được.”
Lo ngại về cải cách thể chế chính trị
Trở lại khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới là Việt Nam cần cải cách toàn diện và quyết liệt để thực hiện các cam kết TPP. Ngân hàng Thế giới nhận định rằng, đây là thách thức lớn đối với nhà nước Việt Nam, vì Việt Nam lựa chọn cải cách từ từ đối với những tồn tại lâu đời, đó là khu vực doanh nghiệp nhà nước quá lớn, thể chế thị trường không hoàn chỉnh.
Các chuyên gia nói rằng cải cách thúc đẩy tiến bộ, đem lại ích lợi cho người dân. Nhưng ngược lại cải cách cũng sẽ tạo ra đau đớn như việc giải phẫu cắt bỏ những khối ung thư. Đối sự lo ngại về cải cách thể chế chính trị, đụng chạm tới Hiến pháp và quá nhiều luật lệ chưa thích hợp, thậm chí cản trở kinh tế thị trường. Trong dịp trao đổi với chúng tôi Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận định:
Việt Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở rộng, tất cả mọi thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi, phải sửa đổi rất nhiều luật cho phù hợp. Nếu không sửa đổi luật cho phù hợp thì làm sao Việt Nam là thành viên của TPP được. -LS Trần Quốc Thuận
“Việt Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở rộng, tất cả mọi thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi, phải sửa đổi rất nhiều luật cho phù hợp. Nếu không sửa đổi luật cho phù hợp thì làm sao Việt Nam là thành viên của TPP được. Cho nên vấn đề đó, theo lộ trình thì TPP có thể phải hai năm nữa mới có hiệu lực thi hành thì có lẽ trong thời gian đó, Việt Nam cái gì chứ cái món mà người ta bảo ‘nước cao quá gối cũng nhảy’ thì Việt Nam có khi cũng phải nhảy.”
Bên cạnh vấn đề cải cách pháp luật, tôn trọng sở hữu trí tuệ, quản trị minh bạch doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, cải cách tiêu chuẩn lao động và môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, tự do hóa thương mại và dịch vụ. Qui tắc xuất xứ sản phẩm dệt may trong TPP được Ngân hàng Thế giới mô tả như một nhược điểm khiến Việt Nam không tận dụng được tối đa cơ hội do TPP mang lại. Điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan khi Việt Nam xuất hàng dệt may vào Hoa Kỳ và các nước khác trong TPP đó là nguyên tắc tính từ sợi, sản phẩm dệt may phải được sản xuất từ sợi dệt nội khối TPP. Thực tế hiện nay, báo cáo của Ngân hàng Thế giới ghi nhận các nhà sản xuất dệt may sử dụng hầu hết xơ sợi nhập khẩu từ các nước ngoài TPP. Theo đó khoảng 60% tới 90% mặt hàng vải để sản xuất hàng may mặc được nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc và Đài Loan.
Hiện nay có một làn sóng đầu tư nước ngoài vào các dự án kéo sợi, dệt, nhuộm hoàn tất, nhưng Việt Nam sẽ rất khó đáp ứng nhu cầu sợi dệt nội khối, chưa kể không có đủ nhà máy dệt vải, nhuộm và hoàn tất khi đã có sợi dệt nội khối. Do vậy có thể thấy trước là dù có lộ trình để áp dụng danh mục thiếu hụt tạm thời, việc đáp ứng nguyên tắc sợi dệt nội khối ở tỷ lệ như thế nào và hưởng lợi tới mức nào vẫn còn là ẩn số.
Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan TP.HCM từng nhận định: “Rõ ràng đây là một bài toán về mặt vĩ mô, cân đối giữa năng lực của kéo sợi, năng lực dệt vải và năng lực nhuộm, khá hóc búa cho các nhà điều hành ở tầm vĩ mô của ngành dệt may Việt Nam.”
Dù chưa có TPP, kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2014 của Việt Nam rất lớn trị giá 24,5 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ đạt 9,8 tỷ USD. Tuy vậy sản xuất dệt may xuất khẩu của Việt Nam hầu hết là gia công với nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc và Đài Loan, nên phần lợi nhuận thực thụ của người Việt Nam chỉ là một phần nhỏ. Dù vậy lợi ích của xuất khẩu dệt may Việt Nam là thu dụng lực lượng lao động hàng triệu người.
Ngân hàng Thế giới dự kiến xuất khẩu hàng dệt may và phụ kiện của Việt Nam sẽ tăng khoảng 60% vào năm 2035 so với hiện nay, trong đó Hoa Kỳ là đích đến chủ yếu trong khối TPP. Ngành dệt may Việt Nam tiếp tục là nguồn tạo việc làm quan trọng, nhờ đặc thù ngành nghề sử dụng nhiều lao động và chính sách chú trọng xuất khẩu của nhà nước.
Vẫn theo Sài Gòn Times Online, Hiệp hội dệt may Việt Nam ước tính, cứ tăng thêm 1 tỷ đô la Mỹ xuất khẩu, thì sẽ tạo thêm được 150.000 nghìn tới 200.000 việc làm.
Tuy vậy Báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 2/12/2015 cảnh báo, qui tắc xuất xứ có thể sẽ hạn chế đáng kể những tác động tích cực vừa nêu.
Ngân hàng Thế giới ước tính TPP có thể bổ sung thêm 8% Tổng sản phẩm nội địa GDP của Việt Nam, 17% giá trị xuất khẩu thực tế và 12% lượng tích lũy tài sản trong vòng 20 năm tới.
Tất nhiên đó là những tính toán theo sách vở và trong điều kiện Việt Nam thực hiện một chương trình cải cách toàn diện và quyết liệt để thực thi các cam kết của TPP.
HÀ NỘI (NV) .-Đó là nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB) về chi tiêu của chính quyền các địa phương ở Việt Nam. Mức độ tin cậy mà WB dành cho sự chi tiêu của hệ thống này là “thấp”.
Gần như tất cả các công trình hạ tầng tại Việt Nam đều vượt dự toán đến 50%. (Hình: TBKTSG)
Lý do khiến WB không tin cậy chi tiêu của chính quyền các địa phương ở Việt Nam là vì chi tiêu thực tế luôn vượt xa mức chi tiêu đã dược phê duyệt (dự toán). Chẳng hạn trong đầu tư hạ tầng, chi tiêu thực tế thường chênh lệch tới 50% so với dự toán, vượt xa thông lệ là duy trì chênh lệch chi tiêu ở mức không quá 5% dự toán.
Theo WB, sở dĩ có tình trạng vừa kể là vì hệ thống hành pháp được phép thay đổi dự toán mà không cần hệ thống dân cử xem xét, phê duyệt. Chưa kể, Luật Ngân sách hiện hành cho phép nới rộng chi tiêu so với dự toán bằng cách dùng thêm các dòng tiền cả trong lẫn ngoài ngân sách. Đây cũng là lý do việc sử dụng ngân sách trở thành thiếu minh bạch và chi tiêu trở thành kém hiệu quả.
Tuần trước, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội CSVN từng cảnh báo về tình trạng nợ nần của chính quyền các địa phương đang tăng chóng mặt.
Trong bốn năm từ 2010 đến 2013, nợ nần của chính quyền các địa phương đã tăng gần 5 lần, từ 6,777 tỉ vào năm 2010 lên 30,016 tỉ đồng vào năm 2013. Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội CSVN dự đoán, đến cuối năm nay, khoản nợ này sẽ lên tới 33,500 tỉ và sang năm tới, con số đó sẽ là 38,000 tỉ vì chính quyền nhiều địa phương vẫn tiếp tục phát hành trái phiếu riêng để đầu tư vào các dự án hạ tầng.
Dẫn đầu về nợ nần tăng tăng cao và nhanh là Sài Gòn. Tính đến cuối năm ngoái, chính quyền thành phố Sài Gòn nợ 12,419 tỉ. Trong đó hơn 10,000 tỉ là nợ từ việc phát hành trái phiếu. Số nợ còn lại là vay của Kho bạc Nhà nước.
Chính quyền các địa phương biện bạch, nợ riêng tăng cao và nhanh là chính quyền trung ương không cấp đủ tiền để họ đầu tư vào các dự án. Cũng vì vậy, họ phải huy động vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau và trái phiếu là công cụ mượn nợ được sử dụng nhiều nhất.
Cũng theo chính quyền các địa phương thì những dự án đầu tư thực hiện bằng tiền bán trái phiếu đều vừa mới hoàn thành hoặc đang được thực hiện nên chưa thể xác định hiệu quả.
Trong khi đó, cả Quốc hội của chế độ lẫn nhiều chuyên gia, báo giới, liên tục chỉ trích việc sử dụng các nguồn tiền đi vay như ODA, trái phiếu,… luôn luôn kéo dài, khiến gánh nặng của nợ nần thêm trầm trọng.
Tháng 9 năm ngoái, Kiểm toán Nhà nước công bố một báo cáo, theo đó, do thực hiện chậm chạp, nhiều dự án giao thông và dự án thủy lợi không đáp ứng mục tiêu đầu tư là “giải quyết nhu cầu cấp bách”. Tại Phú Thọ có 25 dự án như vậy. Còn tại Thanh Hóa có 5 dự án không đạt mục tiêu đầu tư...
Chưa kể tại nhiều địa phương, tình trạng nợ các nhà thầu chấp nhận ứng tiền trước để xây dựng các công trình hạ tầng càng ngày càng trầm trọng. Việc chính quyền các địa phương thi nhau phát hành trái phiếu với lãi suất cao, cạnh tranh với hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến tình trạng vỡ nợ hàng loạt trong tương lai.
Mới đây, ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Việt Nam, kể rằng, do Quốc hội yêu cầu ông ta phải cho biết những dự án nào kém hiệu quả hoặc không hiệu quả. Bộ Kế hoạch – Đầu tư đã gửi công văn đề nghị các địa phương trong toàn quốc khảo sát – đánh giá các dự án đầu tư bằng ngân sách.
Phản hồi trở lại từ các địa phương trong toàn quốc là “dự án nào cũng hiệu quả’. Khi bị ông Vinh chất vấn, yếu tố “hiệu quả” được đánh giá theo tiêu chí nào (?), lãnh đạo các địa phương trả lời “không hiệu quả chỗ này thì hiệu quả chỗ khác”.
Cuối năm ngoái, chế độ Hà Nội công bố một thống kê về việc sử dụng ngân sách để đầu tư vào các “dự án trọng điểm”. Theo đó, chỉ trong vòng mười năm, Việt Nam đổ tiền xây 20 cảng biển quốc tế, 22 phi trường (có 8 là phi trường quốc tế), 267 khu công nghiệp (trung bình một tỉnh có 4 khu công nghiệp), 18 khu kinh tế ven biển, 28 khu kinh tế cửa khẩu, 1,757 dự án trong các lãnh vực giao thông, thủy lợi và di dân.
Tổng vốn đầu tư cho tất cả các “dự án trọng điểm” ấy ngốn hết khoảng 444 ngàn tỉ đồng và gần như toàn bộ các “dự án trọng điểm” đều bỏ hoang sau khi hoàn tất. (G.Đ) http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=197767&zoneid=1
Ngân hàng Thế giới cho biết trong năm 2013, Việt Nam đã thu hút được khoảng 10 tỷ 600 triệu đô la tiền kiều hối, tăng 6,5% so với năm 2012 và tiếp tục nằm trong 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới.
Các chuyên gia kinh tế nhận định, số tiền kiều hối tăng có thể do tình hình làm ăn của người Việt ở nước ngoài đang có dấu hiệu tốt lên và họ có nhu cầu giúp người thân trong nước cải thiện đời sống. Lý do tiếp theo là do tỷ giá đôla ổn định nên số người bán lại ngoại tệ cho ngân hàng để lấy đồng Việt Nam tăng, đó là chưa kể nhiều người dân chuyển từ ngoại tệ sang tiền đồng để hưởng lãi suất cao hơn.
Theo thống kê của Ủy ban về người Việt nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 4 triệu rưỡi người Việt đang định cư tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Khoảng nửa triệu lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài.
Chính quyền Manila loan báo được Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á hứa cho vay tổng cộng một tỷ đôla để tái thiết các vùng bị bão Haiyan tàn phá. Tại chỗ, viện trợ quốc tế bắt đầu đến tay nạn nhân ở những vùng xa thành phố.
Philippines và Ngân hàng Thế giới cùng thông báo trong ngày hôm nay 18/11/2013, một khoản 500 triệu đôla đã được tháo khoán, để khắc phục hậu quả cơn bão Haiyan và giúp quần đảo này nâng cao khả năng phòng chống thiên tai xảy ra thường xuyên hơn và dữ dội hơn.
Ngân hàng Phát triển Á Châu mà trụ sở đặt tại Manila cũng loan báo cung cấp theo yêu cầu của chính phủ Philippines một số tiền tương tự, nửa tỷ đôla, dưới dạng tín dụng.
Theo Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Á Châu Takehiko Nakao, định chế tài chính này hợp tác chặt chẽ với chính phủ Philippines và các cơ quan tài chính quốc tế khác để đem lại « niềm hy vọng » và để « xây dựng lại cuộc sống cho 11 triệu người ».
Theo AFP, thiệt hại vật chất do bão Haiyan gây ra được thẩm định khoảng 14 tỷ đôla.
Liên Hiệp Quốc ước lượng khoảng 2,5 triệu dân cần được giúp đỡ khẩn cấp về gạo và các loại nhu yếu phẩm khác. Hơn 4 triệu người mất hết nhà cửa phải di tản, trong số này chỉ có một số nhỏ là 350 000 người tìm được chổ tạm cư trong các trại tỵ nạn.
10 ngày sau thiên tai, vẫn chưa thể tổng kết thiệt hại nhân mạng. Chính phủ Philippines đưa ra con số mới nhất là gần 4000 người chết và 1600 người mất tích.
Theo phóng viên AFP tại chỗ, nhân viên Liên Hiệp Quốc và các tổ chức thiện nguyện bắt đầu hiện diện đông đảo ở các đảo xa xôi và vùng đồi núi.
Nhật Bản đã đưa một lực lượng sang giúp Philippines gồm ba chiến hạm, 10 máy bay, 6 trực thăng và 1200 binh sĩ ngoài số tiền viện trợ 30 triệu đôla.
Theo xếp hạng do Ngân hàng Thế giới đưa ra hôm 29/10, năm nay, Việt Nam xếp thứ 99 trên tổng số 189 nền kinh tế, và World Bank cho rằng Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để cải thiện thứ bậc.
Theo báo cáo, dù đã thực hiện 21 cải cách kể từ năm 2005 - nhiều nhất trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn không có nhiều cải thiện.
Nhiều chỉ tiêu của Việt Nam bị rớt điểm so với năm ngoái, trong đó có hạng mục nộp thuế và bảo vệ các nhà đầu tư.
Bà Wendy Werner, Giám đốc Chương trình Tư vấn Môi trường Đầu tư khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của IFC, thành viên Nhóm Ngân hàng Thế giới, nhận định rằng Việt Nam đã có những cải cách quan trọng trong chín năm qua để cải thiện môi trường kinh doanh, nhưng vẫn cần làm nhiều hơn nữa để duy trì năng lực cạnh tranh, đặc biệt là cần áp dụng những thông lệ quốc tế tốt nhất trong các quy định về hoạt động của doanh nghiệp.
Năm ngoái, Việt Nam đã tăng cường bảo vệ nhà đầu tư nhờ thắt chặt quy định về công khai thông tin đối với các công ty niêm yết trong trường hợp giao dịch với bên liên quan.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cấp phép thành lập trung tâm thông tin tín dụng tư nhân đầu tiên sau khi ban hành một nghị định năm 2010 tạo khung pháp lý để thành lập những trung tâm thông tin tín dụng loại này.
Tuy nhiên, chi phí đóng thuế đối với doanh nghiệp của Việt Nam lại tăng do quy định tăng mức đóng bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động.
Theo đánh giá của World Bank, tháng 7/2012 đến tháng 6/2013, Việt Nam đã có các biện pháp tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp trong nước.
Ngân hàng Thế giới, WB, nói mặc dù tốc độ xóa nghèo diễn ra nhanh chưa từng thấy trong những thập niên gần đây, song 1,2 tỉ người "vẫn chìm sâu trong cảnh cùng cực" trong năm 2010. Ngân hàng công bố bản báo cáo “Tình trạng người ngèo” hôm thứ năm để mở khai mạc cuộc họp hàng năm của Ngân hàng và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF.
Giám đốc Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim cho biết ngân hàng có 2 mục tiêu chính - chấm dứt tình trạng nghèo khó cùng cực trước năm 2030 và thúc đẩy sự thịnh vượng chung ở các nước đang phát triển. Điều đó có nghĩa là cải thiện tăng trưởng kinh tế và bình đẳng cho nhóm 40% dân số từ dưới lên của một nước đang phát triển. Ông nói:
“Đạt được những mục tiêu này đã trở thành mục tiêu chính cho tổ chức của chúng ta. Tuần này Hội đồng quản trị Ngân hàng Thế giới sẽ xem xét một kế hoạch chi tiết cho việc chuyển đổi hoạt động, cấu trúc và văn hóa của chúng ta để có thể đạt được những mục tiêu. Đây là chiến lược đầu tiên tập hợp tất cả những tổ chức thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới dưới một khuôn khổ duy nhất để gặt hái kết quả.”
Tuần này, ngân hàng đã đặt một mục tiêu tạm thời mới, nhằm giảm tình trạng nghèo khó cùng cực xuống còn 9% trước năm 2020.
Báo cáo nói xóa bỏ nghèo khó cùng cực trong khoảng thời gian của một thế hệ là một "thách thức to lớn," đòi hỏi phải có "sự hiểu biết thấu đáo về tình trạng của người nghèo." Ông Kim nói:
“Chinh phục nạn nghèo đói là chuyện to lớn so với năng lực của chúng ta rất nhiều. Một phong trào toàn cầu, đang phát triển đã lớn mạnh khi các nhà lãnh đạo chính phủ, các tổ chức quốc tế và xã hội dân sự đoàn kết xung quanh mục tiêu trọng yếu này. Chiến lược của chúng ta là táo bạo vì thách thức rất to lớn. Hơn một tỉ người sống trong nghèo khó cùng cực, thu nhập 1,25 đô la một ngày hoặc ít hơn. Chúng ta phải hành động với sự cấp bách và lòng quyết tâm. Trong báo cáo “Tình trạng người nghèo”, chúng ta nhận thấy rằng 400 triệu người cực kỳ nghèo khó của thế giới trong năm 2010 là trẻ em.”
Ông nói người nghèo không thể chờ đợi tiến bộ từ từ xuất hiện mà họ cần được giúp đỡ ngay bây giờ:
“Khi nhìn lại hơn 30 năm qua, chúng ta thấy tiến bộ vượt bậc trong công tác xóa đói giảm nghèo. Theo báo cáo, ít hơn 700 triệu người sống trong cảnh nghèo khó cùng cực, ngay cả khi dân số thế giới tăng thêm 2,5 tỉ người. Ở những nơi như Ấn Độ và Trung Quốc, hàng trăm triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo khó cùng cực trong giai đoạn này. Tuy nhiên, trong số 35 nước nghèo nhất, 100 triệu người nghèo vẫn còn cực kỳ nghèo khó. Nhiều người sống trong nghèo khó cùng cực từ hơn 30 năm qua.”
Báo cáo “Tình trạng người nghèo” nói 26 trong số 35 nước có thu nhập thấp trên thế giới là ở châu Phi.
Bác sĩ Kim cho biết nhiều người nghèo không được tiếp cận với nước sạch và điều kiện vệ sinh:
“Những người cực nghèo vẫn sống dưới mức 1,25 đô la một ngày như cách đây 30 năm. Và để thoát khỏi cảnh nghèo, những người nghèo ở nông thôn sẽ phải tăng thu nhập của họ nhanh hơn nhiều so với phần còn lại của các nước đang phát triển. Chiến lược của chúng ta sẽ giúp các nước nhận trợ giúp giải quyết vấn đề lớn nhất của họ, đó là tạo công ăn việc làm, chống biến đổi khí hậu, là những việc gây thiệt hại rất nhiều đối với người nghèo trên thế giới. Ngoài ra, chúng ta cũng cần giúp họ đối mặt với các vấn đề bất ổn và xung đột.”
Báo cáo cho biết dù số lượng người nghèo phái nam và phái nữ bằng nhau, tình trạng nghèo khó vẫn còn chênh lệch về mặt giới tính. Người nữ trong độ tuổi từ 15 đến 30 có khoảng một năm ít học hơn những người nam nghèo cùng nhóm tuổi.
Giám đốc Ngân hàng Thế giới nói thêm, nếu các mục tiêu giảm nghèo được đáp ứng, cần phải có sự hỗ trợ vốn mạnh mẽ cho Hiệp hội Phát triển quốc tế, gọi tắt là IDA. IDA cung cấp các khoản vay cho các chương trình cải thiện tăng trưởng kinh tế và điều kiện sống. Ông Kim cho biết:
“Với sự hỗ trợ vốn mạnh mẽ, chúng tôi dự định sẽ tăng nguồn kinh phí của IDA cho những nước bất ổn và bị ảnh hưởng bởi xung đột đến mức 50 phần trăm trong ba năm tới. Chương trình của chúng ta cho các cuộc họp thường niên năm nay cho thấy ngân hàng tập trung vào nhiều thách thức về phát triển quan trọng, chẳng hạn như biến đổi khí hậu, tiếp cận tài chính, năng lượng, vai trò của khu vực tư nhân và bình đẳng giới tính.”
Trong một tin tức có liên quan, IMF thông báo rằng các nước thành viên đã cam kết tài trợ cho Quỹ Giảm nghèo và Tăng trưởng.
Quỹ này giúp IMF cho các quốc gia có thu nhập thấp vay với lãi suất bằng không. Nguồn tài trợ cho Quỹ đến từ gần 4 tỉ đôla lợi nhuận do bán 403 tấn vàng dự trữ.