Posts tonen met het label nhạc trữ tình. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nhạc trữ tình. Alle posts tonen

zondag 17 november 2013

Joe Dassin để lại những gì 30 năm sau ngày ra đi : từ nhạc đồng quê đến nhạc trữ tình Pháp 'Il était une fois nous deux'

Thứ bảy 11 Tháng Chín 2010
Joe Dassin để lại những gì 30 năm sau ngày ra đi
Ca sĩ Joe Dassin (Ảnh Wikipedia)
Ca sĩ Joe Dassin (Ảnh Wikipedia)
Tuấn Thảo
Mới đó mà đã đến ngày kỷ niệm 30 năm ca sĩ Joe Dassin qua đời. Cuối tháng 8, Sony đã cho tái bản toàn bộ các ca khúc của anh. Trong tháng 9, gia đình Joe Dasin cũng cho phát hành một tập sách lưu niệm, gồm các bức ảnh chụp chưa được phổ biến. Kể từ đầu tháng 10, một vở ca nhạc kịch kể lại cuộc đời và sự nghiệp của anh được dựng trên sân khấu Paris với tựa đề "Il était une fois Joe Dassin".
Nhân ngày giỗ năm chẵn, vở kịch này được xem là một trong những dự án hoành tráng hơn cả. Phần dàn dựng do Christophe Barratier thực hiện. Đạo diễn trẻ tuổi người Pháp thành danh vài năm trước đây với bộ phim Les choristes. Để kể lại cuộc đời của Joe Dassin (1938-1980), đạo diễn Christophe Barratier đã chọn ra 40 ca khúc tiêu biểu nhất. Thay vì chọn một người để diễn vai Joe Dassin, anh lại tuyển lựa 10 ca sĩ thuộc thế hệ mới. Trên sân khấu, các ca sĩ này sẽ trình diễn các ca khúc dưới dạng solo, song ca hay tứ tấu.
Một số nhạc phẩm được hòa âm lại, theo lối pop rock hay với nhạc khí giao hưởng, nhưng cũng có những bài giữ nguyên phần phối khí chính gốc y hết như nguyên tác. Theo lời nhà đạo diễn, một số hình ảnh và phim video của Joe Dasin sẽ được chiếu xen kẽ trên màn ảnh lớn, tạo ra những bài song ca ảo, để cho các tài năng trẻ đứng trên sàn diễn song ca trực tiếp với nghệ sĩ quá cố. Một cách để minh họa cho ý tưởng : Joe Dassin 30 năm sau ngày qua đời, vẫn truyền lửa cho thế hệ thời nay.

Sinh tại New York vào ngày 5 tháng 11 năm 1938, Joe Dassin (tên thật là Joseph Ira Dassin) xuất thân từ một gia đình khá giả có dòng máu nghệ sĩ. Thân phụ của anh là đạo diễn Jules Dassin, người Nga gốc Do Thái, nổi tiếng trong làng phim Hollywood từ những năm 1940. Mẹ anh, bà Beatrice Launer là một nhạc sĩ vĩ cầm trong một dàn nhạc giao hưởng.
Thời ấu thơ, Joe sống với gia đình và hai người chị tại Los Angeles. Đầu thập niên 1950, gia đình anh buộc phải sang Pháp sống lưu vong, vì người bố nổi tiếng là một nhà đạo diễn dấn thân, thiên tả nên bị đưa vào danh sách đen trong thời kỳ McCarthy. Joe Dassin đến Paris năm anh 12 tuổi, sau khi đậu bằng tú tài, anh trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục ngành đại học.
Ảnh hưởng của folk và country
Theo lời kể của Julien, con trai út của Joe Dassin, thì anh đã đến với nghề ca hát một cách rất tình cờ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Joe Dassin không muốn chọn ngành điện ảnh vì sợ nấp bóng người cha, anh cũng không muốn chọn ngành âm nhạc vì nghĩ rằng tài năng chơi đàn của mình không thể nào sánh bằng mẹ ruột.
Trong thời gian đầu, anh làm đủ mọi nghề để kiếm sống : nấu ăn chạy bàn, ban ngày viết báo lấy tiền nhuận bút, ban đêm làm kỹ thuật viên cho đài phát thanh (Detroit, WCX). Trong những năm ở Mỹ, Joe Dassin làm quen với Pete Seeger, một ca sĩ nhạc folk nổi tiếng của Mỹ thập niên 60, và kết bạn với Robert Zimmerman, người mà sau này nổi tiếng trên khắp thế giới với nghệ danh Bob Dylan.
Trở lại châu Âu giữa thập niên 60, Joe Dassin tiếp tục đi làm để kiếm sống, nhưng không tìm thấy một nghề nào thích hợp với mình. Mãi đến cuối năm 1965, anh mới gặp một nhà sản xuất làm việc cho hãng đĩa CBS. Vào lúc mà phong trào nhạc trẻ đang trở nên cực thịnh tại Pháp với những thần tượng như Sylvie Vartan, Françoise Hardy hay Christophe, Joe Dassin lại ghi âm một ca khúc country bằng tiếng Pháp (Je change un peu de vent), chuyển thể từ nhạc đồng quê của Hoa Kỳ. Ca khúc đầu tay này không có ai mua, chỉ bán được chưa tới hai ngàn bản, trong khi các ca sĩ ăn khách thời đó bán hơn cả triệu.
Nhưng thất bại này không làm cho Joe Dassin chán nản. Ngược lại anh nghĩ rằng cái thời của mình thế nào rồi cũng sẽ tới, miễn là anh đủ tự tin, kiên nhẫn, và cố gắng học hỏi, bởi vì lần đầu tiên trong đời, anh cảm thấy rằng nghề ca hát có một chút gì đó rất hợp với anh.
Gần hai năm sau đó, Joe Dassin liên tiếp cho ra mắt ba ca khúc, cũng là nhạc đồng quê chuyển thể, nhưng lần này, thay vì đặt ca từ nghiêm túc, anh lại chọn dịch lời một cách dí dõm, với lối thể hiện khôi hài duyên dáng. Trong số các ca khúc tiêu biểu cho giai đoạn này có Beep Beep, Les Daltons, L’Amérique hay Sifller sur la colline.
1970 : Giai đoạn huy hoàng 
Joe Dassin thật sự thành danh vào năm 31 tuổi, khi được trao tặng giải thưởng Charles Cros dành cho giọng ca xuất sắc nhất năm 1969. Lần đầu tiên, anh biểu diễn trên sân khấu đầy huyền thoại của nhà hát Olympia với tư cách là ca sĩ chính, thay vì hát lót để mở màn cho các nghệ sĩ khác. Đây cũng là lần đầu tiên, anh ghi âm một bài hát ăn khách tại 20 quốc gia trên thế giới. Nhạc phẩm Champs Elysées đi nửa vòng trái đất, được dịch sang hàng chục thứ tiếng kể cả tiếng Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, tiếng Đức và tiếng Nhật.
Thập niên 1970 là giai đoạn huy hoàng của giọng ca Joe Dassin. Từ dòng nhạc folk và country, anh chuyển sang hát nhạc tình : giai điệu lãng mạn, tiết tấu nhẹ nhàng, lời ca trong sáng, ý tứ nồng nàn. Hầu hết các ca khúc của nhóm sáng tác Claude Lemesle et Pierre Delanoë đều được viết cho lối hát mơn trớn thì thầm của Joe Dassin.
Anh ăn khách nhờ có chất giọng trung trầm nồng ấm, cách ngắt câu nhả chữ có duyên, nhờ hát tiếng Pháp với một chút giọng Mỹ, đôi khi phát âm không chuẩn (nhất là ở trong cách nối chữ cuối câu) nhưng lại rất ăn tiền. Joe Dassin không cần cường điệu mà vẫn đam mê say đắm, anh không cần điệu bộ như các ca sĩ crooner cùng thời, nhưng vẫn vuốt ve từng nốt nhạc, như thể đang ân ái với người yêu.
Trong vòng 10 năm liền, hầu hết những bài của Joe Dassin đều ăn khách. "Il était une fois nous deux" (Ngày xưa đôi ta), "À toi" (Cho em), "Café des trois colombes" (Quán bồ câu), và nhất là hai nhạc phẩm "L’Été Indien" (Mùa hè Bắc Mỹ), "Et si tu n’existais pas" (Nếu vắng em trong đời) được xem là hai đỉnh cao sự nghiệp của giọng ca này. Tác giả của hai bài này là Toto Cutugno, gần đây anh đã ghi âm lại những phiên bản mới dưới dạng song ca ảo xen kẽ giọng ca của mình với Joe Dassin.
Sự thành công liên tục này, trước hết là do Joe Dassin không ngơi nghỉ, dần dà đã ảnh hưởng đến sức khoẻ của anh. Cuối năm 1979, anh lưu diễn vòng quanh nước Pháp nhưng không ngờ đó sẽ là đợt trình diễn cuối cùng. Trên sân khấu, một cơn đau nhói trong tim khiến Joe Dassin buộc phải nhập viện và hủy bỏ tất cả các đêm diễn kế tiếp.
Cho đến tháng 3 năm 1980, Joe Dassin hai lần lên cơn đau tim tại Paris và Los Angeles. Bác sĩ khuyên anh nên nghỉ hát ít nhất là hai năm để dưỡng sức, nhưng Joe Dassin vẫn xuất hiện trong một buổi gala tại Cannes giữa tháng 7. Đến một tháng sau đó, trong lúc anh đang đi nghỉ mát với gia đình tại đảo Tahiti, Joe Dassin bỗng nhiên đột quỵ. Anh vĩnh viễn ra đi ở tuổi 42.
Thế giới của những bức tranh màu nước
30 năm sau ngày qua đời, Joe Dassin vẫn được giới hâm mộ xem như là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất dòng nhạc Pháp những năm 70, tuy không thể sánh bằng những sáng tác ăn khách cùng thời của Aznavour, nhưng ít ra anh ngang tầm với Michel Sardou và trội hơn cả Mike Brant hay Mort Shuman.
Nhờ các bản dịch mà nhiều bài hát của anh đã đi vòng quanh trái đất, cho dù những người không thích tiếng hát của Joe Dassin vẫn xem giọng ca này chưa đủ tầm vóc để đại diện cho trường phái hiện thực lãng mạn của Pháp có từ những năm 1950.
Giới phê bình cho rằng nhạc của Joe Dassin trọng giai điệu nhưng lại khinh ca từ, trong khi nét tinh tế sâu sắc của nhạc Pháp là soạn giai điệu làm bối cảnh để rồi từ đó phác họa ra một câu chuyện với nhân vật chính có mở đầu và kết cục hẳn hoi.
Nhưng đối với người nước ngoài, ở trong giai điệu, nhạc của Joe Dassin vẫn giữ được cái nét trữ tình quyến rũ của nhạc Pháp thuở nào, nhất là trong thế hệ hiện giờ, ngoại trừ một vài tên tuổi như Calogero hay Benjamin Biolay, các tác giả thời nay đều ít nhiều mang ảnh hưởng của dòng nhạc folk, chọn nét mộc làm vẻ đẹp, không còn sáng tác như thời trước.
Thế giới âm nhạc của Joe Dassin vì thế giống như những bức tranh màu nước, những bức ảnh chụp lưu luyến khung trời kỷ niệm. Một thế giới chỉ nói về cái thuở ngày xưa mà tuổi trẻ thời nay không hề biết tới. Nó gợi lại niềm vui cho những người vẫn còn trong tay hạnh phúc đầu đời. Nó gieo thêm nỗi buồn cho những ai không còn tình yêu để đánh mất.
 
 

zondag 20 oktober 2013

Puerto Montt, làn điệu trữ tình người đẹp ý xinh Nam Mỹ

Thứ bảy 21 Tháng Chín 2013
Puerto Montt, làn điệu trữ tình người đẹp ý xinh
Khu bảo tồn thiên nhiên gần thành phố Puerto Montt (DR)
Khu bảo tồn thiên nhiên gần thành phố Puerto Montt (DR)
Tuấn Thảo
Trong những kỳ trước, RFI đã dành nguyên một chương trình để nói về 100 năm ngày ra đời nhạc phẩm El Cóndor Pasa. Trong chương trình kỳ này, RFI mời quý thính giả và các bạn cùng khám phá lại không phải một, mà là ba bản nhạc tình La Tinh : Puerto Montt, Maria Elena và Magdalena, điểm chung là tựa đề của các bài hát đều là danh từ riêng.
Phiên bản mới Puerto Montt
 
29/08/2013
 
 
Trong trường hợp của Puerto Montt, đây là một bản nhạc nổi tiếng ở Nam Mỹ. Tại châu Âu, đặc biệt là giới nghệ sĩ hát tiếng Tây Ban Nha, thường thể hiện bài này theo thể điệu bolero. Nhưng trong nguyên tác, đây lại là một ca khúc nhạc pop rock do ban nhạc Los Iracundos ghi âm lần đầu tiên vào năm 1968.
Nhóm này gồm sáu thành viên, do hai anh em Leonardo và Eduardo Franco sáng lập vào năm 1958. Cả nhóm sinh trưởng tại Uruguay, cho nên trong thời gian đầu họ hoạt động tại Montevideo, rồi sau đó tại Argentina khi ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa RCA của nước này từ năm 1962 trở đi.
Sáu thành viên của nhóm ban đầu lấy tên là Blue Kings, theo phong trào cua những nhóm nhạc rock Anh Mỹ, và mỗi lần xuất hiện trên sân khấu họ thường mặc âu phục màu xanh. Nhưng sau đó, họ thay đổi nghệ danh và lấy tên là Los Iracundos có nghĩa là Những kẻ phẫn nộ, để nhấn mạnh phong cách nổi loạn của một ban nhạc rock. Một số bài hát của nhóm từng bị kiểm duyệt, do giới trẻ ở Chilê chọn làm ca khúc phản kháng chế độ quân phiệt, cho dù đó không phải là chủ ý ban đầu của tác giả.
Vào tháng 10 năm 1968, thành viên sáng lập của nhóm Eduardo Franco cùng với tác giả Cacho Valdez sáng tác và ghi âm nhạc phẩm Puerto Montt, sau khi lưu diễn ở thành phố cùng tên nằm ở miền trung Chilê, cách thủ đô Santiago cả ngàn cây số. Một tháng sau, bản nhạc Puerto Montt được gửi đi dự liên hoan ca nhạc Nam Mỹ tổ chức tại Buenos Aires và đoạt giải nhì trong số các sáng tác mới xuất sắc nhất.
Nhóm Los Iracundos tiếp tục hoạt động trong nhiều năm trời, ghi âm trên dưới 20 album trong vòng gần ba thập niên sự nghiệp, từ năm 1961 cho tới năm 1987, thời điểm mà Eduardo Franco, nhà soạn nhạc và cũng là linh hồn của nhóm qua đời vì bệnh ung thư.
Bản nhạc Puerto Montt ca ngợi vẻ đẹp của địa danh cùng tên, phía sau là núi, phía trước là biển, bene trong là hồ. Bài hát trở thành ca khúc tiêu biểu nhất của nhóm và sau đó đã được hàng trăm nghệ sĩ thuộc nhiều quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha ghi âm lại từ Guatemala đến Bolivia, từ Venezuela đến Argentina.
Thời nay, bản nhạc cũng thường được các nhóm nhạc trẻ hòa âm lại theo thể điệu reggaeton, trong khi các nghệ sĩ lớn tuổi hơn như Pablo Carcamon, Patricia Salas hay Helmut Lotti thì chuyển thể bản nhạc qua điệu bolero, và đôi lúc viết sai địa danh này, thay vì ghi hai chữ lại quên mất một chữ T trong bản nhạc Puerto Montt.
Bản nhạc Puerto Montt mà các bạn vừa nghe, ca ngợi một địa danh ở Chilê nhưng lại do một ban nhạc Uruguay sáng tác, được sản xuất và được trao giải tại Argentina. Thành thử ra có nhiều tranh cãi về nguồn gốc xuất xứ của bản nhạc. Trường hợp này đã từng xẩy ra nhiều thập niên về trước với bản tango La Cumparsita (Vũ nữ thân gầy) mà cả hai quốc gia Argentina và Uruguay đều cho là của mình.
Với trường hợp của bài María Elena, thì không hề có chuyện đó. Trước hết vì đây là một trong những bản nhạc rất nổi tiếng của dòng nhạc bolero, thể loại sở trường của người Mêhicô. Hơn nữa, bản nhạc đã được viết tặng cho đệ nhất phu nhân María Elena, vợ của tổng thống Mêhicô Emilio Portes Gil thời bấy giờ.
Tác giả người Mêhicô Lorenzo Barcelata qua đời khá sớm, ở tuổi 45, nhưng đã để lại một kho sáng tác khá đồ sộ với hơn 200 ca khúc. Trong đó, bản nhạc María Elena do ông sáng tác cả nhạc lẫn lời, được xem như là một trong những bài bolero quen thuộc nhất.
Giai điệu bài hát thường được dùng ở trong phim, đến khi được tác giả Bob Russell đặt thêm lời tiếng Anh, thì bài hát thật sự chinh phục thế giới từ đầu những năm 1940 trở đi. Trong số những nghệ sĩ tên tuổi từng ghi âm bài này có Nat King Cole, Jerry Vale, Bob Eberly với dàn nhạc Jimmy Dorsey, Cesaria Evora và gần đây hơn nữa là Michael Bublé. Giới nghệ sĩ Anh Mỹ thường chuyển thể bài này qua nhạc cool jazz, trong khi các phiên bản tiếng Tây Ban Nha lại thuần chất bolero.
Cũng là tên gọi của một người đàn bà, nhạc phẩm Magdalena là tình khúc phá kỷ lục số bán vào mùa hè năm 1978. Tác giả của bản nhạc này là nhà sản xuất Juan Carlos Calderon. Sinh trưởng tại Tây Ban Nha, ông vào nghề ca hát như một nghệ sĩ nhạc jazz rồi sau đó chuyển sang sáng tác nhạc nhẹ.
Trong suốt thập niên 1970, ông đã viết hàng loạt ca khúc ăn khách cho hãng đĩa Mocedades. Trong số những nghệ sĩ từng hát nhạc của ông có Julio Iglesias, người Tây Ban Nha, Luis Miguel Mêhicô, Ricky Martin Puerto Rico, Myriam Hernández người Chilê …
Juan Carlos Calderon sang Hoa Kỳ lập nghiệp từ đầu những năm 1980, sáng tác ca khúc lẫn nhạc phim và từng đoạt một giải Grammy nhờ cộng tác với thần tượng Luis Miguel một thập niên sau đó.
Giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp sáng tác của ông một phần là nhờ vào sự thành công rực rỡ của bài Magdalena mà ông viết vào năm 1978 cho nhóm Trigo Limpio. Phiên bản tiếng Pháp do ca sĩ Julie Pietri ghi âm một năm sau đó cũng như các phiên bản tiếng Ý, Bồ Đào Nha, Hà Lan, và Hy Lạp.
Khi sáng tác bài này, Juan Carlos Calderon lúc đầu chọn thể điệu cha cha, nhưng ông không ưng ý cho lắm với phiên bản demo. Khi chọn lối phối khí chậm hẳn lại, gần giống với thể điệu rumba dập dìu nhưng với lối hòa âm trong sáng của nhạc pop, thì lúc đó ông mới thật sự hài lòng.
Ứng dụng lối hòa âm trong sáng này cho các tên tuổi mà ông hợp tác sau đó, Juan Carlos Calderon đã góp phần giúp cho Luis Miguel lên ngôi ông hoàng bolero, vầng hào quang tỏa sáng trên vòm trời âm nhạc, tựa như không có đối thủ. Nhờ ông mà ca sĩ người Mêhicô cách tân làn điệu trữ tình, mở ra một kỷ nguyên mới cho dòng nhạc La Tinh.