Posts tonen met het label chống Trung Quốc. Alle posts tonen
Posts tonen met het label chống Trung Quốc. Alle posts tonen

maandag 3 december 2018

Báo Pháp : Việt Nam nhọc nhằn gia tăng sức mạnh hải quân để... chống Trung quốc

Việt Nam nhọc nhằn gia tăng sức mạnh hải quân

mediaHải quân Việt Nam trang bị sáu tàu ngầm lớp Kilo 636.(naval-technology.com)
Hai trận « hải chiến » trong quá khứ đã để lại cho Việt Nam hai bài học đau đớn. Chính quyền Việt Nam ý thức được rằng phải tăng cường sức mạnh hải quân. Thế nhưng, Hà Nội thực hiện những nỗ lực hiện đại hóa hải quân một cách vất vả nhằm đối phó với những đòi hỏi chủ quyền quá đáng của Trung Quốc. Trên đây là nhận xét của tạp chí Défense & Sécurité Internationale (DSI - Quốc Phòng và Anh Ninh Quốc Tế).
Hai bài học xương máu
Đầu tiên hết, tạp chí nhắc lại hai trận hải chiến đẫm máu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trận hải chiến thứ nhất hay còn gọi là « trận chiến Hoàng Sa » xảy ra ngày 19/01/1974 giữa lực lượng hải quân Nam Việt Nam và Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam muốn giành lại quyền kiểm soát đảo Quang Hòa (Duncan) thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà chế độ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ khẳng định chủ quyền nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng « bất hợp pháp ».
Trận chiến kéo dài vỏn vẹn trong vòng 40 phút, kết thúc với thất bại nặng nề của lực lượng Nam Việt Nam: 53 người chết, 16 bị thương và 43 người bị bắt làm tù binh, trong khi phía Trung Quốc chỉ mất 18 binh sĩ và 43 người bị thương.
Thứ hai là trận hải chiến Trường Sa, xảy ra ngày 14/03/1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam để giành quyền kiểm soát bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. Kết quả phía Việt Nam giữ được hai bãi đá, nhưng mất bãi Gạc Ma. Trong trận chiến này, Hà Nội mất đến 64 binh sĩ và hai đội tầu chiến.
Tăng cường hỏa lực
Đối với Việt Nam, hai trận hải chiến này là hai bài học xương máu, chỉ vì thiếu hỏa lực. Năm 1990, Việt Nam đã cho ngưng hoạt động hai chiếc tầu chiến cũ kỹ có từ thời Đệ Nhị Thế Chiến – một chiếc có tải trọng 2500 tấn và chiếc khác có tải trọng 1500 tấn – của hải quân miền Nam Việt Nam.
Hai chiếc tầu này được thay thế bằng 5 chiếc Petya của Nga, những chiến hạm lớp ASM tải trọng 1100 tấn, được thiết kế từ những năm 1960. Vấn đề chủ yếu đối với Hà Nội chính là khả năng tài chính và do vậy phải đợi đến năm 2005 các cuộc thương lượng mới được khởi động với Matxcơva về việc mua hai chiếc tầu hộ tống lớp Gepard 3.9, tải trọng 2100 tấn, được trang bị 8 tên lửa chống hạm SS-N-25. Cả hai chiếc tầu này lần lượt được đưa vào hoạt động năm 2010 và 2011.
Sau đó Việt Nam tiếp tục đặt hàng với Nga thêm 4 chiếc khác: Hai chiếc vào năm 2011, đã được đưa vào hoạt động hồi tháng 2/2018 và hai chiếc khác năm 2014, hiện vẫn còn đang trong quá trình đóng ráp. Song song đó, Việt Nam còn đặt mua nhiều loại tầu chống hạm loại nhỏ cũng như là tầu tuần tra, cho phép cải thiện các năng lực tác chiến đã có từ trước cũng như dựa vào đội tầu tuần tra phóng ngư lôi Turya và phóng tên lửa Osa.
Đó chính là trường hợp đối với 12 chiếc lớp Tarantul phóng tên lửa (trong đó có nhiều chiếc Tarantul V được lắp ráp tại Việt Nam); một chiếc tầu tuần tra phóng tên lửa BPS-500 có tải trọng 520 tấn, cũng được đóng tại Việt Nam dưới sự trợ giúp của Nga; rồi 6 chiếc tuần tra Svetlyak đã được đưa vào phục vụ từ năm 2002, cũng như là 6 chiếc tuần tra khác TTP-400TP được thiết kế với sự hỗ trợ của Ukraina, hoạt động từ năm 2012.
Vũ khí và năng lực tác chiến: Đôi đũa lệch?
Nếu như sức mạnh của hải quân của Việt Nam đã được tăng cường, thì yếu tố chính giúp gia tăng sức mạnh là đội tầu ngầm. Hà Nội đặt mua sáu chiếc tầu ngầm lớp Kilo 636 với Nga năm 2009, trong đó hai chiếc đầu tiên đã được đưa vào sử dụng năm 2014 và hai chiếc mới giao gần đây là vào tháng Hai năm 2017. Hợp đồng mua này còn trở nên quan trọng hơn với thông báo năm 2015 đặt hàng 50 tên lửa hành trình tấn công trên bộ 3M14E.
Việc trang bị các loại vũ khí nói trên nhằm răn đe. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu Việt Nam có thể sử dụng hiệu quả các loại vũ khí mới này – qua đó nâng cao khả năng răn đe – hay không. Bởi vì chưa có một quốc gia nào lại nhanh chóng trang bị nhiều tàu ngầm đến như vậy và các tàu này lại được lắp đặt thêm tên lửa hành trình.
Đương nhiên, Nga và Ấn Độ hỗ trợ mạnh mẽ cho Việt Nam, nhưng việc phát triển các chiến thuật phù hợp sẽ còn tùy thuộc vào hải quân của một nước mới bắt đầu làm chủ được các kỹ thuật cơ bản về hoạt động của tàu ngầm. Do vậy, về lâu dài, việc có được khả năng thiết lập vùng cấm là một thách thức đối với Việt Nam.
http://vi.rfi.fr/viet-nam/20181202-viet-nam-nhoc-nhan-gia-tang-suc-manh-hai-quan

dinsdag 21 maart 2017

Đài Loan tự đóng tàu ngầm để chống Trung Quốc + lo ngại mối đe dọa quân sự Trung Quốc ngày càng gia tăng + tăng cường tuần tra tại Biển Đông

Đài Loan tự đóng tàu ngầm để chống Trung Quốc

media
Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn trên chiếc tàu ngầm do Hà Lan sản xuất Sea Tiger tại căn cứ hải quân ở Cao Hùng ngày 21/03/2017.SAM YEH / AFP
Trước sự bành trướng, đe dọa quân sự của Trung Quốc, tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn ngày 21/03/2017 thông báo nước này sẽ tự chế tạo tàu ngầm và hy vọng Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan. ây là dự án đóng tầu ngầm đầu tiên của Đài Loan.
Reuters cho biết là từ căn cứ hải quân Zuoying, cách Đài Bắc 350 km về phía Nam, ổng thống Thái Anh Văn tuyên bố « tăng cường khả năng chiến đấu dưới biển là thiết yếu để bảo vệ Đài Loan ». Bà Thái Anh Văn cũng nói thêm : « Đây là vấn đề mà tất cả mọi người đều biết (…), nhưng chúng ta đã không thể làm được trong quá khứ. Với tư cách là tổng tư lệnh quân đội, tôi quyết tâm giải quyết vấn đề này ».
Theo nhiều chuyên gia, để đóng một con tàu ngầm tối tân, Đài Loan sẽ phải dựa vào công nghệ nước ngoài. Hiện Đài Loan mới chỉ có 4 tàu ngầm : hai chiếc mua của Mỹ từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến, chủ yếu được dùng để huấn luyện, hai tàu ngầm còn lại do Hà Lan sản xuất vào những năm 1970 và bán cho Đài Loan vào những năm 1980.
Bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan cho biết Trung Quốc đang hướng 1.500 tên lửa sang Đài Loan. Quân đội Đài Loan chỉ có 200.000 người, so với con số 2.3 triệu quân của Trung Quốc.
Chính quyền của tổng thống Donald Trump đã bắt đầu chuẩn bị giao cho Đài Loan số vũ khí nước này đặt mua của Mỹ, trong đó có cả tên lửa chống hạm để đối phó với Trung Quốc. Tuy nhiên, thông báo về thượng đỉnh giữa tổng thống Mỹ Donald Trump và đồng nhiệm Trung Quốc Tập Cận Bình khiến chính quyền Đài Loan lo sợ là sẽ không còn là đối tượng được hưởng ưu tiên từ Hoa Kỳ.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170321-dai-loan-tu-dong-tau-ngam-de-chong-trung-quoc

Đài Loan lo ngại mối đe dọa quân sự Trung Quốc ngày càng gia tăng

media
Bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan Phùng Thế Khoan (Feng Shih-kuan) phát biểu trước Nghị Viện ngày
16/03/2017.
Reuters
Việc Trung Quốc thúc đẩy phát triển quân sự cùng với những hoạt động gần đây của lực lượng không quân và hải quân xung quanh Đài Loan được đánh giá là một mối đe dọa ngày càng lớn đối với Đài Bắc. Trên đây là nhận định của bản báo cáo mới về quốc phòng của chính phủ Đài Loan và được bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Thế Khoan (Feng Shih Kuan) trình lên Nghị Viện ngày 16/03/2017.
Theo Reuters, báo cáo Quốc phòng năm 2017 (Quadrennial Defence Review - QDR - Tổng quan tứ niên quốc phòng) nhấn mạnh đến ba điểm chính : đường lối chiến lược thiếu chắc chắn trong tương lai của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tác động của Nhật Bản khi nước này nâng cao khả năng quân sự và tiềm năng « khủng hoảng xung đột » trong khu vực Biển Đông đang có tranh chấp.
Báo cáo đánh giá Đài Loan cần phải tự vệ vì « những hoạt động gần đây của chiến đấu cơ và tầu Trung Quốc xung quanh Đài Loan cho thấy khả năng đe dọa quân sự ngày càng lớn của Hoa lục. Không chỉ đe dọa đến đất nước, những động thái này còn tác động tiêu cực đến sự ổn định trong khu vực ».
Tại vùng Biển Đông đang có tranh chấp chủ quyền, bản báo cáo đánh giá « các tranh chấp chủ quyền trong khu vực và sự cạnh tranh chiến lược có thể được gia tăng, dẫn đến cuộc khủng hoảng xung đột tiềm ẩn ». Mới đây, Trung Quốc lại cho tiến hành các công trình mới trên Đảo Bắc, thuộc quần đảo Hoàng Sa, chỉ vài ngày trước chuyến công du đầu tiên đến Bắc Kinh của ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson.
Văn bản trên cũng nêu đến việc Nhật Bản sửa đổi bản Hiến Pháp chủ hòa để « tăng cường lực lượng quân sự và dỡ bỏ lệnh cấm triển khai quân đội ở nước ngoài », như vậy điều này sẽ tác động sâu rộng đến tình hình an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương và eo biển Đài Loan.
Một trong những thách thức an ninh khác đối với Đài Loan là « định hướng chiến lược và kế hoạch triển khai quân đội của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương không rõ ràng » dưới tân chính quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump.
Được thực hiện 4 năm một lần, báo cáo Quốc phòng năm 2017 là bản tổng kết đầu tiên từ khi tổng thống Thái Anh Văn nhậm chức vào tháng 05/2016. Theo văn bản này, « sự phát triển quân sự của đất nước, tự do và thịnh vượng của Đài Loan gắn liền với nhau như một cơ thể ».
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa luôn tuyên bố Đài Loan là một tỉnh và sẵn sàng chiếm lại bằng vũ lực nếu cần thiết. Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đã tăng cường các cuộc tập trận trên không và trên biển trong vùng biển quanh Đài Loan, đồng thời khẳng định phải hiện đại hóa lực lượng vũ trang.
Phát biểu trong cuộc họp báo thường niên vào thứ Tư 15/03 tại Bắc Kinh, thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nhắc lại rằng Trung Quốc kiên quyết phản đối Đài Loan độc lập nhưng sẽ duy trì hòa bình trên eo biển Đài Loan. Ông nói : « Bất kể tình hình trên hòn đảo này có thể tiến triển như thế nào, mối quan hệ huynh đệ giữa hai bờ eo biển không thể bị cắt đứt và sẽ không thể thay đổi được quá khứ cũng như thực tế là cả hai bên đều thuộc về cùng một nước Trung Hoa ».

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170316-dai-loan-lo-ngai-trung-quoc-lan-luot-quan-su-va-chinh-sach-khong-ro-rang-cua-my

Đài Loan tăng cường tuần tra tại Biển Đông

media
Đảo Ba Bình, tức đảo Thái Bình theo tên gọi của Đài Loan : đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, Biển Đông.DR
Bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan, ngày 02/03/2017 tuyên bố Hải quân và Không quân của Đài Loan sẽ gia tăng tuần tra tại Biển Đông, đồng thời tiến hành các cuộc luyện tập chung giữa hai binh chủng để đối phó với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.
Phát biểu tại Quốc Hội Đài Loan, bộ trưởng Phùng Thế Khoan (Feng Shih Kuan), được Reuters trích dẫn, đánh giá rằng Trung Quốc thay đổi chiến lược và đầu tư vào các vũ khí, thiết bị quân sự mới, quân đội của Đài Loan « cần có những cải cách mới trong hoạt động huấn luyện… Lực lượng Hải quân, khi đi tuần tra ở Biển Đông, sẽ tiến hành luyện tập với lực lượng Không quân, để bảo vệ ngư dân, các tàu tiếp tế hậu cần, đồng thời thao dượt các hoạt động cứu hộ » nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng tuần tra trên biển và trên không.
Lãnh đạo quốc phòng Đài Loan đã tuyên bố như trên trong bối cảnh ngân sách quốc phòng 2017 của Trung Quốc sẽ được thông báo nhân khóa họp thường niên của Quốc Hội Trung Quốc, khai mạc vào cuối tuần này.
Bắc Kinh thường xuyên đe dọa, nếu cần, sẽ dùng vũ lực đánh chiếm lại đảo Đài Loan, mà Trung Quốc coi là một tỉnh của nước này.
Còn tại Biển Đông, Đài Loan hiện chiếm giữ Ba Bình, đảo lớn nhất trong vùng quần đảo Trường Sa, nơi đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei.
Trung Quốc thường xuyên điều chiến đấu cơ đi tuần tra ở Biển Đông và gần đây, lấy danh nghĩa tập trận, Bắc Kinh điều hàng không mẫu hạm tiến sát vào đảo Đài Loan.
Do vậy, theo bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Thế Khoan, việc triển khai và phối hợp luyện tập giữa các lực lượng Không quân và Hải quân ở Biển Đông là nhằm bảo đảm an ninh cho Đài Loan.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170302-dai-loan-tang-cuong-tuan-tra-tai-bien-dong

dinsdag 17 mei 2016

Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc

Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc

Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc
 
Tàu tuần duyên của Trung Quốc (màu trắng) đối diện với tàu cảnh sát biển Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 210 km (130 hải lý), 14/05/2014.REUTERS/Nguyen Minh/Files

    Ảnh vệ tinh do Hoa Kỳ công bố trong thời gian gần đây đã vạch trần các hành vi quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc. Hành động của Bắc Kinh không chỉ phớt lờ các tuyên bố chủ quyền của Hà Nội trong khu vực, mà còn trực tiếp đe dọa an ninh của Việt Nam. Trước các hành động đó, Việt Nam đã có một loạt phản ứng được giới phân tích đánh giá là nhanh chóng và cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Trả lời RFI qua thư điện tử, giáo sư Carlyle Thayer cho rằng đã có « đồng thuận » trong giới lãnh đạo mới tại Việt Nam là cần phải quyết đoán hơn.

    Vào tháng 9 năm ngoái 2015, nhân chuyến viếng thăm Mỹ, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã công khai cam kết là Bắc Kinh sẽ không quân sự hóa Biển Đông. Lời hứa này đã nhanh chóng bị thực tế hiện trường chứng minh là lời hứa suông.
    Bằng chứng do các phương tiện truyền thông Mỹ cũng như Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS tại Washington công bố trong tháng Hai 2016 này, cho thấy là Bắc Kinh đã cho triển khai tên lửa địa đối không Hồng Kỳ HQ-9, đồng thời cho điều hai loại chiến đấu cơ Thẩm Dương J-11 và Tây An JH-7 đến đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
    Ảnh vệ tinh mới nhất cũng cho thấy là Trung Quốc vừa củng cố các phi đạo xây trên đá Chữ Thập (Fiery Cross), Xu Bi (Subi), Vành Khăn (Mischief), vừa cho xây dựng hệ thống radar tần số cao trên đá Châu Viên (Cuarteron), và các trạm radar khác trên đá Ga Ven (Gaven), đá Tư Nghĩa (Hughes) và đá Gạc Ma (Johnson South). Mục tiêu quân sự của các công trình này rất hiển nhiên.
    Tố cáo đích danh Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông
    Trước các hành động triển khai vũ khí và thiết bị quân sự càng lúc càng nhiều tại Biển Đông, Việt Nam đã có phản ứng mạnh mẽ về cả về mặt ngoại giao nhắm vào Trung Quốc, lẫn trên phương diện vận động công luận trong nước và ngoài nước.
    Rõ ràng nhất là lời tố cáo với những nội dung cứng rắn chỉ đích danh Trung Quốc được phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Hải Bình đưa ra nhân buối họp báo thường kỳ tại Hà Nội ngày 25/02/2016.
    Trước các thông tin theo đó Trung Quốc đã điều chiến đấu cơ ra đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và đặt hệ thống radar trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa, ông Lê Hải Bình đã tố cáo :
    « Bất chấp sự phản đối và quan ngại của Việt Nam cũng như của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn tiếp tục có các hành động không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, thúc đẩy quân sự hóa ở Biển Đông, mà còn đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông. »
    Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng gián tiếp lên án các hành vi vô trách nhiệm và vi phạm luật lệ quốc tế của Bắc Kinh tại Biển Đông khi « yêu cầu Trung Quốc có những lời nói, hành động trách nhiệm và mang tính xây dựng trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực cũng như trên thế giới trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC ».
    Trước đó, ngày 19/02, khi phản đối việc Trung Quốc xây dựng căn cứ trực thăng quân sự trên đảo Quang Hòa (Duncan Island) và bố trí tên lửa phòng không HQ-9 trên đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng đã lên tiếng « yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động sai trái đó ».
    Không chỉ thế, ngoài thông lệ là chuyển công hàm phản đối đến đại diện ngoại giao Trung Quốc ở Hà Nội, Việt Nam còn gởi tuyên bố phản đối lên Liên Hiệp Quốc, yêu cầu định chế quốc tế này cho lưu hành công hàm phản đối Bắc Kinh đến mọi thành viên, qua đó đánh động quốc tế về các hành vi « sai trái » của Trung Quốc.
    Lên tiếng ủng hộ việc Mỹ can dự vào Biển Đông
    Cũng trong lãnh vực ngoại giao, Việt Nam đã công khai hóa quan điểm ủng hộ vai trò của Mỹ tại Biển Đông, bất chấp những lời tố cáo được Trung Quốc lập đi lập lại là Washington không có tư cách can dự vào khu vực.
    Trong một tuyên bố hiếm hoi về các hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông, ngày 31/01 vừa qua, phát ngôn viên Việt Nam đã lên tiếng tán đồng chiến dịch bảo vệ quyền tự do hàng hải được Hải Quân Mỹ tiến hành một hôm trước đó khi cho khu trục hạm USS Curtis Wilbur tiến vào bên trong vùng 12 hải lý của đảo Tri Tôn (Hoàng Sa) đang tranh chấp với Việt Nam, nhưng hiện do Trung Quốc kiểm soát.
    Theo ông Lê Hải Bình, Việt Nam có « chủ quyền không thể tranh cãi... đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như quần đảo Trường Sa », nhưng Việt Nam « tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải được thực hiện phù hợp với các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế ».
    Không chỉ ủng hộ các hành động của Washington, Việt Nam thậm chí còn công khai kêu gọi Mỹ dấn thân sâu hơn nữa vào Biển Đông. Trong cuộc tiếp xúc song phương với tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 16/02 bên lề hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại Sunnylands (California, Hoa Kỳ), thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã không ngần ngại yêu cầu Mỹ có những hành động mạnh mẽ hơn nữa tại Biển Đông.
    Thông cáo của bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rõ : « Thủ tướng đề nghị Mỹ có tiếng nói mạnh mẽ và những hành động thiết thực hơn, hiệu quả hơn để yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, nhất là việc xây dựng các đảo nhân tạo với quy mô lớn. Thủ tướng cũng đề nghị Washington có lời nói và hành động giúp chấm dứt ngay việc quân sự hóa ở Biển Đông..., tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong vấn đề tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển, hỗ trợ kỹ thuật cho lực lượng cảnh sát biển. »
    Vận động dư luận trong nước
    Thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc không chỉ thể hiện trong lãnh vực ngoại giao. Không phải là ngẫu nhiên khi ngày 17/02 vừa qua, tại hai thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã diễn ra lễ tưởng niệm 37 năm cuộc chiến tranh ngắn nhưng đẫm máu ở biên giới Việt-Trung, khi Trung Quốc tung hàng trăm nghìn quân vượt qua biên giới đánh vào Việt Nam.
    Dĩ nhiên là trên nguyên tắc, các cuộc tập hợp không được chính quyền Việt Nam cho phép, nhưng buổi lễ đã diễn ra tương đối êm thắm tại Hà Nội, còn tại Sài Gòn thì vẫn còn việc công an tìm cách ngăn cản những nhân vật chủ chốt đến nơi làm lễ kỷ niệm.
    Điều cũng cần ghi nhận là trên báo chí chính quyền số lượng bài viết về cuộc chiến tranh chống Trung Quốc khá nhiều, cho thấy là chính quyền cũng lơi là kiểm duyệt đối với một vấn đề cấm kỵ trong một thời gian dài.
    Bên cạnh đó, như báo chí trong nước đã ghi nhận, ngày 17/02, chính chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã đến thắp hương trên từng ngôi mộ tại Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trà Lĩnh ở tỉnh Cao Bằng, gần biên giới với Trung Quốc, nơi chôn cất hơn 300 người đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc xâm lược vào năm 1979.
    Nhân dịp lễ kỷ niệm cuộc chiến này, báo chí chính thức cũng tích cực tham gia vào cuộc tranh luận về việc đưa các chủ đề như cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, chiến tranh biên giới Tây Nam, vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa vào sách giáo khoa.
    Vấn đề này chính thức được đèn xanh của chính phủ, theo như nhận định của ông Nguyễn Vinh Hiển, thứ trưởng bộ Giáo Dục, cho rằng cần phải xem xét việc đưa các nội dung vào sách giáo khoa « với dung lượng phù hợp ».
    Giáo sư Carl Thayer : Đã có đồng thuận là phải cứng rắn hơn
    Nhìn chung, Việt Nam như vậy là đã có phản ứng cứng rắn hẳn lên trước các hành vi lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông, khác hẳn với thái độ nhiều khi bị đánh giá là quá thận trọng trong thời gian trước đây.
    Để giải mã thay đổi này, RFI đã đặt một số câu hỏi cho giáo sư Carlyle Thayer, nhà nghiên cứu kỳ cựu về Việt Nam tại Học Viện Quốc Phòng Úc (Đại Học New South Wales).
    Trả lời phỏng vấn của RFI qua thư điện tử, giáo sư Thayer trước hết ghi nhận sự đồng thuận hiện nay trong giới lãnh đạo Việt Nam, đã nhất trí là cần phải kiên quyết hơn đối với các hành động đe dọa an ninh và chủ quyền Việt Nam đến từ phía Trung Quốc.
    Thayer : Giàn lãnh đạo mới tại Việt Nam giờ đây đã được ổn định sau những thay đổi ở Đại Hội Đảng lần thứ 12. Sau một giai đoạn phân định trách nhiệm và các ưu tiên, bây giờ ban lãnh đạo Việt Nam đang bắt tay vào việc giải quyết các vấn đề đối ngoại.
    Tâm lý chống Trung Quốc trong công luận Việt Nam hiện đang lan rộng, điều mà lãnh đạo Việt Nam phải lưu ý. Trong nội bộ các lãnh đạo, đã xuất hiện một suy nghĩ đồng thuận là Việt Nam cho đến gần đây đã chưa quyết đoán đúng mức trong việc khẳng định quyền lợi quốc gia dân tộc, đặc biệt là trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông.
    Những hành động mới đây của Trung Quốc đã làm dấy lên mối quan ngại chính đáng về an ninh quốc gia đối với hơn 20 thực thể địa lý và tiền đồn ngoài khơi của Việt Nam trên Biển Đông.
    RFI : Các động thái cứng rắn của Việt Nam có khác thường hay không vì Hà Nội thường thận trọng hơn trong việc chỉ trích Trung Quốc?
    Thayer :Việt Nam đã từng đưa vấn đề Biển Đông ra trước Liên Hiệp Quốc trước đây, và trong những năm gần đây, cũng đã cho phép báo chí trong nước đưa nhiều thông tin về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.
    Cách đây 2 năm, bản thân tôi có tham gia một chương trình thu hình trước của một phim tài liệu dài 3 tiếng đồng hồ, do của đài truyền hình Việt Nam, nhân kỷ niệm 35 năm cuộc chiến tranh biên giới. Tuy nhiên chương trình đã bị gác qua một bên và chưa hề được phát.
    Các động thái hiện thời của Việt Nam phản ảnh tâm lý (chống Trung Quốc) của dân chúng cũng như quan điểm của đại đa số cán bộ trong đảng và quân đội đã về hưu, nhất là nơi các nhà ngoại giao đã từng làm việc ở Trung Quốc.
    RFI : Việt Nam cũng dự định đưa cuộc chiến tranh biên giới chống Trung Quốc năm 1979 và vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa. Giáo sư nhận xét thế nào về sáng kiến này?
    Thayer :Các sáng kiến trong lãnh vực giáo dục đó phản ánh đồng thuận trong đảng Cộng Sản là Việt Nam phải mạnh dạn và thẳng thắn hơn trong việc xử lý các vấn đề đó.
    Chủ trương này một phần bắt nguồn từ lập luận là Trung Quốc đã khéo lợi dụng sự gắn bó về mặt ý thức hệ Cộng Sản giữa hai bên để bịt miệng Việt Nam.
    Thế nhưng thái độ tự kiềm chế không còn được Việt Nam áp dụng được nữa sau khi bị mất tin tưởng nghiêm trọng nơi Trung Quốc từ sau cuộc khủng hoảng giàn khoan HD-981 vào năm 2014.
    RFI : Một số chuyên gia phân tích nghĩ rằng với việc ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục làm tổng bí thư, và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rời khỏi chính quyền, Việt Nam sẽ hòa hoãn hơn với Trung Quốc. Giáo sư có cho rằng các phân tích trên đây là sai không?
    Thayer : Tôi thực sự nghĩ rằng ông Nguyễn Phú Trọng sẽ thận trọng hơn. Quan điểm cứng rắn của Việt Nam (đối với Trung Quốc) hiện nay phản ánh sự đồng thuận của tập thể lãnh đạo mới. Ông Trọng đã thành công trong việc cản đường ông Dũng, nhưng ông Trọng phải chịu trách nhiệm trước một Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương mới.
    Một dấu hiệu cho thấy khả năng thay đổi là theo một số nguồn tin không công bố, người được cho là sắp được đề cử làm bộ trưởng Quốc Phòng mới, tướng Ngô Xuân Lịch, có thể dành chuyến đi nước ngoài đầu tiên cho Hoa Kỳ.
    RFI : Tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở Sunnylands, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu tổng thống Mỹ Obama là Hoa Kỳ nên « có những hành động thiết thực hơn, hiệu quả hơn để yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, đặc biệt là việc xây dựng các đảo nhân tạo với quy mô lớn, chấm dứt ngay việc quân sự hóa ở Biển Đông ». Theo giáo sư, có thể xem đây là phát biểu mạnh nhất trong số các phát biểu của lãnh đạo ASEAN tại hội nghị hay không ?
    Thayer :Nhận xét của thủ tướng Dũng rõ ràng là tuyên bố công khai mạnh bạo nhất được đưa ra ở thượng đỉnh Sunnylands. Nhận định của ông Dũng phản ánh đánh giá từ lâu nay của tôi về Việt Nam.
    Lãnh đạo Việt Nam thường hay nói với các quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ, rằng quyền lợi thiết thực của các nước đó là gì. Nói cách khác, Hoa Kỳ có lợi ích thiết yếu trong việc bảo vệ quyền tự do hàng hải tại Biển Đông và làm đối trọng chống lại sự quyết đoán của Trung Quốc.
    Trường hợp ở đây tựa như Việt Nam nói « Tôi (tức là Việt Nam) có thể nghĩ vậy, nhưng mà anh (tức là Mỹ), có thể hành động ».
    Chúng ta có lẽ sẽ còn nghe nhiều phát biểu hơn từ ông Dũng vì ông sẽ rời khỏi chức vụ trong vòng năm tháng nữa nên có thể nói nhiều hơn về Trung Quốc một cách công khai.
     
    1. 2
    2. 3
    3. 4
    4. ...
    5. trang sau >
    6. trang cuối >

    7.                  
    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160229-bien-dong-giai-ma-phan-ung-cung-ran-cua-viet-nam-chong-trung-quoc

    dinsdag 26 april 2016

    Đông Nam Á đua nhau mua chiến đấu cơ phản lực để chống Trung Quốc + Trung Quốc hung hăng, châu Á tái vũ trang

    Đông Nam Á đua nhau mua chiến đấu cơ phản lực để chống Trung Quốc

    mediaMột mẫu chiến đấu cơ Rafale của tập đoàn Dassault của Pháp trưng bày tại triển lãm quốc tế Qatar, 31/03/2016.REUTERS/Naseem Zeitoon
    Nhu cầu trang bị chiến đấu cơ, nâng cao khả năng phòng thủ của các nước Đông Nam Á ngày càng trở nên cấp bách trước những tham vọng quân sự của Trung Quốc. Triển vọng giành được hợp đồng với những đối tác từ Malaysia đến Việt Nam đang huy động nhiều nỗ lực của các nhà sản xuất.
    Tất cả các nhà sản xuất máy bay quân sự trên thế giới đều đã có mặt tại Triển Lãm Quốc Phòng Châu Á tại Kuala Lumpur từ ngày 18 đến 21/04/2016. Đại diện của những tập đoàn Nga, Anh, Pháp hay Mỹ và kể cả Trung Quốc, Pakistan đã bận rộn hơn bao giờ hết.
    Là nước chủ nhà, bộ Quốc Phòng Malaysia từ chối bình luận tin cho rằng Kuala Lumpur đang chuẩn bị thay thế một loạt máy bay MiG 29 mua của Nga từ thập niên 1990. Theo một số nguồn tin thông thạo, Malaysia có thể trang bị đến 18 chiến đấu cơ đời mới, tổng trị giá lên tới hơn hai tỷ rưỡi đô la. Có nhiều khả năng trong đợt hiện đại hóa đội chiến đấu cơ này, Malaysia đang hướng tới các loại phi cơ như Saab Gripen của Thụy Điển, Eurofighter Typhon của châu Âu hay Sukhoi Su-30 của Nga. Cũng có thể là Kuala Lumpur còn chú ý cả tới loại chiến đấu cơ cấp thấp hơn do Trung Quốc và Pakistan cùng chế tạo JF-17.
    Nhìn sang Indonesia, Jakarta vẫn chủ yếu dựa vào hai đối tác chính là tập đoàn Mỹ Lockheed Martin với loạt F-16 và Rosoboronexport của Nga với loại chiến đấu cơ Su-30 và Su-35.
    Một quốc gia Đông Nam Á được các nhà sản xuất chú ý là Việt Nam, do theo giới quan sát, nhu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam gia tăng tại các khu vực có tranh chấp tại Biển Đông. Hãng tin Reuters trích dẫn nhiều nguồn tin thông thạo theo đó, gần đây Hà Nội đã bắt đầu đàm phán với đối tác Thụy Điển Saab và tập đoàn Dassault của Pháp để mua ít nhất 12 chiến đấu cơ.
    Từ trước tới nay, Nga vẫn là đồng minh truyền thống của Việt Nam, nhưng Hà Nội đang tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung cấp. Và trong chiến lược mới đó, theo lời giám đốc khu vực của tập đoàn Thụy Điển, Kaj Rosander, Saab có nhiều hy vọng. Dù vậy, Hà Nội vẫn tiếp tục đàm phán với tập đoàn Rosoboronexport của Nga để mua chiến đấu cơ loại Su-35.
    Đương nhiên, không chỉ Malaysia mà cả Việt Nam đều từ chối xác nhận những tin trên. Cả Việt Nam lẫn Indonesia cùng từ chối trả lời hãng tin Reuters về động cơ thúc đẩy các nước Đông Nam Á trang bị chiến đấu cơ đời mới. Nhưng khi phát biểu một cách không chính thức, Việt Nam và Indonesia đều nhìn nhận : Các nước trong vùng lao vào một cuộc chạy đua và khẩn trương mua chiến đấu cơ để làm đối trọng với Trung Quốc. Bắc Kinh ngày càng gia tăng kiểm soát Biển Đông, nơi có tranh chấp chủ quyền giữa nhiều quốc gia trong khu vực, chủ yếu là Việt Nam, Philippines,
    Nhiều nước Đông Nam Á lo ngại, sau sự kiện máy bay quân sự Trung Quốc vào tuần trước lần đầu tiên đáp xuống đường băng trên Đá Chữ Thập, sắp tới đây Bắc Kinh sẽ còn điều chiến đấu cơ đến tận sát các nước láng giềng.
    Báo cáo gần đây của viện nghiên cứu về an ninh, quốc phòng IHS Jane’s ghi nhận : « Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông và biển Hoa Đông là nguyên nhân thúc đẩy các quốc gia khác trong vùng lao vào một cuộc chạy đua vũ trang, tăng tốc tiến trình hiện đại hóa các phương tiện phòng thủ. Philippines, Indonesia, Nhật Bản và Việt Nam thật ra chỉ theo gót Trung Quốc và xu hướng đó chưa có dấu hiệu sẽ chấm dứt ».

    http://vi.rfi.fr/chau-a/20160425-dong-nam-a-dua-nhau-mua-chien-dau-co-phan-luc-de-chong-trung-quoc

    Trung Quốc hung hăng, châu Á tái vũ trang

    mediaTàu ngầm Việt Nam tại quân cảng Cam Ranh - DR
    Bắc Kinh đòi hỏi chủ quyền trên gần hết 90% diện tích Biển Đông. Hàng loạt các hoạt động cải tạo bồi đắp đảo thành các đường băng và các cơ sở khác nhau, thậm chí triển khai cả dàn tên lửa trên những bãi đá ngầm đã được tiến hành. Đây cũng là khu vực trọng yếu cho thương mại thế giới, nơi trung chuyển gần 5.000 tỷ đô la hàng hóa mỗi năm. Theo quan sát của Le Figaro ngày 12/04/2016, "Trước những tham vọng của Trung Quốc, châu Á tái vũ trang”.
    Lo sợ trước việc Trung Quốc dùng vũ lực thay đổi diện mạo trong khu vực, nhiều nước tại đây đang thắt chặt lại hay tái định hình các mối liên minh. Philippines đã nối lại hợp tác với cựu đế quốc Hoa Kỳ, khi chấp thuận cho mở cửa lại 5 khu căn cứ quân sự để đón lính Mỹ. Song song, ngân sách dành cho quốc phòng của Philippines trong năm qua đã tăng thêm 25%, dù vẫn nhận thức được rằng sức mạnh quân sự của mình không thể sánh bằng với các nước khác, nhất là với Bắc Kinh. Trước đó, năm 2014, Washington và Manila còn ký kết một thỏa thuận quốc phòng. Thỏa thuận hợp tác dự trù cả việc tăng cường các đợt tập trận chung hay hỗ trợ hiện đại hóa quân đội Philippines.
    Thái độ hung hăng của Trung Quốc trong hồ sơ Biển Đông còn đẩy Việt Nam xích lại gần hơn với cựu thù Mỹ. Các tranh chấp về quyền đánh bắt hải sản và khai thác các nguồn dầu khí đã làm gia tăng gay gắt sự đối đầu giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Le Figaro nhắc lại trong tuần qua, lực lượng tuần duyên Việt Nam đã chặn bắt một tàu chở dầu của Trung Quốc vì cho rằng đã xâm nhập trái phép vào vùng lãnh hải của nước này. Không chỉ đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt xung quanh các đảo có tranh chấp tại Hoàng Sa, Bắc Kinh còn thực hiện nhiều chuyến bay xâm phạm không phận của Việt Nam đi về hướng đường băng mới vừa được xây dựng trên bãi Đá Chữ Thập ở Trường Sa mà hai bên có tranh chấp chủ quyền.
    Hà Nội tố cáo Bắc Kinh đe dọa an ninh khu vực cho là “những chuyến bay này của Bắc Kinh nhằm khẳng định những đòi hỏi chủ quyền của họ trên quần đảo”. Trước việc Trung Quốc gia tăng những hành động khiêu khích, Việt Nam đã tăng thêm 7,6% cho ngân sách quân sự. Theo đó, Việt Nam dự định mua 12 chiến đấu cơ Su-35 của Nga cũng như là nhiều máy bay chiến đấu khác của châu Âu và Hoa Kỳ, để tăng cường khả năng phòng ngự.
    Về phần mình, Nhật Bản có tranh chấp với Trung Quốc tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Sau nhiều năm liên tiếp giảm chi phí cho quân sự, Tokyo quyết định tăng ngân sách cho quân sự hồi năm rồi, đồng thời cho khởi động một trạm ra-đa giám sát trên Biển Đông, gần với Đài Loan.
    Với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á thì sao? Le Figaro ghi nhận, thường vẫn nằm ngoài các tranh chấp, nay Malaysia bắt đầu lên tiếng phản đối. Quốc gia láng giềng là Indonesia, tuy không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nhưng vì lo ngại trước hiện tượng hàng trăm tầu cá ngang nhiên đi vào vùng lãnh thổ của mình đã buộc nước này tăng ngân sách cho quân sự thêm 16%.
    Cuối cùng là nước Úc, một cường quốc khác trong khu vực. Canberra công khai bày tỏ các quan ngại của mình trước các động thái hung hăng của Trung Quốc. Chi tiêu cho quốc phòng của nước này trong vòng 10 năm tới được dự trù tăng thêm 31 tỷ đô la để tăng cường khả năng đối phó với mối đe dọa trên. Hiện Canberra đang thương thảo với Washington để mua thêm các chiến đấu cơ có tầm hoạt động xa. Bên cạnh đó, Úc cũng dự tính thực hiện các cuộc tuần tra trên Biển Đông để bảo vệ quyền tự do lưu thông trong khu vực… Dẫu biết rằng không quốc gia nào muốn xảy ra điều tồi tệ nhất, nhưng cuộc đua vũ trang này đang làm gia tăng rủi ro làm bùng nổ bất ngờ xung đột.
    Biển Đông: Đối đầu Bắc Kinh – Washington
    Một hệ quả khác của hành động quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc là làm nảy sinh sự “đối đầu giữa Bắc Kinh và Washington”. Để trấn an các đồng minh của mình trước những đòi hỏi quá đáng của Trung Quốc trên Biển Đông, Washington liên tiếp đưa ra nhiều sáng kiến, khiến Bắc Kinh nổi giận.
    Dấu hiệu căng thẳng đang gia tăng giữa đôi bên là việc bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Ashton Carter hủy chuyến thăm Trung Quốc, được lên chương trình từ rất lâu. Đồng thời, việc Hoa Kỳ gởi nhiều chiến đấu cơ và tàu chiến đến gần những bãi đá ngầm mà Trung Quốc đang tiến hành các hoạt động bồi đắp gây tranh cãi cũng làm cho Bắc Kinh bực mình.
    Lầu Năm Góc còn dự tính trong thời gian sắp tới sẽ tiếp tục các cuộc tuần tra. Thông tin này được tiết lộ ngay sau cuộc gặp giữa tổng thống Barack Obama với nguyên thủ Trung Quốc Tập Cận Bình. Trong cuộc gặp này, ông Tập Cận Bình đã lên tiếng cảnh cáo không dung thứ bất cứ hành động nào dưới danh nghĩa tự do lưu thông, có nguy cơ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160412-trung-quoc-hung-hang-chau-a-tai-vu-trang

    zaterdag 9 april 2016

    Biển Đông : Indonesia tăng cường lực lượng ở Natuna để chống Trung Quốc

    Biển Đông : Indonesia tăng cường lực lượng ở Natuna để chống Trung Quốc

    mediaIndonesia triển khai hệ thống phòng không Oerlikon Skyshield trên Biển Đông.DR
    Bị Bắc Kinh công khai khiêu khích ngoài khơi quần đảo Natuna, Jakarta bắt đầu phản ứng một cách dứt khoát hơn. Tạp chí quốc phòng Anh IHS Jane’s ngày 05/07/2016 đã tiết lộ kế hoạch của Jakarta, tăng cường đáng kể lực lượng của mình tại vùng quần đảo của mình trên Biển Đông. Nổi bật nhất trong kế hoạch này là quyết định triển khai hệ thống phòng không tối tân nhất của Indonesia đến vùng đảo xa này để sẵn sàng đối phó với Trung Quốc.
    Theo biên bản mà tạp chí Anh có được về một cuộc họp giữa tướng Gatot Nurmantyo, tư lệnh quân đội Indonesia, với Ủy Ban Quốc Phòng, Tình Báo và Ngoại Vụ Hạ Viện Indonesia, thì Không Quân Indonesia sắp triển khai bốn đơn vị đặc nhiệm trên bộ lên đảo Pulau Natuna Besar, đảo lớn nhất thuộc vùng quần đảo Natuna ở Biển Đông. Đây là các đơn vị được trang bị hệ thống phòng không Oerlikon Skyshield, một dàn cao xạ tự động đa năng 35 ly, có thể bắn 1.000 phát mỗi phút, và sử dụng loại đạn được hướng dẫn chính xác.
    Cũng theo IHS Jane’s, trong cuộc họp kể trên, quân đội Indonesia còn xin ngân sách để tăng cường đáng kể lực lượng đồn trú tại quần đảo Natuna, bao gồm việc trang bị thêm các hệ thống phòng không tầm trung trên đảo Pulau Natuna Besar, xây thêm cơ sở để đón tám chiến đấu cơ loại Su-27, Su-30 hoặc F-16 sắp được đưa đến căn cứ không quân Ranai ở thủ phủ quần đảo Natuna. Một phi đội máy bay không người lái cũng sẽ được bố trí tại Natuna, hai căn cứ không quân và hải quân tại chỗ được mở rộng, trong lúc số lính đồn trú sẽ nhân đôi, đạt mức 2000 quân từ nay đến cuối năm.
    Natuna là một quần đảo gồm 270 đảo ở phía Nam Biển Đông, nằm giữa bán đảo Mã Lai và đảo Borneo. Chủ quyền quần đảo này thuộc về Indonesia, nhưng một phần vùng đặc quyền kinh tế của Natuna lại bị đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông ăn vào. Theo các nhà phân tích, Trung Quốc đã có những hành vi hung hăng nhắm vào Indonesia từ lâu, nhưng Jakarta hầu như không phản ứng để duy trì mối quan hệ hữu hảo về mặt kinh tế.
    Tuy nhiên, các hành vi khiêu khích rõ rệt của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã buộc Indonesia phải thay đổi quan điểm, đặc biệt là vụ việc hôm 19/04 vừa qua, khi tàu tuần cảnh Trung Quốc đã can thiệp thô bạo để đánh tháo cho một tàu cá Trung Quốc bị tuần duyên Indonesia chận bắt ngoài khơi Natuna. Điều đáng nói là khi bị chất vấn, Bắc Kinh đã thản nhiên biện minh cho hành vi của mình bằng luận điểm : khu vực đó là ngư trường truyền thống của Trung Quốc.
    Đối với giới quan sát, quyết định tăng cường đáng kể lực lượng quan sự đóng tại quần đảo Natuna như đã biến nơi đây thành tiền đồn chống lại các hành vi hung hăng của Trung Quốc nhắm vào Indonesia. Điều này thể hiện một sự chuyển đổi quan trọng trong cái nhìn của Jakarta đối với hiểm họa Trung Quốc, bị cho là có thể đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của Indonesia.

    http://vi.rfi.fr/chau-a/20160407-bien-dong-indonesia-natuna-tq-qs-qp

    maandag 29 februari 2016

    Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc

    Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc

    Biển Đông : Giải mã phản ứng cứng rắn của Việt Nam chống Trung Quốc
     
    Tàu tuần duyên của Trung Quốc (màu trắng) đối diện với tàu cảnh sát biển Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 210 km (130 hải lý), 14/05/2014.REUTERS/Nguyen Minh/Files

      Ảnh vệ tinh do Hoa Kỳ công bố trong thời gian gần đây đã vạch trần các hành vi quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc. Hành động của Bắc Kinh không chỉ phớt lờ các tuyên bố chủ quyền của Hà Nội trong khu vực, mà còn trực tiếp đe dọa an ninh của Việt Nam. Trước các hành động đó, Việt Nam đã có một loạt phản ứng được giới phân tích đánh giá là nhanh chóng và cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Trả lời RFI qua thư điện tử, giáo sư Carlyle Thayer cho rằng đã có « đồng thuận » trong giới lãnh đạo mới tại Việt Nam là cần phải quyết đoán hơn.

      Vào tháng 9 năm ngoái 2015, nhân chuyến viếng thăm Mỹ, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã công khai cam kết là Bắc Kinh sẽ không quân sự hóa Biển Đông. Lời hứa này đã nhanh chóng bị thực tế hiện trường chứng minh là lời hứa suông.
      Bằng chứng do các phương tiện truyền thông Mỹ cũng như Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS tại Washington công bố trong tháng Hai 2016 này, cho thấy là Bắc Kinh đã cho triển khai tên lửa địa đối không Hồng Kỳ HQ-9, đồng thời cho điều hai loại chiến đấu cơ Thẩm Dương J-11 và Tây An JH-7 đến đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa.
      Ảnh vệ tinh mới nhất cũng cho thấy là Trung Quốc vừa củng cố các phi đạo xây trên đá Chữ Thập (Fiery Cross), Xu Bi (Subi), Vành Khăn (Mischief), vừa cho xây dựng hệ thống radar tần số cao trên đá Châu Viên (Cuarteron), và các trạm radar khác trên đá Ga Ven (Gaven), đá Tư Nghĩa (Hughes) và đá Gạc Ma (Johnson South). Mục tiêu quân sự của các công trình này rất hiển nhiên.
      Tố cáo đích danh Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông
      Trước các hành động triển khai vũ khí và thiết bị quân sự càng lúc càng nhiều tại Biển Đông, Việt Nam đã có phản ứng mạnh mẽ về cả về mặt ngoại giao nhắm vào Trung Quốc, lẫn trên phương diện vận động công luận trong nước và ngoài nước.
      Rõ ràng nhất là lời tố cáo với những nội dung cứng rắn chỉ đích danh Trung Quốc được phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Hải Bình đưa ra nhân buối họp báo thường kỳ tại Hà Nội ngày 25/02/2016.
      Trước các thông tin theo đó Trung Quốc đã điều chiến đấu cơ ra đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và đặt hệ thống radar trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa, ông Lê Hải Bình đã tố cáo :
      « Bất chấp sự phản đối và quan ngại của Việt Nam cũng như của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn tiếp tục có các hành động không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, thúc đẩy quân sự hóa ở Biển Đông, mà còn đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông. »
      Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng gián tiếp lên án các hành vi vô trách nhiệm và vi phạm luật lệ quốc tế của Bắc Kinh tại Biển Đông khi « yêu cầu Trung Quốc có những lời nói, hành động trách nhiệm và mang tính xây dựng trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực cũng như trên thế giới trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC ».
      Trước đó, ngày 19/02, khi phản đối việc Trung Quốc xây dựng căn cứ trực thăng quân sự trên đảo Quang Hòa (Duncan Island) và bố trí tên lửa phòng không HQ-9 trên đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng đã lên tiếng « yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động sai trái đó ».
      Không chỉ thế, ngoài thông lệ là chuyển công hàm phản đối đến đại diện ngoại giao Trung Quốc ở Hà Nội, Việt Nam còn gởi tuyên bố phản đối lên Liên Hiệp Quốc, yêu cầu định chế quốc tế này cho lưu hành công hàm phản đối Bắc Kinh đến mọi thành viên, qua đó đánh động quốc tế về các hành vi « sai trái » của Trung Quốc.
      Lên tiếng ủng hộ việc Mỹ can dự vào Biển Đông
      Cũng trong lãnh vực ngoại giao, Việt Nam đã công khai hóa quan điểm ủng hộ vai trò của Mỹ tại Biển Đông, bất chấp những lời tố cáo được Trung Quốc lập đi lập lại là Washington không có tư cách can dự vào khu vực.
      Trong một tuyên bố hiếm hoi về các hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông, ngày 31/01 vừa qua, phát ngôn viên Việt Nam đã lên tiếng tán đồng chiến dịch bảo vệ quyền tự do hàng hải được Hải Quân Mỹ tiến hành một hôm trước đó khi cho khu trục hạm USS Curtis Wilbur tiến vào bên trong vùng 12 hải lý của đảo Tri Tôn (Hoàng Sa) đang tranh chấp với Việt Nam, nhưng hiện do Trung Quốc kiểm soát.
      Theo ông Lê Hải Bình, Việt Nam có « chủ quyền không thể tranh cãi... đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như quần đảo Trường Sa », nhưng Việt Nam « tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải được thực hiện phù hợp với các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế ».
      Không chỉ ủng hộ các hành động của Washington, Việt Nam thậm chí còn công khai kêu gọi Mỹ dấn thân sâu hơn nữa vào Biển Đông. Trong cuộc tiếp xúc song phương với tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 16/02 bên lề hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại Sunnylands (California, Hoa Kỳ), thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã không ngần ngại yêu cầu Mỹ có những hành động mạnh mẽ hơn nữa tại Biển Đông.
      Thông cáo của bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rõ : « Thủ tướng đề nghị Mỹ có tiếng nói mạnh mẽ và những hành động thiết thực hơn, hiệu quả hơn để yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, nhất là việc xây dựng các đảo nhân tạo với quy mô lớn. Thủ tướng cũng đề nghị Washington có lời nói và hành động giúp chấm dứt ngay việc quân sự hóa ở Biển Đông..., tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong vấn đề tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển, hỗ trợ kỹ thuật cho lực lượng cảnh sát biển. »
      Vận động dư luận trong nước
      Thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc không chỉ thể hiện trong lãnh vực ngoại giao. Không phải là ngẫu nhiên khi ngày 17/02 vừa qua, tại hai thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã diễn ra lễ tưởng niệm 37 năm cuộc chiến tranh ngắn nhưng đẫm máu ở biên giới Việt-Trung, khi Trung Quốc tung hàng trăm nghìn quân vượt qua biên giới đánh vào Việt Nam.
      Dĩ nhiên là trên nguyên tắc, các cuộc tập hợp không được chính quyền Việt Nam cho phép, nhưng buổi lễ đã diễn ra tương đối êm thắm tại Hà Nội, còn tại Sài Gòn thì vẫn còn việc công an tìm cách ngăn cản những nhân vật chủ chốt đến nơi làm lễ kỷ niệm.
      Điều cũng cần ghi nhận là trên báo chí chính quyền số lượng bài viết về cuộc chiến tranh chống Trung Quốc khá nhiều, cho thấy là chính quyền cũng lơi là kiểm duyệt đối với một vấn đề cấm kỵ trong một thời gian dài.
      Bên cạnh đó, như báo chí trong nước đã ghi nhận, ngày 17/02, chính chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã đến thắp hương trên từng ngôi mộ tại Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trà Lĩnh ở tỉnh Cao Bằng, gần biên giới với Trung Quốc, nơi chôn cất hơn 300 người đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc xâm lược vào năm 1979.
      Nhân dịp lễ kỷ niệm cuộc chiến này, báo chí chính thức cũng tích cực tham gia vào cuộc tranh luận về việc đưa các chủ đề như cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, chiến tranh biên giới Tây Nam, vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa vào sách giáo khoa.
      Vấn đề này chính thức được đèn xanh của chính phủ, theo như nhận định của ông Nguyễn Vinh Hiển, thứ trưởng bộ Giáo Dục, cho rằng cần phải xem xét việc đưa các nội dung vào sách giáo khoa « với dung lượng phù hợp ».
      Giáo sư Carl Thayer : Đã có đồng thuận là phải cứng rắn hơn
      Nhìn chung, Việt Nam như vậy là đã có phản ứng cứng rắn hẳn lên trước các hành vi lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông, khác hẳn với thái độ nhiều khi bị đánh giá là quá thận trọng trong thời gian trước đây.
      Để giải mã thay đổi này, RFI đã đặt một số câu hỏi cho giáo sư Carlyle Thayer, nhà nghiên cứu kỳ cựu về Việt Nam tại Học Viện Quốc Phòng Úc (Đại Học New South Wales).
      Trả lời phỏng vấn của RFI qua thư điện tử, giáo sư Thayer trước hết ghi nhận sự đồng thuận hiện nay trong giới lãnh đạo Việt Nam, đã nhất trí là cần phải kiên quyết hơn đối với các hành động đe dọa an ninh và chủ quyền Việt Nam đến từ phía Trung Quốc.
      Thayer : Giàn lãnh đạo mới tại Việt Nam giờ đây đã được ổn định sau những thay đổi ở Đại Hội Đảng lần thứ 12. Sau một giai đoạn phân định trách nhiệm và các ưu tiên, bây giờ ban lãnh đạo Việt Nam đang bắt tay vào việc giải quyết các vấn đề đối ngoại.
      Tâm lý chống Trung Quốc trong công luận Việt Nam hiện đang lan rộng, điều mà lãnh đạo Việt Nam phải lưu ý. Trong nội bộ các lãnh đạo, đã xuất hiện một suy nghĩ đồng thuận là Việt Nam cho đến gần đây đã chưa quyết đoán đúng mức trong việc khẳng định quyền lợi quốc gia dân tộc, đặc biệt là trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông.
      Những hành động mới đây của Trung Quốc đã làm dấy lên mối quan ngại chính đáng về an ninh quốc gia đối với hơn 20 thực thể địa lý và tiền đồn ngoài khơi của Việt Nam trên Biển Đông.
      RFI : Các động thái cứng rắn của Việt Nam có khác thường hay không vì Hà Nội thường thận trọng hơn trong việc chỉ trích Trung Quốc?
      Thayer :Việt Nam đã từng đưa vấn đề Biển Đông ra trước Liên Hiệp Quốc trước đây, và trong những năm gần đây, cũng đã cho phép báo chí trong nước đưa nhiều thông tin về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.
      Cách đây 2 năm, bản thân tôi có tham gia một chương trình thu hình trước của một phim tài liệu dài 3 tiếng đồng hồ, do của đài truyền hình Việt Nam, nhân kỷ niệm 35 năm cuộc chiến tranh biên giới. Tuy nhiên chương trình đã bị gác qua một bên và chưa hề được phát.
      Các động thái hiện thời của Việt Nam phản ảnh tâm lý (chống Trung Quốc) của dân chúng cũng như quan điểm của đại đa số cán bộ trong đảng và quân đội đã về hưu, nhất là nơi các nhà ngoại giao đã từng làm việc ở Trung Quốc.
      RFI : Việt Nam cũng dự định đưa cuộc chiến tranh biên giới chống Trung Quốc năm 1979 và vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa. Giáo sư nhận xét thế nào về sáng kiến này?
      Thayer :Các sáng kiến trong lãnh vực giáo dục đó phản ánh đồng thuận trong đảng Cộng Sản là Việt Nam phải mạnh dạn và thẳng thắn hơn trong việc xử lý các vấn đề đó.
      Chủ trương này một phần bắt nguồn từ lập luận là Trung Quốc đã khéo lợi dụng sự gắn bó về mặt ý thức hệ Cộng Sản giữa hai bên để bịt miệng Việt Nam.
      Thế nhưng thái độ tự kiềm chế không còn được Việt Nam áp dụng được nữa sau khi bị mất tin tưởng nghiêm trọng nơi Trung Quốc từ sau cuộc khủng hoảng giàn khoan HD-981 vào năm 2014.
      RFI : Một số chuyên gia phân tích nghĩ rằng với việc ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục làm tổng bí thư, và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rời khỏi chính quyền, Việt Nam sẽ hòa hoãn hơn với Trung Quốc. Giáo sư có cho rằng các phân tích trên đây là sai không?
      Thayer : Tôi thực sự nghĩ rằng ông Nguyễn Phú Trọng sẽ thận trọng hơn. Quan điểm cứng rắn của Việt Nam (đối với Trung Quốc) hiện nay phản ánh sự đồng thuận của tập thể lãnh đạo mới. Ông Trọng đã thành công trong việc cản đường ông Dũng, nhưng ông Trọng phải chịu trách nhiệm trước một Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương mới.
      Một dấu hiệu cho thấy khả năng thay đổi là theo một số nguồn tin không công bố, người được cho là sắp được đề cử làm bộ trưởng Quốc Phòng mới, tướng Ngô Xuân Lịch, có thể dành chuyến đi nước ngoài đầu tiên cho Hoa Kỳ.
      RFI : Tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở Sunnylands, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu tổng thống Mỹ Obama là Hoa Kỳ nên « có những hành động thiết thực hơn, hiệu quả hơn để yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, đặc biệt là việc xây dựng các đảo nhân tạo với quy mô lớn, chấm dứt ngay việc quân sự hóa ở Biển Đông ». Theo giáo sư, có thể xem đây là phát biểu mạnh nhất trong số các phát biểu của lãnh đạo ASEAN tại hội nghị hay không ?
      Thayer :Nhận xét của thủ tướng Dũng rõ ràng là tuyên bố công khai mạnh bạo nhất được đưa ra ở thượng đỉnh Sunnylands. Nhận định của ông Dũng phản ánh đánh giá từ lâu nay của tôi về Việt Nam.
      Lãnh đạo Việt Nam thường hay nói với các quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ, rằng quyền lợi thiết thực của các nước đó là gì. Nói cách khác, Hoa Kỳ có lợi ích thiết yếu trong việc bảo vệ quyền tự do hàng hải tại Biển Đông và làm đối trọng chống lại sự quyết đoán của Trung Quốc.
      Trường hợp ở đây tựa như Việt Nam nói « Tôi (tức là Việt Nam) có thể nghĩ vậy, nhưng mà anh (tức là Mỹ), có thể hành động ».
      Chúng ta có lẽ sẽ còn nghe nhiều phát biểu hơn từ ông Dũng vì ông sẽ rời khỏi chức vụ trong vòng năm tháng nữa nên có thể nói nhiều hơn về Trung Quốc một cách công khai.
       

      http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160229-bien-dong-giai-ma-phan-ung-cung-ran-cua-viet-nam-chong-trung-quoc

      dinsdag 29 december 2015

      Du lịch Trường Sa : Sách lược "phi đối xứng" chống Trung Quốc

      Du lịch Trường Sa : Sách lược "phi đối xứng" chống Trung Quốc

      mediaĐảo Trường Sa nhìn từ cầu Tàu@rfi
      Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định tổ chức chuyến du lịch Trường Sa đầu tiên vào ngày 22/06/2015. Theo Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc, Đại học New South Wales, biện pháp này nằm trong số các sách lược « phi đối xứng » mà Việt Nam sử dụng để thách thức yêu sách « chủ quyền không thể chối cãi » của Trung Quốc tại Biển Đông.
      Trả lời phỏng vấn nhanh qua thư điện tử của Ban Tiếng Việt RFI, Giáo sư Thayer đã xem sáng kiến du lịch Trường Sa của Việt Nam là một cách khác nhằm khẳng định chủ quyền trong khu vực.
      Thayer : Tour du lịch đến quần đảo Trường Sa là một hành động kín đáo khẳng định chủ quyền của Việt Nam. Các chuyến du lịch này cũng nhằm trắc nghiệm phản ứng của Trung Quốc sau khi quan hệ bình thường Việt-Trung vừa được tái khởi động.
      Nếu tàu chấp pháp trên biển của Trung Quốc can thiệp hoặc sách nhiễu tàu du lịch Việt Nam, thế giới sẽ coi đấy là một mưu toan cản trở thương mại hợp pháp. Nếu Trung Quốc không phản ứng, Việt Nam sẽ cảm thấy yên tâm phần nào.
      Trong trường hợp Trung Quốc phản ứng bằng cách sách nhiễu tàu du lịch Việt Nam, Việt Nam chờ đợi là nước ngoài sẽ can thiệp về mặt chính trị nhân danh Việt Nam.
      RFI : Tại sao Việt Nam lại tổ chức du lịch Trường Sa vào lúc này ?
      Thayer : Trung Quốc đang bị nêu bật vì các hành động nạo vét đáy biển và rạn san hô để tạo ra các hòn đảo nhân tạo. Trung Quốc đã phản công bằng cách biện minh rằng họ chỉ hành động trong vùng thuộc chủ quyền của mình.
      Đây là cơ hội giúp Việt Nam trắc nghiệm phản ứng của Trung Quốc – Liệu Trung Quốc có muốn bị thêm quảng cáo bất lợi hay là họ kiềm chế các hành động khiêu khích để trấn an Việt Nam ?
      Các hoạt động du lịch không tác hại cho uy tín của chính quyền trung ương tại Hà Nội, vì về hình thức đó là sáng kiến ​​của chính quyền địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh.
      RFI :Du lịch Trường Sa là một sáng kiến khôn ngoan ?
      Thayer : Việt Nam luôn luôn phải sử dụng chiến thuật thông minh trong việc đấu tranh chống lại Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Sáng kiến này là một « thách thức phi đối xứng », nhắm vào tuyên bố của Trung Quốc về « chủ quyền không thể tranh cãi » của họ trên Biển Đông.
      Sáng kiến ​​du lịch này không phô trương, và uy tín của chính phủ Việt Nam sẽ chỉ được nâng cao dưới mắt người dân trong nước. Tuy nhiên cũng có rủi ro. Nếu Trung Quốc sử dụng các chiến thuật thô bạo, và buộc Việt Nam lùi bước, điều đó có thể gây phản ứng ngược trong dư luận trong nước.
      Đưa lên bàn cân thì đây có vẻ là một sáng kiến thận trọng và không mang tính khiêu khích.

      http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150605-du-lich-truong-sa-sach-luoc-phi-doi-xung-chong-trung-quoc

      Việt Nam tổ chức du lịch Trường Sa, giới chuyên gia lo ngại

      mediaĐảo Đá Tây, quần đảo Trường Sa, Biển ĐôngREUTERS
       Nhiều hãng tin quốc tế lớn hôm nay 05/06/2015 nêu bật thông tin được báo chí trong nước tiết lộ ngày 03/06 : Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định tổ chức chuyến du lịch Trường Sa đầu tiên vào ngày 22 tháng Sáu tới đây. Nếu báo chí Việt Nam ghi nhận phản ứng « phấn khởi » của dư luận thì nhiều chuyên gia phân tích tỏ ý lo ngại trước phản ứng xấu từ phía Trung Quốc. Bắc Kinh đã lập tức phản đối quyết định của Việt Nam.
      .

      Theo hãng tin Anh Reuters, vào hôm nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bày tỏ thái độ tức giận của Bắc Kinh. Trong buổi họp báo thường kỳ, nhân vật này tố cáo Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc và yêu cầu Việt Nam tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc, không có những hành động làm phức tạp tình hình.
      Bản tin trên tờ Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết là Ủy ban Nhân dân Thành phố đã quyết định tổ chức chuyến du lịch Trường Sa đầu tiên nhằm « thử nghiệm để rút kinh nghiệm, tạo tiền đề cho việc khai thác chính thức».
      Reuters đã tìm hiểu thêm và cho biết là với giá khuyến mãi 800 đô la, một đoàn gồm 180 du khách sẽ tham gia chuyến du lịch Trường Sa kéo dài 6 ngày, khỏi hành ngày 22/06. Trong chương trình, sẽ có chuyến thăm hai bãi đá ngầm và hai hòn đảo nổi dưới quyền kiểm soát của Việt Nam, tham quan một ngọn hải đăng và tham gia một sinh hoạt câu cá ban đêm. Chuyến du lịch Trường Sa do phía Việt Nam tổ chức đã mô phỏng hình thức du lịch Hoàng Sa mà Trung Quốc đã áp dụng nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh.
      Với Reuters, mục tiêu chính trị của Việt Nam trong việc tổ chức du lịch Trường Sa rất rõ rệt, nằm trong một loạt những động thái được cho là « bạo dạn hơn » của Hà Nội nhằm đáp trả các hành vi càng lúc càng quyết đoán của Bắc Kinh trong việc áp đặt yêu sách chủ quyền trên Biển Đông. Điều khiến Reuters quan ngại là sáng kiến du lịch Trường Sa của Việt Nam có khả năng gây thêm căng thẳng trong tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc.
      Hãng tin Mỹ Bloomberg cũng cùng một quan điểm. Hãng này trích dẫn chuyên gia Euan Graham, giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Viện Lowy ở Sydney nhận định : « Việc sử dụng du lịch để củng cố tính hợp pháp của đòi hỏi chủ quyền không phải là mới… Nhưng trong bối cảnh căng thẳng gia tăng hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc về quần đảo Trường Sa, làm dấy lên khả năng trả đũa (từ phía Bắc Kinh) không phải điều hữu ích ».
      Chuyên gia này cũng cho rằng rất có thể là Mỹ sẽ không tán đồng hành động của Việt Nam vì lẽ Washington đang kêu gọi mọi bên tranh chấp tránh các hành động tôn tạo đảo đá và các hành động khác khiến cho tình hình Biển Đông thêm căng thẳng.
      Riêng Giáo sư Carl Thayer tại Học viện Quốc phòng Úc thì lồng quyết định tổ chức du lịch Trường Sa vào trong chiến lược « thách thức không đối xứng » mà Việt Nam đang áp dụng để đối phó với việc Trung Quốc đòi hỏi « chủ quyền không thể chối cãi » của Trung Quốc tại Biển Đông.
      Trả lời phỏng vấn của RFI, Giáo sư Thayer cho rằng sáng kiến của Việt Nam nhằm hai mục tiêu : Khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa và trắc nghiệm phản ứng của Trung Quốc sau khi hai bên vừa quyết định tái khởi động lại quan hệ bình thường.

      http://vi.rfi.fr/chau-a/20150605-viet-nam-to-chuc-du-lich-truong-sa-gioi-chuyen-gia-lo-ngai