Posts tonen met het label nhạc La Tinh. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nhạc La Tinh. Alle posts tonen

zaterdag 13 september 2014

Bolero Tri-O, thế hệ trẻ đa tình hoài niệm nhạc La Tinh

THỨ BẢY 09 THÁNG TÁM 2014
Bolero Tri-O, thế hệ trẻ đa tình hoài niệm nhạc La Tinh
Tuấn Thảo
Thập niên gần đây đánh dấu sự trỗi dậy của khá nhiều gương mặt trẻ chuyên hát nhạc La Tinh. Từ Ý sang Áo, Colombia hay Mêhicô, các nghệ sĩ đơn ca hay hợp diễn giống nhau ở một điểm : tuy còn non tuổi đời, nhưng lại có kinh nghiệm sàn diễn, họ làm sống lại một dòng nhạc đậm chất hoài niệm, cứ tưởng chừng như chỉ dành riêng cho lứa tuổi cao niên.
Một trong những trường hợp điển hình là ban nhạc người Colombia Los Tri-O. Nhóm này gồm ba thành viên là Andrés, Esteban & Manuel, họ được đào tạo bài bản ở trường lớp, đi hát từ thuở thiếu thời, cho dù ban đầu mỗi người chọn biểu diễn pop rock, hay những thể loại âm nhạc hợp với lứa tuổi của họ.
Đến đầu những năm 2000, ba ca sĩ trẻ này mới gặp nhau nhân một kỳ tuyển lựa các giọng hát. Gợi hứng từ mô hình của nhóm Il Divo, nhà sản xuất Johnny Gutiérrez mới sáng lập ban tam ca Los Tri-O, nhưng với một đặc điểm, thay vì khai thác dòng nhạc bán cổ điển, nhóm này chỉ đơn thuần hát nhạc bolero.
Ngay từ lúc phát hành tập nhạc đầu tiên, nhóm Los Tri-O đã lập tức gặt hái thành công tại Colombia. Tên tuổi của họ nhanh chóng lan tỏa sang các nước láng giềng Nam Mỹ, lọt vào bảng xếp hạng của Mêhicô, cho dù quốc gia này không thiếu gì các giọng ca chuyên hát nhạc bolero.
Trong vòng 10 năm liền, nhóm Los Tri-O trình làng sáu album gồm toàn là các ca khúc kinh điển của dòng nhạc La Tinh. Mô hình của nhóm gợi hứng khá nhiều từ các ban nhạc nổi danh những thập niên về trước, trong đó có các ban tam ca như Los Tecolines, Los Condes, Los Quechas, Tres Aces, nhưng tiêu biểu hơn cả là nhóm Trio Los Panchos, nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1950.
Tuy nhiên, để không bị các bóng cây đại thụ che khuất, ban tam ca Los Tri-O phải tìm cho ra một lối trình bày khác biệt, một nét gì đó của riêng mình. Trong cách phân đoạn ca khúc, hát bè hay phụ họa, nhóm này ít dựa vào một giọng ca chủ đạo. Khác với các bậc đàn anh, cả ba giọng ca tuy mỗi người một thanh sắc nhưng về vị trí và tầm cỡ đều ngang bằng với nhau. Mô hình của nhóm giúp cách phân đoạn trở nên linh hoạt hơn, mỗi thành viên có thể hát thay thế, thậm chí hát điền câu cho nhau.
Đặc điểm thứ nhì của nhóm Los Tri-O là sở trường hát liên khúc bolero của họ, ghép hai bài thành một. Tuy không phải lúc nào cũng đạt, nhưng ghi âm liên khúc là một cách để vinh danh nhiều nghệ sĩ đàn anh từ Juan Gabriel cho tới Agustin Lara, kết hợp Miguel Matamoros với Ñico Saquito, hoà quyện tiết tấu của Carlos Eleta Almaran với giai điệu của José Antonio Méndez. Những bản nhạc tưởng chừng như thuộc về quá khứ (Parece Que Fue Ayer), nào ngờ lại là tình ca lãng mạn muôn thuở (Romanticos por Siempre).
Trường hợp của nhóm Los Tri-O của Colombia làm cho ta liên tưởng đến ban tam ca người Ý Il Volo và gần đây hơn nữa là nhóm Latin Lovers của Pháp. Có ý kiến cho rằng làng giải trí show biz trước sự khủng hoảng của ngành băng đĩa, lao vào khai thác dòng nhạc xưa. Các ban tam ca Los Tri-O hay Il Volo giống như là các nhóm boys band hát nhạc La Tinh (hiểu theo nghĩa xấu nhất).
Nhưng nói như vậy thì chỉ đúng có một phần vì ở Trung Mỹ và Nam Mỹ, các tác giả vẫn duy trì truyền thống diễn đạt và sáng tác bolero. Các nghệ sĩ thuộc trường phái nuevo bolero như Jorge Buenfil, Rosamel Araya, Javier Caumont, ngoài việc khoác áo mới cho các bản bolero vang bóng một thời, còn nỗ lực sáng tác theo phong trào ‘’bolero mới’’. Những sáng tác của họ chưa có đủ bề dày năm tháng, nhưng biết đâu chừng lại trở nên kinh điển với thời gian.
Chẳng hạn như trường hợp của ca sĩ người Mêhicô Martin Serrano hay là danh ca Colombia Charlie Zaa. Tuy còn khá trẻ tuổi, nhưng của họ đều tiếp nối dòng nhạc của các bậc đàn anh, các bản ballad của họ đều kết hợp bolero với nhiều thể loại khác. Trong trường hợp của Martin Serrano là bolero ranchero, còn Charlie Zaa hoà quyện bolero với salsa.
Tên thật là Carlos Alberto Sánchez, Charlie xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Thân phụ của anh là nam danh ca Luis Humberto Sánchez. Để thoát khỏi tầm ảnh hưởng của gia đình, Charlie không chọn nghệ danh như ông bố, và anh vào nghề ca hát với các nhóm nổi tiếng chuyên chơi nhạc salsa (là Grupo Niche và Guayacán). Giữa những năm 1990, anh tách ra riêng và khởi đầu sự nghiệp hát solo.
Thể loại sở trường của Charlie Zaa là rumba salsero, với phần mở đầu dập dìu điệu bolero, còn điệp khúc thì lại phối như salsa (hiểu theo nghĩa rộng, tức là có thể bao gồm luôn các thể điệu cumbia, cha cha, bachata …) Được đề cử hai lần tranh giải Grammy La Tinh, ca sĩ này trong 7 tập nhạc liên tiếp, đã nỗ lực làm giàu cấu trúc của bolero, cho dù ban đầu đó không phải là ngôn ngữ sở trường của anh.
Về phần mình nam ca sĩ Patrizio Buanne tuy là người gốc Ý, nhưng lại sinh trưởng tại Áo, do bố mẹ anh lập nghiệp kinh doanh tại thủ đô Vienna. Từ nhỏ, Patrizio học giỏi các ngoại ngữ, nói được 5 thứ tiếng, nhưng cũng từ đó mà gia đình mới phát hiện là anh có lỗ tai âm nhạc, nhờ thính giác bén nhạy mà học nhạc rất dễ, phát âm ngoại ngữ rất chuẩn. Cậu bé bắt đầu thi hát, và đi biểu diễn từ năm 11 tuổi.
Đĩa hát đầu tay, Patrizio Buanne ghi âm vào năm 1997, nhưng từ năm 2002 trở đi, sự nghiệp của anh mới thật sự cất cánh, trong vòng một thập niên, anh ghi âm đến 7 album, chủ yếu ăn khách tại các nước châu Âu như Ý, Đức, Áo, Ba Lan, Thụy Sĩ … Nhờ vốn liếng ngoại ngữ, Patrizio Buanne ghi âm khá nhiều bản song ngữ, thường là tiếng Anh và tiếng Ý.
Thể loại sở trường của anh là dòng nhạc crooner Anh Mỹ những năm 1950, hát nhạc xưa nhưng với cung cách của giới trẻ thời nay, anh có làn hơi khỏe khoắn đầy đặn nhưng không nhất thiết phải luyến láy trên mỗi chữ cuối câu. Dòng nhạc La Tinh không hẳn là những gì anh yêu thích nhất, ngoại trừ các ca khúc ‘’tiếng Ý’’ mà anh thường hát đúng theo phong cách của người dân vùng Napoli (canzone napoletana), vốn là nguyên quán của gia đình anh, với lối phát âm chuẩn mực, bỏ dấu đúng chỗ.
Các bản bolero mà anh từng thâu trên đĩa thường có lối hoà âm theo bậc thang, dần dần đi lên từ cung trầm cho tới những nốt cao nhất mà vẫn không bị đuối hơi. Tiêu biểu nhất là bài Malafemmena, có phần nổi trội hơn cả phiên bản của nam danh ca tenor người Ý Andrea Bocelli. So với các bậc đàn anh hào hoa thời trước, thế hệ trẻ giờ đây không kém chữ đa tình, chắt chiu bao hoài niệm tiếng nhạc hồn La Tinh.
TỪ KHÓA : VĂN HÓA - ÂM NHẠC - TẠP CHÍ - CHÂU MỸ
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140809-bolero-the-he-tre-da-tinh-hoai-niem-nhac-la-tinh

Natalie và Nat King Cole, hai đời hát nhạc La tinh

THỨ SÁU 15 THÁNG TÁM 2014
Natalie và Nat King Cole, hai đời hát nhạc La tinh
Tuấn Thảo
Mùa hè năm nay, ca sĩ nhạc jazz Natalie Cole cho tái bản tập nhạc ghi âm các bài hát tiếng Tây Ban Nha. Album này mang tựa đề Natalie Cole En Español, chủ yếu bao gồm các tình khúc La Tinh kinh điển, phát hành lần đầu tiên vào tháng Sáu năm 2013, đậm đặc chất bolero và cha cha.
Tập nhạc La Tinh này gồm 13 ca khúc chọn lọc, nhưng thật ra có đến 20 bản nhạc khác nhau do một số bài đã được thu thanh dưới dạng liên khúc. Trên album này, hơn một nửa các bài ghi âm (7 ca khúc) là nguyên chất bolero, phần còn lại là cha cha (3 bài), merengue, bachata và bossa nova. Có lẽ đây là lần đầu tiên nữ ca sĩ nổi tiếng của làng pop jazz, dành riêng một album cover cho các bản nhạc tình La Tinh kinh điển
Trong số này, có 6 bài hát từng được thân phụ của cô là ông hoàng dòng nhạc crooner Nat King Cole ghi âm vào cuối những năm 1950, đầu thập niên 1960. Hơn nửa thế kỷ sau, Natalie tiếp nối sự nghiệp của thân phụ, bằng cách ghi âm thêm những bản nhạc La Tinh để đời, những bài hát mà bản thân Nat King Cole đều dự định thu thanh, nếu như ông không ra đi quá sớm, chỉ vào năm 45 tuổi.
Để thực hiện album chọn lọc gồm toàn là những bản nhạc La Tinh, Natalie Cole đã chọn làm việc với êkíp của tác giả người Mỹ gốc Cuba Rudy Pérez, thay vì hợp tác với nhà sản xuất người Canada David Foster. Nếu như David Foster đã làm nên tên tuổi của danh ca tenor Andrea Bocelli và nhóm Il Divo trên lãnh vực nhạc La Tinh và bán cổ điển, thì Rudy Pérez (sinh năm 1958) nổi tiếng là người đã giúp cho nhạc pop La Tinh có được một vị trí xứng đáng trong làng giải trí quốc tế, nâng thể loại này lên một tầm vóc mới, được công nhận ngang hàng với các dòng nhạc khác.
Tập nhạc La Tinh của Natalie Cole có thể được xem như là album của những người đoạt giải Grammy. Bản thân cô từng đoạt 9 giải Grammy, trong đó 5 giải dành cho album Unforgettable ... with Love phát hành vào năm 1991, hoà quyện giọng hát của cô với thân phụ quá cố (Nat King Cole mất vào năm 1965) nhờ vào kỹ thuật song ca ảo. Về phần mình, tác giả Rudy Pérez là một trong ba thành viên sáng lập giải thưởng âm nhạc Latin Grammy.
Ông Rudy Pérez đã triệu tập một nhóm nhạc sĩ người Mỹ gốc Cuba và Puerto Rico, họ từng đoạt giải Grammy nhờ chơi bộ gõ, kèn đồng và ghi ta trên các album do Rudy Pérez sản xuất. Nhờ vậy mà tập nhạc tiếng Tây Ban Nha của Natalie Cole rất chuẩn trong cách phát âm, tuân theo nhịp điệu nguyên tác, bolero chơi đúng phong cách cubano, còn cha cha cha thì thuần chất La Tinh.
Trên album tiếng Tây Ban Nha, giọng ca của Natalie Cole hoà quyện với tiếng kèn Chris Botti trên ca khúc And I Love Him (Her), nguyên tác của nhóm Tứ Quái The Beatles, cô cũng hát chung với giọng ca tenor người Ý Andrea Bocelli nhạc phẩm Besame Mucho của tác giả Consuelo Velásquez.
Phần hoà âm phối khí bài Besame Mucho theo điệu bolero, do gợi hứng và vay mượn trực tiếp, cho nên không có gì khác biệt cho lắm so với phiên bản của danh ca Andrea Bocelli (phát hành vào tháng Hai năm 2013), coi vậy mà thật ra không có gì táo bạo cho lắm so với phiên bản song ca của Thalia với Michael Bublé, phối theo điệu tango. Bản nhạc thứ ba là một bài song ca ảo, hoà quyện giọng ca của Natalie Cole với tiếng hát quá cố của ông bố.
Nhạc phẩm Acércate Más (hiểu theo nghĩa Đến gần bên anh) là một bản bolero rất ăn khách của tác giả Osvaldo Farrés. Tác giả người Cuba viết bài này vào năm 1946 cho ca sĩ Carlos Ramírez, để ghi âm làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Easy to Wed. Một năm sau đó, tên tuổi của Osvaldo Farrés nổi tiếng trên khắp thế giới nhờ nhạc phẩm Quizás Quizás (Perhaps Perhaps trong tiếng Anh).
Theo ông Radamés Giró, người đã soạn quyển Tự điển Bách khoa về Âm nhạc Cuba (Diccionario Enciclopédico de la Música en Cuba), nguyên tác của nhạc phẩm Quizás Quizás(1947) được viết theo thể điệu bolero, chứ không phải là cho điệu mambo, nhịp điệu nguyên tác càng không phải là cha cha cha (vì vũ điệu này chỉ ra đời vào giữa những năm 1950).
Cả hai nhạc phẩm Acércate Más và Quizás Quizás từng được ông hoàng Nat King Cole ghi âm trong cả hai thứ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh vào năm 1958. Vào thời đó, Nat King Cole là một trong những giọng ca ăn khách nhất làng nhạc Anh Mỹ nhờ chất giọng nam trung mượt trầm (baryton / baritone), cách phát âm tròn vành, lối nhã chữ rất sang.
Vào năm 1956, ông ký hợp đồng biểu diễn tại Cuba trong vòng ba năm. Rủi thay, do chế độ kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da vẫn còn hiện hành, cho nên tuy là nghệ sĩ nổi tiếng, nhưng ông lại không được quyền mướn phòng trọ tại Khách sạn Quốc gia thuộc vào hàng sang trọng và lớn nhất La Habana (Hotel Nacional de Cuba). Ngày nay, để tưởng nhớ ông, khách sạn Nacional vẫn dành một góc lưu niệm có bức tượng bán thân và một chiếc máy nghe nhạc tự động jukebox chuyên phát các bản nhạc của Nat King Cole.
Trong cái rủi lại có cái may, do buộc phải mướn phòng trọ ở nơi khác, nên Nat King Cole mới có dịp khám phá nhiều khách sạn khác, nơi mà các nghệ sĩ da màu thường xuyên biểu diễn tại các phòng trà, đặc biệt nhất là đợt trình diễn của ông tại vũ trường Club Tropicana. Từ sự gặp gỡ trao đổi tay nghề với các nghệ sĩ Cuba, Nat King Cole đã ghi âm tổng cộng ba album tiếng Tây Ban Nha.
Đầu tiên là Cole Español vào năm 1958, kế đến là A Mis Amigos năm 1959 và cuối cùng làMore Cole Español vào năm 1962. Do cuộc cách mạng Cuba, nên hòn đảo này bị cô lập từ năm 1959 trở đi. Cũng may cho Nat King Cole là ông đã ghi âm toàn bộ nhạc nền với giới nghệ sĩ trong dàn nhạc Cuba trước khi rời La Havana, để rồi hoàn chỉnh các bài ghi âm tại Los Angeles, California.
Nửa thế kỷ sau ngày phát hành ba album của Nat King Cole, đến phiên cô con gái là ca sĩ Natalie Cole làm sống lại thời kỳ huy hoàng của cuối những năm 1950 khi ghi âm tập nhạc La Tinh theo phong cách của các dàn nhạc La Havana. Cũng như thân phụ của mình, Natalie Cole chọn lối hát tiếng Tây Ban Nha một cách mượt mà, giai điệu nồng thắm, tha thiết đậm đà.
Đó là phong cách của các giọng ca crooner chứ không phải là thuần jazz La Tinh, vì lối tiếp cận của hai cha con rất khác với phong cách phóng khoáng của những nhạc sĩ như Dave Brubeck hay Paul Desmond đi tìm sự thăng hoa trong ‘’nốt nhạc xanh’’ khi chơi La Tinh jazz. Từ đời cha đến đời con, hai thế hệ Nat King Cole và Natalie Cole nâng niu cành giai điệu, ấp ủ trái đam mê, vắt từng nốt nhạc tình, lọc ra giọt nước cốt, đặc quánh chất La Tinh.
 
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140815-natalie-nat-king-cole-hai-doi-hat-nhac-la-tinh

Notte di Luce, đêm lụa trắng ngà mượt mà thăng hoavới danh ca tenor người Hy Lạp Mario Frangoulis

THỨ BẢY 30 THÁNG TÁM 2014
Notte di Luce, đêm lụa trắng ngà mượt mà thăng hoa
Mario Frangoulis, danh ca tenor nổi tiếng nhất Hy Lạp hiện thời (DR)
Mario Frangoulis, danh ca tenor nổi tiếng nhất Hy Lạp hiện thời (DR)
Tuấn Thảo
Tại các quốc gia ven miền Địa Trung Hải, có khá nhiều giọng ca chuyên hát nhạc La Tinh, chủ yếu cũng vì văn hóa Ý, Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha đều có cùng một hệ ngôn ngữ. Trong số các tiếng hát nổi danh từ khoảng một thập niên gần đây, có danh ca tenor người Hy Lạp Mario Frangoulis, xuất thân từ làng nhạc kịch trước khi chuyển sang bán cổ điển và La Tinh.
Năm nay 46 tuổi, Mario Frangoulis sinh tại Zimbabwe, trong lúc bố mẹ anh đi công tác ở châu Phi. Năm lên bốn, anh cùng với gia đình trở về Hy Lạp sinh sống. Từ thuở thiếu thời, Mario đã có nhiều năng khiếu âm nhạc, anh theo học đàn tại nhạc viện thành phố Athens trong hơn mười năm liền. Ở trường lớp, anh tham gia vào các dàn đồng ca, hợp xướng. Nhờ có chất giọng cao vút nên Mario thường được chọn làm vai chính trong các vở nhạc kịch. Nhờ học giỏi, nên anh đoạt giải nhất đàn violon năm anh mười bốn tuổi.
Sau khi tốt nghiệp nhạc viện thủ đô, thay vì chọn tu nghiệp, trao dồi tay nghề để trở thành nghệ sĩ hợp tấu, Mario vào năm 18 tuổi lại chọn sang Anh Quốc để đeo đuổi ngành nhạc kịch. Anh theo học lớp diễn xuất và khoa thanh nhạc trong vòng ba năm liền tại trường cao đẳng Guildhall School of Music and Drama tại Luân Đôn.
Một khi ra trường, anh bắt đầu tham gia các buổi casting nhằm tuyển lựa diễn viên cho các vở ca nhạc kịch. Ban đầu đóng vai phụ, rồi sau đó đến vai chính, Mario dần dần gầy dựng tên tuổi của mình nhờ tham gia vào các vở ca nhạc kịch ăn khách như Giấc mơ của một đêm mùa hè (A Midsummer Night's Dream), Những người khốn khổ (Les Misérables), Bóng Ma trong nhà hát (The Phantom of the Opera) và nhất là vai chính Tony trong vở nhạc kịch kinh điển West Side Story.
Sự thành công trong những bước đầu đó, chầm chậm mà vững chải giúp cho Mario cảm thấy tự tin hơn. Vào năm 24 tuổi, anh sang Ý tầm sư học đạo, theo học kỹ thuật luyện thanh với nhạc sư Carlo Bergonzi tại Học viện Verdi ở thành phố Busseto (nguyên quán của nhà soạn nhạc cổ điển Giuseppe Verdi) và học cách diễn xuất với danh ca tenor Alfredo Kraus. Sau khi tốt nghiệp Học viện Verdi, Mario thay vì đi hát lại sang Mỹ để tiếp tục nâng cao tay nghề, theo học hát với nhạc sư Dodi Protero, giọng ca soprano người Canada gốc Ý nổi tiếng của làng kịch opera trong hơn hai thập niên.
Nhờ các khóa đào tạo ấy, mà Mario đoạt được khá nhiều giải thưởng bằng hiện kim, trong đó có giải nhất cuộc thi Onassis, giúp cho anh có hai năm học bổng để nâng cao trình độ chuyên môn, thay vì phải vất vả kiếm tiền thù lao để nuôi sống bản thân. Năm 26 tuổi, anh lọt vào vòng chung kết để rồi về hạng ba trong cuộc thi quốc tế do danh ca tenor Luciano Pavarotti tổ chức để tuyển lựa các tài năng mới. Sự nghiệp của Mario Frangoulis thật sự cất cánh từ giữa những năm 1990 trở đi, cho dù hai lần bị gián đoạn do anh buộc phải trở về Hy Lạp để lo cho mẹ già đau ốm.
Tuy rất đam mê ngành nhạc kịch, nhưng các vòng lưu diễn khắp châu Âu, nay đây mai đó, lại không hợp với hoàn cảnh gia đình anh thời bấy giờ. Anh quyết định ở lại Hy Lạp, cho dù thủ đô Athens không có sân khấu nhạc kịch như West End ở Luân Đôn hay là Broadway ở Manhattan New York. Nhưng có lẽ, Mario có duyên với sân khấu, vì anh được mời tham gia vào các buổi biểu diễn của Giorgos (Yorgos) Dalaras, một trong những giọng ca hàng đầu của làng nhạc Hy Lạp, kể từ đầu những năm 1970 cho tới tận bây giờ.
Một già, một trẻ : đợt biểu diễn của hai ca sĩ tại (nhà hát lớn "Iera Odos") là dấu gạch nối giữa hai thế hệ, giữa các bản tình ca những năm 1970 và những bài hát ăn khách đương thời. Trên sân khấu, cả hai ghi âm trực tiếp nhạc phẩm Con Te Partiro của danh ca tenor người Ý Andrea Bocelli, và có lẽ dây là phiên bản duy nhất gồm hai giọng ca nam thay vì một nam một nữ như phiên bản chính gốc. Một khi được phát hành thành CD, tập nhạc live này phá kỷ lục số bán.
Nhờ vào sự dìu dắt của bậc đàn anh (Giorgos Dalaras lớn hơn Mario Frangoulis 20 tuổi), mà Mario mới khám phá chất giọng của anh rất hợp với các làn điệu La Tinh, từ những ca khúc hát bằng tiếng Ý hay diễn đạt với thổ ngữ Napoli (canzone napoletana) cho tới các bản nhạc tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và kể cả thể điệu rebetiko, dân ca đặc thù miền duyên hải Hy Lạp. Những làn điệu mà nhìn chung rất khác với thể loại nhạc kịch hay bán cổ điển mà anh vẫn thường đeo đuổi.
Một khi tìm đúng hướng đi, giọng ca của Mario lọt vào tai của nhà sản xuất Peter Gelb, giám đốc chi nhánh tập đoàn Sony Classical. Anh ký hợp đồng độc quyền ghi âm và biểu diễn với hãng Sony từ năm 2002 trở đi, giúp cho tài năng của anh thực sự đạt đến một tầm vóc quốc tế. Từ đó tới nay, Mario Frangoulis đã trình làng hơn 10 album, xen kẻ nhạc nhẹ, bán cổ điển, pop La Tinh.
Thể loại sở trường của Mario vẫn là power ballad, tựa như những bản tình ca mềm mại mà vũ bão, với những đoạn dũng mãnh nội lực cao trào. Do dòng nhạc La Tinh cũng như bán cổ điển đã có khá nhiều tên tuổi ăn khách , cho nên Mario chọn chuyển thể các bản slow rock nổi tiếng của những năm 1970 của các ban nhạc lừng danh như Queen hay là The Moody Blues.
Nhạc phẩm Notte di Luce là bản chuyển ngữ sang tiếng Ý của bài Night in White Satin (hát với Justin Hayward), với lối hoà âm khác với phiên bản của nhóm Il Divo. Tình khúc Notte di Luce qua cách diễn đạt của Mario Frangoulis, cộng hưởng với cách hoà âm phối khí đa tầng giúp cho bóng đêm nhung lụa trắng ngà, mượt mà quyến rũ thăng hoa.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140830-notte-di-luce-bong-dem-nhung-lua-trang-nga-muot-ma-quyen-ru-thang-hoa

zondag 4 augustus 2013

Besame Mucho, nụ hôn đắm đuối giã từ đêm cuối

Besame Mucho, nụ hôn đắm đuối giã từ đêm cuối
Tuấn Thảo
Giới soạn nhạc La Tinh đã cống hiến cho đời nhiều tình khúc bất tử. Người Uruguay rất tự hào với nhạc phẩm La Cumparsita. Dân Panama xem bài Historia de Un Amor như một di sản văn hóa. Người Cuba đưa bản Quizas, Quizas đi vòng quanh thế giới. Còn Besame Mucho từng được chọn là giai điệu Mêhicô hay nhất mọi thời đại.
Sở dĩ có sự lựa chọn như vậy là vì Besame Mucho (dịch sát nghĩa là Hãy hôn em thật nhiều) là ca khúc Mêhicô nổi tiếng nhất ở nước ngoài. Bản nhạc này cũng phá luôn kỷ lục về số lượng ghi âm, vì tính tới nay, bài đã có trên dưới hai ngàn phiên bản. Do vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi Mêhicô đã nhiều lần vinh danh tác giả bài hát là bà Consuelo Velasquez với những giải thưởng cao quý nhất.
Có hai điều khá thú vị đáng được RFI ghi nhận : thứ nhất, trong số các nghệ sĩ tên tuổi cùng thời, bà Consuelo Velasquez là gương mặt phụ nữ hiếm thấy chuyên soạn nhạc bolero. Thứ nhì, bà Consuelo sáng tác một ca khúc cực kỳ lãng mạn, hết sức trữ tình, cho dù bà chỉ mới ở cái tuổi dậy thì, ở cái thời trinh nữ chưa biết tình yêu chăn gối hay rung động xác thịt là gì.
Để so sánh, tác giả Consuelo Velasquez đã soạn nhạc phẩm Besame Mucho năm mới 15 tuổi, trong khi tác giả Carlos Eleta Almaran sáng tác bài hát Historia de un Amor (Chuyện tình yêu) năm ông 37 tuổi, còn Osvaldo Farres soạn ca khúc Quizas, Quizas ở tuổi 45.
Vậy thì điều gì đã khiến cho một thiếu nữ trong trắng trinh nguyên lại viết lên một ca khúc nồng nàn say đắm, lãng mạn đượm thắm đến như vậy. Nhạc phẩm Besame Mucho ra đời đầu những năm 1940, thời mà xã hội Mêhicô còn rất bảo thủ, nếu không nói là trọng nam khinh nữ. Thời mà hôn nhân là do cha mẹ sắp đặt, định đoạt. Thời mà các gia đình sùng đạo tạo ra những khuôn thước tư tưởng, mà người đàn bà khó thể nào mà xé rào vượt qua.
Trong cái khuôn khổ trật tự ấy, nơi mà người đàn bà được răn bảo từ thuở ấu thơ là nên tránh tiếp xúc với đàn ông, dục vọng là cám dỗ, nụ hôn là tội lỗi, bà Consuelo Velasquez đã dám dùng trí tưởng tượng để nói lên nỗi đam mê hừng hực bùng cháy qua biểu tượng nụ hôn. Sự táo bạo của bài hát nằm ở chỗ đó, do nó phản ánh cương vị của tác giả vào cái thời mà bà đang sống.
Giả sử như bà Consuelo Velasquez viết bài này vào những năm 1970, thời kỳ của Cách mạng tình dục và phong trào đòi nữ quyền, giải phóng người phụ nữ, thì chưa chắc gì bản nhạc sẽ có tiếng vang lớn đến như vậy. Chính cái bối cảnh khắt khe ràng buộc mới làm cho ý tứ của bài hát trở nên cực kỳ sexy, vô cùng táo bạo.
Nhạc phẩm Besame Mucho được viết tựa như một kịch bản phim đầy chi tiết. Một cặp tình nhân quấn quýt bên nhau như thể họ đang sống trọn bên nhau một đêm cuối cùng trước khi xa rời vĩnh viễn. Nghe bài hát người ta có thể hình dung ra một màn phim quay cận ảnh, nơi mà đôi tình nhân vòng tay ghì chặt, đắm đuối nhìn nhau, chết lịm ánh mắt.
Trong tiếng Tây Ban Nha, chữ hôn em "besame" được dùng dưới dạng động từ chứ không phải là danh từ, cái ý tưởng ngày mai sẽ chia ly càng lớn trong tâm trí, thì đôi tình nhân càng gần với nhau qua thể xác. Lối dùng ca từ tượng hình, để nói lên các động thái càng lúc càng cận kề ấy đánh vào trí tưởng tượng của người nghe, khiến họ phải hình dung ra cặp tình nhân này đang làm gì với nhau.
Cách dùng hình tượng cận ảnh chứ không phải là toàn cảnh, cho thấy sự chuyển động rất gần và vì rất gần nên không thể nào thấy hết. Bài hát chỉ nói đến một phần thôi, người nghe tự mình sẽ đoán ra hết tất cả những gì có thể xảy ra trong cái đêm định mệnh ấy.
Sinh năm 1916, mất năm 2005, Consuelo Velazquez thời còn trẻ đã tốt nghiệp nhạc viện thành phố Guadalajara. Bà vào nghề như một nghệ sĩ dương cầm, biểu diễn trong khuôn khổ Dàn nhạc giao hưởng quốc gia Mêhicô. Song song với sự nghiệp chơi đàn piano cổ điển, bà còn sáng tác hàng trăm ca khúc nhạc nhẹ, nhưng không có bài nào đạt đến tầm vóc kinh điển của bài Besame Mucho.
Bài hát này được ca sĩ Emilio Tuero ghi âm lần đầu tiên vào năm 1941, nhanh chóng trở thành một ca khúc ăn khách để rồi được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng. Riêng trong tiếng Việt, bản nhạc này có ít nhất là hai lời khác nhau.
Lời thứ nhất do tác giả Y Vân đặt cho bài hát với tựa đề ‘‘Đời như giấc mơ’’. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ với tựa “Yêu nhau đi”, và đây là phiên bản thông dụng nhất vì đa số các bài ghi âm tiếng Việt đều chọn lời của tác giả Trường Kỳ.
Nói rằng Besame Mucho là một bản nguyên tác của Consuelo Velasquez không hoàn toàn đúng. Bởi vì khi viết bản nhạc này ở tuổi 15, Consuelo đã vay mượn khá nhiều từ các bậc tiền bối. Khi bạn nghe kỹ, thì hai câu mở đầu bài Besame Mucho đã lấy lại một giai điệu của nhà soạn nhạc cổ điển Enrique Granados người Tây Ban Nha.
Trong những câu sau và nhất là trong phần điệp khúc, bà Consuelo Velasquez đã ngẫu hứng biến tấu theo câu mở đầu, thay đổi cấu trúc thành điệu bolero, dựa vào ca từ để mở ra một bối cảnh cụ thể và dẫn dắt câu chuyện trong bài hát. Tác giả Enrique Granados cùng với các nhà soạn nhạc Isaac Albéniz, Manuel de Falla và Joaquín Rodrigo, được mệnh danh là Tứ Quý, tiêu biểu cho sự khởi sắc của dòng nhạc cổ điển Tây Ban Nha cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Trong các kiệt tác của nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha, có tác phẩm mang tựa đề là Goyescas, một tổ khúc gồm 6 điệu đàn dương cầm gợi hứng từ thế giới hội họa của Francisco Goya. Tổ khúc này còn có tiểu tựa : Đôi tim non trẻ yêu đương (Los majos enamorados).
Trong sáu giai điệu này, có khúc đàn số 5 với tựa đề là "Lời thở than hay Thiếu nữ và Cánh chim Họa mi" (Quejas, o La Maja y el Ruiseñor), nổi tiếng là rất khó đối với người chơi đàn, do các nốt nhạc bay bổng thường được viết liền nhau, buộc người độc tấu dương cầm phải vuốt cùng lúc nhiều phím đàn, để tạo ra tiếng hót thánh thót của chim họa mi.
Tác giả Enrique Granados viết khúc đàn này để tặng cho vợ (bà Ampero). Tựa như bàn tay của một nhà kim hoàn mài dũa trau chuốt một viên ngọc, ông Enrique Granados đã chạm trỗ, khắc họa nhiều chi tiết vào giai điệu, để rồi qua đó, ông gửi gấm tất cả những cảm xúc tình tứ sâu lắng nhất.
Khi vay mượn lại những câu đầu của khúc đàn số 5, bà Consuelo Velasquez giữ lại tiết tấu tha thiết của giai điệu, cũng như hình tượng của đôi tình nhân trong cái thuở yêu thương say đắm ban đầu. Từ giai điệu Tiếng chim Họa mi, bà ứng tấu thành một bản Dạ khúc cho đôi Tình nhân.
Vượt thời gian, bài hát Besame Mucho đã đi vào huyền thoại. Vượt không gian, bản nhạc trữ tình này nói lên được một điều mà tuổi trẻ ở nơi nào cũng dạt dào khát khao : Sống như thể ngày mai ta chết. Yêu cho đến tàn đêm chấm hết.
 
 

zaterdag 13 juli 2013

La Playa, ghi ta thời gian tình chưa quên lãng

Thứ bảy 13 Tháng Bẩy 2013
La Playa, ghi ta thời gian tình chưa quên lãng
Tuấn Thảo
Năm 2013 cũng là thời điểm sinh nhật năm chẳn của khá nhiều ca khúc lừng danh quốc tế. Trong số những bài xưa nhất, có bài El Cóndor Pasa và bản tango El Choclo ra đời cách đây một thế kỷ. Nhạc phẩm Quién Será được ghi âm tại Mêhicô sáu thập niên về trước (1953). Một thập niên sau, đến lượt bài La Playa (Bãi biển) đi vòng quanh thế giới nhờ phiên bản dạo đàn ghi ta sáng tác vào năm 1963.
Khúc đàn La Playa mang đậm ảnh hưởng của dòng nhạc La Tinh nhưng thật ra bản nhạc này lại do một nhà soạn nhạc người Bỉ tên là Jo Van Wetter viết vào năm 1963, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ. Tác giả bài hát tên thật là Georges Joseph Van Wetter, sinh trưởng trong một gia đình gốc flamand, nhưng cha mẹ ông đến lập nghiệp tại vùng Wallonie chủ yếu nói tiếng Pháp ở Bỉ.
Tuy không xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, những từ thuở nhỏ ông đã có năng khiếu âm nhạc. Thời niên thiếu, dù chưa được đào tạo bài bản, nhưng Jo Van Wetter chịu khó tự học đàn. Ông tham gia vào khá nhiều ban nhạc trẻ chuyên đi diễn tại các liên hoan địa phương và chủ yếu chơi lại các ca khúc thịnh hành từ những năm 1940 đến thập niên 1950.
Đến khi trưởng thành, ông Jo Van Wetter dời nhà về thủ đô nước Bỉ, và bắt đầu học đàn ghi ta cổ điển tại Nhạc viện thành phố Bruxelles. Ông học cùng một lớp với tay đàn ghi ta Charles Danielli. Cả hai về sau này đều mở lớp dạy nhạc, trong số những học trò của họ có Philip Catherine, một trong những tay đàn ghi ta nhạc jazz lừng danh nhất nước Bỉ.
Công việc dạy đàn không đủ sống, cho nên Jo Van Wetter sau khi tốt nghiệp nhạc viện thủ đô, tham gia vào rất nhiều nhóm nhạc lớn nhỏ để kiếm tiền qua các vòng lưu diễn tại các quán nhạc hay vũ trường. Trong nhiều năm liền, ông chủ yếu đi biểu diễn với các dàn nhạc hoà tấu dưới sự điều khiển của Jean Omer và nhất là của nhạc trưởng Henri Segers. Bên cạnh đó, ông cũng thường xuyên xuất hiện trong khá nhiều dự án ghi âm của giới nghệ sĩ trẻ thời bấy giờ như Frédéric Rottier hay ban nhạc The Cousins.
Đầu những năm 1960, vào lúc mà phong trào nhạc trẻ rộ lên ở châu Âu, giới ca sĩ ‘‘nhí’’ hưởng ứng dòng nhạc rock đến từ Hoa Kỳ bằng cách chuyển dịch rồi ghi âm lại các ca khúc Anh Mỹ, thì Jo Van Wetter lại khám phá các làn điệu ghi ta đến từ đảo Hawai. Cùng với nhiều tác giả khác như Willy Albimoor, Hans Blum và Michael Thomas (Martin Böttcher), nhạc sĩ Jo Van Wetter soạn một số khúc đàn theo thể điệu này.
Cả nhóm lấy tên là ban nhạc The Waikikis, và tập nhạc mang tựa đề là Hawai Tattoo trở thành một trong những album ăn khách nhất vào năm 1961. Trong vòng nhiều tháng liên tục, album này thống lĩnh thị trường các nước Bỉ, Đức, Hà Lan và Luxembourg, để rồi sau đó chinh phục các thị trường Anh Quốc, Canada, Hoa Kỳ và Nam Mỹ.
Sự thành công này đáng lẽ ra sẽ còn vang dội hơn nữa, nếu như ban nhạc The Waikikis lên đường lưu diễn để quảng bá cho album của họ, cũng như cho những bước kế tiếp trong sự nghiệp. Thế nhưng, những bất đồng với nhà sản xuất (Horst Fuchs) buộc một số tác giả phải rút lui.
Tuy sau đó, có cho ra mắt nhiều album khác, nhưng The Waikikis chủ yếu ghi âm ở phòng thu thanh, thành viên hay tác giả có thể luân phiên thay đổi, nhưng thực chất không phải là một nhóm có đủ tầm vóc, cũng như tầm nhìn như ban nhạc người Anh The Shadows với khúc đàn kinh điển Apache đầu thập niên 1960.
Năm 1963, một trong những album ăn khách nhất thị trường quốc tế là tập nhạc cover của nữ danh ca người Mỹ Julie London, qua đó cô ghi âm lại hầu hết các bản nhạc tình La Tinh kinh điển phối theo điệu cool jazz. Khi được nghe album này, Jo Van Wetter mới ngẫu hứng sáng tác khúc đàn mà ông đặt tên là La Playa. Khúc nhạc này trở nên thịnh hành nhờ các bản hòa tấu, song tấu hay độc tấu Tây Ban Cầm (chẳng hạn như phiên bản của Claude Ciari).
Lúc đầu, ông định soạn khúc đàn này theo thể điệu bossa nova (ra đời vào năm 1958), vào lúc mà phong trào này đang trở nên cực thịnh tại các nước Âu Mỹ, sau thành công ngoạn mục của bài Manha de Carnaval, ca khúc chủ đề của bộ phim Orfeu Negro. Rốt cuộc, ông lại phối theo nhịp điệu rumba, nhưng với lối chơi đàn ghi ta thùng rất mộc, chứ không phối với một dàn nhạc theo kiểu nhạc khiêu vũ hay theo phong cách easy listening.
Tác giả người Pháp Pierre Barouh, nghe được khúc đàn La Playa khi anh vừa từ Brazil trở về Paris. Pierre Barouh là người sáng tác sau này nhạc phẩm Samba Sarava (1966) và hát ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et Une Femme (Câu chuyện một người đàn ông và một người đàn bà) của đạo diễn Claude Lelouch, mà hầu hết mọi người chỉ nhớ mang máng câu hát mở đầu. Cảm thấy hứng thú, Pierre Barouh mới đặt lời ca tiếng Pháp cho giai điệu. Khúc đàn trở thành một bài hát và được ca sĩ Marie Laforêt ghi âm vào năm 1964.
Sau thành công của ca khúc tiếng Pháp, nhiều phiên bản chuyển dịch khác lần lượt ra đời, kể cả tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Còn trong tiếng Việt, bài La Playa có ít nhất hai lời. Bài này từng được tác giả Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm Dòng sông quê hương do nhiều nghệ sĩ như Ngọc Lan, Kiều Nga hay Thanh Lan ghi âm lại. Lời Việt thứ nhì không ghi rõ tác giả, có tựa đề là Biển vắng Thiên đàng.
Bài hát La Playa ăn khách đến nỗi người Brazil nghĩ rằng ca khúc A Praia bằng tiếng Bồ Đào Nha là một giai điệu của xứ họ. Còn tại Puerto Rico hay Nam Mỹ, không ai tin rằng La Playa trong nguyên tác là một khúc đàn của một tác giả người Bỉ gốc Hà Lan. Theo dòng đời năm tháng, tay đàn Jo Van Wetter đã chìm dần vào quên lãng nhưng khúc nhạc dịu dàng mà ông đã soạn lại trở nên bất hủ, vượt thời gian.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130713-la-playa-khuc-dan-ghi-ta-quen-lang