Posts tonen met het label Besame Mucho. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Besame Mucho. Alle posts tonen

zaterdag 13 september 2014

Phiên bản Besame Mucho của tenor Mark Vincent

THỨ SÁU 05 THÁNG CHÍN 2014
Phiên bản Besame Mucho của tenor Mark Vincent
Mark Vincent tính đến nay đã phát hành 6 album (DR)
Mark Vincent tính đến nay đã phát hành 6 album (DR)
Tuấn Thảo
Trong tuần này, danh ca người Úc Mark Vincent ăn mừng sinh nhật 21 tuổi, vào lúc tuyển tập chọn lọc của anh với tựa đề Best So Far được trình làng tại châu Âu sau khi gặt hái thành công hồi tháng Tư tại Úc. Xuất thân từ các cuộc thi hát truyền hình, Mark Vincent là giọng ca tenor ăn khách trong năm năm qua chủ yếu nhờ dòng ca nhạc kịch và bán cổ điển.
Giọng ca Mark Vincent đã trưởng thành. Mới ngày nào cậu thiếu niên còn rụt rè run rẩy khi chân ướt chân ráo bước vào cuộc thi hát Australia's Got Talent, giờ đây anh đã trở thành một người đàn ông chín chắn : tướng mạo chải chuốt, vóc dáng bảnh bao, Mark Vincent đã kiêng cử ăn uống rất nhiều để có thể trở nên thon gầy hơn trước.
Từ khi anh đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình nước Úc vào năm 15 tuổi rưỡi (tháng Tư năm 2009), cậu bé nhút nhát thầm lặng (của vùng Sutherland Shire) đã dần dà thay đổi hình ảnh và phong cách để toát lên một niềm tự tin chừng mực nơi chính bản thân, để biểu hiện một phong độ chững chạc mà vẫn tươi tắn trẻ trung, một tài năng vững chãi mà vẫn hiền hoà khiêm tốn.
Sinh trưởng tại Caringbah, bang New South Wales, Mark Vincent từ nhỏ được ông nội dạy dỗ nuôi nấng. Cậu bé thích học hát các giai điệu cổ điển aria, vì hầu như ở nhà quanh năm suốt tháng chỉ nghe nhạc kịch opera. Ở những nốt bay bổng nhất, giọng ca của cậu bé vẫn rực trầm như giọng ca của Placindo Domingo thời còn trẻ.
Nếu được đào tạo bài bản, thì có lẽ Mark Vincent có đủ khả năng để đeo đuổi ngành kịch opera, nhưng để có đất dụng võ, thì dòng nhạc bán cổ điển là chắc ăn hơn cả, chủ yếu cũng vì hai thể loại ca nhạc kịch (musical) và pop giao hưởng (symphonic pop) là cách thuận tiện nhất để chinh phục đại đa số khán giả. Hy vọng rằng sau này anh sẽ có cơ hội thực hiện ước mơ của mình tức là theo học Nhạc viện (Conservatorio di Musica) Giuseppe Verdi tại thành phố Milano, bên Ý.
Năm năm sau ngày đoạt giải nhất cuộc thi hát Australia's Got Talent, Mark Vincent đã trình làng đến năm album. Tuyển tập chọn lọc Best So Far phát hành vào mùa xuân 2014, chủ yếu tập hợp các ca khúc ưng ý nhất của anh trích từ năm tập nhạc này. Ngay từ album đầu tay là My Dream – Mi Visione (Giấc Mơ và Tầm Nhìn của Tôi), anh đã chọn tiếng Ý và tiếng Anh làm ngôn ngữ sở trường.
Album ‘‘Giấc Mơ và Tầm Nhìn của Tôi’’ gồm toàn là các ca khúc kinh điển, phần lớn đến từ các vở ca nhạc kịch như giai điệu Memory của Cats hay là The Quest (bản nhạc The Impossible Dream) của vở nhạc kịch Man of La Mancha. Lần đầu tiên nghe album này, ta khó có thể tin rằng một cậu bé 16 tuổi, tức còn rất non tuổi đời mà lại diễn đạt chững chạc đến như vậy.
Mark Vincent khai thác xu hướng này trong ba album sau đó (là Compass, The Great Tenor Songbook và Song From The Heart). Mãi đến album thứ năm với tựa đề The Quartet Sessions, Mark Vincent mới bắt đầu chuyển sang một hướng khác. Một mặt, anh đưa vào bộ vựng tập của mình một số ca khúc tân thời hơn như bài Halo của Beyoncé hay Viva la Vida của nhóm Coldplay, nhưng phối theo âm hưởng bán cổ điển. Dường như là sau giới ghiền xem ca nhạc kịch, giọng ca tenor người Úc muốn nhắm vào việc chinh phục một đối tượng trẻ tuổi hơn.
Về lối hoà âm phối khí, các bài hát thay vì được ghi âm như trong các album trước với một dàn nhạc giao hưởng với ít nhất là 40 nhạc khí, các giai điệu ở đây trở nên cô đọng mộc mạc, khi được phối đơn thuần với một bộ đàn dây tứ tấu. Ý nghĩa của The Quartet Sessions nằm ở chỗ đó.
Phiên bản Besame Mucho của Mark Vincent trở nên tiêu biểu cho một lối hoà âm như vậy. Về cung cách diễn đạt, anh đưa thêm một chút giọng gió và bớt hát với giọng ngực đê tạo thêm nét quyến rũ mượt mà, cách lấy hơi từ bụng thường tạo nơi người nghe cái cảm giác của một giọng hát chuyên về kỹ thuật nhiều hơn là cảm xúc nghệ thuật.
Bởi vì dù muốn hay không, thì cái hình ảnh đầu tiên của Mark Vincent từ lúc anh mới thành danh vẫn là cậu học trò với một giọng hát mạnh và to (a schoolboy with a big voice). Nhờ làn hơi cực kỳ khỏe khoắn, mà anh có thể luyến láy trên tám nhịp liên tục trong đoạn cuối của bài Besame Mucho. Cách hát này có thể được tìm thấy trên một số bản nhạc khác, nếu lạm dụng thì giọng ca tenor người Úc có thể khiến cho người nghe tưởng lầm rằng anh cố tình phô trương giọng hát, biểu diễn luyện thanh.
Điều mà Mark Vincent muốn nhắm tới chính là có đủ sự tinh tế trong cách diễn đạt, không hẳn như danh ca tenor người Ý Andrea Bocelli mà chủ yếu gần với giọng hát của Anthony Warlow (giọng ca baritone), nổi tiếng nhờ nhiều vai diễn để đời, trong đó có vai chính của vở ca nhạc kịch Bác sĩ Zhivago (Doctor Zhivago) chuyển thể từ tiểu thuyết của văn hào Boris Pasternak.
Để đạt thêm chiều sâu, cách diễn xuất dày dặn, cậu học trò giờ đây không còn nhất thiết phải gồng mình hát to, Mark Vincent có thể hát một cách chững chạc chín muồi mà vẫn không già trước tuổi. Một nội lực thiên phú, một làn hơi trời cho, càng biểu cảm rực trầm, nhờ thì thầm giọng gió.
TỪ KHÓA : ÂM NHẠC - VĂN HÓA - NHÂN VẬT - TẠP CHÍ
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140906-besame-mucho-phien-ban-cua-tenor-nguoi-uc-mark-vincent

maandag 9 december 2013

Sinh nhật thứ 100 Luis Mariano, ông hoàng Operette với tuyệt phẩm Amor Amor, Besame Mucho,...

Thứ bảy 07 Tháng Mười Hai 2013
Tập nhạc vinh danh Luis Mariano nhân 100 năm ngày sinh
Ca sĩ Pháp Vincent Niclo thành danh nhờ tập nhạc Opéra Rouge (DR)
Ca sĩ Pháp Vincent Niclo thành danh nhờ tập nhạc Opéra Rouge (DR)
Tuấn Thảo
Năm 2014 đánh dấu 100 năm ngày sinh của Luis Mariano. Gần một năm sau khi Patricia Kaas trình làng tập nhạc tưởng niệm thần tượng Édith Piaf, nay đến lượt ca sĩ trẻ tuổi Vincent Niclo cho ra mắt album mang tựa đề một chữ ngắn gọn là Luis để vinh danh giọng ca tenor người Pháp gốc Tây Ban Nha, từng được mệnh danh là ông hoàng của làng ca vũ kịch (opérette trong tiếng Pháp).
Sinh năm 1914 tại Irun trong một gia đình người Basque thuộc Tây Ban Nha, mất năm 1970 tại thủ đô Paris do mắc bệnh ung thư gan, Luis Mariano lúc sinh tiền là giọng ca không có đối thủ trong lãnh vực của ông. Xuất thân từ một gia đình nghèo, bố ông là thợ chuyên sửa xe máy, nhưng nhờ có năng khiếu, nên từ nhỏ Luis được cho đi học nhạc.
Được đào tạo bài bản ở trường lớp, nhưng thay vì đi theo ngành kịch opera, ông lại chọn chuyên môn polyphony, một dạng hợp ca đa âm theo truyền thống dân gian của vùng Basque. Thời thanh niên, ông vào nghề như một giọng ca tenor chính, ban đầu đi hát ở thành phố San Sebastian, rồi sau đó lưu diễn ở châu Âu, từ Paris đến Bruxelles, từ Amsterdam đến Luân Đôn.
Cuộc nội chiến Tây Ban Nha khiến sự nghiệp của Luis Mariano bị gián đọan. Cùng với gia đình, ông phải sang Pháp tỵ nạn năm ông 24 tuổi. Trên đất khách quê người, ông buộc phải làm lại từ đầu. Để kiếm sống, Luis chấp nhận đủ mọi nghề : chạy bàn, giao hàng hay rửa chén. Cũng may cho ông là nhờ có trình độ vững chắc, kinh nghiệm bài bản mà ông thi đỗ vào Học viện âm nhạc thành phố Bordeaux. Nhờ vào sự gửi gấm của ông giám đốc nhạc viện, mà Luis Mariano mới bắt đầu nối lại với sự nghiệp ca hát.
Đến Paris lập nghiệp năm ông 28 tuổi, Luis Mariano được đào tạo thêm với nhạc sư Miguel Fontecha. Hai thầy trò có cùng một nguyên quán và đeo đuổi cùng một sở trường là lối hát đa âm của vùng Basque. Nhờ thầy mà Luis Mariano học thêm cách hát bel canto (mỹ ca) theo truyền thống kinh điển của người Ý.
Sự nghiệp của Luis Mariano được lăng xê vào cuối năm 1943, ông bắt đầu nổi tiếng nhờ ghi âm cho đài phát thanh, đi hát trong các vở ca hài kịch (opéra comique), cạnh tranh trực tiếp với giọng ca nam số một (tenirino) thời bấy giờ là Tino Rossi, lớn hơn ông 7 tuổi. Sự nghiệp của Luis Mariano kéo dài trong gần hai thập niên, nhnưg sau đó bị lu mờ trước sự trỗi dậy của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 tại Pháp.
Trên album mới của mình, Vincent Niclo đã mở đầu với hai ca khúc Amor Amor và Besame Mucho, nguyên là hai bản ghi âm đầu tay của Luis Mariano, phát hành trên thị trường đĩa nhựa. Điều đó cho thấy là trước khi trở thành ông hoàng của làng kịch opérette với những giai điệu dí dõm vui nhộn, Luis Mariano ban đầu hát nhạc trữ tình. Sự nghiệp của ông cất cánh vào thời mà dòng nhạc La Tinh trở nên phổ biến tại châu Âu.
Đến khi gặp tác giả Francis Lopez, thì lúc đó Luis Mariano mới nghiêng hẳn về thể lọai opérette, trở thành giọng ca chính trong các vở kịch như La Belle de Cadix, Le chanteur de Mexico hay là Le Prince de Madrid. Hầu hết các bản nhạc trích đọan từ các vở kịch hát này đều trở thành những bài tủ, tiêu biểu nhất là nhạc phẩm Mexico, phá kỷ lục số bán vào năm 1951. Sau giọng ca tenor Roberto Alagna, đến phiên Vincent Niclo thử lửa với bài hát này, được xem như là ca khúc gắn liềnvới tên tuổi của Luis Mariano, đánh dấu ngày đăng quang của ôn hoàng làng kịch opérette.
Tập nhạc mới của Vincent Niclo gồm 13 bài hát, phiên bản Deluxe phát hành cho mùa Giáng Sinh có đến 17 bài. Theo như anh nói thì vị trí của Luis Mariano không xứng đáng với tầm vóc của giọng ca này. Sinh thời, ông thành công về mặt số bán, được công chúng hưởng ứng, nhưng ngược lại thường bị giới phê bình chê bai.
Đa phần các ý kiến chỉ trích cho rằng Luis Mariano với chất giọng trời ban, được đào tạo bài bản thì đáng lẽ ra nên chọn một lãnh vực nghiêm túc hơn. Trong mắt của các nhà phê bình, một giọng ca xứng tầm với dòng nhạc hàn lâm mà lại đi hát nhạc ‘‘bình dân’’ thì cũng hơi uổng.
Hai thể loại opérette và opéra comique đều bị coi thường, thấp hơn kịch opéra chính thống một bậc. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ lại, Luis Mariano là một trong những giọng ca đầu tiên đan xen hai thể loại pop và cổ điển, nửa thế kỷ trước khi giới chuyên ngành sáng chế ra các thuật ngữ crossover và pop classic, giúp cho một số giai địêu cổ điển trở nên phổ biến hơn với đa số người nghe, mở đường cho các giọng ca sau này như Andrea Bocelli, nhóm Il Divo và kể cả Vincent Niclo.
Có lẽ cũng vì hình ảnh của Luis Mariano quá gắn liền với dòng nhạc opérette cho nên sinh thời ông khó thể nào thoát khỏi sự gán ghép hạn hẹp một chiều. Khi hát lại nhạc của bậc đàn anh, ca sĩ trẻ tuổi Vincent Niclo đã muốn mở rộng sang nhiều lãnh vực khác, kết hợp cùng lúc nhiều thể lọai, có cả kịch opérette, nhạc nhẹ, nhạc La Tinh và bán cổ điển.
Nổi danh trong vài năm gần đây nhờ hai tập nhạc pop classic, qua đó Vincent Niclo ghi âm các giai điệu cổ điển và bán cổ điển với dàn đồng ca quân đội Nga (hậu thân của Hồng quân Liên Xô), nay Vincent Niclo bắt đầu chuyển qua khai thác nhạc nhẹ, anh hát đơn thay vì có sự hỗ trợ của một ban hợp ca.
Trên album gần đây nhất của anh, Vincent chỉ dành một phần ba cho thể loại opérette, phần còn lại là nhạc nhẹ, khi thì đơn thuần, lúc thì kết hợp với thể loại khác. Vincent Niclo có một làn hơi đầy đặn, chọn một lối hoà âm thiên về pop giao hưởng tạo nên nét hoành tráng tựa như nhạc phim. Một cách phối khí như vậy có thể thích hợp cho những hoạt cảnh hay tiết mục biểu diễn trên sân khấu, nhưng lại phản tác dụng trên một số bài hát, đặc biệt là các bản tình ca La Tinh.
Giọng ca tenor của Vincent Niclo khỏe khoắn, nhưng đôi lúc hơi cứng rắn đôi khi cho người nghe cái cảm tưởng hơi phô trương của một ca sĩ luyện thanh. Điều này lại càng thấy rõ khi Vincent hát các nguyên tác tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Ý. Nếu phải so sánh thì lúc sinh tiền, Khi hát nhạc tình La Tinh, ông vẫn giữ được trọn vẹn sự mềm mại thướt tha, nét dịu dàng uyển chuyển, một điều rất cần thiết cho thể loại này.
Đĩa hát mới của Vincent Niclo cũng chính là dịp để cho giới hâm mộ khám phá lại giọng ca của Luis Mariano qua các bản tình ca La Tinh, hiểu theo nghĩa rộng nhất tức là các ca khúc tiếng Tây Ban Nha cũng như tiếng Ý, chẳng hạn như nhạc phẩm Acapulco. Nhờ nắm vững kỹ thuật đa âm (polyphony), hát được cả hai giọng óc và giọng gió, mà Luis Mariano trong những nốt nhạc cao nhất vẫn cực kỳ mượt mà nồng ấm, tột cùng trầm bổng âm sắc.
 
 
 

zondag 4 augustus 2013

Besame Mucho, nụ hôn đắm đuối giã từ đêm cuối

Besame Mucho, nụ hôn đắm đuối giã từ đêm cuối
Tuấn Thảo
Giới soạn nhạc La Tinh đã cống hiến cho đời nhiều tình khúc bất tử. Người Uruguay rất tự hào với nhạc phẩm La Cumparsita. Dân Panama xem bài Historia de Un Amor như một di sản văn hóa. Người Cuba đưa bản Quizas, Quizas đi vòng quanh thế giới. Còn Besame Mucho từng được chọn là giai điệu Mêhicô hay nhất mọi thời đại.
Sở dĩ có sự lựa chọn như vậy là vì Besame Mucho (dịch sát nghĩa là Hãy hôn em thật nhiều) là ca khúc Mêhicô nổi tiếng nhất ở nước ngoài. Bản nhạc này cũng phá luôn kỷ lục về số lượng ghi âm, vì tính tới nay, bài đã có trên dưới hai ngàn phiên bản. Do vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi Mêhicô đã nhiều lần vinh danh tác giả bài hát là bà Consuelo Velasquez với những giải thưởng cao quý nhất.
Có hai điều khá thú vị đáng được RFI ghi nhận : thứ nhất, trong số các nghệ sĩ tên tuổi cùng thời, bà Consuelo Velasquez là gương mặt phụ nữ hiếm thấy chuyên soạn nhạc bolero. Thứ nhì, bà Consuelo sáng tác một ca khúc cực kỳ lãng mạn, hết sức trữ tình, cho dù bà chỉ mới ở cái tuổi dậy thì, ở cái thời trinh nữ chưa biết tình yêu chăn gối hay rung động xác thịt là gì.
Để so sánh, tác giả Consuelo Velasquez đã soạn nhạc phẩm Besame Mucho năm mới 15 tuổi, trong khi tác giả Carlos Eleta Almaran sáng tác bài hát Historia de un Amor (Chuyện tình yêu) năm ông 37 tuổi, còn Osvaldo Farres soạn ca khúc Quizas, Quizas ở tuổi 45.
Vậy thì điều gì đã khiến cho một thiếu nữ trong trắng trinh nguyên lại viết lên một ca khúc nồng nàn say đắm, lãng mạn đượm thắm đến như vậy. Nhạc phẩm Besame Mucho ra đời đầu những năm 1940, thời mà xã hội Mêhicô còn rất bảo thủ, nếu không nói là trọng nam khinh nữ. Thời mà hôn nhân là do cha mẹ sắp đặt, định đoạt. Thời mà các gia đình sùng đạo tạo ra những khuôn thước tư tưởng, mà người đàn bà khó thể nào mà xé rào vượt qua.
Trong cái khuôn khổ trật tự ấy, nơi mà người đàn bà được răn bảo từ thuở ấu thơ là nên tránh tiếp xúc với đàn ông, dục vọng là cám dỗ, nụ hôn là tội lỗi, bà Consuelo Velasquez đã dám dùng trí tưởng tượng để nói lên nỗi đam mê hừng hực bùng cháy qua biểu tượng nụ hôn. Sự táo bạo của bài hát nằm ở chỗ đó, do nó phản ánh cương vị của tác giả vào cái thời mà bà đang sống.
Giả sử như bà Consuelo Velasquez viết bài này vào những năm 1970, thời kỳ của Cách mạng tình dục và phong trào đòi nữ quyền, giải phóng người phụ nữ, thì chưa chắc gì bản nhạc sẽ có tiếng vang lớn đến như vậy. Chính cái bối cảnh khắt khe ràng buộc mới làm cho ý tứ của bài hát trở nên cực kỳ sexy, vô cùng táo bạo.
Nhạc phẩm Besame Mucho được viết tựa như một kịch bản phim đầy chi tiết. Một cặp tình nhân quấn quýt bên nhau như thể họ đang sống trọn bên nhau một đêm cuối cùng trước khi xa rời vĩnh viễn. Nghe bài hát người ta có thể hình dung ra một màn phim quay cận ảnh, nơi mà đôi tình nhân vòng tay ghì chặt, đắm đuối nhìn nhau, chết lịm ánh mắt.
Trong tiếng Tây Ban Nha, chữ hôn em "besame" được dùng dưới dạng động từ chứ không phải là danh từ, cái ý tưởng ngày mai sẽ chia ly càng lớn trong tâm trí, thì đôi tình nhân càng gần với nhau qua thể xác. Lối dùng ca từ tượng hình, để nói lên các động thái càng lúc càng cận kề ấy đánh vào trí tưởng tượng của người nghe, khiến họ phải hình dung ra cặp tình nhân này đang làm gì với nhau.
Cách dùng hình tượng cận ảnh chứ không phải là toàn cảnh, cho thấy sự chuyển động rất gần và vì rất gần nên không thể nào thấy hết. Bài hát chỉ nói đến một phần thôi, người nghe tự mình sẽ đoán ra hết tất cả những gì có thể xảy ra trong cái đêm định mệnh ấy.
Sinh năm 1916, mất năm 2005, Consuelo Velazquez thời còn trẻ đã tốt nghiệp nhạc viện thành phố Guadalajara. Bà vào nghề như một nghệ sĩ dương cầm, biểu diễn trong khuôn khổ Dàn nhạc giao hưởng quốc gia Mêhicô. Song song với sự nghiệp chơi đàn piano cổ điển, bà còn sáng tác hàng trăm ca khúc nhạc nhẹ, nhưng không có bài nào đạt đến tầm vóc kinh điển của bài Besame Mucho.
Bài hát này được ca sĩ Emilio Tuero ghi âm lần đầu tiên vào năm 1941, nhanh chóng trở thành một ca khúc ăn khách để rồi được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng. Riêng trong tiếng Việt, bản nhạc này có ít nhất là hai lời khác nhau.
Lời thứ nhất do tác giả Y Vân đặt cho bài hát với tựa đề ‘‘Đời như giấc mơ’’. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ với tựa “Yêu nhau đi”, và đây là phiên bản thông dụng nhất vì đa số các bài ghi âm tiếng Việt đều chọn lời của tác giả Trường Kỳ.
Nói rằng Besame Mucho là một bản nguyên tác của Consuelo Velasquez không hoàn toàn đúng. Bởi vì khi viết bản nhạc này ở tuổi 15, Consuelo đã vay mượn khá nhiều từ các bậc tiền bối. Khi bạn nghe kỹ, thì hai câu mở đầu bài Besame Mucho đã lấy lại một giai điệu của nhà soạn nhạc cổ điển Enrique Granados người Tây Ban Nha.
Trong những câu sau và nhất là trong phần điệp khúc, bà Consuelo Velasquez đã ngẫu hứng biến tấu theo câu mở đầu, thay đổi cấu trúc thành điệu bolero, dựa vào ca từ để mở ra một bối cảnh cụ thể và dẫn dắt câu chuyện trong bài hát. Tác giả Enrique Granados cùng với các nhà soạn nhạc Isaac Albéniz, Manuel de Falla và Joaquín Rodrigo, được mệnh danh là Tứ Quý, tiêu biểu cho sự khởi sắc của dòng nhạc cổ điển Tây Ban Nha cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Trong các kiệt tác của nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha, có tác phẩm mang tựa đề là Goyescas, một tổ khúc gồm 6 điệu đàn dương cầm gợi hứng từ thế giới hội họa của Francisco Goya. Tổ khúc này còn có tiểu tựa : Đôi tim non trẻ yêu đương (Los majos enamorados).
Trong sáu giai điệu này, có khúc đàn số 5 với tựa đề là "Lời thở than hay Thiếu nữ và Cánh chim Họa mi" (Quejas, o La Maja y el Ruiseñor), nổi tiếng là rất khó đối với người chơi đàn, do các nốt nhạc bay bổng thường được viết liền nhau, buộc người độc tấu dương cầm phải vuốt cùng lúc nhiều phím đàn, để tạo ra tiếng hót thánh thót của chim họa mi.
Tác giả Enrique Granados viết khúc đàn này để tặng cho vợ (bà Ampero). Tựa như bàn tay của một nhà kim hoàn mài dũa trau chuốt một viên ngọc, ông Enrique Granados đã chạm trỗ, khắc họa nhiều chi tiết vào giai điệu, để rồi qua đó, ông gửi gấm tất cả những cảm xúc tình tứ sâu lắng nhất.
Khi vay mượn lại những câu đầu của khúc đàn số 5, bà Consuelo Velasquez giữ lại tiết tấu tha thiết của giai điệu, cũng như hình tượng của đôi tình nhân trong cái thuở yêu thương say đắm ban đầu. Từ giai điệu Tiếng chim Họa mi, bà ứng tấu thành một bản Dạ khúc cho đôi Tình nhân.
Vượt thời gian, bài hát Besame Mucho đã đi vào huyền thoại. Vượt không gian, bản nhạc trữ tình này nói lên được một điều mà tuổi trẻ ở nơi nào cũng dạt dào khát khao : Sống như thể ngày mai ta chết. Yêu cho đến tàn đêm chấm hết.