Posts tonen met het label biến đổi khí hậu. Alle posts tonen
Posts tonen met het label biến đổi khí hậu. Alle posts tonen

woensdag 2 december 2015

COP 21 : Việt Nam kêu gọi quốc tế giúp ứng phó với biến đổi khí hậu

COP 21 : Việt Nam kêu gọi quốc tế giúp ứng phó với biến đổi khí hậu

mediaVựa lúa đồng bằng sông Cửu Long đang bị biến đổi khí hậu đe dọa.DR
Hôm qua 30/11/2015, bên lề Thượng đỉnh khí hậu toàn cầu COP 21 tại trung tâm hội nghị Le Bourget, ngoại ô Paris, Việt Nam đã tổ chức một đối thoại cấp cao, với các đối tác quốc tế, nhằm kêu gọi hỗ trợ và hợp tác đối phó với nguy cơ nước biển dâng cao đe dọa đồng bằng Cửu Long, một trong các vùng châu thổ có nguy cơ bị biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng chủ trì cuộc đối thoại cấp cao. Phiên họp có sự tham gia của bà Laura Tusk, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte, cùng nhiều đại diện quốc gia, định chế tài trợ quan trọng cho Việt Nam như chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP, Cơ quan hợp tác phát triển Hàn Quốc Koica, Pháp, Úc, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Quỹ môi trường thế giới GEF Nhật Bản.
Phiên họp kết thúc với bản thông báo chung : « Việt Nam kêu gọi các đối tác quốc tế chung tay ứng phó với những thách thức của biến đổi khí hậu tại châu thổ Mekong » (Viet Nam calls in international Partners to join hands to respond to challenges of climate change in the Mekong Delta).
Đồng bằng Cửu Long là một khu vực quan trọng, nơi sinh sống của gần 20 triệu dân cư và nguồn cung cấp lương thực quan trọng không chỉ đối với Việt Nam, mà còn là một cơ sở của an ninh lương thực thế giới : Gạo đồng bằng Cửu Long xuất khẩu chiếm khoảng một phần năm tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Khu vực này đang bị đe dọa bởi nguy cơ kép : mực nước biển dâng cao và nạn xây dựng đập thủy điện trên thượng nguồn sông MêKông.
Phát biểu tại cuộc đối thoại, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng « trân trọng cảm ơn chính phủ Hà Lan, Ngân hàng thế giới và nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đã dành nhiều hỗ trợ, nguồn lực quý báu cho Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng ». Thủ tướng Việt Nam khẳng định : « Trên thực tế nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long, đang được bổ sung, điều chỉnh, theo hướng cơ bản của Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long, đã được xây dựng trong khuôn khổ đối tác chiến lược để thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước, giữa hai nước Việt Nam và Hà Lan ».
Ông Nguyễn Tấn Dũng đưa ra một loạt ví dụ cụ thể về các phương hướng hoạt động cần thiết để bảo đảm định hướng « tổng hợp và bền vững » của dự án phát triển đồng bằng Cửu Long, như việc thích ứng với nước biển dâng cao được « gắn kết với quá trình (…) chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững », « tích hợp quản lý rủi ro thiên tai, và thích ứng với biến đổi khí hậu trong quy hoạch phát triển đô thị và sử dụng đất, phát triển hệ thống các khu dân cư (…) theo hướng thân thiện với môi trường sinh thái, giảm dần sử dụng các nguyên liệu hóa thạch, nâng cao năng lực dự báo (…) ». Lãnh đạo Việt Nam hy vọng tiếp tục nhận được « các đề xuất giải pháp, phương thức hợp tác » từ quốc tế.
Hà Lan là một quốc gia đứng hàng đầu thế giới trong lĩnh vực đối phó với nước biển. Trao đổi với đồng nhiệm Nguyễn Tấn Dũng trong phiên đối thoại, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte khẳng định nguy cơ nước biển dâng cao đe dọa nhiều quốc gia ven bờ Thái Bình Dương và nhiều nơi khác, trong đó 18 triệu cư dân đồng bằng Mêkông Việt Nam đặc biệt bị ảnh hưởng nặng nề. Về đồng bằng Cửu Long, Thủ tướng Hà Lan lưu ý ba điểm chính, trong đó có việc « Việt Nam cần được chuẩn bị để sử dụng thực sự hiệu quả các quỹ hỗ trợ », và đặc biệt hợp tác với « lĩnh vực tư nhân » là rất căn bản.
Về quan hệ đối tác Việt Nam – Hà Lan tại đồng bằng Cửu Long, ông Jake Brunner - chuyên gia về môi trường và xã hội dân sự, đại diện của IUCN (Liên minh quốc tế bảo vệ tự nhiên) tại Việt Nam– nhấn mạnh « có rất nhiều vấn đề Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Hà Lan, bao gồm cải cách chính trị, tăng cường sự tham gia của công chúng, công nghệ mới (…). Tại Việt Nam, thách thức lớn nhất là làm thế nào để các bộ, ngành, địa phương khác nhau hợp tác vì lợi ích chung (…) » (bài « Quy hoạch chiến lược vùng châu thổ : kinh nghiệm Hà Lan », đặc san « Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu », Tạp chí Vietnam Investistment Review, tháng 11/2015).
Hợp tác Pháp – Việt về đồng bằng Cửu Long
Về quan hệ hợp tác Việt – Pháp trong lĩnh vực này, trả lời phỏng vấn RFI, bà Anne Marie Descote, Tổng giám đốc đặc trách Toàn cầu hóa phát triển và đối tác (Bộ Ngoại giao Pháp), cho biết :
Bà Anne Marie Descote (Paris) 01/12/2015 - Thanh Phương Nghe
« Tôi có mặt tại đây hôm nay để muốn nói với chính quyền Việt Nam rằng chúng tôi rất quan tâm đến việc hợp tác với Việt Nam và đến những gì chính quyền Việt Nam đã làm liên quan đến các vấn đề rất đặc thù của vùng châu thổ sông Mêkông. Tôi cho rằng việc tổ chức hội nghị này là một ý tưởng tuyệt vời thời điểm diễn ra Hội nghị COP 21.
Trong các tài liệu mà chúng tôi đã được thấy và trong phát biểu của Thủ tướng (Việt Nam), thì Mêkông thực sự là nơi có nhiều vấn đề được đặt ra cho Việt Nam và cho cả toàn vùng. Đó là những vấn đề đặc thù, đó là những nguy cơ tác động của khí hậu đến đất đai, thực vật và dân cư và đến sự phát triển, đến tình trạng nghèo đói và cả vấn đề an toàn cho các cư dân do tình trạng lũ lụt. 
Trong khuôn khổ đó, chúng tôi đã rất tích cực cùng với Cơ quan Phát triển Pháp, hoạt động bên cạnh các nhà tài trợ quốc tế, đặc biệt như Ngân hàng thế giới, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản Jika, cơ quan hợp tác phát triển Hàn Quốc Koika ...và nhiều đối tác khác nữa. Chúng tôi cũng nghe nói Hà Lan cũng hiện diện nhiều ở đây.
Chúng tôi rất quan tâm và ủng hộ cách tiếp cận mà chính quyền Việt Nam đã chọn lựa. Đó là cách tiếp cận tổng thể, cố gắng tính đến những vấn đề một cách toàn bộ. Tổng thể không chỉ đơn giản là có sự can thiệp, quyết định của chính quyền trung ương mà còn cả với chính quyền địa phương, với các tổ chức xã hội dân sự và quan tâm lo lắng đến vấn đề của người dân ».
Đại diện Bộ Ngoại giao Pháp cho biết một số dự án chính của Pháp để bảo vệ châu thổ sông Mêkông chống biến đổi khí hậu
« Có nhiều bên tham gia vào công việc này. Về nghiên cứu chuẩn bị thì có Viện nghiên cứu phát triển. Sau đó đến việc triển khai dự án, có Cơ quan phát triển Pháp và công ty Rhône của Nhà nước, chuyên về các vấn đề về quản lý các dòng sông. Giờ đây Cơ quan phát triển Pháp dự kiến cung cấp tài chính cho các dự án môi sinh, các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu đã được thành phố Cần Thơ triển khai, qua chương trình phủ xanh bờ sông chảy qua thành phố, nhằm phòng chống lụt. Ngoài ra còn có một dự án khác trồng lại rừng sú vẹt dọc vùng duyên hải tỉnh Kiên Giang để chống lại tình trạng sói mòn đất đai gây hại cho sản xuất lúa gạo ».
Bà Anne Marie Descote cho biết rõ hơn về một số đóng góp quan trọng của công ty Rhônes, của Nhà nước Pháp :
« Tôi nghĩ là công ty Rhône từng quản lý toàn bộ vùng hạ lưu sông Rhône. Ở Pháp đây là một trong những con sông lớn có nhiều nhánh cũng như có nhiều cửa sông đổ ra Địa Trung Hải. Vì thế công ty này có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề quản lý lũ lụt và lưu lượng dòng chảy của sông. Cơ quan phát triển Pháp nắm và hiểu rõ về các nước mà cơ quan đã tham gia hoạt động. Cơ quan có thể giúp Việt Nam các bài học đã tích lũy ở nhiều nước khác. Giờ đây Cơ quan phát triển Pháp dành hơn 50% dự án thông qua nguồn tài trợ, quyền góp và vốn vay cho các dự án liên quanđến biến đổi khí hậu. Đây là một lĩnh vực mà Cơ quan phát triển Pháp có rất nhiều hiểu biết, kinh nghiệm ».
Ý nghĩa của Đối thoại quốc tế về đồng bằng Cửu Long bên lề COP 21:
« Tôi cho rằng COP 21 là dịp để thương lượng. Điều rất cần là đưa ra tất cả những vấn đề hiện trong dịp này. COP 21 cũng là nơi để đưa ra những giải pháp. Tổng thống Pháp cũng như nhiều lãnh đạo Nhà nước khác đã nhấn mạnh : Nhân loại đang đứng trước những vấn đề nghiêm trọng, cần phải khẩn cấp hành động, nhưng cũng có những giải pháp. 
Có nhiều giải pháp tốt, như ta thấy qua ví dụ Việt Nam. Tôi nghĩ rằng cần phải tập trung vào những ví dụ cụ thể đã và đang tiến hành tốt đó, để giúp cho các vùng khác cũng được thừa hưởng ».

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20151201-cop-21-viet-nam-keu-goi-quoc-te-giup-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau


dinsdag 10 november 2015

Biến đổi khí hậu đe dọa nhiều thành phố lớn ở Châu Á, kể cả Việt Nam

Biến đổi khí hậu đe dọa nhiều thành phố lớn ở Châu Á, kể cả Việt Nam

Biến đổi khí hậu sẽ làm mực nước dâng cao, đe doạ nhiều thành phố lớn ở Á Châu, kể cả ở Việt Nam.
Biến đổi khí hậu sẽ làm mực nước dâng cao, đe doạ nhiều thành phố lớn ở Á Châu, kể cả ở Việt Nam.

Nhiều khu vực rộng lớn của Tokyo, Osaka, Shanghai, New York sẽ bị ngập dưới nước dù cho một hội nghị cấp cao về khí hậu có giới hạn sự tăng nhiệt của địa cầu ở mức 2 độ C.
Đó là tuyên bố của nhiều nhà khoa học hôm qua tiếp theo sau một cuộc khảo sát do AFP tường thuật hôm nay.
Nhiệt độ trái đất tăng lên 2 độ C, tức 3,6 độ Fahrenheit, sẽ khiến cho những vùng đất rộng lớn nơi sinh cư của 280 triệu người, bị ngập dưới nước.

Nhiệt độ địa cầu tăng lên 4 độ C, là xu hướng hiện nay nếu không có biện pháp ngăn chận, thì diện tích đất bị ngập dưới nước sẽ tác động tới hơn 600 triệu người.
Riêng tại thủ đô Nhật Bản, 7,5 triệu người, tức 30% cư dân Tokyo, sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển dâng cao trong tình huống nhiệt độ địa cầu tăng 4 độ C.
Theo cuộc nghiên cứu này thì nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Trung Quốc. Hiện nay khoảng 145 triệu người sinh sống tại các thành phố Trung Quốc và các vùng duyên hải có nguy cơ bị chìm trong đại dương nếu nhiệt độ quả địa cầu tăng lên 4 độ C.
4 trong số 10 thành phố lớn bị tác động nghiêm trọng nhất là của Trung Quốc: Thượng Hải, Thiên Tân, Hong Kong, và Đài Châu sẽ bị ngập dưới nước.
Bản tin của AFP nói rằng Ấn Độ, Việt Nam và Bangladesh cũng không khá hơn. Theo trang mạng Rediff.com, Hà Nội sẽ nằm trong số các thành phố bị ngập dưới nước cùng với các thành phố Calcutta và Mumbai của Ấn Độ, và Khulna của Bangladesh.
Châu Á là quê hương của 75% dân cư mà ngày nay đang sinh sống tại các khu vực sẽ không còn được coi là đất liền trong tương lai với tác động của biến đổi khí hậu.
Mục tiêu của một hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc sẽ diễn ra ở Paris từ ngày 30/11 tới ngày 11/12 là giới hạn mức tăng của nhiệt độ quả địa cầu ở mức 2 độ C trên các mức của thời kỳ tiền công nghiệp, hội nghị này sẽ quy tụ 195 quốc gia.
Nguồn Japantimes, Rediff

http://www.voatiengviet.com/content/bien-dong-khi-hau-de-doa-nhieu-thanh-pho-lon-o-chau-a-ke-ca-vietnam/3049898.html

vrijdag 10 oktober 2014

Vệ tinh Mỹ giúp hạ lưu sông Mekong ứng phó với biến đổi khí hậu

Thứ sáu, 10/10/2014

Tin tức / Thế giới / Châu Á

Vệ tinh Mỹ giúp hạ lưu sông Mekong ứng phó với biến đổi khí hậu

Một chiếc thuyền trên sông Mekong.
Một chiếc thuyền trên sông Mekong.
Hình ảnh chụp bằng vệ tinh của Hoa Kỳ thuộc cơ quan Không gian NASA dự kiến sẽ sớm bắt đầu giúp khoảng 60 triệu người sống trong vùng châu thổ hạ lưu sông Mekong ở Đông Nam Á ứng phó với các thiên tai và những khó khăn về biến đổi khí hậu. Dự án này thêm vào các chương trình hiện hữu của NASA vốn đã giúp các cộng đồng ở Nam Mỹ, Châu Phi và Nam Á. Thông tín viên VOA Ron Corben tại Bangkok ghi nhận chi tiết trong bài tường thuật sau đây.
Dự án 5 năm do Hoa Kỳ đứng đầu quy tụ các quốc gia ở vùng hạ lưu sông Mekong là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, vào lúc khu vực này đứng trước những thách thức ngày càng nhiều do tác động của tình trạng biến đổi khí hậu, nhất là các mô hình khí hậu ngày càng khắc nghiệt.
Các nhà bảo vệ môi trường nói những thách thức này bao gồm các vấn đề về việc sử dụng nước, phá rừng, lụt lội và giảm thiểu thiên tai.
Văn phòng Giảm thiểu Rủi ro Thiên tai của Liên Hiệp Quốc, còn gọi tắt là UNISDR, nói chi phí đang gia tăng do các thiên tai và kể từ năm 2000 đến năm 2012 tổn phí về thiệt hại trên thế giới do các tai hoạ có liên quan đến khí hậu gây ra lên tới 1,7 tỷ đôla, gây thiệt hại cho 1,2 triệu sinh mạng và tác động đến 2,9 tỷ người.
Trong một cố gắng cải tiến thông tin cho các cộng đồng bị nguy cơ, Cơ quan Không gian và Hàng không Hoa Kỷ NASA, với sự hỗ trợ của cơ quan phát triển Hoa Kỳ USAID sẽ cùng làm việc với các đối tác ở địa phương, trong đó có Trung tâm Chuẩn bị Thiên tai Á châu có trụ sở ở Thái Lan, còn gọi tắt là ADPC, để cung cấp hình ảnh bằng vệ tinh cho các chính phủ trong khu vực.
Giới chức phụ trách dự án ADPC, bà Gabrielle Iglesias, nói dự án nhắm mục đích cung cấp thông tin về các điều kiện thay đổi cho các cộng đồng và giúp họ sử dụng thông tin đó một cách hữu hiệu.
“Dự án này sẽ giải quyết cả hai bước ấy – phát triển các công cụ để xử lý thông tin, các dữ liệu thu thập bằng vệ tinh và sau đó nâng cao khả năng cho các nhà thực hiện quyết định để hiểu rõ và diễn dịch kết quả phân tích hầu sử dụng trong việc thực hiện quyết định đối với việc sử dụng đất đai, bảo vệ và thích nghi môi trường.”
Các giới chức cấp cao của USAID nói dữ liệu sẽ được chuyển cho các nhà khoa học, các đại diện chính phủ, các nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên và các chuyên gia đáp ứng thiên tai. Trong một phát biểu với đài VOA, các giới chức nói mục đích là nhắm mục tiêu hữu hiệu hơn vào những khu vực khẩn thiết nhất sau các thiên tai.
Chi phí cho việc thu thập hình ảnh bằng vệ tinh như thế đã giảm mạnh trong những năm gần đây, khiến thông tin dễ tiếp cận hơn. Các dữ liệu như vậy rất có giá trị nhất là ngay sau khi xảy ra các thiên tai. Năm 2008, cơn bão Nargis đập vào vùng châu thổ sống Irrawaddy ở Myanmar, tức Miến Điện, đã làm thiệt mạng hơn 130.000 người.
Bà Iglesias của cơ quan ADPC nói thảm kịch cơn bão Nargis nêu bật sự cần thiết phải có thêm thông tin vào những thời điểm cấp bách.
“Một khía cạnh quan trọng khác là cải thiện chính sự sẵn sàng đối phó với thiên tai. Trong trường hợp cơn bão Nargis chẳng hạn ở Myanmar, một phần của vấn đề là phải làm gì khi có được thông tin là cơn bão đang hướng về một khu vực cụ thể của Myanmar. Do đó vấn đề lúc đó là sơ tán người đi đâu và tình trạng thiếu các con đường để sơ tán đến những chỗ tạm trú…”
Hình ảnh chụp bằng vệ tinh, các dữ liệu địa không và bản đồ sẽ hỗ trợ trong các khu vực từ quản lý nước, hoạch định việc sử dụng đất đai, giảm thiểu rủi ro thiên tai, phát triển cơ sở hạ tầng và quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Dữ liệu thu thập bằng vệ tinh loại như thế vốn đã được áp dụng ở Bangladesh, Tanzania, El Salvador, Guatemala, và Kenya để đáp ứng các vấn đề từ mô hình nước mưa, các bệnh lây truyền qua đường bay như sốt rét, sự lây lan của các loài tảo, và bảo vệ rừng và dã sinh.
Các giới chức của USAID nói vùng Hạ lưu sông Mekong cũng đang đối mặt với những thách thức phát triển ngày càng phức tạp, và nói thêm rằng điều quan trọng là dựa vào tiềm năng đầy đủ của khoa học và kỹ thuật để thực hiện các quyết định.

http://www.voatiengviet.com/content/ve-tinh-my-giup-ha-luu-song-mekong-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau/2476403.html

vrijdag 4 april 2014

Nhóm GIEC (biến đổi khí hậu) chỉnh lại dự báo về mức tan băng Himalaya

Thứ năm 03 Tháng Tư 2014

Nhóm GIEC chỉnh lại dự báo về mức tan bang Himalaya

Dãy Hy Mã Lạp Sơn nhìn từ trạm không gian quốc tế, cùng với cao nguyên Tây Tạng.
Dãy Hy Mã Lạp Sơn nhìn từ trạm không gian quốc tế, cùng với cao nguyên Tây Tạng.
(Photo : NASA)

Trọng Thành
GIEC - Nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu - là một tổ chức khoa học rất có uy tín. Tuy nhiên, năm 2007 GIEC từng đưa ra một dự báo sai nghiêm trọng về khả năng băng trên dãy Himalaya sẽ tan hoàn toàn vào năm 2035. Theo AFP ngày 31/03/2014, trong báo cáo mới đây, GIEC đã đưa ra dự báo mới thận trọng hơn rất nhiều, theo đó, Himalaya sẽ mất đến 45% lượng băng từ đây đến năm 2100, nếu nhiệt độ nóng lên ở mức trung bình.


Cuối tháng 3/2014, GIEC vừa đưa ra các cảnh báo về những tác động vô cùng nghiêm trọng của việc trái đất nóng lên đối với nhân loại. Trong báo cáo này, GIEC cho hay so với năm 2006, băng Himalaya sẽ mất 45%, nếu nhiệt độ tăng khoảng 2,5°C và mất đến 68%, nếu không có nỗ lực nào để giới hạn việc trái đất bị hâm nóng.
Lãnh đạo GIEC, ông Rajendra Pachauri, thừa nhận « sai lầm đáng tiếc » này trong bản báo cáo thứ tư của GIEC, báo cáo đã mang lại cho nhóm chuyên gia này giải Nobel hòa bình cùng với Phó tổng thống Mỹ Al Gore. Lãnh đạo GIEC đã nhiều lần bị chỉ trích và bị kêu gọi từ chức về một số sai lầm, trong đó có dự đoán sai về mức tan băng ở Himalaya nói trên.
Các chuyên gia GIEC công nhận « các dự báo nói trên đáng tin cậy hơn đánh giá sai lầm trước đó về việc băng sẽ biến mất hoàn toàn ở Himalaya trước năm 2035 ».
Trong báo cáo 2007, còn có một sai lầm khác, được phe chỉ trích (có quan điểm nghi ngờ việc hoạt động của con người tác động mạnh đến biến đổi khí hậu) triệt để khai thác. Đó là nhận định 55% diện tích Hà Lan nằm dưới mặt biển thay vì 26%. Sai lầm này được GIEC thừa nhận năm 2010. Cũng năm này, một cuộc điều tra của một nhóm các nhà khoa học, đến từ 15 quốc gia, được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thúc đẩy, khẳng định các sai lầm nói trên của GIEC không làm mất đi mức độ tin cậy nói chung của các nhận định của GIEC.
Tuy nhiên, GIEC cũng được khuyến cáo cần « tăng cường các phương pháp làm việc để đáp ứng đòi hỏi đánh giá được những biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp hơn ».
GIEC, định chế chuyên gia liên chính phủ của Liên Hiệp Quốc, có vai trò khai thác hàng ngàn vạn ấn bản khoa học đã có, để thẩm định những hiểu biết mới nhất, nhằm cung cấp cho các nhà lãnh đạo chính trị một nhận thức tổng hợp về biến đổi khí hậu. Định chế GIEC không có trách nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cũng như cung cấp các tư vấn.
Báo cáo thứ 4 năm 2007 của GIEC được sử dụng làm cơ sở cho các đàm phán tại thượng đỉnh khí hậu 2009 (Copenhagen). Báo cáo thứ 5 của GIEC, mang tên « Biến đổi khí hậu 2014 : các tác động, thích nghi và mức độ tổn thương », gồm ba phần, mà phần ba, tức phần cuối cùng dự kiến sẽ được công bố vào cuối tháng 4 này. Báo cáo đầy đủ nhất trong lĩnh vực biến đổi khí hậu này là kết quả của một lao động khổng lồ dựa trên cơ sở phân tích 12.000 ấn phẩm khoa học.
Dựa trên báo cáo của GIEC, cộng đồng quốc tế hy vọng sẽ đạt được tại Hội nghị thượng đỉnh 2015 tại Paris một thỏa thuận về các chế tài để giới hạn mức độ nhiệt độ tăng của Trái Đất ở mức 2°C, nếu không các thảm họa thiên nhiên vô cùng khủng khiếp sẽ xẩy ra.
tags: Himalaya - Khí hậu - Môi trường - Quốc tế - Theo dòng thời sự

http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20140403-nhom-giec-chinh-lai-du-bao-ve-muc-tan-bang-himalaya

dinsdag 19 november 2013

Than đá, nguồn năng lượng của... tương lai

Thứ ba 19 Tháng Mười Một 2013
Than đá, nguồn năng lượng của tương lai
Mỏ than đá lộ thiên "Vereinigtes Schleenhain" gần nhà máy nhiệt điện Bohlen-Lippendorf - REUTERS /Michaela Rehle
Mỏ than đá lộ thiên "Vereinigtes Schleenhain" gần nhà máy nhiệt điện Bohlen-Lippendorf - REUTERS /Michaela Rehle
Thanh Hà
Dù bị coi là nguồn năng lượng gây ô nhiễm nhất, tạo ra đến 44 % khí carbon nhưng lại rẻ cho nên than đá đang trở thành nguồn năng lượng hàng đầu của thế giới. Nhu cầu tiêu thụ sẽ tăng thêm 25 % từ nay đến cuối năm 2020. Thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima vô hình chung đã giúp cho công nghiệp than đá thực sự hồi sinh.
Vào lúc hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Vacxava với sự tham dự của 190 quốc gia trên thế giới, thì cùng lúc, cũng tại thủ đô Ba Lan, Hiệp hội Than đá Thế giới WCA tổ chức hội nghị trong hai ngày 18 và 19/11/2013.
Sự trùng hợp đó bị giới bảo vệ môi trường coi là một hành động khiêu khích khi biết rằng than đá là nguồn thải khí CO2 nghiêm trọng nhất, làm hâm nóng trái đất. Tuy vậy, không phải tình cờ mà hội nghị của các nhà sản xuất và tiêu thụ than đá lại được tổ chức ngay tại Ba Lan : Ba Lan sản xuất 90% lượng điện từ các nhà máy chạy bằng than.
Theo tổ chức WCA, 41 % lượng điện của thế giới được sản xuất từ than đá. Còn theo Tổ chức Năng lượng Quốc tế, nhu cầu tiêu thụ của toàn cầu đối với nguyên liệu này sẽ tăng thêm ít nhất là 17 % vào năm 2035. Từ nhiều năm qua Trung Quốc và Ấn Độ là hai động cơ chính kéo ngành công nghệ than đi lên.
Thế nhưng gần đây, đã có thêm nhiều quốc gia đang trông chờ vào nguồn năng lượng này để phát triển kinh tế. Điển hình là Đức : Berlin đang trên đường từ bỏ điện hạt nhân, do vậy Đức bắt buộc phải đẩy mạnh các nhà máy điện sử dụng than đá.
Mỏ than và chính sách năng lượng của Đức
Hiện tại đã có 8 trên tổng số 17 nhà máy điện hạt nhân ở Đức đã đóng cửa. Berlin tuy đã đẩy mạnh các chương trình phát triển năng lượng tái tạo, nhưng các nguồn năng lượng gió và năng lượng mặt trời (tương đương với 25 % nhu cầu chung về năng lượng của toàn quốc) chưa đủ sức để đáp ứng nhu cầu điện lực của một cường quốc công nghiệp như Đức. 45 % năng lượng điện của Đức đến từ than đá.
Chính vì vậy mà chính phủ Đức đang ráo riết đẩy mạnh các dự án khai thác mỏ than. Cụ thể hơn là mỏ Garzweiler gần thành phố Köln, miền tây nước Đức. Đây là một mỏ than lộ thiên, được dự trù hoạt động ít nhất là đến năm 2045. Tại đây mỗi ngày 350.000 m3 than đá được cho ra lò. Năm ngoái, bang Nordrhein-Westfalen sản xuất hơn 100 tấn triệu tấn than. Tuy nhiên dự án khai thác mỏ Garzweiler đã chịu nhiều chỉ trích, người dân địa phương phải trả giá đắt.
Theo tường thuật của thông tín viên đài RFI tại Đức, Pascal Thibaut, các ngôi làng chung quanh mỏ than nói trên đang trở thành những ngôi làng ma. Nhà cửa bị bỏ hoang, đổ nát. Hầu hết dân chúng trong vùng đã di tản đi nơi khác. Chỉ còn lại một vài người cố trụ lại.
Một vài chiếc xe đỗ bên vệ đường, cho thấy ngôi làng đó vẫn có người ở nhưng một ông nông nói với thông tín viên RFI ông trồng khoai rồi thì biết bán cho ai đây.
Ở cuối làng là những chiếc máy khổng lồ đang nhả than hút lên từ lòng đất. Những đoàn xe tải nối đuôi nhau để chuyển khối than đó về nhà máy điện gần sát cạnh mỏ Garzweiler.
Vấn đề đặt ra là cứ mỗi tấn than được khai thác như vậy để phục vụ cho chu cầu điện lực thì lại tạo ra một tấn khí thải carbon. Băn khoan về tác động đối với môi trường không chỉ được người dân địa phương quan tâm mà đó còn là trăn trở của nhiều nhà bảo vệ môi trường khác tại Đức. Như là trường hợp của Astride đang đấu tranh chống lại một dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Hambourg miền Bắc nước Đức. Chính quyền muốn xóa sổ một công viên của thành phố để xây dựng nhà máy. Astride cho biết :
« Đối với tôi và những nhà bảo vệ môi trường khác, bảo vệ khu công viên này đồng nghĩa với việc hoãn lại dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Câu hỏi đặt ra là Đức muốn gì ? Phải chăng là nước Đức đang muốn thải ra thêm mỗi năm 9 triệu tấn carbon. Thải ra thêm 9 tấn CO2 hay tránh được điều đó : đứng về phương diện môi trường thì khác biệt rất quan trọng ».
Còn nhìn từ góc độ của tập đoàn khai thác than RWE thì khác. Điều quan trọng ở đây là Đức cần xây dựng những nhà máy nhiệt điện đời mới, ít gây ô nhiềm hơn :
« Hãy nhìn vào thực tế : ngành năng lượng hạt ngân đang bị khai tử. Hơn thế nữa nhiều nhà máy nhiệt điện than đá đang sắp phải đóng cửa. Đức bắt buộc phải xây dựng hàng loạt các cơ sở mới để hỗ trợ cho các nguồn năng lượng tái tạo ».
Tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace không hề tin vào các nhà máy sử dụng « than sạch » :
« Thực ra tất cả những lập luận cho rằng thế hệ các nhà máy chạy bằng than đang được hình thành sẽ ít gây ô nhiễm cho môi trường đều là một sự lừa đảo, để trấn an dư luận mà thôi. Cần biết rằng, một nhà máy điện lực sử dụng than đá sẽ hoạt động trong vòng ít nhất là 50 năm. Điều đó có nghĩa là trong nửa thế kỷ nữa chúng ta sẽ sống trong một môi trường ô nhiễm. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên tập trung nỗ lực để phát huy các nhà máy điện lực chạy bằng ga hay là phát triển năng lượng gió thì hơn ».
Đối với chính quyền bang Nordrhein-Westfalen, nơi mà hầu hết các mỏ than khác đã bị đóng cửa thì riêng mỏ Garzweiler được coi như là một ngõ thoát. Bài toán đặt ra là phải lựa chọn giữa một bên là phát triển công nghiệp khai thác than đá để tạo công việc làm cho người dân, và bên kia là mục tiêu bảo vệ môi trường.
Tính từ năm 1990 đến 20111, Đức đã giảm được 25 % lượng thải khí CO2 thế nhưng kể từ khi thủ tướng Merkel thông báo từng bước đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân, thì lượng khí carbon mà Đức thải ra vào năm 2012 đã tăng thêm 1,6 % so với năm 2011. Năm ngoái nhập khẩu than đá của Đức cũng đã tăng hơn 20 % !
Theo nghiên cứu của tổ chức bảo vệ y tế và môi truờng HEAL trụ sở tại Bruxelles – Bỉ, thải khí carbon từ các nhà máy nhiện điện sủ dụng than đá là nguyên nhân gây tử vong cho 20.000 người trong Liên Hiệp Châu Âu hàng năm.
Đức đã vậy còn những nơi khác thì sao ?
Nếu như tại Đức năng lượng than phải tuân thủ một số các chuẩn mực về môi trường và an toàn, thì ngược lại tại hai quốc gia hiện đang tiêu thụ than nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, không mấy ai quan tâm đến những vấn đề đó.
Tại Jharia, miền đông bắc Ấn Độ, một dân cư sống sát cạnh một mỏ than, gia đình ông lúc nào cũng bị hun khói và có cảm tưởng như sống trên một cái lò lửa khổng lồ. Ông cho biết :
« Từ nhiều thế hệ qua gia đình tôi sinh sống và làm việc tại mỏ than này. Lửa cháy ngày đêm. Nhất là khi đêm về, lửa cháy sáng tới nỗi chúng tôi tưởng như là ban ngày. Khi nào lửa bùng lên lớn quá, thì gia đình tôi phải di tản. Hãy nhìn kìa, ngọn lửa đằng kia đang cháy lớn. Ở đây đã có rất nhiều người chết cháy, số khác thì bệnh hoạn vì hít thở quá nhiều khí độc. Chẳng có một ai tới đây kiểm tra về chất lượng không khí, về các điều kiện vệ sinh và an toàn gì cả ».
60 % dân cư chung quanh mỏ than ở Jharia bị bệnh về đường hô hấp do khí thải carbon và bụi bậm. Mãi tới gần đây chính phủ mới thông báo dự trù di tản 400.000 người trong vòng 2 thập niên sắp tới.
Từ năm 2000 tới nay, sản lượng than đá của Ấn Độ đã tăng thêm 45 %. Để so sanh thì sản xuất của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi trong cùng thời kỳ.
Mông Cổ, nguồn cung cấp của Trung Quốc
Trung Quốc vừa là nguồn sản xuất, vừa là nguồn tiêu thụ than đá số 1 của thế giới. Gần một nửa lượng than sản xuất ra trên toàn cầu chỉ để phục vụ ông khổng lồ châu Á này. Mông Cổ là một trong những nguồn cung cấp than đá quan trọng nhất của Trung Quốc.
Với một diện tích rộng gấp 3 lần nước Pháp, Mông Cổ có một lượng dự trữ than đủ để cung ứng cho nước láng giềng Trung Quốc trong trong 50 năm tới. Than đá chiếm đến 80 % tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia này và cũng nhờ vào nguồn nguyên liệu đó mà GDP của Mông Cổ tăng 15 % vào năm 2012. Khu vực khai thác lớn nhất là Oyu Tolgoi nằm trong vùng sa mạc Gobi, cách thủ đô Oulan Bator khoảng 1 giờ bay là địa điểm đã được rất nhiều các doanh nhân Trung Quốc tới thăm viếng trong những năm gần đây.
Ngoài ra thì vùng Talvan Tolgoi – 5 ngọn đồi - còn được coi là nơi sản xuất than có chất lượng cao nhất thế giới. Cách nay hai năm chính quyền Oulan Bator cho phép một liên doanh Mông Cổ- Nga cùng khai thác. Giám đốc điều hành nhà máy này cho biết :
« Năm ngoái chúng tôi sản xuất một triệu tấn than đá, năm nay khối lượng đó được nhân lên gấp ba và chỉ tiêu đặt ra cho năm 2014 là sáu triệu tấn. Chúng tôi kinh doanh rất tốt. Khách hàng quan trọng nhất là Trung Quốc. Mông Cổ xuất khẩu than đá sang Trung Quốc để đổi lấy lương thực và vật liệu xây dựng. »
Mặt trái của chiếc mề đay
Đối với người dân địa phương, tìm được một việc làm nhờ ngành khai thác khoáng mỏ là chìa khóa giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo. Thế nhưng đối với những thành phần sống nhờ chăn nuôi, thì họ đang trông thấy những vùng thảo nguyên mênh mông của Mông Cổ bị tàn phá để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp. Một nhà chăn nuôi mô tả về những thay đổi trên quê ông kể từ khi các tập đoàn khai thác than đá đến hoạt động :
« Ngày càng có nhiều xe vận tải đến đào phá đường đất, họ phá hủy hết tất cả các vùng thảo nguyên của chúng tôi. Chúng tôi không còn đất để chăn nuôi. Trước khi mà các hoạt động khai thác than đá ở đây được phát triển thì đã có nhiều nhà chăn nuôi sống trong vùng.
Bây giờ họ chuyển đi nơi khác hết cả vì không còn đất để sống. Đáng quan ngại hơn cả là khi mà các tập đoàn Trung Quốc đến đây làm ăn, họ đem theo nhân công Trung Quốc. Lương công nhân Trung Quốc rẻ hơn nhiều so với lương trả cho người dân Mông Cổ. Hậu quả là đất của chúng tôi thì bị trưng thu, khai thác, mà công nghệ than đá đó không hề đem lại việc làm cho người dân Mông Cổ, không hề cho phép kinh tế của chúng tôi phát triển hay tạo việc làm cho chúng tôi ».
Đáng quan ngại hơn là ngoài Trung Quốc thì Ấn Độ cũng đang trở thành một nhà vô địch trong lĩnh vực nhập khẩu than đá. Đến năm 2017 Ấn Độ sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành nhà tiêu thụ than số 2 của thế giới, chỉ sau có Trung Quốc.
Trong báo cáo gần đây cơ quan tư vấn Wood Mackenzie chuyên về năng lượng và khoáng mỏ của Mỹ cho rằng nhu cầu than đá của thế giới trong thập niên này sẽ tăng lên thêm 25 %. Từng bước than đá sẽ trở thành nguồn nguyên liệu số 1, đứng trước cả dầu hỏa và năng lượng hạt nhân. Hiện tại 2/3 tăng trưởng của ngành than đá có được là nhờ mức nhập khẩu của Trung Quốc. Trong thời gian từ 2012 đến 2012, một nửa các nhà máy điện được xây dựng tại Trung Quốc đều sử dụng than.
Trong báo cáo thường niên vừa được công bố ngày 12/11/2013 Tổ chức Năng lượng Thế giới dự báo nhu cầu than của nhân loại sẽ tăng thêm 17 % trong 20 năm nữa và đây sẽ là nguyên nhân khiến nhiệt độ của trái đất tăng thêm 3,6 °C. Chỉ rong chưa đầy một thập niên nữa, than đá sẽ là nguồn nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất, trước cả dầu hỏa và khí đốt.
 

dinsdag 7 mei 2013

Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long

Thứ hai 06 Tháng Năm 2013
Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long
Một đồng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long
Một đồng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long
Thanh Phương
Vào đầu tháng Tư vừa qua, Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ - Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA) đã ra một báo cáo về tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng hạ lưu Mekong, trong đó có vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. 
Trước những tác động này, nông dân đồng bằng Cửu Long và chính quyền Việt Nam nên có những biện pháp như thế nào để đối phó? Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu.

Tiến sĩ Huỳnh Long Vân
 
02/05/2013
 
 
RFI : Xin kinh chào tiến sĩ Huỳnh Long Vân. Trước hết ông có nhận định thế nào về báo cáo của cơ quan USAID về tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng hạ lưu Mekong?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Báo cáo của Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ - Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA), mang tên “Khả năng Thích ứng và Hồi phục của vùng Mekong đối với BĐKH” là đề án nghiên cứu khoa học có thời hạn 5 năm được USAID-RDMA tài trợ, có mục đích nghiên cứu những tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) và ứng phó của vùng hạ lưu Mekong.
Đặc điểm của phần nghiên cứu là chọn 9 tỉnh thành tiêu biểu trong vùng hạ lưu Mekong và xem đây như là những “điểm nóng” của khu vực gồm : Kiên Giang và Gia Lai ở Việt Nam, Mondul Kiri, Kamong Thom và Stung Treng ở Cao Miên; Champasak và Khammouan ở Lào và Sakon Nakhon và Chang Rai ở Thái Lan. Những nơi này có những đặc tính tượng trưng cho hệ sinh thái của toàn thể lưu vực, sản xuất hỗn hợp các mùa màng chánh có giá trị thương mại, được dự đoán có nhiệt độ không khí và lượng mưa biến đổi và sau cùng những thay đổi do BĐKH sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể về sản xuất và cuộc sống của người dân nơi đây. Để từ đó tìm hiểu về những tác động của BĐKH trên hệ sinh thái, trên các khu vực trồng trọt hiện rất thích hợp cho mùa màng và trên cuộc sống cùng cơ hội sống còn của người dân điạ phương.
Kết quả nghiên cứu được công bố tại Bangkok vào 08/04/2013 cho thấy những ảnh hưởng của BĐKH trên hạ lưu Mekong có phần nghiêm trọng hơn các nơi khác trên thế giới. Ông Jeremy Carew-Reid, người cầm đầu đề án nghiên cứu đồng thời cũng là Giám Đốc Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường cho rằng vùng hạ lưu Mekong sẽ trải nghiệm những biến đổi cực đoan về nhiệt độ và lượng mưa, vượt xa những tiên đoán trước đây; nhiệt độ không khí trong vùng có chiều hướng tăng gấp 3 lần so với các nơi khác trên thế giới và đến năm 2050, nhiệt độ không khí vùng hạ lưu Mekong tăng khoảng 4°C.
Báo cáo này còn cho biết là dưới ảnh hưởng của nhiệt độ tăng và thiếu nước vào mùa khô, năng suất của lúa sẽ giảm ở 7 (ngoại trừ Sakon Nakhon) trong số 8 nơi [Mondul Kiri, Kampong Thom, Stung Treng (Cao Miên); Gia Lai (Việt Nam); Champasak, Khammouan (Lào); Chang Rai, Sakon Nakhon (Thái Lan)] được nghiên cứu. Những vùng hiện nay trồng cây cà phê như Gia lai của Việt Nam, Mondul Kiri ở phía Đông Cao Miên và Champasak, Attapeu của Lào trong tương lai sẽ không còn thích hợp, do nhiệt độ không khí và lượng mưa gia tăng.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho biết khoai mì trồng ở những vùng đất thấp ở Hạ Lào, Cao Miên và Cao nguyên ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ không khí gia tăng. Thiệt hại nặng nề nhứt là bắp và đậu nành hiện trồng ở Darlac, Kampong Thom, Battambang, Vientianne, Khamouane (Lào); những nơi này trong tương lai có lượng mưa gia tăng làm giảm năng suất và toàn vùng hạ lưu Mekong sẽ không có nơi nào thích hợp để trồng hai loại hoa màu này.
Tuy nhiên cũng theo báo cáo này, thì gia tăng nhiệt độ và lượng mưa không đồng nghĩa với hoàn toàn gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp vì hiên nay một số nơi như vùng Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Kontum vốn có nhiệt độ thấp và ít mưa nhưng trong tương lai nhờ vũ lượng cao và khí hậu ấm hơn sẽ là những vùng thích hợp để trồng hai loài cây cao su và cà phê.
Về thủy sản, báo cáo cho biết BĐKH sẽ làm giảm khối lượng cá có trong vùng vì mưa bất thường làm thay đổi chu kỳ lũ tự nhiên của sông Mekong ảnh hưởng đến sự hoán trú và sinh trưởng của các loài cá và ngoài ra còn ảnh hưởng đến ngành nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển vì các trận lũ đột ngột sau những lần mưa lớn sẽ bất ngờ làm giảm độ mặn, gây thiệt hại ngành nuôi tôm nước mặn.
RFI : Cho tới nay thì các nhà khoa học dựa trên những kịch bản nào để dự đoán về biến đổi khí hậu ở vùng hạ lưu Mekong?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Vào năm 1999, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường của Việt Nam (MONRE) dựa trên dữ liệu khí tượng ghi được trong khoảng thời gian 1980-1999 và dùng kịch bản phát thải khí nhà kính B2, dự đoán nhiệt độ sẽ tăng 0.6°C ở miền Nam Việt Nam vào năm 2030, và qua trao đổi cá nhân với một nhà khoa học VN về BĐKH, được biết gần đây nhất vào ngày 17/04/2013, MONRE đưa ra bản đánh giá mới, dự đoán nhiệt độ ở miền Nam Việt Nam sẽ gia tăng khoảng 2.2°C vào năm 2100.
Mặt khác, báo cáo của Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Biến Đổi Khí Hậu Dragon-Mekong, Trường Đại học Cần Thơ và Trung Tâm Start Đông Nam Á, thuộc Đại học Chulalongkorn, Thái Lan, sử dụng 2 kịch bản phát thải khí nhà kính A2 và B2 với mô hình PRECIS RCM nhờ có độ phân giải cao nên được dùng để dự đoán BĐKH ngay cả cho những khu vực có kích thước chỉ đến 25km đường kính và kết quả cho thấy nhiệt độ tối đa trung bình ở vùng đồng bằng Cửu Long Việt Nam (ĐBCLVN) có thể tăng khoảng 2°C vào thập niên 2030.
Tương tự như vậy, nghiên cứu của Nhóm Lobell năm 2008 dự đoán khu vực nằm trong vĩ độ 23 ½° Bắc và 23 ½° Nam, trong đó có vùng hạ lưu Mekong, nhiệt độ tăng khoảng 1°C từ 1980-1999 đến 2000-2039 trong các quốc gia nông nghiệp và đang phát triển, và có thể tăng lên đến 2°C trong vài trường hợp.
Khác với những kết quả nêu trên, báo cáo của nhóm USAID-RDMA cho thấy tác động của BĐKH trên vùng hạ lưu Mekong có phần khốc liệt hơn, nhiệt độ vùng hạ lưu Mekong có chiều hướng tăng vọt, tăng khoảng 4°C vào năm 2050 và tăng 6°C vào năm 2100. Thông tin này gây ít nhiều dao động cho giới hữu trách của khu vực hạ lưu và đặt ra một số câu hỏi cần giải đáp:
- Trong thực tế vùng hạ lưu Mekong trong suốt thời gian gần 30 năm qua, nhiệt độ không khí chỉ tăng khoảng 0.5° C và những dữ liệu về khí tượng của Thái Lan, thí dụ như ở vùng Songkhla cho thấy trong khoảng thời gian 30 năm từ 1981-2010 nhiệt độ tối đa của không khí trong vùng tăng 0.52°C/30năm và nhiệt độ tối thiểu tăng 0.55°C/30 năm. Như thế thử hỏi yếu tố nào khiến nhiệt độ không khí vùng hạ lưu Mekong tăng thêm 4°C trong vòng 37 năm sắp tới và trở thành một khu sa mạc của vùng Đông Nam Á?
- Những thông số về biến đổi khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa, mực nước biển là kết quả dự đoán của nhiều mô hình khác nhau, là những đáp số của các phương trình toán học dựa trên những giả thuyết về các kịch bản phát thải khí nhà kính, được thiết lập từ 5 dẫn lực có biên độ thay đổi rất cao như yếu tố dân số, phát triển kinh tế, sử dụng năng lượng, ứng dụng công nghệ và sản xuất nông nghiệp. Vì thế phải chăng đây là lý do khiến có những khác biệt đáng kể nêu trên trong những dự đoán về nhiệt đô gia tăng dưới tác động của BĐKH trên vùng hạ lưu Mekong?
- Nếu những dự đoán mới đây của các nhà khoa học USAID-RDMA là điều sẽ thực sự xảy ra trong tương lai, thử hỏi các mô hình và các kịch bản thải khí nhà kính được dùng trước đây để tiên đoán về những tác động của BĐKH còn có giá trị và hữu dụng nữa không?
Ngoài ra báo cáo của Nhóm USAID-RDMA còn cho biết: do ảnh hưởng của BĐKH, nên lượng mưa trong vùng hạ lưu Mekong sẽ thay đổi bất thường, làm giảm khối lượng cá trong sông Mekong; tuy nhiên thiết nghĩ tác động này của BĐKH có thể là thứ yếu so với những hậu quả vô cùng tai hại của các đập thủy điện xây trên dòng chính hạ lưu Mekong.
Chúng ta hoan nghênh những đóng góp của cộng đồng quốc tế nhằm hỗ trợ các quốc gia trong hạ lưu Mekong ứng phó với những tác động của BĐKH vì thế nêu lên những nhận xét trên, không có nghĩa là phủ nhận hay hoài nghi về giá trị của công trình nghiên cứu của Nhóm USAID-RMDA, vì chúng ta đồng ý với những kết quả và nhận định sau đây :
* Các vùng Chang Rai ở Bắc Thái Lan, Loaung Namtha, PhongSali, Oudomxal ở Bắc Lào, Kontum ở Việt Nam hiện có nhiệt độ thấp và ít mưa sẽ trở nên thích hợp cho các cây cao su, cà phê vì trong tương lai khi nhiệt độ ở đấy sẽ tăng lên và lượng mưa cũng nhiều hơn.
* Ngành nuôi tôm nước mặn vào mùa khô sẽ bị ảnh hưởng vì các trận mưa lớn có khả năng làm giảm độ mặn của nước trong các ao nuôi tôm; kết quả này trùng hợp với những dự đoán của các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon-Mekong trong một nghiên cứu về tác động của BĐKH ở các vùng ven biển của châu thổ ĐBCLVN vào mùa khô.
* Mùa màng có thể bị thất thoát nặng vì bệnh dịch hay bị hủy hoại bởi sâu, rầy, côn trùng. Thực vậy, vì nhiệt độ cao sẽ gia tốc chu trình sinh trưởng giúp các nấm độc nảy nở (như nấm Pyricularia oryzae Cav. hay P. grisea (Cook ) Sacc. gây bịnh ôn đạo ở cây lúa), vi sinh vật nguy hiểm bộc phát (vi trùng Xanthomonas campestris Oryzea gây bịnh bạc lá lúa, vi khuẩn Rice grassy stunt virus (RGSV) gây bịnh vàng lùn-lúa cỏ, vi khuẩn Rice ragged stunt virus (RRSV) gây ra bịnh vàng xoán lùn) và sinh ra nhiều sâu, rầy, bọ xít, bọ trỉ làm hại lúa (như rầy nâu Nilaparvata lugens, là vectơ truyền bịnh vàng lùn và vàng xoắn lùn).
ĐBCLVN là vựa lúa của VN đóng góp vào an ninh lương thực cho xứ sở và toàn cầu và khoa học đã chứng minh nhiệt độ cao ảnh hưởng đến năng xuất của cây lúa:hoặc trên tiến trình quang hợp, hô hấp hay trên khả năng làm ra hột gạo của cây lúa. Vì thế báo cáo của Nhóm các nhà khoa học USAID-RDMA không có phần đề cập chi tiết đến những tác động của BĐKH riêng biệt cho vùng châu thổ ĐBCLVN là điều đáng tiếc, nếu không nói là thiếu sót.
RFI : Như vậy, riêng về vùng đồng bằng sông Cửu Long, biến đổi khí hậu có tác động như thế nào, nhất là trên mùa màng ở vùng này ?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Ủy Ban Liên Chánh phủ về BĐKH (IPCC 2007) qua phân tích chuỗi số liệu về nhiệt độ và mực nước biển đo đạt trong suốt thế kỷ qua đã xếp châu thổ ĐBCLVN là một trong 3 châu thổ trên toàn cầu [châu thổ ĐBCLVN, châu thổ sông Ganges (Ấn Độ) và châu thổ sông Nile (Ai Cập)] bị tác hại trầm trọng nhứt bởi BĐKH. ĐBCLVN là vùng đất hình thành từ sự trầm tích phù sa của sông Mekong, tiêu biểu với điạ hình rất thấp và bằng phẳng, ngập nước ở ven biển. Tổng quát mặt đất có cao độ khoảng 1-2m so với mực nước biển trung bình. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản là hai trụ cột kinh tế của cư dân trong vùng, mỗi năm góp phần cho cả nước trên 50% nông sản lúa, 65% thủy sản và khoảng 75% sản lượng trái cây.
Nếu tốc độ phát thải khí nhà kính tiệp tục gia tăng như hiện nay hay nhiều hơn nữa và nhân loại không có những biện pháp hữu hiệu để đối phó, thì đến cuối thế kỷ XXI, ĐBCLVN sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển. Chương trình Phát Triển của Liên Hiệp Quốc UNDP 2007 có phần đánh giá như sau: “Khi mực nước biển tăng lên 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa và sản lượng nông nghiệp giảm 7%, tương đương với 10 % tổng sản phẩm nội địa (GDP)”.
Năm 2009, Trung tâm START Vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon-Mekong, Trường Đại học Cần Thơ đã phối hợp nghiên cứu BĐKH vùng châu thổ ĐBCLVN, sử dụng hai kịch bản phát thải khí nhà kính A2 và B2 và mô hình PRECIS RCM để dự đoán về những tác động của BĐKH và kết quả thu thập được như sau:
Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ tăng từ 33-35°C đến 35-37°C. Khu vực bị tác động chủ yếu là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang. Ở các vùng giáp biên giới với Cao Miên, vùng Tây sông Hậu, số ngày nắng nóng trên 35°C cũng nhiều hơn khoảng 2 tháng.
Lượng mưa đầu vụ lúa Hè Thu sẽ giảm khoảng 10-20% trên toàn thể ĐBCLVN, đầu mùa mưa bắt đầu trễ hơn khoảng 2 tuần lễ. Mưa có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu, nhưng gia tăng vào cuối mùa mưa ở các vùng ven biển.
Diện tích ngập lụt ở ĐBCLVN do lũ gây ra sẽ gia tăng và ranh giới ngập lũ vào tháng 9-10 có xu hướng mở rộng về phía bán đảo Cà Mau.
Khí áp thấp nhiệt đới và bão có khuynh hướng gia tăng vào cuối năm và số trận bão lốc ở vùng ven biển ĐBCLVN có xu thế gia tăng.
Mực nước biển dọc theo bờ biển VN có dấu hiệu gia tăng và ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ dâng thêm 33cm và đến năm 2100 lên đến 1m.
Nhiệt độ không khí gia tăng không những làm giảm năng xuất của các loài ngũ cốc,nhưng còn có thể gây ra các trận cháy các rừng ngập mặn ở bán đảo Cà Mau, rừng tràm U Minh, Trà Sư, Tam Nông, các đồng cỏ ở Kiên Giang, Đồng Tháp và từ đó thu hẹp diện tích của những khu vực có khả năng tích giữ carbon, điều này làm tăng thêm hiệu ứng của khí nhà kính.
Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế, an ninh lương thực và áp lực của dân số gia tăng khiến các quốc gia ở thượng nguồn đẩy mạnh việc khai thác nguồn nước sông Mekong. Các đập thủy điện, công trình chuyển nước sông Mekong cho những vùng khô hạn, sự hình thành các khu kỹ nghệ, khu dân cư dọc theo hai bờ sông Mekong sẽ làm tình hình thêm nghiêm trọng.
Hậu quả là dòng chảy sông Mekong sẽ bất thường, mùa khô ít nước và chu kỳ lũ ngập thiết yếu cho tính phì nhiêu của ruộng đồng và thủy sản dồi dào, cũng sẽ biến đổi. Phù sa bị giữ lại ở các hồ chứa khiến đất đai vùng đồng bằng thiếu màu mỡ, hệ sinh vật thiếu dinh dưỡng và sự bồi tụ bán đảo Cà Mau cũng bị giới hạn. Các đập thủy điện sẽ ngăn cản các loài cá di chuyển lên xuống dọc theo dòng sông khiến chu trình sinh trưởng của các loài cá bị gián đoạn và từ đó khối lượng cá bị giảm sút.
RFI : Cho tới nay, nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã ứng phó như thế nào với những tác động của biến đổi khí hậu ?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Từ xưa nông dân vùng ĐBCLVN đã sáng tạo ra nhiều hình thức “sống chung với lũ” như xây đê lửng, cất nhà sàn, điều chỉnh lịch thời vụ, chọn các giống lúa thích hợp. Tất cả các phương cách đối phó của người dân ĐBCLVN thường mang tính tự phát, hoặc chọn lựa theo tình hình, nhằm giảm thiểu tác động và thích ứng với tự nhiên.
Giờ đây, đứng trước những tác động tiêu cực của BĐKH, quan điểm “sống chung với BĐKH” hiện chưa phải là một khẩu hiệu chính thức tuy nhiên một số nơi trong ĐBCLVN đã được người dân nói đến và cả hai đường hướng giảm nhẹ và thích ứng được thể hiện song song với nhau trong xã hội ĐBCLVN như xây các ao hồ để trữ nước, cùng lúc với tiết kiệm nước, chọn giống cây có tính kháng chịu bất lợi về thời tiết, điều chỉnh thời vụ, trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô ở các vùng ven biển, sử dụng nguồn năng lương thay thế như dùng khí sinh học từ phân chuồn.
RFI : Về phía chính phủ Việt Nam, theo ông thấy họ đã thực hiện những biện pháp nào để đối phó với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Do nhận thức được nguy cơ về tác động của BĐKH và nước biển dâng trên khả năng phát triển kinh tế và xã hội của VN nói chung và ĐBCLVN nói riêng, các nhà khoa học của VN và quốc tế đã cảnh báo, và đề nghị những giải pháp cần thiết nhằm ứng phó với ảnh hưởng của quả đất bị hâm nóng đối với vùng ĐBCLVN, vì đó là mối đe doạ lớn cho an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Kết quả là trong những năm vừa qua Việt Nam thực sự có tiến hành một số chương trình ứng phó với những tác động của BĐKH nhằm bảo đảm sản xuất nông ngư nghiệp của ĐBCLVN như xây dựng đê biển, trồng cây, trồng rừng để bảo vệ vùng ven biển, thiết lập các cống ngăn mặn ở vùng ven biển, xây dựng các nhà cộng đồng làm nơi cư ngụ tránh lũ bão cho người dân v.v...và ngoài ra VN hiện có chánh sách nhằm ứng phó với nội dung gồm 4 điểm:
Đánh giá tác động của BĐKH đối với các lãnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn. (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường vừa công bố báo cáo mới nhứt vào ngày 17/04/2013 cập nhựt hoá những Tác động của BĐKH đối với VN).
Thiết lập kế hoạch hướng dẫn có tính khả thi để ứng phó với hậu quả của BĐKH cho từng giai đoạn. (Viện Nghiên cứu B ĐKH Dragon-Mekong tiến hành kế hoạch “Lồng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội địa phương vùng ĐBCLVN” và qua đó, các nhà khoa học tiếp cận với người dân và nhà cầm quyền địa phương để thu thập, phân tích các dữ liệu liên quan đến BĐKH; phân tích cội gốc của vấn đề: khó khăn, tác động và đề xuất các giải pháp cho hiện tại và tương lai cùng mở các khóa tập huấn cho người dân địa phương.
Tận dụng cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng carbon thấp (Đầu tư khai thác thủy điện, thiết lập Trung tâm Năng lượng Sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ).
Tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH (“Sáng kiến Hạ lưu Mekong” với chương trình “Dự đoán Mekong” do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tài trợ và đề án CLUES của Úc châu, nghiên cứu chế độ canh tác nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính Methane trong sản xuất nông nghiệp).
RFI : Cụ thể hai chương trình của Mỹ và Úc dành cho vùng hạ lưu Mekong đuợc thực hiện như thế nào?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : “Sáng Kiến Hạ lưu Mekong” do bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đề nghị và được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bảo trợ, ra đời vào năm 2009 với mục đích cổ vũ hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực trong các lãnh vực giáo dục, y tế, môi trường và phát triển các cơ sở hạ tầng.
Riêng đối với ĐBCLVN, Trung tâm Khảo sát Điạ chất của Hoa Kỳ (US Geological Survey) và Đại học Mississipi phối hợp giúp thành lập Viện Nghiên cứu B ĐKH DRAGON-Mekong (Delta Research And Global Observation Network) tại Đại học Cần Thơ và với chương trình “Dự đoán Mekong” (Forecast Mekong), đã thiết lập những mô hình để tiên đoán tác động của BĐKH và những thách thức trong sự phát triển bền vững của vùng hạ lưu Mekong; sử dụng hệ thống vệ tinh để ghi đo mực nước biển vùng ĐBCLVN cũng như theo dõi sự di chuyển của các loài cá trong sông Mekong góp phần đánh giá những tác động tiêu cực của các đập thủy điện xây trên dòng chính hạ lưu Mekong trên khối lượng cá.
ĐBCLVN là vùng sản xuất lúa gạo chánh của Việt Nam. Về nông nghiệp ĐBCLVN có thể được phân loại theo các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, tùy theo chế độ thủy văn, đặc biệt là ảnh hưởng của độ sâu và thời gian ngập, khả năng tưới và độ mặn của nguồn nước.
Trong hơn 30 năm qua, nông dân ĐBSCLVN đã tự thích ứng với những thay đổi của môi trường bằng cách điều chỉnh và đa dạng hóa hệ thống sản xuất, tuy nhiên ĐBCLVN vẫn còn tồn tại nhiều trở ngại hạn chế khả năng thích ứng của nông dân, đặc biệt là trong tương lai trước những khó khăn gây ra bởi BĐKH.
Qua chương trình viện trợ giảm nghèo của Chánh phủ Liên bang Úc châu dành cho ĐBCLVN, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Úc châu (ACIAR) đã tài trợ đề án CLUES nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến việc sử dụng đất ở ĐBCLVN: “Sự Thích ứng của hệ thống canh tác lúa trước những ảnh hưởng của BĐKH”.
Đây là một chương trình nghiên cứu quốc tế do Viện Nghiên cứu Quốc tế Lúa của Phi Luật Tân (IRRI) chủ quản với các đối tác là Viện Nghiên cứu Khoa hoc và Ứng dụng Công nghệ Úc châu (CSIRO), Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon - Mekong Trường Đại Học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Lúa Cửu Long, Viện Thủy lợi Miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam v.v…
Mục đích tổng thể của dự án là tăng cường khả năng thích ứng của các hệ thống sản xuất lúa ở ĐBCLVN và mục đích này được thực hiện bằng những nghiên cứu đánh giá sự tổn thương và tác động của BĐKH trong từng vùng, cải thiện khả năng chịu ngập, chịu mặn và chịu nhiệt độ cao của các giống lúa địa phương và các dòng cao sản, quản lý tổng hợp tài nguyên và cây trồng để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường, tìm giải pháp khuyến nông thích hợp, đánh giá khả năng thích ứng tổng hợp ở thí điểm Bạc Liêu và từ đó phát triển một kế hoạch tổng thể cho toàn thể châu thổ ĐBCLVN.
RFI : Quan điểm của Nhóm NCVHĐNCL Úc châu về vấn đề này như thế nào?
Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Biến đổi khí hậu là hiện tượng không chối cãi. Vùng hạ lưu Mekong và ĐBCLVN có nhiệt độ không khí gia tăng và mực nước biển vùng ven biển cũng có chiều hướng dâng lên rõ rệt. Tuy nhiên tiên đoán về mức độ gia tăng của nhiêt độ không khí và mực nước dâng là một công tác nghiên cứu có phần thiếu tính khẳng định. vì những thông số có được là kết quả của những dự đoán dựa vào những giả thuyết ảnh hưởng bởi nhiều dẫn lực.
Vì hệ thống sinh học luôn luôn có những cơ chế tự điều chỉnh thí dụ như “cơ chế phản hồi có tính âm” và những tác động của BĐKH chỉ hiện rõ sau khoảng thời gian thập niên nên ảnh hưởng của BĐKH không thể được ứng phó bằng những quyết định và hành động có tính phản xạ nhưng phải được thực hiện bằng những kế hoạch được phối hợp chặt chẽ giữa khoa học kỹ thuật với các điều kiện xã hội và kinh tế, qua cách tiếp cận cả “trên-xuống” lẫn “dưới-lên”; ngoài ra tác động của biến đổi khí hậu cần được tiếp tục lượng định , chẳng hạn theo từng giai đoạn, để từ đó thiết lập những phương án ứng phó hữu hiệu và kịp thời.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng châu thổ ĐBCLVN, người dân địa phương trong suốt mấy trăm năm qua đã tỏ ra có khả năng thích ứng với các điều kiện thiên nhiên, biến vùng đất vốn là rừng rậm hoang dã, những nơi ngậm chua, nhiễm mặn thành khu vực sản xuất nông nghiệp chính của xứ sở và đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất lúa đứng hàng thứ nhì trên thế giới.
Ngày nay với những kiến thức khoa học quý báu, chúng ta hy vọng nông dân vùng châu thổ ĐBCLVN sẽ được trang bị đầy đủ thông tin, kiến thức và đặc biệt là những hỗ trợ từ giới hữu trách để có đủ khả năng ứng phó với những tác động của BĐKH và tiếp tục góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho xứ sở và toàn cầu.
Là một thành viên của Nhóm NCVHĐNCL Úc châu, trong thời gian nhiều năm qua và tiếp tục đến hiện nay, qua quỹ Phan Thanh Giản Foundation, hằng năm chúng tôi trợ cấp học bổng cho một số sinh viên hậu đại học (Trường Đại Học Cần Thơ) theo đuổi các chương trình nghiên cứu trong lãnh vực nông ngư nghiệp và ứng phó với những tác động tiêu cực của BĐKH.
RFI : Xin cám ơn tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu.

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130506-tac-dong-cua-bien-doi-khi-hau-len-vung-dong-bang-cuu-long

maandag 15 oktober 2012

Biến đổi khí hậu làm cá nhỏ đi

14 Tháng Mười 2012

Biến đổi khí hậu làm cá nhỏ đi

Một trại nuôi cá ở tỉnh Samut Prakarn, Thái Lan (ảnh chụp ngày 06/06/2012)
Một trại nuôi cá ở tỉnh Samut Prakarn, Thái Lan (ảnh chụp ngày 06/06/2012)
REUTERS

Thanh Phương
Hiện tượng khí hậu trái đất nóng lên không chỉ làm nhiệt độ và nồng độ ôxy trong nước biển thay đổi, mà có thể làm giảm đáng kể kích thước của các loài cá sống trong môi trường này. Đó là kết luận của một nghiên cứu vừa được công bố ngày 30/09/2012, tại Canada.

Thật vậy, một trong những yếu tố chủ yếu tác động đến kích thước của các loại cá đó là nhu cầu năng lượng. Một khi môi trường sống của chúng không còn đáp ứng được nhu cầu năng lượng này, thì các loài cá sẽ ngưng tăng trưởng. Mà ôxy là một nguồn năng lượng quan trọng đối với cá. Sống trong nước, cá phải luôn tìm đủ nguồn ôxy và cá có kích thước càng lớn thì càng phải có nhiều lượng ôxy. Theo lời ông Daniel Pauly, nhà sinh học thuộc đại học British Columbia ở Vancouver, Canada, đại dương càng nóng hơn và có nồng độ ôxy ít hơn do hậu quả của biến đổi khí hậu, sẽ khiến đời sống của các loài cá lớn nhất phức tạp hơn. Điều đó có nghĩa là chúng sẽ ngừng tăng trưởng sớm hơn là bình thường.
Ông Daniel Pauly và các đồng nghiệp đã thử mô phỏng tác động của biến đổi khí hậu lên hơn 600 loài cá, dựa trên hai kịch bản thường được các chuyên gia xem là có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2050. Theo tính toán của họ, mức tăng nhiệt độ trung bình dưới đáy các đại dương của địa cầu rất thấp ( khoảng 1/100 độ C mỗi thập niên ) và mức giảm nồng độ ôxy cũng không cao. Thế nhưng, tỷ lệ giảm trọng lượng của các loài cá lại rất lớn. Cụ thể, trọng lượng tối đa của các loài cá được nghiên cứu sẽ giảm từ 14 đến 24% trong thời gian từ 2001 đến 2050. Tức là tương đương với giảm từ 10 đến 18 kg đối với một người nặng 77 kg.
Bị ảnh hưởng nặng nhất là Ấn Độ Dương, với trọng lượng tối đa của cá giảm 24%, tiếp đến là Đại Tây Dương ( 20% ) và Thái Bình Dương ( 14% ), cho dù đó là biển nhiệt đới hay biển ôn đới. Nguy hiểm hơn nữa, đó là do tác động của hiện tượng khí hậu trái đất nóng lên, các loài cá ôn đới sẽ đẻ ít trứng hơn và trứng của chúng sẽ nhỏ hơn, điều này sẽ đe doạ đến sự tồn tại của các loài cá này.
Công trình nghiên cứu nói trên cho thấy, nếu không giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng lồng kính, hậu quả chắc chắn sẽ nặng nề hơn đối với hệ sinh thái biển. Hơn nữa, những hoạt động khác của con người, như đánh bắt quá mức hoặc nạn ô nhiễm, sẽ khiến cho hiện tượng này thêm trầm trọng.
Hiện giờ, ở nhiều vùng biển trên thế giới, cá đã bị khai thác quá nhiều, đến mức mà một số chuyên gia đã tiên đoán rằng cứ đà này, nhân loại trong tương lai sẽ chỉ còn sứa để ăn.

http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20121014-bien-doi-khi-hau-lam-ca-nho-di

vrijdag 23 september 2011

Trái đất nghiêng hơn vì biến đổi khí hậu

 21/8/2009
Sự ấm lên của các đại dương có thể khiến trái đất nghiêng thêm và xoay nhanh hơn trong thế kỷ tới.

Trục của trái đất sẽ nghiêng thêm nếu lượng khí thải nhà kính vẫn tăng trong thế kỷ tới. Ảnh: physorg.com.

Địa cầu tự xoay quanh một trục nghiêng 23,5° so với phương thẳng đứng. Tuy nhiên góc nghiêng này không cố định. Sự phân bố khối lượng trên trái đất liên tục biến động nên vị trí của trục trái đất cũng thay đổi không ngừng.

“Nếu bạn tăng khối lượng ở một phía của địa cầu, trục xoay của nó sẽ thay đổi chút ít”, Felix Landerer, một nhà khoa học của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), giải thích.

Từ lâu giới khoa học đã biết rằng hiệu ứng nhà kính tác động tới độ nghiêng của trục trái đất. Chẳng hạn, cực bắc của hành tinh đang dịch chuyển về phía 79 độ kinh tây – đường kinh tuyến đi qua thành phố Toronto (Canada) và thành phố Panama. Tốc độ di chuyển vào khoảng 10 cm/năm. Nguyên nhân là tình trạng tan băng ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á khiến khối lượng cực bắc giảm dần.

Sự di chuyển của nước ngọt từ những tảng băng tan cũng tác động tới trục trái đất. Theo tính toán của Landerer, quá trình tan băng ở đảo Greenland khiến trục trái đất tiếp tục nghiêng thêm 26 mm mỗi năm. Tốc độ đó có thể tăng đáng kể trong những năm tới.

Trong nghiên cứu mới nhất, nhóm của Landerer phát hiện sự gia tăng của các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính cũng làm tăng độ nghiêng của trái đất.

Theo tính toán của họ, nếu lượng khí CO2 tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 2000 tới 2100, các đại dương sẽ ấm lên và mở rộng. Khi đó nước sẽ bị đẩy về phía các thềm lục địa nông hơn, khiến cực bắc của trục trái đất dịch chuyển xấp xỉ 15 mm mỗi năm về phía bang Alaska và quần đảo Hawaii của Mỹ.

“Các đại dương hấp thụ ít nhất 80% lượng nhiệt mà hiệu ứng nhà kính gây nên. Tuy nhiên, sự dịch chuyển của cực bắc sẽ không đủ mạnh để gây nên những xáo trộn đối với khí hậu trái đất”, Landerer nói.

Cách đây vài năm, nhóm của Landerer từng chứng minh rằng tình trạng ấm lên toàn cầu có thể khiến sự phân bố khối lượng trên trái đất thay đổi. Cụ thể, vật chất sẽ dồn về các vĩ độ cao khiến hành tinh xoay nhanh hơn.

Minh Long (theo Newscientist)