Posts tonen met het label Đồng bằng Cửu Long. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Đồng bằng Cửu Long. Alle posts tonen

zaterdag 31 oktober 2015

Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu

Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu

Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu
 
Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long - Mêkông.DR


    Trong nhiều năm trở lại đây, việc nước biển xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô mang lại một mối lo ngại lớn. Mức độ xâm nhập của nước mặn năm nay ra sao ? Tình trạng nước mặn vào sâu là do những nguyên nhân gì ? Và người nông dân cũng như giới nông học và ngành thủy lợi đối phó như thế nào với hiện tượng nước mặn vào sâu ngày càng trở nên phổ biến ?

    Đây là các câu hỏi chính mà Tạp chí Khoa học của RFI tuần này hy vọng mang đến một số giải đáp. Khách mời của chúng ta là nhà nông học Võ Tòng Xuân, tiến sĩ Lê Anh Tuấn - phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Trường Đại học Cần Thơ -, tiến sĩ Dương Văn Ni - giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An (Cần Thơ) và tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền, lãnh đạo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, trụ sở tại Sài Gòn.
    Mặn vào sâu, dù chưa phải mùa cao điểm
    Trước hết, tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết về tình trạng mặn vào châu thổ Cửu Long, vựa lúa và là nơi chiếm đến 80% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam :
    « Năm nay cái mùa khô nó khốc liệt như năm 2010, làm cho nhiều vùng ven biển nhiễm mặn một cách trầm trọng, và bây giờ chưa phải là cao điểm nhất của mùa mặn, nhưng mặn đã vào sâu trong đất liền vào khoảng gần 60 km. Nó làm cho nhiều vùng canh tác lúa bị nhiễm mặn, một số nơi lúa đã bị chết, làm cho nông dân trở tay không kịp. Bởi vì các nguồn nước trên sông Mêkông đang bị giảm đi rất nhiều.
    Tình trạng mặn này làm cho việc cung cấp nước ngọt cho người dân ở các vùng ven biển gặp khó khăn hơn, buộc người dân phải đi mua nước ở vùng xa, phía trên. »
    Tiến sĩ Lê Anh Tuấn 20/03/2013 Nghe

    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền đưa ra một số giải thích về hiện tượng mùa khô năm nay nước mặn vào sâu hơn.
    « Cái năm trước đấy, mà lũ bé, mưa kết thúc sớm, thì chắc chắn năm sau sẽ là năm hạn hán. Nước bé, lưu lượng thượng nguồn cũng bé, nước về Biển Hồ sẽ ít đi. Cái Biển Hồ ở Campuchia rất quan trọng trong điều tiết dòng chảy. Mùa kiệt thì cái lưu lượng ở đấy nó ra tương đối lớn. Năm ngoái lũ rất là bé, dưới mức trung bình, mưa lại kết thúc sớm, dòng chảy năm nay rất nhỏ, thế nên mặn bây giờ chưa phải là tháng cao điểm mà đã rất sâu rồi. »
    Thái Lan, Lào và Cam Bốt cũng dùng nước Mêkông canh tác mùa khô
    Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết thêm về nỗi lo ngại của ông trước việc các nước khác trên thượng lưu Mêkông gia tăng sử dụng nước vào mùa khô để trồng trọt :
    « Trong mùa khô, lưu lượng sông Cửu Long hồi trước 1975, khoảng 2.000 m3/giây, so với lưu lượng tháng 9, 10 là 40.000 m3/s. Còn bây giờ, trong mùa khô, nó không đạt tới 1800 m3/giây. Cái mình lo nhất là, hiện nay vụ lúa đông xuân, tức là mùa khô này bên Thái Lan đang mở rộng diện tích lúa ở vùng Đông Bắc Thái Lan, họ cũng lấy nước sông Cửu Long. Rồi qua đến Lào, nam Lào cũng như Viêng Chăn, họ đều bơm nước sông Cửu Long để tưới cho vụ này. Phía Campuchia, thì ông Hun Sen cũng quyết tâm chỉ đạo cho làm lúa mùa khô. Trước đây chỉ có Việt Nam mới sử dụng nước sông Cửu Long trong mùa khô, còn bây giờ bốn nước sử dụng, do đó việc mặn đi sâu hơn cũng là dĩ nhiên.
    Tôi nghĩ, tới đây, nếu các nước dọc theo sông Cửu Long không có nhất trí để mình tính toán khả năng của dòng nước sông Cửu Long trong mùa khô để chia với nhau trong việc xài nước này, mà mạnh ai nấy xài, thì chắc chắn nước chịu thiệt thòi nhiều nhất là Việt Nam. »
    Lý giải về ấn tượng trước tính chất nghiêm trọng của việc nước mặn vào sâu năm nay, tiến sĩ Dương Văn Ni đưa ra một lý giảikhác:
    « Cái xâm nhập mặn vào đồng bằng sông Cửu Long, thì năm nay so với những năm trước không phải là nặng nề lắm. Về độ sâu, so với một số những năm khắc nghiệt khác, thì nước mặn vô sâu lắm. Nhưng vấn đề là, vì năm nay, diện tích mà người dân canh tác ở vùng ven biển, đặc biệt là canh tác lúa, thì họ mở ra tương đối nhiều, thành thử do đó, theo cảm nhận của người dân, người ta thấy mặn nó xâm nhập nhiều và gây thiệt hại nhiều. »
    Đã có nhiều dự án kiểm soát mặn, nhưng nhiều nơi người dân vẫn phải đắp đập tạm
    Về các giải pháp để hạn chế tác hại của nước mặn thâm nhập, lãnh đạo Viện Quy hoạch thủy lợi Nguyễn Xuân Hiền đưa ra một số nhận xét chung :
    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền 20/03/2013 Nghe

    « Hiện tại, chính phủ Việt Nam cũng đã triển khai rất nhiều dự án về kiểm soát mặn ở vùng ven biển rồi. Ví dụ như dự án Gò Công, Nam Măng Thiết vừa hoàn thành, với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới. Tức là chúng tôi xây dựng hệ thống cống và đê kiểm soát, ngăn mặn, ngăn triều và đào những kênh tiếp nước từ vùng ngọt ở sông Mêkông chuyển nước vào vùng chúng tôi bảo vệ. Những vùng đã có hệ thống tương đối hoàn chỉnh như Nam Măng Thiết, Gò Công, kết hợp với việc nạp nước trong thời gian triều xuống, thì có thể giải quyết được đủ nguồn nước tưới.
    Dự án Bắc Bến Tre cũng tiến hành theo kiểu này, nhưng thiếu kinh phí, nên mới làm được một cống lớn nhất là cống Ba Lai, còn bà con mùa khô này họ đắp đập tạm, họ ngăn những kênh rạch nhỏ, nhưng kênh rạch lớn họ cũng thua, chính vì thế mặn hiện nay ở Bến Tre cũng đang ảnh hưởng. Rồi cái vùng Sóc Trăng cũng đang có dự án.
    Đương nhiên là, ngoài hình thức công trình, các hình thức phi công trình cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, tức là có dự báo để bà con không tiếp tục làm vụ tới nữa, làm trễ lại để tránh hạn. Phải kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình. »
    Lúa – tôm : mô hình hiệu quả tại nhiều vùng ngập mặn
    Nước mặn là mối đe dọa, nhưng nó cũng mang lại cơ hội cho nghề nuôi tôm, cũng như các thủy sản nước mặn khác. Ở rất nhiều vùng dọc theo bờ biển châu thổ Nam Bộ, khu vực chiếm đến 50% diện tích nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, đã phát triển một mô hình canh tác độc đáo : Trồng lúa nước ngọt và nuôi tôm nước mặn. Sau đây là nhận xét của tiến sĩ Dương Văn Ni, giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Cần Thơ:
    « Từ 2005 đến nay, rất nhiều vùng, người dân bắt đầu mùa nắng lấy nước mặn nuôi tôm, mùa mưa giữ ngọt để trồng lúa, trở thành một vụ tôm, một vụ lúa, trên cùng một miếng đất. Điều này rất là độc đáo. Nhiều nơi, người ta gửi các đoàn nông dân đến để học tập cái mô hình này. »
    Về điều này, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết ý kiến :
    Giáo sư Võ Tòng Xuân 20/03/2013 Nghe

    « Mình nên theo cái hệ thống canh tác lúa tôm. Nó có lợi nhất. Không cần phải tốn kém để ngọt hóa làm gì. Bởi vì mình làm 2, 3 vụ lúa không lời bằng mấy vụ tôm, một vụ lúa. Mình nên đi thẳng vô vấn đề : Nên chọn hệ thống một lúa và mấy vụ tôm trong mùa khô. Thì chắc chắn là nông dân được lợi tức cao hơn, hơn là trồng nhiều vụ lúa trên vùng đất như thế, vì rất nguy hiểm, vì nước mặn sẽ làm cho một vụ lúa bị hư. »
    Đo độ mặn dựa vào cộng đồng
    Để có thể canh tác vừa tôm vừa lúa trên cùng một khu vực, trong bối cảnh môi trường thay đổi liên tục và bất thường, chỉ dựa vào kinh nghiệm mà thiếu đi khả năng đo lường các chỉ số, trước hết là chỉ số mặn của nước, việc canh tác gặp rất nhiều rủi ro. Trong thời gian rất gần đây, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Dương Văn Ni bắt đầu thúc đẩy một hệ thống đo lường số liệu nước mặn dựa vào cộng đồng :
    Tiến sĩ Dương Văn Ni 20/03/2013 Nghe

    « Nếu mà gọi là giải pháp đồng bộ cho cả vùng rộng lớn, thì chúng ta thấy là còn lâu lắm. Nhưng mà cục bộ, thì người dân vẫn có cách để uyển chuyển đối phó. Tôi có thể nêu ra nhiều ví dụ. Mặc dầu về mặt lý luận, người ta không diễn đạt một cách rành mạch, nhưng mà người ta hiểu cái bản chất của đất, nước rất rõ. Và nhiều năm nay, sự giao thoa giữa những cơ quan làm nghiên cứu và người nông dân là cái đặc thù của nông dân đồng bằng sông Cửu Long hàng chục năm nay.
    Khoảng hơn một năm nay, chúng tôi khởi hành một dự án, cố gắng chuyển cái khoa học kỹ thuật vào trong cộng đồng. Một trong những cái đó là việc thành lập mạng quan trắc về sự xâm nhập mặn.
    Chúng ta biết, người dân khi sản xuất, trước khi quyết định một con giống hay một kỹ thuật nào, thì họ dựa trên hệ thống kinh nghiệm mà họ có. Không may là trong những năm gần đây, môi trường xung quanh thay đổi phức tạp, và khi môi trường thay đổi phức tạp như vậy, thì người dân không nhận ra được liền. Và nếu người ta không nhận ra được liền, mà đưa ra quyết định, thì chỉ khi thiệt hại, thì mới giật mình là quyết định sai. Một ví dụ là, thường khi có gió chướng về, cuối tháng 10, đầu tháng 11, thì theo kinh nghiệm, nước mặn mới xâm nhập vô và người ta bắt đầu chuẩn bị đóng cóng, hoặc ngưng không bơm nước vào ruộng lúa… Nhưng những năm gần đây, mặn xâm nhập không chờ gió chướng, thành thử khi bơm nước vô trong ruộng rồi, mới thấy hôm sau lúa bị héo, mới giựt mình, coi lại, thì nước đã mặn, thì đã thiệt hại rồi.
    Dự án này của chúng tôi muốn làm cho người nông dân có một thói quen : Biết một cách cụ thể cái môi trường (canh tác) của mình trước khi đưa ra quyết định. Ở đây chúng tôi bắt đầu bằng độ mặn, nhưng về lâu về dài, chúng tôi sẽ mở ra những cái khác, như độ ngập, độ phèn… Để đo lường độ mặn, chúng tôi chọn các cộng tác viên, từ em bé, cho đến chị phụ nữ, người già… Khi họ đo như vậy, dựa vào mối quan hệ của họ, mình khuyến khích họ chia sẻ thông tin đó với mọi người. Ví dụ như một em bé, sau khi đo, chia sẻ với lớp học…
    Cách làm khá đơn giản, tôi chỉ phát cho họ cái tỷ trọng kế. Múc nước vào, thì họ bỏ cái tỷ trọng kế đó vô. Thì khi họ sử dụng được cái giá trị mặn, đầu tiên cho chính họ, và cho những người xung quanh trước, sau đó họ mới dùng điện thoại di động, họ gởi một tin nhắn về cho tôi, thì chúng tôi lập trình để nó về trên máy tính. Sau đó, chuỗi số liệu nhiều ngày như vậy sẽ giúp chúng tôi hiểu được quy luật mặn ngọt xâm nhập vô vùng đó như thế nào. Chúng tôi biết được đầu con kênh nước mặn, thì cuối con kênh bao nhiêu tiếng sau sẽ bị mặn, hoặc mấy ngày sau. Từ những số liệu đó, chúng tôi sẽ lập trình để gửi lại các cộng tác viên tham gia một tin nhắn, ví dụ như, 2 tiếng nữa chỗ anh sẽ bị mặn 5/1.000 hay 10 tiếng nữa sẽ bị mặn đến 10/1.000… Với những công cụ hiện tại, nó là một phương tiện giúp cho chúng tôi có thể hỗ trợ cho cộng đồng chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau, để biết cách ứng phó, chọn lựa giải pháp thích hợp.
    Có rất nhiều cách để người ta ứng phó với chuyện xâm nhập mặn. Đối với những người ở vườn cây ăn trái, thì động tác khá đơn giản, người ta chỉ cần bịt cái đường nước dẫn mặn vào vườn cây ăn trái thôi. Rồi những người trồng lúa, thì biết mặn như vậy, thôi chờ vài bữa nữa bơm nước vào ruộng không phải là vấn đề gì quá khó khăn. Có nghĩa là từng người dân, từng cái kiểu sử dụng đất, sử dụng tài nguyên của họ, họ biết cách...
    Với một mạng cộng tác viên phong phú với những tin nhắn gửi về đều đặn, chúng tôi – những người làm nghiên cứu – sẽ hiểu ra được quy luật nhạt, mặn của một vùng nào đó. Cái thứ hai là, giúp chúng tôi chia sẻ những số liệu đó với các mạng quan trắc của nhà nước. Bởi vì những mạng của nhà nước có các trạm, chúng tốn kém, nhưng được cái là những người theo dõi các mạng đó là những người được đào tạo bài bản, rồi trang thiết bị đắt tiền, chính xác hơn. Nhưng ngược lại, số lượng các trạm không thể nhiều được, do đó khó giải đoán một cách chính xác cho cả khu vực. Như vậy, thì hai mạng : Một mạng do cộng đồng cung cấp thông tin, một cái mạng do nhà nước, bổ sung lẫn nhau thì rất tốt. Tôi hy vọng, với chuỗi số liệu vài năm, sẽ giúp trước hết cho cộng đồng hiểu được môi trường đã thay đổi, và có thói quen trước khi làm gì, thì biết cách đo đạc. »
    Khi người trồng lúa muốn nước ngọt hơn, nuôi tôm muốn mặn hơn
    Chúng ta biết đồng bằng châu thổ Cửu Long là một trong số các khu vực dễ bị tác động nhất trên thế giới, bởi nước biển dâng, cũng như các biến động khác về môi trường như hạn hán hay mưa lũ và đặc biệt là sự biến đổi dòng chảy. Trên tổng diện tích 4 triệu km², thì có đến gần 2 triệu km² của vùng đồng bằng này bị nước mặn xâm nhập thường xuyên và diện tích này có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, mức độ mặn xâm nhập, cũng như chế độ thủy văn nói chung tại các khu vực nhiễm mặn lại hết sức đa dạng. Tại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long, không phải nơi nào cũng có thể áp dụng hệ canh tác lúa – tôm, do những khác biệt về điều kiện thủy văn. Sự khác biệt này dẫn đến những xung đột lợi ích trong sử dụng nguồn nước mà hiện tại không dễ dàng giải quyết, tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền cho biết :
    « Vùng Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, tức là Gò Công, là những vùng mưa nhỏ, chỉ từ 1.400 mm - 1.600 mm/năm. Những vùng đấy thì không thể trồng được lúa với tôm. Phải riêng ra, ngọt thì ra ngọt, mặn thì ra mặn. Trong chỉ lúa không, phải ngọt hóa, còn phía ngoài thì nuôi tôm không thôi. Còn cái vùng lúa – tôm là ở Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu. Những cái vùng ấy là lượng mưa rất lớn. Mùa mưa, thì sử dụng nước mưa trồng một vụ lúa, sau đó đến mùa khô, thì sử dụng nước mặn để nuôi tôm. Quan trọng là phải có lượng mưa lớn để rửa được cái mặn, còn nếu dùng nước bơm thì không kinh tế.
    Hiện nay mà xảy ra xung đột về sử dụng nước (giữa các tỉnh), chỉ có ở Bạc Liêu và Sóc Trăng thôi. Bạc Liêu là cái vùng tôm – lúa. Mùa khô họ mở hệ thống cống để lấy nước mặn vào nuôi tôm, mà mặn xâm nhập sâu lại ảnh hưởng đến vùng nước ngọt của Sóc Trăng và ngay cả của Bạc Liêu nữa. Hiện nay, chúng tôi đang xây một hệ thống công trình để tách riêng hai vùng, nhưng vì hạn chế kinh phí nên cũng hơi chậm.
    Đầu tư cho công trình rất tốn kém, nên cái vùng còn bị ảnh hưởng (nước mặn) nhiều nhất là U Minh Thượng, U Minh Hạ, đặc biệt là vùng Cà Mau. Vì vùng Cà Mau là không thể tiếp ngọt từ sông Mêkông về được. Mùa này, chủ yếu họ khai thác nước ngầm để sử dụng. Khai thác nước ngầm cho dân sinh không ảnh hưởng lắm, nhưng khai thác cho cả nuôi trồng thủy sản, mà nuôi trồng thủy sản thì lượng nước rất lớn, gây lún, đây là điều chúng tôi rất lo. Hiện nay Cà Mau là vùng khó khăn nhất của đồng bằng sông Cửu Long. »
    Tiến sĩ Dương Văn Ni thì nhấn mạnh đến những mâu thuẫn giữa những những người trồng lúa và trồng tôm ngay trong từng khu vực nhỏ :
    « Những năm gần đây, việc canh tác của người dân tiến dần ra ngoài biển, đặc biệt là phát triển những vùng nuôi tôm, người ta cần nước mặn, trong khi những vùng trồng lúa cần nước ngọt. Và những vùng nuôi tôm và trồng lúa đôi khi nó đan xen lẫn nhau, và như vậy chuyện quản lý nước giữa các vùng này không được hài hòa lắm. Với những người làm tôm, họ thấy không đủ mặn, trong khi những người trồng lúa lại thấy quá mặn.
    Tiến sĩ Dương Văn Ni 21/03/2013 Nghe

    (…) Nếu nhìn suốt trong ba mươi năm gần đây, chúng ta thấy một vấn đề rất là rõ. Khoảng chừng 20 năm trước, cái việc mà giữ cho nước ngọt ra gần phía biển để người ta canh tác, nó tương đối dễ dàng hơn. Bởi vì lúc đó, không có nuôi trồng thủy sản nhiều. Nhưng khoảng 10 năm gần đây, việc nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển bắt đầu lấn sâu vào trong đất liền, tạo ra phức tạp trong vấn đề quản lý giữa mặn với ngọt. Thực ra, giữa các cơ quan chức năng, thí dụ như các sở Nông nghiệp, sở Tài nguyên - Môi trường, đặc biệt là sở Nông nghiệp đã có những nỗ lực rất lớn trong những năm gần đây, ví dụ như tìm ra được các giống lúa có khả năng chịu mặn, hoặc bên thủy sản, có những khuyến cáo người dân, lúc nào nên thả tôm, lúc nào không. Nhưng cũng phải thấy là ở Việt Nam, chuyện mà giữa cơ quan chức năng khuyến cáo, với lại chuyện áp dụng của người dân, đôi khi không có đồng bộ. Bởi vì, còn một yếu tố khác nữa chi phối, đó là thị trường, mà thị trường thì không dễ đoán (…). Những cái bất cập trong chuyện không dự báo được thị trường nhiều khi làm người dân ‘‘lờn’’, không chú ý lắm đến các khuyến cáo của những người nghiên cứu, cũng như các cơ quan chức năng. (…) Vấn đề đó là thách thức lớn của đồng bằng sông Cửu Long. »
    Giáo sư Võ Tòng Xuân giải thích thêm về những mâu thuẫn nảy sinh mới đây giữa việc mở rộng trồng lúa tại một số vùng vốn bị ảnh hưởng nước mặn nhiều :
    « Như vùng Bạc Liêu, có một số nông dân ỷ là có công trình gọi là ‘‘ngọt hóa bán đảo Cà Mau’’, người ta mới được hô hào, khuyến khích làm lúa ngay vùng nước mặn vô. Nhà nước cũng nghe theo cái ngành thủy lợi, bỏ tiền ra rất nhiều, để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau, nhưng mà bây giờ không ngọt hóa được, nước biển vẫn vào. Làm cái này rất là tốn tiền. Bên phía khoa học cũng đã can ngăn dữ lắm, nhưng mà người ta vẫn làm, bây giờ thấy rất rõ là, nó không có đáp ứng được cái mục tiêu mà cơ quan thủy lợi đã đưa ra. Đồng thời nó còn làm cho rất nhiều bà con nông dân bị thiệt hại, bởi vì tưởng đâu là, nghe theo Nhà nước, trồng vụ đông xuân ở vùng ‘‘ngọt hóa’’, nhưng thực ra nước ngọt đâu có đủ, mà mình xuống đó. Trong khi đó, nước mặn ở ngoài nó vô ».
    Giống cây chịu mặn và sử dụng tiết kiệm nước ngọt : Cần một quy hoạch tổng thể
    Đối với những vùng đất thiếu nước ngọt nghiêm trọng như bán đảo Cà Mau, việc sử dụng các giống cây chịu mặn có thể mang lại một giải pháp có triển vọng, như ý kiến của tiến sĩ Lê Anh Tuấn :
    « Bên đại học Cần Thơ cũng có một số chương trình nghiên cứu cây lúa hay các cây chịu mặn. Chúng tôi hy vọng trong tương lai, nếu thử nghiệm thành công thì sẽ bớt phụ thuộc vào nguồn nước ngọt. »
    Còn nhìn chung trên toàn bộ vùng ven biển nhiễm mặn đồng bằng Cửu Long, cần phải có một giải pháp sử dụng tài nguyên nước ngọt tổng thế tiết kiệm và hiệu quả, tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết thêm :
    « Chúng tôi nghĩ rằng, về tương lai tình trạng này sẽ có thể lặp lại trong những năm tới, do biến đổi khí hậu và do những hoạt động như các đập thủy điện và mở rộng diện tích canh tác. Chúng tôi cũng đề nghị là các tỉnh phải hợp tác với nhau hơn, để chúng ta bảo vệ nguồn nước của đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời chúng tôi cũng đề xuất là, các nhà khoa học tiếp tục tìm kiếm các giống cây, giống lúa có khả năng chịu mặn, sử dụng nước ít hơn, để bà con nông dân có thể sử dụng về lâu, về dài. Đồng thời chúng ta phải có những biện pháp để dự trữ nước mưa.
    Sắp tới chúng ta sẽ có những chương trình để hỗ trợ cho những vùng ven biển, tìm cách giữ nước mưa bằng những hình thức khác nhau, từ những cách chứa bằng lu, bằng thùng, hay chứa trong ao, mương, hoặc đào những cái hầm, hoặc làm những túi chứa nước bằng ni lông, hay bằng vải quét cao su, cho bà con có thể giữ nước lâu dài hơn. Đồng thời chúng tôi cũng đề nghị là, sắp tới sẽ có một quy hoạch về sử dụng tài nguyên nước đồng bằng sông Cửu Long cho hợp lý. Không nhất thiết phải mở rộng diện tích canh tác lúa quá nhiều, đặc biệt là trong mùa khô, để chúng ta có thể bớt phụ thuộc vào nguồn nước ngọt và các vùng bị mặn vừa phải, ta có thể sử dụng các giống lúa chịu mặn. (...) Và có những nơi bà con nuôi cá nước ngọt, chúng ta cũng đề nghị bà con chuyển dần dần sang nuôi cá nước lợ chẳng hạn ».
    Chia sẻ dòng chảy Mêkông : Vẫn trong vòng bế tắc
    Các thách thức hiện tại đối với đồng bằng Cửu Long, đặc biệt trong vấn đề nước mặn nhập sâu, là rất lớn. Bên cạnh, những hạn chế về kinh phí đầu tư, cũng như trong các nguồn lực khoa học – công nghệ giúp cho việc nắm bắt và dự báo những biến đổi môi trường và các biện pháp đối phó tại chỗ, thì việc thiếu đi các số liệu về dòng chảy của sông mẹ Mêkông là một cản trở vô cùng lớn đối với một quy hoạch tài nguyên nước thực sự hiệu quả, như nhận xét của tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền :
    « Cái số lượng thượng lưu là thiếu.Trung Quốc đóng vai trò hết sức quan trọng. Hiện nay, họ đã xây được bốn nhà máy thủy điện trên sông chính rồi. Họ đang tiếp tục xây nữa. Hầu như số liệu trên đấy họ không cấp cho mình. Ngay cả Ủy ban sông Mêkông quốc tế cấp tiền cho Trung Quốc để đặt một số trạm trên dòng chính, nhưng họ chỉ cấp số liệu về mực nước thôi.
    Chúng tôi tính toán là, đánh giá hiện trạng và đặc biệt là dự báo trong tương lai rất khó. Nếu cái hiện trạng cũng thiếu, rồi tương lai mình cũng không có số liệu chắc chắn, không dự báo được, thì rõ ràng, giải pháp đưa ra có thể là sai, vì số liệu không đầy đủ. Như vậy, đầu tư có thể tốn kém, nhưng hiệu quả trong tương lai không đi theo hướng anh quy hoạch, đầu tư. Cần phải có số liệu tổng thể của toàn đồng bằng để tính toán, cân bằng nước, xem cách điều phối thế nào, thì cái đó phải xem xem toàn lưu vực thì mới giải quyết được.
    Các tác động của biến đổi khí hậu rồi các tác động của con người, đặc biệt là các nước thượng lưu kết hợp lại, thì chắc chắn trong tương lai đồng bằng sông Cửu Long của mình còn nhiều khó khăn hơn nữa.
    (Riêng về các vùng ở phía ven biển như) Bạc Liêu, thì số liệu trên vùng thượng lưu không quá ảnh hưởng, vì mùa khô Bạc Liêu chủ yếu sử dụng nước mặn để nuôi tôm, mà nước mặn thì rất dồi dào, chỉ cần mở cửa vận hành cống là nước mặn vào ».
    Về vấn đề này, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết :
    « Phía Việt Nam cần phải gióng lên tiếng chuông báo động. Tôi ở trong mấy hội nghị dính đến tài nguyên nước của vùng sông Cửu Long mở rộng, tôi cũng có phát biểu, nhưng mà tôi nghĩ chưa có thấm thía gì đâu.
    Cái dòng sông Cửu Long của mình, nói như bác sĩ Ngô Thế Vinh, dòng sông này nó đương bị ‘‘nghẽn mạch’’, nghẽn mạch thực sự, máu không lưu thông được ! Không có nước ngọt trên kia đưa xuống, thì nước mặn phải kéo vào là cái lẽ dĩ nhiên.
    Ủy ban Mêkông rất là bất lực khi nói đến việc sử dụng nước ở từng quốc gia thành viên của Ủy ban này. ».
    ***
    Việc thay đổi cơ cấu vật nuôi và cây trồng phù hợp với môi trường cụ thể, việc quy hoạch một hệ thống thủy lợi đa chức năng, hài hòa giữa mùa khô và mùa nước, nước mặn và nước ngọt, được điều chỉnh và xây dựng với sự tham gia thực sự của người nông dân và đáp ứng thực sự các nhu cầu của người dân, cùng với các biện pháp dự trữ, sử dụng tiết kiệm nước ngọt, được rất nhiều chuyên gia nhìn nhận như là các yếu tố quyết định để đồng bằng Cửu Long có thể vừa tận dụng được các lợi thế của vùng canh tác giáp biển, vừa hạn chế được các tác hại của nước mặn nhập sâu, trong bối cảnh nước ngọt ngày càng trở nên khan hiếm.
    Mặc dù tại nhiều nơi, người nông dân cùng với sự hỗ trợ của nhiều nhóm các nhà khoa học, kỹ thuật viên đã có những thay đổi chủ động để thích nghi với các biến đổi môi trường, tuy nhiên, những hạn chế của hệ thống thủy lợi hiện có là một trong các yếu tố chủ yếu khiến người canh tác tại các vùng ngập mặn đồng bằng Cửu Long ở trong tư thế thường xuyên phải đối phó với những biến đổi nhanh chóng và không dễ tiên liệu của môi trường nước. Đó là chưa kể hiểm họa đến từ phía ngoài, do mực nước biển dâng cao đe dọa cả một vùng rộng lớn hơn của đồng bằng châu thổ Nam Bộ, hệ quả của nhiệt độ trái đất tăng lên, và hiểm họa đến từ bên trên, do sự khai thác theo kiểu "mạnh ai nấy làm" trên dòng sông mẹ Mêkông.
    RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Võ Tòng Xuân, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Tiến sĩ Dương Văn Ni và Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền đã dành thời gian cho tạp chí hôm nay
    Các bài liên quan
    Tác động của đập thủy điện hạ lưu Mekong lên đồng bằng Cửu Long
    Những giải pháp cho sông Hồng, dòng sông đang bị "bức tử"
    Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết bảo vệ sông Mekong
    Dự đoán các tác động của quy định mới của Chính phủ VN đến nghề trồng lúa
    Tài nguyên đất châu thổ Mê Kông – Nam Bộ : tiềm năng và hiểm họa
    Cơ sở hạ tầng tác động đến môi trường châu thổ đồng bằng sông Cửu Long
    Bờ biển đồng bằng Cửu Long sạt lở nghiêm trọng vì phát triển không đúng cách

    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130320-dong-bang-cuu-long-doi-pho-voi-nuoc-man-nhap-sau

    vrijdag 16 mei 2014

    Việt Nam : Đồng Bằng Cửu Long đối phó với nước biển dâng cao

    THỨ NĂM 15 THÁNG NĂM 2014
    Đồng Bằng Cửu Long đối phó với nước biển dâng cao
    Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (DR)
    Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (DR)
    Thanh Phương
    Các quốc gia hạ lưu Mekong, bao gồm châu thổ Đồng Bằng Cửu Long Việt Nam (ĐBCLVN) nằm trong khu nhiệt đới, có nền kinh tế nông nghiệp nhưng vì năng suất của các loại hoa màu bị chi phối bởi nhiệt độ và độ ẩm, vì thế bị ảnh hưởng trầm trọng khi nhiệt độ không khí gia tăng và lượng mưa thay đổi. Ngoài ra ĐBCLVN là vùng đất thấp, có độ cao trung bình + 2,0m so với mặt biển, vì thế sẽ gánh thêm những hệ lụy của nước biển dâng cao.
    Nói đến tác động của mực nước biển dâng cao (MNBDC) thì có 6 lãnh vực bị ảnh hưởng: diện tích đất đai, dân số, tổng sản lượng quốc gia GDP, đô thị, nông nghiệp và vùng đất ngập nước. Việt Nam đứng đầu trong 4 lãnh vực và đứng nhì trong 2 lãnh vực còn lại.
    Theo báo cáo của chương trình “Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc” (UNDP, 2007 - 2008) Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi BĐKH và ĐBCL (Việt Nam), châu thổ sông Nile (Ai Cập) và châu thổ sông Ganges/Brahmaputra (Bangladesh) là 3 khu vực chịu những tác động nặng nề nhất của MNBDC. Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) dự đoán mực nước biển của toàn cầu sẽ dâng cao 1 - 2m vào cuối thế kỷ.
    Trong một nghiên cứu khác của Ngân hàng Thế giới về những tác động của MNBDC trên các quốc gia đang phát triển qua 3 kịch bản 1.0, 3.0 và 5.0 m, đối với châu thổ ĐBCL mực nước biển dâng cao từ 1-3m được xem như gần với thực tế.
    ĐBCL là vựa lúa của Việt Nam hàng năm cung cấp trên 20 triệu tấn gạo, đóng góp 48% tổng sản lượng lương thực của cả nước và 85% sản lượng gạo xuất khẩu, nhưng là vùng đất thấp nên được xem là điểm nóng của BĐKH và MNBDC.
    Để bên ngoài những tranh cãi về sinh hoạt của con người và những thay đổi về nhiệt độ của trái đất, những giải pháp khả thi để giảm thiểu phát thải khí nhà kính hay ảnh hưởng của những tiến trình tan chảy các tản băng, chúng ta phải nhìn nhận MNBDC là một hiện thực, xảy ra dọc theo bờ biển của các quốc gia vùng Đông Nam Á.
    Qua những theo dõi và đo đạt ở 4 trạm quan trắc của Việt Nam thì mực nước biển của Việt Nam từ nhiều năm qua đã dâng cao với tốc độ 1,75 - 2,56 mm/năm (Tường 2001) và mực nước biển ở vịnh Manila (Philippines) dâng cao 20cm trong khoảng thời gian 1960s -1990s (Perez và công sự, 1996).
    Những tổn thất gây ra bởi BĐKH và MNBDC thay đổi tùy theo địa hình của từng địa phương và hoàn cảnh xã hội cùng điều kiện kinh tế của từng quốc gia, nhưng riêng đối với VN và ĐBCL, sẽ rất to lớn nếu không có những biện pháp ứng phó hữu hiệu và kịp thời. RFI phỏng vấn tiến sĩ Huỳnh Long Vân, thuộc Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai & Cửu Long, Úc châu :

    TS Huỳnh Long Vân, Sydney
     
    11/05/2014
     
     
    RFI : Xin kính chào Tiến sĩ Huỳnh Long. Trước hết xin ông cho biết về những ảnh hưởng của MNBDC trên ĐBCL vào mùa khô (Ngập Triều)?
    TS Huỳnh Long Vân: Mực nước của ĐBCL bị chi phối bởi nguồn nước thượng nguồn sông Mekong và thủy triều Biển Đông và vịnh Thái Lan ở phía Tây. Vào mùa khô, lưu lượng sông Mekong sụt giảm đáng kể (# 2000m3/s gần bằng 1/20 của mùa mưa), mực nước sông Mekong xuống thấp khiến nước mặn xâm nhập vào nội điạ. 1.7 triêu ha đất của ĐBCL, tương đương với 45% diện tích đất canh tác, bị nhiễm mặn; vùng ven biển (Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cà Mau, Kiên Giang) bị nước mặn xâm thực trầm trọng do khai thác nước ngầm để canh tác và dùng trong gia đình; đào kinh thủy lợi và xây các đập thủy điện ở thượng nguồn; nước sông Hậu cách Cần Thơ 15km đã có nồng độ muối 10/ 00, so với bình thường độ mặn này phải cách Cần Thơ gần nhứt là 40 - 50km.
    Trong tương lai MNBDC sẽ làm cho tình trạng nước mặn xâm thực trở nên tồi tệ hơn. Vùng ngập mặn vĩnh viễn sẽ lấn sâu vào nội địa 25km trong trường hợp nước biển dâng 20cm và 50km ở kịch bản mực nước biển dâng cao 45cm (Cơ quan Quốc tế Quản lý Môi trường - ICEM) và đến năm 2050, khi mực nước biển dâng cao 30cm cuộc sống của hơn 1 triệu cư dân ĐBCL sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi bờ biển bị xói lở và mất đất canh tác, chủ yếu bởi sự sút giảm phù sa của các con sông gây ra bởi các công trình thủy điện thượng nguồn, MNBDC và dông bão gia tăng.
    RFI : Còn về tác động của MNBDC trên ĐBCL vào mùa mưa (Ngập Lũ), thưa Tiến sĩ?
    TS Huỳnh Long Vân : Hàng năm vào cuối tháng 9 đến giữa tháng 10, lưu lượng sông Mekong tăng vọt đến 40 - 50 ngàn m3/s gây ngập lụt sâu 0.5 – 4,0m, kéo dài 2 - 5 tháng. Lũ ĐBCL do nhiều lực tác động: nước từ thượng nguồn sông Mekong đỗ về, gíó mùa, thủy triều và nước biển dâng cao. Nước biển dâng cao làm giảm độ dốc của dòng chảy những con sông, khiến lũ thoát chậm, ngập lụt sâu và kéo dài hơn bình thường.
    Nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2013) cho thấy:
    * trong trường hợp mực nước biển dâng 50cm, 34% diện tích ĐBCL sẽ bị ngập, trong đó 17% bị ngập thường xuyên > 0,5m và
    * trong kịch bản mực nước biển dâng cao 1,0m, thì 69% diện tích ĐBCL sẽ bị ngập trong đó 41% diện tích sẽ bị ngập sâu > 1,0m và 62% diện tích ĐBCL bị ngập thường xuyên > 0,5m.
    Trong trường hợp có lũ lớn như năm 2000 kết hợp với BĐKH, thì:
    * 84% diện tích ĐBCL có thể bị ngập sâu > 50cm trong kịch bản NBDC 50cm và 96% trong kịch NBDC 100cm so với hiện trạng là 50% diện tích ĐBCL.
    Diện tích ngập nông tăng 1,1 - 1,5 triệu ha.
    Diện tích ngập sâu > 1,0m và kéo dài > 1 tháng tăng 0,34 - 1,6 triệu ha.
    Những kết quả nghiên cứu khoa học sau đây của hai Nhóm Wassmann và Ziedler cho thấy tác động của MNBDC trên ĐBCL trầm trọng hơn.
    Theo nghiên cứu của Nhóm Wassmann: trong truờng hợp mực nước biển dâng cao 20cm tức vào năm 2030 thì phạm vi ngập lụt của đồng bằng Cửu Long vào tháng 8 sẽ mở rộng thêm 15 - 25km hướng về phía biển, ảnh hưởng 69 - 91% của châu thổ và đến 2070 khi mực nước biển dâng cao 45cm thì phạm vi ngập lụt vào tháng 8 sẽ mở rộng thêm 40 - 45km về phiá đông so với hiện nay, làm ngập 86 - 100% đồng bằng Cửu Long.
    Hậu quả là năng xuất của vụ lúa Mùa bị suy giảm, gây trở ngại cho thu hoạch vụ Hè Thu và làm chậm trễ lịch xuống giống vụ Đông Xuân. Cũng theo nghiên cứu này: nếu vụ Hè Thu được bắt đầu sớm hơn tức vào giửa tháng 3 năng xuất cũng giảm 8-18%.Tương tư như vậy xuống giống trễ vụ Đông Xuân cũng có thể gặp phải những khó khăn bởi tình trạng mặn xâm nhập sau vào nội địa vào mùa khô.
    Kết quả nghiên cứu khác của Zeidler (1997) là một hình ảnh ảm đạm đối với ĐBCL: Trong trường hợp MNBDC 1m, toàn thể châu thổ bị ngập úng hàng năm vào mùa mưa. Vì 78% diện tích ĐBCL dùng trong canh tác nông nghiệp nên tổn thất khi toàn vùng ĐBCL bị ngập hàng năm lên đến khoảng 17 tỷ Mỹ kim (Ericson và cộng sự 2006).
    RFI : Riêng về tác động của MNBDC trên các bãi biển Việt Nam?
    TS Huỳnh Long Vân : Ngoài hai tác động trên mực nước của ĐBCL, mực nước biển dâng cao sẽ nâng cao độ dốc của một số bãi biển, lớp cây rừng thiên nhiên bao che bờ biển mất dần (bị hủy hoại và di dời đến những nền đất thích hợp), năng lượng và tác động của sóng biển cũng gia tăng khiến bờ biển ĐBCL (Gò Công, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Rạch Giá) bị xói lở khóc liệt hơn, nếu không có những biệp pháp ứng phó kịp thời.
    Nói tóm lại nước biển dâng sẽ làm cho ruộng đồng và nguồn nước bị nhiễm mặn; một diện tích rộng lớn hơn của ĐBCL bị ngập úng sâu và trong thời gian kéo dài; diện tích canh tác sẽ bị thu hẹp. Cùng với những tác động tiêu cực khác của BĐKH như gia tăng nhiệt độ, hạn hán, thời tiết cực đoan bất thường, nước biển dâng cao sẽ gây thiệt hai cho lãnh vực nộng nghiệp và hệ sinh thái và theo đó cơ cấu xã hội bị tổn thương.
    RFI : Ông có nhận xét thế nào về giải pháp của chính phủ và của người dân ứng phó với MNBDC ?
    TS Huỳnh Long Vân : Để ứng phó với những tác động của MNBDC, Bộ Tài nguyên và Môi Trường của CHXHCNVN đã thiết lập kế họach cấp quốc gia, thực hiện qua 3 giai đoạn:
    2009-2010: Giai đoạn khởi đầu
    2011-2015: Giai đoạn triển khai
    2015- : Giai đoạn phát triển
    với những giải pháp công trình và phi công trình.
    a. Giải pháp công trình
    Một cách tổng quát thì trên toàn thể vùng ĐBCL nhiều kế hoạch đã được thực hiện tập trung vào việc củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê, kè song, kè biển, hệ thống công trình thủy lợi nhằm điều tiết lũ, ngăn mặn, giử ngọt v.v...Thí dụ: nâng cấp đê biển ở phía Tây Cà Mau, xây dựng công trình cống sông Kiên (Rạch Giá), hệ thống ngăn triều chống ngập ở Bạc Liêu, nâng cấp đê biển, xây dựng đê bao chống ngập úng vùng trũng, xây dựng hệ thống ngăn mặn ở Sóc Trăng.
    b. Giải pháp phi công trình
    Phát động phong trào vận động dân chúng tham gia bảo vệ môi trường và tài nguyên, uyển chuyển trong sử dụng nguồn nước; xây dựng năng lực nghiên cứu, giám sát BĐKH, dự báo cảnh báo thiên tai; thường xuyên cập nhật, hoàn thiện kịch bản BĐKH và MNBDC cụ thể cho giai đoạn 2030-2050.
    * Ngoài ra Viện Thủy Lợi Miền Nam và Việt Nam cũng đã kiến nghị lên chánh phủ CHXHCN VN đề án “Quy họach Thủy lợi ĐBCL” khởi đầu ở 2 vùng thí điểm: Nam Vàm Nao (chống ngập lũ) và Nam Măng Thít (chống ngập triều).
    * Về phía người dân, trong nhiều năm qua nông dân ĐBCL đã tự thích ứng với những thay đổi của môi trường như đa dạng hóa hệ thống sản xuất và luân chuyển các vụ mùa ở các vùng đất nhiễm mặn: nuôi tôm vào mùa khô và trồng lúa vào mùa mưa thay vì trồng lúa 3 mùa và bắt đầu sử dụng những giống lúa chịu mặn.
    RFI : Theo ông, những bài học cần rút ra từ những biện pháp đối phó đã được thực hiện: ?
    TS Huỳnh Long Vân : Những biện pháp ứng phó do chính phủ đề ra và bản năng thích ứng của người dân với những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên là những động thái rất khích lệ. Tuy nhiên hy vọng khi xây dựng những công trình ứng phó với MNBDC giới hữu trách VN rút được những bài học từ các lỗi lầm trong quá khứ như:
    * Xây dựng các cống ngăn mặn nhằm “Ngọt hoá Bán đảo Cà Mau”, gây mâu thuẩn về quyền lợi giữa người trồng lúa và kẻ nuôi tôm, làm ô nhiễm môi trường, đe doạ cuộc sống của ngưởi dân trong vùng khiến cư dân nửa đêm đứng ra đập phá các công trình này.
    * Đấp đê bao ở vùng Đồng Tháp, Tứ Giác Long Xuyên để làm lúa 3 mùa, gây ra những hậu quả tiêu cực cho môi trường: hệ thống đê bao ngăn lũ làm cho tình trạng ngập úng vào mùa nước lũ trở nên phức tạp hơn: nước ngập cao, thời gian rút chậm, khiến hàng ngàn ha rừng tràm bị chết hàng loạt, và các bờ sông và đường xá bị sạt lở, hư hỏng và hoàn thành những mục tiêu đề ra một cách tốt đẹp.
    Nước biển dâng cao tùy thuộc vào những tiến trình vật lý và sinh học, trong đó mức độ tan chảy của các tảng băng địa cực và các lớp nước đá của địa cầu rất khó tiên liệu vì thế dự đoán MNBDC không được chính xác: có thể dâng cao từ 0,5 đến 7,0 m vào năm 2100 nhưng cũng có thể 1- 2 m, con số mà IPCC cho là gần với thực tế.
    Hơn thế nữa MNBDC diễn tiến từ từ qua từng thập niên nên thiết nghĩ các kế hoạch nhằm hữu hiệu hoá hệ thống kiểm soát và phân phối nguồn nước cần được tiến hành từng bước, dựa vào kết quả của những chương trình nghiên cứu khoa học sâu rộng; những thay đổi về nhiệt độ, mực nước biển dâng cao cần được liên tục theo dõi, đo đạt để từ đó hoàn chỉnh kịch bản BĐKH đối với ĐBCLVN và xây dựng phương án ứng phó thích hợp và kịp thời.
    Lúa gạo và hoa màu ĐBCL đảm bảo lương thực cho cả xứ và BĐKH và MNBDC ảnh hưởng đến năng xuất của châu thổ nên việc nghiên cứu và tìm kiếm các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu đựng thời thiết khắc nghiệt cũng là điều phải quan tâm đến.
    Sau cùng chúng ta trân trọng sự hỗ trợ của:
    * chánh phủ Liên bang Úc châu qua chương trình CLUES: đánh giá và thích ứng với những ảnh hưởng của BĐKH trên sản xuất nông nghiệp ở ĐBCL; ứng dụng kỹ thuật lai giống sinh học để tân tạo và phát triển các giống lúa chịu mặn.
    * chánh phủ Hoa Kỳ qua chương trình “Sáng Kiến Hạ lưu Mekong”, đặc biệt với hệ thống vệ tinh giúp theo dõi và ghi đo mực nước biển vùng ĐBCL.
    * và chánh phủ của một số các quốc gia khác như Nhật Bản, Hòa Lan, Na Uy, Đức .v.v.. về các kế hoạch ứng phó với tình trạng sạt lở bờ biển ĐBCL ngày càng trầm trọng gây ra bởi những ảnh hưởng của BĐKH.
    RFI : Xin cám ơn Tiến sĩ  Huỳnh Long Vân.
    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140515-dong-bang-cuu-long-doi-pho-voi-nuoc-bien-dang-cao

    dinsdag 7 mei 2013

    Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long

    Thứ hai 06 Tháng Năm 2013
    Biến đổi khí hậu tác động lên vùng đồng bằng Cửu Long
    Một đồng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long
    Một đồng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long
    Thanh Phương
    Vào đầu tháng Tư vừa qua, Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ - Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA) đã ra một báo cáo về tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng hạ lưu Mekong, trong đó có vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. 
    Trước những tác động này, nông dân đồng bằng Cửu Long và chính quyền Việt Nam nên có những biện pháp như thế nào để đối phó? Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu.

    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân
     
    02/05/2013
     
     
    RFI : Xin kinh chào tiến sĩ Huỳnh Long Vân. Trước hết ông có nhận định thế nào về báo cáo của cơ quan USAID về tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng hạ lưu Mekong?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Báo cáo của Cơ Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ - Ủy Ban Đặc Trách Phát Triển Khu Vực Á Châu (USAID-RDMA), mang tên “Khả năng Thích ứng và Hồi phục của vùng Mekong đối với BĐKH” là đề án nghiên cứu khoa học có thời hạn 5 năm được USAID-RDMA tài trợ, có mục đích nghiên cứu những tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) và ứng phó của vùng hạ lưu Mekong.
    Đặc điểm của phần nghiên cứu là chọn 9 tỉnh thành tiêu biểu trong vùng hạ lưu Mekong và xem đây như là những “điểm nóng” của khu vực gồm : Kiên Giang và Gia Lai ở Việt Nam, Mondul Kiri, Kamong Thom và Stung Treng ở Cao Miên; Champasak và Khammouan ở Lào và Sakon Nakhon và Chang Rai ở Thái Lan. Những nơi này có những đặc tính tượng trưng cho hệ sinh thái của toàn thể lưu vực, sản xuất hỗn hợp các mùa màng chánh có giá trị thương mại, được dự đoán có nhiệt độ không khí và lượng mưa biến đổi và sau cùng những thay đổi do BĐKH sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể về sản xuất và cuộc sống của người dân nơi đây. Để từ đó tìm hiểu về những tác động của BĐKH trên hệ sinh thái, trên các khu vực trồng trọt hiện rất thích hợp cho mùa màng và trên cuộc sống cùng cơ hội sống còn của người dân điạ phương.
    Kết quả nghiên cứu được công bố tại Bangkok vào 08/04/2013 cho thấy những ảnh hưởng của BĐKH trên hạ lưu Mekong có phần nghiêm trọng hơn các nơi khác trên thế giới. Ông Jeremy Carew-Reid, người cầm đầu đề án nghiên cứu đồng thời cũng là Giám Đốc Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường cho rằng vùng hạ lưu Mekong sẽ trải nghiệm những biến đổi cực đoan về nhiệt độ và lượng mưa, vượt xa những tiên đoán trước đây; nhiệt độ không khí trong vùng có chiều hướng tăng gấp 3 lần so với các nơi khác trên thế giới và đến năm 2050, nhiệt độ không khí vùng hạ lưu Mekong tăng khoảng 4°C.
    Báo cáo này còn cho biết là dưới ảnh hưởng của nhiệt độ tăng và thiếu nước vào mùa khô, năng suất của lúa sẽ giảm ở 7 (ngoại trừ Sakon Nakhon) trong số 8 nơi [Mondul Kiri, Kampong Thom, Stung Treng (Cao Miên); Gia Lai (Việt Nam); Champasak, Khammouan (Lào); Chang Rai, Sakon Nakhon (Thái Lan)] được nghiên cứu. Những vùng hiện nay trồng cây cà phê như Gia lai của Việt Nam, Mondul Kiri ở phía Đông Cao Miên và Champasak, Attapeu của Lào trong tương lai sẽ không còn thích hợp, do nhiệt độ không khí và lượng mưa gia tăng.
    Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho biết khoai mì trồng ở những vùng đất thấp ở Hạ Lào, Cao Miên và Cao nguyên ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ không khí gia tăng. Thiệt hại nặng nề nhứt là bắp và đậu nành hiện trồng ở Darlac, Kampong Thom, Battambang, Vientianne, Khamouane (Lào); những nơi này trong tương lai có lượng mưa gia tăng làm giảm năng suất và toàn vùng hạ lưu Mekong sẽ không có nơi nào thích hợp để trồng hai loại hoa màu này.
    Tuy nhiên cũng theo báo cáo này, thì gia tăng nhiệt độ và lượng mưa không đồng nghĩa với hoàn toàn gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp vì hiên nay một số nơi như vùng Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Kontum vốn có nhiệt độ thấp và ít mưa nhưng trong tương lai nhờ vũ lượng cao và khí hậu ấm hơn sẽ là những vùng thích hợp để trồng hai loài cây cao su và cà phê.
    Về thủy sản, báo cáo cho biết BĐKH sẽ làm giảm khối lượng cá có trong vùng vì mưa bất thường làm thay đổi chu kỳ lũ tự nhiên của sông Mekong ảnh hưởng đến sự hoán trú và sinh trưởng của các loài cá và ngoài ra còn ảnh hưởng đến ngành nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển vì các trận lũ đột ngột sau những lần mưa lớn sẽ bất ngờ làm giảm độ mặn, gây thiệt hại ngành nuôi tôm nước mặn.
    RFI : Cho tới nay thì các nhà khoa học dựa trên những kịch bản nào để dự đoán về biến đổi khí hậu ở vùng hạ lưu Mekong?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Vào năm 1999, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường của Việt Nam (MONRE) dựa trên dữ liệu khí tượng ghi được trong khoảng thời gian 1980-1999 và dùng kịch bản phát thải khí nhà kính B2, dự đoán nhiệt độ sẽ tăng 0.6°C ở miền Nam Việt Nam vào năm 2030, và qua trao đổi cá nhân với một nhà khoa học VN về BĐKH, được biết gần đây nhất vào ngày 17/04/2013, MONRE đưa ra bản đánh giá mới, dự đoán nhiệt độ ở miền Nam Việt Nam sẽ gia tăng khoảng 2.2°C vào năm 2100.
    Mặt khác, báo cáo của Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Biến Đổi Khí Hậu Dragon-Mekong, Trường Đại học Cần Thơ và Trung Tâm Start Đông Nam Á, thuộc Đại học Chulalongkorn, Thái Lan, sử dụng 2 kịch bản phát thải khí nhà kính A2 và B2 với mô hình PRECIS RCM nhờ có độ phân giải cao nên được dùng để dự đoán BĐKH ngay cả cho những khu vực có kích thước chỉ đến 25km đường kính và kết quả cho thấy nhiệt độ tối đa trung bình ở vùng đồng bằng Cửu Long Việt Nam (ĐBCLVN) có thể tăng khoảng 2°C vào thập niên 2030.
    Tương tự như vậy, nghiên cứu của Nhóm Lobell năm 2008 dự đoán khu vực nằm trong vĩ độ 23 ½° Bắc và 23 ½° Nam, trong đó có vùng hạ lưu Mekong, nhiệt độ tăng khoảng 1°C từ 1980-1999 đến 2000-2039 trong các quốc gia nông nghiệp và đang phát triển, và có thể tăng lên đến 2°C trong vài trường hợp.
    Khác với những kết quả nêu trên, báo cáo của nhóm USAID-RDMA cho thấy tác động của BĐKH trên vùng hạ lưu Mekong có phần khốc liệt hơn, nhiệt độ vùng hạ lưu Mekong có chiều hướng tăng vọt, tăng khoảng 4°C vào năm 2050 và tăng 6°C vào năm 2100. Thông tin này gây ít nhiều dao động cho giới hữu trách của khu vực hạ lưu và đặt ra một số câu hỏi cần giải đáp:
    - Trong thực tế vùng hạ lưu Mekong trong suốt thời gian gần 30 năm qua, nhiệt độ không khí chỉ tăng khoảng 0.5° C và những dữ liệu về khí tượng của Thái Lan, thí dụ như ở vùng Songkhla cho thấy trong khoảng thời gian 30 năm từ 1981-2010 nhiệt độ tối đa của không khí trong vùng tăng 0.52°C/30năm và nhiệt độ tối thiểu tăng 0.55°C/30 năm. Như thế thử hỏi yếu tố nào khiến nhiệt độ không khí vùng hạ lưu Mekong tăng thêm 4°C trong vòng 37 năm sắp tới và trở thành một khu sa mạc của vùng Đông Nam Á?
    - Những thông số về biến đổi khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa, mực nước biển là kết quả dự đoán của nhiều mô hình khác nhau, là những đáp số của các phương trình toán học dựa trên những giả thuyết về các kịch bản phát thải khí nhà kính, được thiết lập từ 5 dẫn lực có biên độ thay đổi rất cao như yếu tố dân số, phát triển kinh tế, sử dụng năng lượng, ứng dụng công nghệ và sản xuất nông nghiệp. Vì thế phải chăng đây là lý do khiến có những khác biệt đáng kể nêu trên trong những dự đoán về nhiệt đô gia tăng dưới tác động của BĐKH trên vùng hạ lưu Mekong?
    - Nếu những dự đoán mới đây của các nhà khoa học USAID-RDMA là điều sẽ thực sự xảy ra trong tương lai, thử hỏi các mô hình và các kịch bản thải khí nhà kính được dùng trước đây để tiên đoán về những tác động của BĐKH còn có giá trị và hữu dụng nữa không?
    Ngoài ra báo cáo của Nhóm USAID-RDMA còn cho biết: do ảnh hưởng của BĐKH, nên lượng mưa trong vùng hạ lưu Mekong sẽ thay đổi bất thường, làm giảm khối lượng cá trong sông Mekong; tuy nhiên thiết nghĩ tác động này của BĐKH có thể là thứ yếu so với những hậu quả vô cùng tai hại của các đập thủy điện xây trên dòng chính hạ lưu Mekong.
    Chúng ta hoan nghênh những đóng góp của cộng đồng quốc tế nhằm hỗ trợ các quốc gia trong hạ lưu Mekong ứng phó với những tác động của BĐKH vì thế nêu lên những nhận xét trên, không có nghĩa là phủ nhận hay hoài nghi về giá trị của công trình nghiên cứu của Nhóm USAID-RMDA, vì chúng ta đồng ý với những kết quả và nhận định sau đây :
    * Các vùng Chang Rai ở Bắc Thái Lan, Loaung Namtha, PhongSali, Oudomxal ở Bắc Lào, Kontum ở Việt Nam hiện có nhiệt độ thấp và ít mưa sẽ trở nên thích hợp cho các cây cao su, cà phê vì trong tương lai khi nhiệt độ ở đấy sẽ tăng lên và lượng mưa cũng nhiều hơn.
    * Ngành nuôi tôm nước mặn vào mùa khô sẽ bị ảnh hưởng vì các trận mưa lớn có khả năng làm giảm độ mặn của nước trong các ao nuôi tôm; kết quả này trùng hợp với những dự đoán của các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon-Mekong trong một nghiên cứu về tác động của BĐKH ở các vùng ven biển của châu thổ ĐBCLVN vào mùa khô.
    * Mùa màng có thể bị thất thoát nặng vì bệnh dịch hay bị hủy hoại bởi sâu, rầy, côn trùng. Thực vậy, vì nhiệt độ cao sẽ gia tốc chu trình sinh trưởng giúp các nấm độc nảy nở (như nấm Pyricularia oryzae Cav. hay P. grisea (Cook ) Sacc. gây bịnh ôn đạo ở cây lúa), vi sinh vật nguy hiểm bộc phát (vi trùng Xanthomonas campestris Oryzea gây bịnh bạc lá lúa, vi khuẩn Rice grassy stunt virus (RGSV) gây bịnh vàng lùn-lúa cỏ, vi khuẩn Rice ragged stunt virus (RRSV) gây ra bịnh vàng xoán lùn) và sinh ra nhiều sâu, rầy, bọ xít, bọ trỉ làm hại lúa (như rầy nâu Nilaparvata lugens, là vectơ truyền bịnh vàng lùn và vàng xoắn lùn).
    ĐBCLVN là vựa lúa của VN đóng góp vào an ninh lương thực cho xứ sở và toàn cầu và khoa học đã chứng minh nhiệt độ cao ảnh hưởng đến năng xuất của cây lúa:hoặc trên tiến trình quang hợp, hô hấp hay trên khả năng làm ra hột gạo của cây lúa. Vì thế báo cáo của Nhóm các nhà khoa học USAID-RDMA không có phần đề cập chi tiết đến những tác động của BĐKH riêng biệt cho vùng châu thổ ĐBCLVN là điều đáng tiếc, nếu không nói là thiếu sót.
    RFI : Như vậy, riêng về vùng đồng bằng sông Cửu Long, biến đổi khí hậu có tác động như thế nào, nhất là trên mùa màng ở vùng này ?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Ủy Ban Liên Chánh phủ về BĐKH (IPCC 2007) qua phân tích chuỗi số liệu về nhiệt độ và mực nước biển đo đạt trong suốt thế kỷ qua đã xếp châu thổ ĐBCLVN là một trong 3 châu thổ trên toàn cầu [châu thổ ĐBCLVN, châu thổ sông Ganges (Ấn Độ) và châu thổ sông Nile (Ai Cập)] bị tác hại trầm trọng nhứt bởi BĐKH. ĐBCLVN là vùng đất hình thành từ sự trầm tích phù sa của sông Mekong, tiêu biểu với điạ hình rất thấp và bằng phẳng, ngập nước ở ven biển. Tổng quát mặt đất có cao độ khoảng 1-2m so với mực nước biển trung bình. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản là hai trụ cột kinh tế của cư dân trong vùng, mỗi năm góp phần cho cả nước trên 50% nông sản lúa, 65% thủy sản và khoảng 75% sản lượng trái cây.
    Nếu tốc độ phát thải khí nhà kính tiệp tục gia tăng như hiện nay hay nhiều hơn nữa và nhân loại không có những biện pháp hữu hiệu để đối phó, thì đến cuối thế kỷ XXI, ĐBCLVN sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển. Chương trình Phát Triển của Liên Hiệp Quốc UNDP 2007 có phần đánh giá như sau: “Khi mực nước biển tăng lên 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa và sản lượng nông nghiệp giảm 7%, tương đương với 10 % tổng sản phẩm nội địa (GDP)”.
    Năm 2009, Trung tâm START Vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon-Mekong, Trường Đại học Cần Thơ đã phối hợp nghiên cứu BĐKH vùng châu thổ ĐBCLVN, sử dụng hai kịch bản phát thải khí nhà kính A2 và B2 và mô hình PRECIS RCM để dự đoán về những tác động của BĐKH và kết quả thu thập được như sau:
    Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ tăng từ 33-35°C đến 35-37°C. Khu vực bị tác động chủ yếu là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang. Ở các vùng giáp biên giới với Cao Miên, vùng Tây sông Hậu, số ngày nắng nóng trên 35°C cũng nhiều hơn khoảng 2 tháng.
    Lượng mưa đầu vụ lúa Hè Thu sẽ giảm khoảng 10-20% trên toàn thể ĐBCLVN, đầu mùa mưa bắt đầu trễ hơn khoảng 2 tuần lễ. Mưa có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu, nhưng gia tăng vào cuối mùa mưa ở các vùng ven biển.
    Diện tích ngập lụt ở ĐBCLVN do lũ gây ra sẽ gia tăng và ranh giới ngập lũ vào tháng 9-10 có xu hướng mở rộng về phía bán đảo Cà Mau.
    Khí áp thấp nhiệt đới và bão có khuynh hướng gia tăng vào cuối năm và số trận bão lốc ở vùng ven biển ĐBCLVN có xu thế gia tăng.
    Mực nước biển dọc theo bờ biển VN có dấu hiệu gia tăng và ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ dâng thêm 33cm và đến năm 2100 lên đến 1m.
    Nhiệt độ không khí gia tăng không những làm giảm năng xuất của các loài ngũ cốc,nhưng còn có thể gây ra các trận cháy các rừng ngập mặn ở bán đảo Cà Mau, rừng tràm U Minh, Trà Sư, Tam Nông, các đồng cỏ ở Kiên Giang, Đồng Tháp và từ đó thu hẹp diện tích của những khu vực có khả năng tích giữ carbon, điều này làm tăng thêm hiệu ứng của khí nhà kính.
    Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế, an ninh lương thực và áp lực của dân số gia tăng khiến các quốc gia ở thượng nguồn đẩy mạnh việc khai thác nguồn nước sông Mekong. Các đập thủy điện, công trình chuyển nước sông Mekong cho những vùng khô hạn, sự hình thành các khu kỹ nghệ, khu dân cư dọc theo hai bờ sông Mekong sẽ làm tình hình thêm nghiêm trọng.
    Hậu quả là dòng chảy sông Mekong sẽ bất thường, mùa khô ít nước và chu kỳ lũ ngập thiết yếu cho tính phì nhiêu của ruộng đồng và thủy sản dồi dào, cũng sẽ biến đổi. Phù sa bị giữ lại ở các hồ chứa khiến đất đai vùng đồng bằng thiếu màu mỡ, hệ sinh vật thiếu dinh dưỡng và sự bồi tụ bán đảo Cà Mau cũng bị giới hạn. Các đập thủy điện sẽ ngăn cản các loài cá di chuyển lên xuống dọc theo dòng sông khiến chu trình sinh trưởng của các loài cá bị gián đoạn và từ đó khối lượng cá bị giảm sút.
    RFI : Cho tới nay, nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã ứng phó như thế nào với những tác động của biến đổi khí hậu ?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Từ xưa nông dân vùng ĐBCLVN đã sáng tạo ra nhiều hình thức “sống chung với lũ” như xây đê lửng, cất nhà sàn, điều chỉnh lịch thời vụ, chọn các giống lúa thích hợp. Tất cả các phương cách đối phó của người dân ĐBCLVN thường mang tính tự phát, hoặc chọn lựa theo tình hình, nhằm giảm thiểu tác động và thích ứng với tự nhiên.
    Giờ đây, đứng trước những tác động tiêu cực của BĐKH, quan điểm “sống chung với BĐKH” hiện chưa phải là một khẩu hiệu chính thức tuy nhiên một số nơi trong ĐBCLVN đã được người dân nói đến và cả hai đường hướng giảm nhẹ và thích ứng được thể hiện song song với nhau trong xã hội ĐBCLVN như xây các ao hồ để trữ nước, cùng lúc với tiết kiệm nước, chọn giống cây có tính kháng chịu bất lợi về thời tiết, điều chỉnh thời vụ, trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô ở các vùng ven biển, sử dụng nguồn năng lương thay thế như dùng khí sinh học từ phân chuồn.
    RFI : Về phía chính phủ Việt Nam, theo ông thấy họ đã thực hiện những biện pháp nào để đối phó với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Do nhận thức được nguy cơ về tác động của BĐKH và nước biển dâng trên khả năng phát triển kinh tế và xã hội của VN nói chung và ĐBCLVN nói riêng, các nhà khoa học của VN và quốc tế đã cảnh báo, và đề nghị những giải pháp cần thiết nhằm ứng phó với ảnh hưởng của quả đất bị hâm nóng đối với vùng ĐBCLVN, vì đó là mối đe doạ lớn cho an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
    Kết quả là trong những năm vừa qua Việt Nam thực sự có tiến hành một số chương trình ứng phó với những tác động của BĐKH nhằm bảo đảm sản xuất nông ngư nghiệp của ĐBCLVN như xây dựng đê biển, trồng cây, trồng rừng để bảo vệ vùng ven biển, thiết lập các cống ngăn mặn ở vùng ven biển, xây dựng các nhà cộng đồng làm nơi cư ngụ tránh lũ bão cho người dân v.v...và ngoài ra VN hiện có chánh sách nhằm ứng phó với nội dung gồm 4 điểm:
    Đánh giá tác động của BĐKH đối với các lãnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn. (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường vừa công bố báo cáo mới nhứt vào ngày 17/04/2013 cập nhựt hoá những Tác động của BĐKH đối với VN).
    Thiết lập kế hoạch hướng dẫn có tính khả thi để ứng phó với hậu quả của BĐKH cho từng giai đoạn. (Viện Nghiên cứu B ĐKH Dragon-Mekong tiến hành kế hoạch “Lồng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội địa phương vùng ĐBCLVN” và qua đó, các nhà khoa học tiếp cận với người dân và nhà cầm quyền địa phương để thu thập, phân tích các dữ liệu liên quan đến BĐKH; phân tích cội gốc của vấn đề: khó khăn, tác động và đề xuất các giải pháp cho hiện tại và tương lai cùng mở các khóa tập huấn cho người dân địa phương.
    Tận dụng cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng carbon thấp (Đầu tư khai thác thủy điện, thiết lập Trung tâm Năng lượng Sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ).
    Tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH (“Sáng kiến Hạ lưu Mekong” với chương trình “Dự đoán Mekong” do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tài trợ và đề án CLUES của Úc châu, nghiên cứu chế độ canh tác nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính Methane trong sản xuất nông nghiệp).
    RFI : Cụ thể hai chương trình của Mỹ và Úc dành cho vùng hạ lưu Mekong đuợc thực hiện như thế nào?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : “Sáng Kiến Hạ lưu Mekong” do bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đề nghị và được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bảo trợ, ra đời vào năm 2009 với mục đích cổ vũ hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực trong các lãnh vực giáo dục, y tế, môi trường và phát triển các cơ sở hạ tầng.
    Riêng đối với ĐBCLVN, Trung tâm Khảo sát Điạ chất của Hoa Kỳ (US Geological Survey) và Đại học Mississipi phối hợp giúp thành lập Viện Nghiên cứu B ĐKH DRAGON-Mekong (Delta Research And Global Observation Network) tại Đại học Cần Thơ và với chương trình “Dự đoán Mekong” (Forecast Mekong), đã thiết lập những mô hình để tiên đoán tác động của BĐKH và những thách thức trong sự phát triển bền vững của vùng hạ lưu Mekong; sử dụng hệ thống vệ tinh để ghi đo mực nước biển vùng ĐBCLVN cũng như theo dõi sự di chuyển của các loài cá trong sông Mekong góp phần đánh giá những tác động tiêu cực của các đập thủy điện xây trên dòng chính hạ lưu Mekong trên khối lượng cá.
    ĐBCLVN là vùng sản xuất lúa gạo chánh của Việt Nam. Về nông nghiệp ĐBCLVN có thể được phân loại theo các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, tùy theo chế độ thủy văn, đặc biệt là ảnh hưởng của độ sâu và thời gian ngập, khả năng tưới và độ mặn của nguồn nước.
    Trong hơn 30 năm qua, nông dân ĐBSCLVN đã tự thích ứng với những thay đổi của môi trường bằng cách điều chỉnh và đa dạng hóa hệ thống sản xuất, tuy nhiên ĐBCLVN vẫn còn tồn tại nhiều trở ngại hạn chế khả năng thích ứng của nông dân, đặc biệt là trong tương lai trước những khó khăn gây ra bởi BĐKH.
    Qua chương trình viện trợ giảm nghèo của Chánh phủ Liên bang Úc châu dành cho ĐBCLVN, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Úc châu (ACIAR) đã tài trợ đề án CLUES nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến việc sử dụng đất ở ĐBCLVN: “Sự Thích ứng của hệ thống canh tác lúa trước những ảnh hưởng của BĐKH”.
    Đây là một chương trình nghiên cứu quốc tế do Viện Nghiên cứu Quốc tế Lúa của Phi Luật Tân (IRRI) chủ quản với các đối tác là Viện Nghiên cứu Khoa hoc và Ứng dụng Công nghệ Úc châu (CSIRO), Viện Nghiên cứu BĐKH Dragon - Mekong Trường Đại Học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Lúa Cửu Long, Viện Thủy lợi Miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam v.v…
    Mục đích tổng thể của dự án là tăng cường khả năng thích ứng của các hệ thống sản xuất lúa ở ĐBCLVN và mục đích này được thực hiện bằng những nghiên cứu đánh giá sự tổn thương và tác động của BĐKH trong từng vùng, cải thiện khả năng chịu ngập, chịu mặn và chịu nhiệt độ cao của các giống lúa địa phương và các dòng cao sản, quản lý tổng hợp tài nguyên và cây trồng để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường, tìm giải pháp khuyến nông thích hợp, đánh giá khả năng thích ứng tổng hợp ở thí điểm Bạc Liêu và từ đó phát triển một kế hoạch tổng thể cho toàn thể châu thổ ĐBCLVN.
    RFI : Quan điểm của Nhóm NCVHĐNCL Úc châu về vấn đề này như thế nào?
    Tiến sĩ Huỳnh Long Vân : Biến đổi khí hậu là hiện tượng không chối cãi. Vùng hạ lưu Mekong và ĐBCLVN có nhiệt độ không khí gia tăng và mực nước biển vùng ven biển cũng có chiều hướng dâng lên rõ rệt. Tuy nhiên tiên đoán về mức độ gia tăng của nhiêt độ không khí và mực nước dâng là một công tác nghiên cứu có phần thiếu tính khẳng định. vì những thông số có được là kết quả của những dự đoán dựa vào những giả thuyết ảnh hưởng bởi nhiều dẫn lực.
    Vì hệ thống sinh học luôn luôn có những cơ chế tự điều chỉnh thí dụ như “cơ chế phản hồi có tính âm” và những tác động của BĐKH chỉ hiện rõ sau khoảng thời gian thập niên nên ảnh hưởng của BĐKH không thể được ứng phó bằng những quyết định và hành động có tính phản xạ nhưng phải được thực hiện bằng những kế hoạch được phối hợp chặt chẽ giữa khoa học kỹ thuật với các điều kiện xã hội và kinh tế, qua cách tiếp cận cả “trên-xuống” lẫn “dưới-lên”; ngoài ra tác động của biến đổi khí hậu cần được tiếp tục lượng định , chẳng hạn theo từng giai đoạn, để từ đó thiết lập những phương án ứng phó hữu hiệu và kịp thời.
    Trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng châu thổ ĐBCLVN, người dân địa phương trong suốt mấy trăm năm qua đã tỏ ra có khả năng thích ứng với các điều kiện thiên nhiên, biến vùng đất vốn là rừng rậm hoang dã, những nơi ngậm chua, nhiễm mặn thành khu vực sản xuất nông nghiệp chính của xứ sở và đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất lúa đứng hàng thứ nhì trên thế giới.
    Ngày nay với những kiến thức khoa học quý báu, chúng ta hy vọng nông dân vùng châu thổ ĐBCLVN sẽ được trang bị đầy đủ thông tin, kiến thức và đặc biệt là những hỗ trợ từ giới hữu trách để có đủ khả năng ứng phó với những tác động của BĐKH và tiếp tục góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho xứ sở và toàn cầu.
    Là một thành viên của Nhóm NCVHĐNCL Úc châu, trong thời gian nhiều năm qua và tiếp tục đến hiện nay, qua quỹ Phan Thanh Giản Foundation, hằng năm chúng tôi trợ cấp học bổng cho một số sinh viên hậu đại học (Trường Đại Học Cần Thơ) theo đuổi các chương trình nghiên cứu trong lãnh vực nông ngư nghiệp và ứng phó với những tác động tiêu cực của BĐKH.
    RFI : Xin cám ơn tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu.

    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130506-tac-dong-cua-bien-doi-khi-hau-len-vung-dong-bang-cuu-long

    donderdag 21 maart 2013

    Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu

    Thứ tư 20 Tháng Ba 2013
    Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu
    Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long - Mêkông.
    Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long - Mêkông.
    DR
    Trọng Thành
    Trong nhiều năm trở lại đây, việc nước biển xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô mang lại một mối lo ngại lớn. Mức độ xâm nhập của nước mặn năm nay ra sao ? Tình trạng nước mặn vào sâu là do những nguyên nhân gì ? Và người nông dân cũng như giới nông học và ngành thủy lợi đối phó như thế nào với hiện tượng nước mặn vào sâu ngày càng trở nên phổ biến ?
    Đây là các câu hỏi chính mà Tạp chí Khoa học của RFI tuần này hy vọng mang đến một số giải đáp. Khách mời của chúng ta là nhà nông học Võ Tòng Xuân, tiến sĩ Lê Anh Tuấn - phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Trường Đại học Cần Thơ -, tiến sĩ Dương Văn Ni - giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An (Cần Thơ) và tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền, lãnh đạo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, trụ sở tại Sài Gòn.
    Mặn vào sâu, dù chưa phải mùa cao điểm
    Trước hết, tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết về tình trạng mặn vào châu thổ Cửu Long, vựa lúa và là nơi chiếm đến 80% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam :
    « Năm nay cái mùa khô nó khốc liệt như năm 2010, làm cho nhiều vùng ven biển nhiễm mặn một cách trầm trọng, và bây giờ chưa phải là cao điểm nhất của mùa mặn, nhưng mặn đã vào sâu trong đất liền vào khoảng gần 60 km. Nó làm cho nhiều vùng canh tác lúa bị nhiễm mặn, một số nơi lúa đã bị chết, làm cho nông dân trở tay không kịp. Bởi vì các nguồn nước trên sông Mêkông đang bị giảm đi rất nhiều.
    Tình trạng mặn này làm cho việc cung cấp nước ngọt cho người dân ở các vùng ven biển gặp khó khăn hơn, buộc người dân phải đi mua nước ở vùng xa, phía trên. »
    Tiến sĩ Lê Anh Tuấn
    20/03/2013

    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền đưa ra một số giải thích về hiện tượng mùa khô năm nay nước mặn vào sâu hơn.
    « Cái năm trước đấy, mà lũ bé, mưa kết thúc sớm, thì chắc chắn năm sau sẽ là năm hạn hán. Nước bé, lưu lượng thượng nguồn cũng bé, nước về Biển Hồ sẽ ít đi. Cái Biển Hồ ở Campuchia rất quan trọng trong điều tiết dòng chảy. Mùa kiệt thì cái lưu lượng ở đấy nó ra tương đối lớn. Năm ngoái lũ rất là bé, dưới mức trung bình, mưa lại kết thúc sớm, dòng chảy năm nay rất nhỏ, thế nên mặn bây giờ chưa phải là tháng cao điểm mà đã rất sâu rồi. »
    Thái Lan, Lào và Cam Bốt cũng dùng nước Mêkông canh tác mùa khô
    Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết thêm về nỗi lo ngại của ông trước việc các nước khác trên thượng lưu Mêkông gia tăng sử dụng nước vào mùa khô để trồng trọt :
    « Trong mùa khô, lưu lượng sông Cửu Long hồi trước 1975, khoảng 2.000 m3/giây, so với lưu lượng tháng 9, 10 là 40.000 m3/s. Còn bây giờ, trong mùa khô, nó không đạt tới 1800 m3/giây. Cái mình lo nhất là, hiện nay vụ lúa đông xuân, tức là mùa khô này bên Thái Lan đang mở rộng diện tích lúa ở vùng Đông Bắc Thái Lan, họ cũng lấy nước sông Cửu Long. Rồi qua đến Lào, nam Lào cũng như Viêng Chăn, họ đều bơm nước sông Cửu Long để tưới cho vụ này. Phía Campuchia, thì ông Hun Sen cũng quyết tâm chỉ đạo cho làm lúa mùa khô. Trước đây chỉ có Việt Nam mới sử dụng nước sông Cửu Long trong mùa khô, còn bây giờ bốn nước sử dụng, do đó việc mặn đi sâu hơn cũng là dĩ nhiên.
    Tôi nghĩ, tới đây, nếu các nước dọc theo sông Cửu Long không có nhất trí để mình tính toán khả năng của dòng nước sông Cửu Long trong mùa khô để chia với nhau trong việc xài nước này, mà mạnh ai nấy xài, thì chắc chắn nước chịu thiệt thòi nhiều nhất là Việt Nam. »
    Lý giải về ấn tượng trước tính chất nghiêm trọng của việc nước mặn vào sâu năm nay, tiến sĩ Dương Văn Ni đưa ra một lý giải khác:
    « Cái xâm nhập mặn vào đồng bằng sông Cửu Long, thì năm nay so với những năm trước không phải là nặng nề lắm. Về độ sâu, so với một số những năm khắc nghiệt khác, thì nước mặn vô sâu lắm. Nhưng vấn đề là, vì năm nay, diện tích mà người dân canh tác ở vùng ven biển, đặc biệt là canh tác lúa, thì họ mở ra tương đối nhiều, thành thử do đó, theo cảm nhận của người dân, người ta thấy mặn nó xâm nhập nhiều và gây thiệt hại nhiều. »
    Đã có nhiều dự án kiểm soát mặn, nhưng nhiều nơi người dân vẫn phải đắp đập tạm
    Về các giải pháp để hạn chế tác hại của nước mặn thâm nhập, lãnh đạo Viện Quy hoạch thủy lợi Nguyễn Xuân Hiền đưa ra một số nhận xét chung :
    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền
    20/03/2013


    « Hiện tại, chính phủ Việt Nam cũng đã triển khai rất nhiều dự án về kiểm soát mặn ở vùng ven biển rồi. Ví dụ như dự án Gò Công, Nam Măng Thiết vừa hoàn thành, với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới. Tức là chúng tôi xây dựng hệ thống cống và đê kiểm soát, ngăn mặn, ngăn triều và đào những kênh tiếp nước từ vùng ngọt ở sông Mêkông chuyển nước vào vùng chúng tôi bảo vệ. Những vùng đã có hệ thống tương đối hoàn chỉnh như Nam Măng Thiết, Gò Công, kết hợp với việc nạp nước trong thời gian triều xuống, thì có thể giải quyết được đủ nguồn nước tưới.
    Dự án Bắc Bến Tre cũng tiến hành theo kiểu này, nhưng thiếu kinh phí, nên mới làm được một cống lớn nhất là cống Ba Lai, còn bà con mùa khô này họ đắp đập tạm, họ ngăn những kênh rạch nhỏ, nhưng kênh rạch lớn họ cũng thua, chính vì thế mặn hiện nay ở Bến Tre cũng đang ảnh hưởng. Rồi cái vùng Sóc Trăng cũng đang có dự án.
    Đương nhiên là, ngoài hình thức công trình, các hình thức phi công trình cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, tức là có dự báo để bà con không tiếp tục làm vụ tới nữa, làm trễ lại để tránh hạn. Phải kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình. »
    Lúa – tôm : mô hình hiệu quả tại nhiều vùng ngập mặn
    Nước mặn là mối đe dọa, nhưng nó cũng mang lại cơ hội cho nghề nuôi tôm, cũng như các thủy sản nước mặn khác. Ở rất nhiều vùng dọc theo bờ biển châu thổ Nam Bộ, khu vực chiếm đến 50% diện tích nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, đã phát triển một mô hình canh tác độc đáo : Trồng lúa nước ngọt và nuôi tôm nước mặn. Sau đây là nhận xét của tiến sĩ Dương Văn Ni, giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Cần Thơ:
    « Từ 2005 đến nay, rất nhiều vùng, người dân bắt đầu mùa nắng lấy nước mặn nuôi tôm, mùa mưa giữ ngọt để trồng lúa, trở thành một vụ tôm, một vụ lúa, trên cùng một miếng đất. Điều này rất là độc đáo. Nhiều nơi, người ta gửi các đoàn nông dân đến để học tập cái mô hình này. »
    Về điều này, Giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết ý kiến :
    Giáo sư Võ Tòng Xuân
    20/03/2013

    « Mình nên theo cái hệ thống canh tác lúa tôm. Nó có lợi nhất. Không cần phải tốn kém để ngọt hóa làm gì. Bởi vì mình làm 2, 3 vụ lúa không lời bằng mấy vụ tôm, một vụ lúa. Mình nên đi thẳng vô vấn đề : Nên chọn hệ thống một lúa và mấy vụ tôm trong mùa khô. Thì chắc chắn là nông dân được lợi tức cao hơn, hơn là trồng nhiều vụ lúa trên vùng đất như thế, vì rất nguy hiểm, vì nước mặn sẽ làm cho một vụ lúa bị hư. »
    Đo độ mặn dựa vào cộng đồng
    Để có thể canh tác vừa tôm vừa lúa trên cùng một khu vực, trong bối cảnh môi trường thay đổi liên tục và bất thường, chỉ dựa vào kinh nghiệm mà thiếu đi khả năng đo lường các chỉ số, trước hết là chỉ số mặn của nước, việc canh tác gặp rất nhiều rủi ro. Trong thời gian rất gần đây, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Dương Văn Ni bắt đầu thúc đẩy một hệ thống đo lường số liệu nước mặn dựa vào cộng đồng :
    Tiến sĩ Dương Văn Ni
    20/03/2013

    « Nếu mà gọi là giải pháp đồng bộ cho cả vùng rộng lớn, thì chúng ta thấy là còn lâu lắm. Nhưng mà cục bộ, thì người dân vẫn có cách để uyển chuyển đối phó. Tôi có thể nêu ra nhiều ví dụ. Mặc dầu về mặt lý luận, người ta không diễn đạt một cách rành mạch, nhưng mà người ta hiểu cái bản chất của đất, nước rất rõ. Và nhiều năm nay, sự giao thoa giữa những cơ quan làm nghiên cứu và người nông dân là cái đặc thù của nông dân đồng bằng sông Cửu Long hàng chục năm nay.
    Khoảng hơn một năm nay, chúng tôi khởi hành một dự án, cố gắng chuyển cái khoa học kỹ thuật vào trong cộng đồng. Một trong những cái đó là việc thành lập mạng quan trắc về sự xâm nhập mặn.
    Chúng ta biết, người dân khi sản xuất, trước khi quyết định một con giống hay một kỹ thuật nào, thì họ dựa trên hệ thống kinh nghiệm mà họ có. Không may là trong những năm gần đây, môi trường xung quanh thay đổi phức tạp, và khi môi trường thay đổi phức tạp như vậy, thì người dân không nhận ra được liền. Và nếu người ta không nhận ra được liền, mà đưa ra quyết định, thì chỉ khi thiệt hại, thì mới giật mình là quyết định sai. Một ví dụ là, thường khi có gió chướng về, cuối tháng 10, đầu tháng 11, thì theo kinh nghiệm, nước mặn mới xâm nhập vô và người ta bắt đầu chuẩn bị đóng cóng, hoặc ngưng không bơm nước vào ruộng lúa… Nhưng những năm gần đây, mặn xâm nhập không chờ gió chướng, thành thử khi bơm nước vô trong ruộng rồi, mới thấy hôm sau lúa bị héo, mới giựt mình, coi lại, thì nước đã mặn, thì đã thiệt hại rồi.
    Dự án này của chúng tôi muốn làm cho người nông dân có một thói quen : Biết một cách cụ thể cái môi trường (canh tác) của mình trước khi đưa ra quyết định. Ở đây chúng tôi bắt đầu bằng độ mặn, nhưng về lâu về dài, chúng tôi sẽ mở ra những cái khác, như độ ngập, độ phèn… Để đo lường độ mặn, chúng tôi chọn các cộng tác viên, từ em bé, cho đến chị phụ nữ, người già… Khi họ đo như vậy, dựa vào mối quan hệ của họ, mình khuyến khích họ chia sẻ thông tin đó với mọi người. Ví dụ như một em bé, sau khi đo, chia sẻ với lớp học…
    Cách làm khá đơn giản, tôi chỉ phát cho họ cái tỷ trọng kế. Múc nước vào, thì họ bỏ cái tỷ trọng kế đó vô. Thì khi họ sử dụng được cái giá trị mặn, đầu tiên cho chính họ, và cho những người xung quanh trước, sau đó họ mới dùng điện thoại di động, họ gởi một tin nhắn về cho tôi, thì chúng tôi lập trình để nó về trên máy tính. Sau đó, chuỗi số liệu nhiều ngày như vậy sẽ giúp chúng tôi hiểu được quy luật mặn ngọt xâm nhập vô vùng đó như thế nào. Chúng tôi biết được đầu con kênh nước mặn, thì cuối con kênh bao nhiêu tiếng sau sẽ bị mặn, hoặc mấy ngày sau. Từ những số liệu đó, chúng tôi sẽ lập trình để gửi lại các cộng tác viên tham gia một tin nhắn, ví dụ như, 2 tiếng nữa chỗ anh sẽ bị mặn 5/1.000 hay 10 tiếng nữa sẽ bị mặn đến 10/1.000… Với những công cụ hiện tại, nó là một phương tiện giúp cho chúng tôi có thể hỗ trợ cho cộng đồng chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau, để biết cách ứng phó, chọn lựa giải pháp thích hợp.
    Có rất nhiều cách để người ta ứng phó với chuyện xâm nhập mặn. Đối với những người ở vườn cây ăn trái, thì động tác khá đơn giản, người ta chỉ cần bịt cái đường nước dẫn mặn vào vườn cây ăn trái thôi. Rồi những người trồng lúa, thì biết mặn như vậy, thôi chờ vài bữa nữa bơm nước vào ruộng không phải là vấn đề gì quá khó khăn. Có nghĩa là từng người dân, từng cái kiểu sử dụng đất, sử dụng tài nguyên của họ, họ biết cách...
    Với một mạng cộng tác viên phong phú với những tin nhắn gửi về đều đặn, chúng tôi – những người làm nghiên cứu – sẽ hiểu ra được quy luật nhạt, mặn của một vùng nào đó. Cái thứ hai là, giúp chúng tôi chia sẻ những số liệu đó với các mạng quan trắc của nhà nước. Bởi vì những mạng của nhà nước có các trạm, chúng tốn kém, nhưng được cái là những người theo dõi các mạng đó là những người được đào tạo bài bản, rồi trang thiết bị đắt tiền, chính xác hơn. Nhưng ngược lại, số lượng các trạm không thể nhiều được, do đó khó giải đoán một cách chính xác cho cả khu vực. Như vậy, thì hai mạng : Một mạng do cộng đồng cung cấp thông tin, một cái mạng do nhà nước, bổ sung lẫn nhau thì rất tốt. Tôi hy vọng, với chuỗi số liệu vài năm, sẽ giúp trước hết cho cộng đồng hiểu được môi trường đã thay đổi, và có thói quen trước khi làm gì, thì biết cách đo đạc. »
    Khi người trồng lúa muốn nước ngọt hơn, nuôi tôm muốn mặn hơn
    Chúng ta biết đồng bằng châu thổ Cửu Long là một trong số các khu vực dễ bị tác động nhất trên thế giới, bởi nước biển dâng, cũng như các biến động khác về môi trường như hạn hán hay mưa lũ và đặc biệt là sự biến đổi dòng chảy. Trên tổng diện tích 4 triệu km², thì có đến gần 2 triệu km² của vùng đồng bằng này bị nước mặn xâm nhập thường xuyên và diện tích này có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, mức độ mặn xâm nhập, cũng như chế độ thủy văn nói chung tại các khu vực nhiễm mặn lại hết sức đa dạng. Tại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long, không phải nơi nào cũng có thể áp dụng hệ canh tác lúa – tôm, do những khác biệt về điều kiện thủy văn. Sự khác biệt này dẫn đến những xung đột lợi ích trong sử dụng nguồn nước mà hiện tại không dễ dàng giải quyết, tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền cho biết :
    « Vùng Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, tức là Gò Công, là những vùng mưa nhỏ, chỉ từ 1.400 mm - 1.600 mm/năm. Những vùng đấy thì không thể trồng được lúa với tôm. Phải riêng ra, ngọt thì ra ngọt, mặn thì ra mặn. Trong chỉ lúa không, phải ngọt hóa, còn phía ngoài thì nuôi tôm không thôi. Còn cái vùng lúa – tôm là ở Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu. Những cái vùng ấy là lượng mưa rất lớn. Mùa mưa, thì sử dụng nước mưa trồng một vụ lúa, sau đó đến mùa khô, thì sử dụng nước mặn để nuôi tôm. Quan trọng là phải có lượng mưa lớn để rửa được cái mặn, còn nếu dùng nước bơm thì không kinh tế.
    Hiện nay mà xảy ra xung đột về sử dụng nước (giữa các tỉnh), chỉ có ở Bạc Liêu và Sóc Trăng thôi. Bạc Liêu là cái vùng tôm – lúa. Mùa khô họ mở hệ thống cống để lấy nước mặn vào nuôi tôm, mà mặn xâm nhập sâu lại ảnh hưởng đến vùng nước ngọt của Sóc Trăng và ngay cả của Bạc Liêu nữa. Hiện nay, chúng tôi đang xây một hệ thống công trình để tách riêng hai vùng, nhưng vì hạn chế kinh phí nên cũng hơi chậm.
    Đầu tư cho công trình rất tốn kém, nên cái vùng còn bị ảnh hưởng (nước mặn) nhiều nhất là U Minh Thượng, U Minh Hạ, đặc biệt là vùng Cà Mau. Vì vùng Cà Mau là không thể tiếp ngọt từ sông Mêkông về được. Mùa này, chủ yếu họ khai thác nước ngầm để sử dụng. Khai thác nước ngầm cho dân sinh không ảnh hưởng lắm, nhưng khai thác cho cả nuôi trồng thủy sản, mà nuôi trồng thủy sản thì lượng nước rất lớn, gây lún, đây là điều chúng tôi rất lo. Hiện nay Cà Mau là vùng khó khăn nhất của đồng bằng sông Cửu Long. »
    Tiến sĩ Dương Văn Ni thì nhấn mạnh đến những mâu thuẫn giữa những những người trồng lúa và trồng tôm ngay trong từng khu vực nhỏ :
    « Những năm gần đây, việc canh tác của người dân tiến dần ra ngoài biển, đặc biệt là phát triển những vùng nuôi tôm, người ta cần nước mặn, trong khi những vùng trồng lúa cần nước ngọt. Và những vùng nuôi tôm và trồng lúa đôi khi nó đan xen lẫn nhau, và như vậy chuyện quản lý nước giữa các vùng này không được hài hòa lắm. Với những người làm tôm, họ thấy không đủ mặn, trong khi những người trồng lúa lại thấy quá mặn.
    Tiến sĩ Dương Văn Ni
    21/03/2013

    (…) Nếu nhìn suốt trong ba mươi năm gần đây, chúng ta thấy một vấn đề rất là rõ. Khoảng chừng 20 năm trước, cái việc mà giữ cho nước ngọt ra gần phía biển để người ta canh tác, nó tương đối dễ dàng hơn. Bởi vì lúc đó, không có nuôi trồng thủy sản nhiều. Nhưng khoảng 10 năm gần đây, việc nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển bắt đầu lấn sâu vào trong đất liền, tạo ra phức tạp trong vấn đề quản lý giữa mặn với ngọt. Thực ra, giữa các cơ quan chức năng, thí dụ như các sở Nông nghiệp, sở Tài nguyên - Môi trường, đặc biệt là sở Nông nghiệp đã có những nỗ lực rất lớn trong những năm gần đây, ví dụ như tìm ra được các giống lúa có khả năng chịu mặn, hoặc bên thủy sản, có những khuyến cáo người dân, lúc nào nên thả tôm, lúc nào không. Nhưng cũng phải thấy là ở Việt Nam, chuyện mà giữa cơ quan chức năng khuyến cáo, với lại chuyện áp dụng của người dân, đôi khi không có đồng bộ. Bởi vì, còn một yếu tố khác nữa chi phối, đó là thị trường, mà thị trường thì không dễ đoán (…). Những cái bất cập trong chuyện không dự báo được thị trường nhiều khi làm người dân ‘‘lờn’’, không chú ý lắm đến các khuyến cáo của những người nghiên cứu, cũng như các cơ quan chức năng. (…) Vấn đề đó là thách thức lớn của đồng bằng sông Cửu Long. »
    Giáo sư Võ Tòng Xuân giải thích thêm về những mâu thuẫn nảy sinh mới đây giữa việc mở rộng trồng lúa tại một số vùng vốn bị ảnh hưởng nước mặn nhiều :
    « Như vùng Bạc Liêu, có một số nông dân ỷ là có công trình gọi là ‘‘ngọt hóa bán đảo Cà Mau’’, người ta mới được hô hào, khuyến khích làm lúa ngay vùng nước mặn vô. Nhà nước cũng nghe theo cái ngành thủy lợi, bỏ tiền ra rất nhiều, để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau, nhưng mà bây giờ không ngọt hóa được, nước biển vẫn vào. Làm cái này rất là tốn tiền. Bên phía khoa học cũng đã can ngăn dữ lắm, nhưng mà người ta vẫn làm, bây giờ thấy rất rõ là, nó không có đáp ứng được cái mục tiêu mà cơ quan thủy lợi đã đưa ra. Đồng thời nó còn làm cho rất nhiều bà con nông dân bị thiệt hại, bởi vì tưởng đâu là, nghe theo Nhà nước, trồng vụ đông xuân ở vùng ‘‘ngọt hóa’’, nhưng thực ra nước ngọt đâu có đủ, mà mình xuống đó. Trong khi đó, nước mặn ở ngoài nó vô ».
    Giống cây chịu mặn và sử dụng tiết kiệm nước ngọt : Cần một quy hoạch tổng thể
    Đối với những vùng đất thiếu nước ngọt nghiêm trọng như bán đảo Cà Mau, việc sử dụng các giống cây chịu mặn có thể mang lại một giải pháp có triển vọng, như ý kiến của tiến sĩ Lê Anh Tuấn :
    « Bên đại học Cần Thơ cũng có một số chương trình nghiên cứu cây lúa hay các cây chịu mặn. Chúng tôi hy vọng trong tương lai, nếu thử nghiệm thành công thì sẽ bớt phụ thuộc vào nguồn nước ngọt. »
    Còn nhìn chung trên toàn bộ vùng ven biển nhiễm mặn đồng bằng Cửu Long, cần phải có một giải pháp sử dụng tài nguyên nước ngọt tổng thế tiết kiệm và hiệu quả, tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết thêm :
    « Chúng tôi nghĩ rằng, về tương lai tình trạng này sẽ có thể lặp lại trong những năm tới, do biến đổi khí hậu và do những hoạt động như các đập thủy điện và mở rộng diện tích canh tác. Chúng tôi cũng đề nghị là các tỉnh phải hợp tác với nhau hơn, để chúng ta bảo vệ nguồn nước của đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời chúng tôi cũng đề xuất là, các nhà khoa học tiếp tục tìm kiếm các giống cây, giống lúa có khả năng chịu mặn, sử dụng nước ít hơn, để bà con nông dân có thể sử dụng về lâu, về dài. Đồng thời chúng ta phải có những biện pháp để dự trữ nước mưa.
    Sắp tới chúng ta sẽ có những chương trình để hỗ trợ cho những vùng ven biển, tìm cách giữ nước mưa bằng những hình thức khác nhau, từ những cách chứa bằng lu, bằng thùng, hay chứa trong ao, mương, hoặc đào những cái hầm, hoặc làm những túi chứa nước bằng ni lông, hay bằng vải quét cao su, cho bà con có thể giữ nước lâu dài hơn. Đồng thời chúng tôi cũng đề nghị là, sắp tới sẽ có một quy hoạch về sử dụng tài nguyên nước đồng bằng sông Cửu Long cho hợp lý. Không nhất thiết phải mở rộng diện tích canh tác lúa quá nhiều, đặc biệt là trong mùa khô, để chúng ta có thể bớt phụ thuộc vào nguồn nước ngọt và các vùng bị mặn vừa phải, ta có thể sử dụng các giống lúa chịu mặn. (...) Và có những nơi bà con nuôi cá nước ngọt, chúng ta cũng đề nghị bà con chuyển dần dần sang nuôi cá nước lợ chẳng hạn ».
    Chia sẻ dòng chảy Mêkông : Vẫn trong vòng bế tắc
    Các thách thức hiện tại đối với đồng bằng Cửu Long, đặc biệt trong vấn đề nước mặn nhập sâu, là rất lớn. Bên cạnh, những hạn chế về kinh phí đầu tư, cũng như trong các nguồn lực khoa học – công nghệ giúp cho việc nắm bắt và dự báo những biến đổi môi trường và các biện pháp đối phó tại chỗ, thì việc thiếu đi các số liệu về dòng chảy của sông mẹ Mêkông là một cản trở vô cùng lớn đối với một quy hoạch tài nguyên nước thực sự hiệu quả, như nhận xét của tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền :
    « Cái số lượng thượng lưu là thiếu.Trung Quốc đóng vai trò hết sức quan trọng. Hiện nay, họ đã xây được bốn nhà máy thủy điện trên sông chính rồi. Họ đang tiếp tục xây nữa. Hầu như số liệu trên đấy họ không cấp cho mình. Ngay cả Ủy ban sông Mêkông quốc tế cấp tiền cho Trung Quốc để đặt một số trạm trên dòng chính, nhưng họ chỉ cấp số liệu về mực nước thôi.
    Chúng tôi tính toán là, đánh giá hiện trạng và đặc biệt là dự báo trong tương lai rất khó. Nếu cái hiện trạng cũng thiếu, rồi tương lai mình cũng không có số liệu chắc chắn, không dự báo được, thì rõ ràng, giải pháp đưa ra có thể là sai, vì số liệu không đầy đủ. Như vậy, đầu tư có thể tốn kém, nhưng hiệu quả trong tương lai không đi theo hướng anh quy hoạch, đầu tư. Cần phải có số liệu tổng thể của toàn đồng bằng để tính toán, cân bằng nước, xem cách điều phối thế nào, thì cái đó phải xem xem toàn lưu vực thì mới giải quyết được.
    Các tác động của biến đổi khí hậu rồi các tác động của con người, đặc biệt là các nước thượng lưu kết hợp lại, thì chắc chắn trong tương lai đồng bằng sông Cửu Long của mình còn nhiều khó khăn hơn nữa.
    (Riêng về các vùng ở phía ven biển như) Bạc Liêu, thì số liệu trên vùng thượng lưu không quá ảnh hưởng, vì mùa khô Bạc Liêu chủ yếu sử dụng nước mặn để nuôi tôm, mà nước mặn thì rất dồi dào, chỉ cần mở cửa vận hành cống là nước mặn vào ».
    Về vấn đề này, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết :
    « Phía Việt Nam cần phải gióng lên tiếng chuông báo động. Tôi ở trong mấy hội nghị dính đến tài nguyên nước của vùng sông Cửu Long mở rộng, tôi cũng có phát biểu, nhưng mà tôi nghĩ chưa có thấm thía gì đâu.
    Cái dòng sông Cửu Long của mình, nói như bác sĩ Ngô Thế Vinh, dòng sông này nó đương bị ‘‘nghẽn mạch’’, nghẽn mạch thực sự, máu không lưu thông được ! Không có nước ngọt trên kia đưa xuống, thì nước mặn phải kéo vào là cái lẽ dĩ nhiên.
    Ủy ban Mêkông rất là bất lực khi nói đến việc sử dụng nước ở từng quốc gia thành viên của Ủy ban này. ».
    ***
    Việc thay đổi cơ cấu vật nuôi và cây trồng phù hợp với môi trường cụ thể, việc quy hoạch một hệ thống thủy lợi đa chức năng, hài hòa giữa mùa khô và mùa nước, nước mặn và nước ngọt, được điều chỉnh và xây dựng với sự tham gia thực sự của người nông dân và đáp ứng thực sự các nhu cầu của người dân, cùng với các biện pháp dự trữ, sử dụng tiết kiệm nước ngọt, được rất nhiều chuyên gia nhìn nhận như là các yếu tố quyết định để đồng bằng Cửu Long có thể vừa tận dụng được các lợi thế của vùng canh tác giáp biển, vừa hạn chế được các tác hại của nước mặn nhập sâu, trong bối cảnh nước ngọt ngày càng trở nên khan hiếm.
    Mặc dù tại nhiều nơi, người nông dân cùng với sự hỗ trợ của nhiều nhóm các nhà khoa học, kỹ thuật viên đã có những thay đổi chủ động để thích nghi với các biến đổi môi trường, tuy nhiên, những hạn chế của hệ thống thủy lợi hiện có là một trong các yếu tố chủ yếu khiến người canh tác tại các vùng ngập mặn đồng bằng Cửu Long ở trong tư thế thường xuyên phải đối phó với những biến đổi nhanh chóng và không dễ tiên liệu của môi trường nước. Đó là chưa kể hiểm họa đến từ phía ngoài, do mực nước biển dâng cao đe dọa cả một vùng rộng lớn hơn của đồng bằng châu thổ Nam Bộ, hệ quả của nhiệt độ trái đất tăng lên, và hiểm họa đến từ bên trên, do sự khai thác theo kiểu "mạnh ai nấy làm" trên dòng sông mẹ Mêkông.
    RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Võ Tòng Xuân, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Tiến sĩ Dương Văn Ni và Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hiền đã dành thời gian cho tạp chí hôm nay
    Các bài liên quan
    Tác động của đập thủy điện hạ lưu Mekong lên đồng bằng Cửu Long
    Những giải pháp cho sông Hồng, dòng sông đang bị "bức tử"
    Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết bảo vệ sông Mekong
    Dự đoán các tác động của quy định mới của Chính phủ VN đến nghề trồng lúa
    Tài nguyên đất châu thổ Mê Kông – Nam Bộ : tiềm năng và hiểm họa
    Cơ sở hạ tầng tác động đến môi trường châu thổ đồng bằng sông Cửu Long
    Bờ biển đồng bằng Cửu Long sạt lở nghiêm trọng vì phát triển không đúng cách


    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130320-dong-bang-cuu-long-doi-pho-voi-nuoc-man-nhap-sau