|
Tỷ phú gốc Việt trên đất Mỹ nhờ làm nails
| ||||
|
Xuất thân là một sinh viên ngành hóa, nhưng
Charlie Tôn Quý - tỷ phú gốc Việt lại làm giàu từ nghề làm nails trên đất
Mỹ.
Tuổi thơ 'dữ dội' Charlie Tôn Quý (tên Việt Nam là Tôn Thất Khương Quý), sinh ngày 22 tháng 6 năm 1970 tại Qui Nhơn, Việt Nam. Tôn Quý là con trai thứ 2 trong một gia đình có bốn anh em trai. Cha anh là một quân nhân, còn mẹ làm nghề buôn bán tự do. Năm 1986, sau khi học xong lớp 8 tại Việt Nam, Tôn Quý một mình đến bang Louisiana, Mỹ khi mới 14 tuổi. Nhiều người vẫn thường nói rằng, vốn dĩ có một tuổi thơ êm ả, nhưng việc Tôn Quý một mình sang nước ngoài đã khiến tuổi thơ của anh trở nên 'dữ dội' và tạo nên ngã rẽ cho con đường thành công sau này. Một năm sau khi sang Mỹ, Tôn Quý (khi đó đã lấy tên Mỹ là Charlie Tôn Quý) bắt đầu tiếp tục chương trình học trung học tại trường West Jefferson, New Orlean, Lousiana. Năm 1995, anh tốt nghiệp ngành kỹ sư hóa học tại Đại học bang Louisiana và lập gia đình trong thời gian đó. Hành trình mưu sinh vất vả trên đất Mỹ Trong thời gian đi học, Charlie phải vừa học vừa làm thêm để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Anh đã từng làm việc 5 năm trong phòng nghiên cứu về ong mật để cung cấp thông tin cho các nông trại nuôi ong tại Hoa Kỳ. Đến năm 1995, sau khi tốt nghiệp kỹ sư ngành hóa, Charlie Tôn Quý bắt đầu bước chân vào thương trường với số vốn nhỏ nhoi. Vì vợ anh kinh doanh tiệm nails nên anh nảy ra ý tưởng mở một tiệm cung cấp linh kiện và hóa chất cho các tiệm nails khác. Xuất thân từ một kỹ sư hóa học và không mấy am hiểu kinh doanh, Charlie Tôn Quý phải tự học hỏi kiến thức về xuất nhập khẩu hàng hóa, đặt hàng qua email … Sau 2 năm hoạt động, hệ thống phân phối Alfalfa Nail Supply của Charlie bắt đầu phát triển và cung cấp cho nhiều nơi trên nước Mỹ. Bước ngoặt khi đi mua sắm tại Wal-Mart Cuối năm 1997, trong một lần đi mua sắm tại Wal-Mart – chuỗi siêu thị mua sắm lớn nhất tại Mỹ, Charlie quan sát và nhận ra rằng có đến 70% khách hàng tại đó là phụ nữ. Anh đã nảy ra ý tưởng đề nghị Wal Mart hợp tác để anh mở tiệm nails ngay trong khu vực thương mại của họ. Quá trình đàm phán và thuyết phục Wal-Mart tại Mỹ kéo dài mất hai năm, Charlie mới nhận được cái gật đầu của 'kẻ khó tính' này. Sau khi thương lượng thành công với Wal-Mart, Charlie mở tiệm nails đầu tiên trong siêu thị Wal-Mart ở thành phố Shreveport, thuộc Los Angeles. Alfalfa Nail Supply lớn mạnh từ đó, đầu tư thêm vào máy móc làm bàn, spa, sản xuất hàng nhựa và chế biến một số hóa chất và mỗi năm mở thêm 100 tiệm trong hệ thống Wal-Mart. Nhân cơ hội đó, Charlie bắt đầu mở rộng công việc kinh doanh tiệm nails của mình tại nhiều bang của nước Mỹ với thương hiệu Regal Nails. Cho đến nay, các cửa hàng Regal Nails làm theo phương thức franchise (nhượng quyền) của Charlie Tôn Quý đã lên tới con số hơn gần 1.200 tiệm trải dài trên khắp đất Mỹ. Từ một người dân nhập cư với hai bàn tay trắng, Charlie đã xây dựng Regal Nails trở thành 1 đế chế nails lớn tại Mỹ. Thành công nối tiếp thành công Năm 2003, nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường café, Charlie Tôn Quý đã dành thời gian và tiền bạc để nghiên cứu về việc đầu tư vào thị trường này. Ông nảy sinh ý tưởng mở tiệm café có các hồ cá bao quanh để những người thưởng thức café có thể ngắm cá, thỏa trí tò mò với tên gọi Charlie's Coffee. Trong tổng số 6 tiệm Charlie's Coffee thì có 2 tiệm được mở ngay trong khu mua sắm Wal-Mart. Xuất thân từ mảnh đất Quy Nhơn giàu truyền thống văn hóa, Charlie Tôn Quý luôn mang trong mình nỗi nhớ về quê Hương Việt Nam. Có lẽ đó là lý do mà các tiệm móng tay và tiệm café của ông đều có màu sắc cùng hương vị của người Việt Nam. 'Ông vua' nails tại Mỹ Theo thống kê, doanh thu mỗi năm của toàn hệ thống Regal Nails là khoảng 500 triệu USD. Mức doanh thu lên tới nửa tỷ USD mỗi năm quả thực là một con số không hề nhỏ chỉ với công việc chăm sóc và sơn sửa móng tay, móng chân tại Mỹ. Theo lời 1 chuyên gia trong ngành chứng khoán, nếu Regal Nails niêm yết trên sàn chứng khoán, thì cổ phiếu của hãng này sẽ là một trong những cổ phiến hot nhất vì con số doanh thu ấn tượng cũng như yếu tố an toàn vì không có nợ. Chia sẻ về bí quyết thành công, Charlie cho biết 'Thành công của tôi được tạo thành bởi 3 yếu tố. Thứ nhất, đó là sự thỏa mãn của khách hàng, điều này thể hiện qua từng chi tiết nhỏ nhất: độ nóng chiếc khăn ấp mặt, những loại hóa chất hữu cơ và thân thiện môi trường đang được nghiên cứu.... Thứ hai, là đội ngũ nhân viên trẻ, xung quanh tôi là các trợ lý có trình độ, có chuyên môn, luôn biết cách làm hàng lòng những khách hàng khó tính nhất. Và cuối cùng là bảo tồn thương hiệu. Muốn thành công trong kinh doanh, bạn đừng bao giờ để mình và công ty của mình bị mất uy tín thương hiệu'.
( Tấm Gương )
http://vietsn.com/forum/showthread.php?t=801028
| ||||
Posts tonen met het label Wal-Mart. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Wal-Mart. Alle posts tonen
vrijdag 19 september 2014
Tỷ phú gốc Việt Charlie Tôn Quý trên đất Mỹ nhờ thương hiệu Regal Nails trong hệ thống Wal-Mart
zondag 20 november 2011
Gia đình Wal-Mart giàu nhất nước Mỹ
9/12/2009
Trong danh sách những gia đình giàu nhất nước Mỹ năm nay, nhà Walton vẫn đứng cao nhất, với tổng tài sản cao 90 tỷ USD, hơn gấp đôi so với vị trí tiếp theo.
Ngày nay, những người thừa kế của nhà Walton sở hữu 90 tỷ USD. Con số khổng lồ này biến họ thành gia đình giàu có nhất nước Mỹ và một trong những gia đình giàu có nhất thế giới. Của cải của nhà Walton được thừa kế lại từ Sam Walton và James Walton, hai anh em đã sáng lập ra tập đoàn bán lẻ lớn nhất toàn cầu Wal-Mart.
Khởi nghiệp từ một nhân viên, Sam Walton cùng người em trai mở một cửa hàng tạp hóa vào năm 1962. Đến năm 1985, Sam Walton đã trở thành người giàu nhất nước Mỹ. Tính đến thời điểm ông qua đời năm 1992, Sam cùng gia đình có trong tay ít nhất 23 tỷ USD. Với phương châm bán giá rẻ, gia đình Walton đã tạo ra cả một thế giới hàng hóa hợp túi tiền. Họ bán tất cả mọi thứ từ lốp xe đến spagetti, với cái giá mà không một đối thủ nào có thể cạnh tranh được. Ngày nay, chuỗi siêu thị của Wal-Mart đem lại doanh thu hàng năm 401 tỷ USD với 4.200 cửa hàng và 2 triệu nhân công.
Trong khủng hoảng, chính sách giá rẻ của Wal-Mart càng phát huy lợi thế. Tính đến tháng 8/2009, trong khi chỉ số S&P 500 giảm 20% điểm thì cổ phiếu của Wal-Mart chỉ mất 10%. Trong vòng 12 tháng tính đến tháng 8/2009, tài sản của gia đình này mất 13,7 tỷ USD. Ngày nay, tổng cộng, nhà Walton nắm giữ 39% tập đoàn bán lẻ Wal-Mart.
| Christy Walton, người giàu nhất trong gia đình Walton và cũng là người phụ nữ giàu nhất hành tinh. Ảnh: Forbes |
Trong gia đình này, có 5 cái tên sáng giá là Jim, John, Rob, Alice (4 người con của Sam Walton) và Helen (vợ của Sam Walton). Họ từng nhiều năm liên tiếp nằm trong top 10 người giàu nhất hành tinh trong danh sách 400 người giàu nhất nước Mỹ Forbes 400.
Sau khi John Walton, con trai thứ hai của Sam Walton chết vì tai nạn máy bay hồi 2005, vợ ông là và Christy Walton đã tiếp quản vị trí của chồng. Trong danh sách năm 2009, bà được Forbes xếp là người phụ nữ giàu nhất hành tinh với tổng tài sản 21,5 tỷ USD.
Christy là người giàu nhất trong nhà Walton nhờ người chồng quá cố của bà đã đầu tư đúng đắn vào cổ phiếu của hãng năng lượng First Solar. Kể từ khi phát hành cổ phiếu lần đầu vào năm 2006 đến nay, cổ phiếu của công ty này đã tăng 510% giá trị.
Sau khi Helen Walton, vợ của người sáng lập Sam Walton, chết vào năm 2007, tài sản của bà được chuyển vào cho các tổ chức từ thiện trong những năm tiếp theo. Đứng thứ hai trong danh sách giàu nhất trong gia đình là Alice Walton với tài sản 19,5 tỷ USD.
Hai người con gái của James Walton, người cùng Sam Walton sáng lập ra Wal-Mart là Nancy Walton Laurie và Ann Walton Kroenke sở hữu từ 2,6 đến 2,9 tỷ USD.
Những người thừa kế còn sống trong gia đình Walton:
| Tên | Tuổi | Tài sản (tỷ USD) | Thứ hạng trong Forbes 400 |
| Jim Walton | 61 | 17,8 | 11 |
| Alice Walton | 60 | 19,3 | 6 |
| Christy Walton | 54 | 21,5 | 4 |
| S. Robson Walton | 65 | 19 | 7 |
| Ann Walton Kroenke | 60 | 2,9 | 110 |
| Nancy Walton Laurie | 58 | 2,6 | 118 |
Thanh Bình
zondag 23 oktober 2011
10 công ty đông nhân viên nhất thế giới
23/10/2011
Những công ty có mặt trong danh sách dưới đây vẫn phát triển mạnh mẽ và không ngừng gia tăng số lượng nhân viên của mình trên toàn cầu.
Những công ty có mặt trong danh sách dưới đây vẫn phát triển mạnh mẽ và không ngừng gia tăng số lượng nhân viên của mình trên toàn cầu.
> 15 công ty gia đình có doanh thu tỷ đôla
> 10 công ty danh tiếng nhất thế giới
10. IBM (International Business Machines)
| Số lượng nhân viên: 426.750 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 234.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 24.750 USD Xét về lượng vốn hóa thị trường, IMB là tập đoàn công nghệ lớn thứ 3 thế giới chỉ sau Apple và Microsoft. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là phần cứng, phần mềm máy tính, hạ tầng và các dịch vụ tư vấn. Hiện IBM sử dụng lao động tại hơn 200 quốc gia trên toàn thế giới. Năm 2009, IBM công bố số lượng người lao động của công ty riêng tại thị trường Mỹ là 10.000 người. Thời gian gần đây, IMB đang thực hiện chính sách chuyển việc làm từ Mỹ sang các khu vực khác như châu Á và Nam Mỹ. Vào năm 2003, IBM chỉ có 9.000 nhân viên của Ấn Độ, đến nay con số này đã lên tới 75.000 người. Từ năm 2005 đến 2010, IBM đã tuyển dụng thêm 97.000 lao động trên toàn thế giới. |
9. Compass Group
| Số lượng nhân viên: 428.000 người (cả bán thời gian) Doanh thu trên mỗi nhân viên: 53.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 2.500 USD Compass Group là tập đoàn dịch vụ thực phẩm lớn nhất thế giới, hoạt động tại hơn 50 quốc gia. Mỗi năm, Compass Group phục vụ 4 tỷ bữa ăn trên toàn cầu. Từ 2005 đến 2010, Compass Group đã tuyển dụng thêm gần 18.000 nhân viên. Lao động tại Anh và Ireland chỉ chiếm 20% lực lượng lao động của tập đoàn trong khi đó Bắc Mỹ chiếm hơn 40%. Trong những năm gần đây, Compass đang cố gắng cải thiện năng suất lao động của nhân viên. Doanh thu tính trên mỗi nhân viên của tập đoàn này đã tăng gần 14.500 USD so với năm 2005 còn lợi nhuận tính trên mỗi nhân viên tăng 5 lần. |
8. Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (AgBank)
| Số lượng nhân viên: 444.440 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 85.470 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 33.500 USD AgBank là ngân hàng lớn nhất thế giới xét về số lượng khách hàng, chi nhánh và nhân viên. Một vài năm trở lại đây, lực lượng lao động đông đảo của Agbank không giảm nhiều ngay cả khi ngân hàng này chuyển đổi từ hình thức quốc doanh sang ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy phát triển mạnh mẽ là vậy, nhưng lợi nhuận tính trên mỗi nhân viên của AgBank lại thấp hơn so với các ngân hàng khác tại Trung Quốc như ICBC. |
7. Deutsche Post DHL
| Số lượng nhân viên: 467.000 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 148.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 8.350 USD Deutsche Post DHL hãng thư tín và phát chuyển nhanh lớn nhất và đồng thời cũng là một trong những công ty hậu cần lớn nhất thế giới,có mặt tại hơn 220 quốc gia. Trong những năm gần đây, lực lượng lao động của Deutsche Post tăng lên do công ty thực hiện nhiều thương vụ mua lại, trong đó nổi bật là vụ mua lại công ty hậu cần Exel của Anh và Blue Dart của Ấn Độ. Tuy vậy, số nhân viên toàn thời gian của công ty đã giảm khoảng 7,5% so với tổng số 455.000 lao động của năm 2005. Điều này được cho là bởi xu hướng sử dụng email thay vì thư viết tay như trước đây. |
6. Carrefour
| Số lượng nhân viên: 471.750 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 256.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 3.920 USD Tập đoàn Carrefour của Pháp là hãng bán lẻ lớn nhất châu Âu và lớn thứ 2 thế giới chỉ sau Wal-Mart. Hiện cửa hàng và siêu thị của hãng có mặt tại 32 quốc gia, trong đó 57% doanh thu đến từ các nước bên ngoài lãnh thổ Pháp. Tính đến cuối năm 2010, lực lượng lao động của hãng tăng lên trên 471.000 người so với 436.000 người của năm 2005. Tuy đang gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh khốc liệt, Carrefour vẫn khẳng định hạn chế mức tối đa việc cắt giảm lao động. |
5. Tesco
| Số lượng nhân viên: 492.700 người (cả bán thời gian) Doanh thu trên mỗi nhân viên: 194.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 9.000 USD Tesco là hãng bán lẻ lớn thứ 3 trên thế giới, sau Wal-Mart và Carrefour. Hãng này bán lẻ đủ loại mặt hàng từ sách, quần áo, đồ điện tử cho đến dịch vụ tài chính. Trong 5 năm qua, lực lượng lao động của Tesco đã tăng 19%, và từ 2007 đến 2011, hãng đã tuyển dụng thêm gần 80.000 lao động. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế tại Anh khiến lợi nhuận nội địa giảm nhưng hãng lại liên tục mở rộng sang các thị trường mới nổi tại châu Á. Mới đây, hãng Tesco cũng đã tuyên bố rút lui khỏi thị trường Nhật Bản sau 8 năm thất bại và phải bán đi 129 siêu thị mini tại đây để tập trung vào phát triển tại các nước châu Á khác. |
4. PetroChina
| Số lượng nhân viên: 592.700 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 398.000 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 37.250 USD PetroChina là công ty dầu khí lớn nhất Trung Quốc với vốn hóa thị trường là 274,3 tỷ USD. Đây cũng là hãng năng lượng có giá trị vốn hóa thị trường lớn thứ 2 thế giới sau Exxon Mobil của Mỹ. Các hoạt động của PetroChina bao gồm thăm dò, lọc hóa, bán lẻ xăng dầu. Hiện công ty đang sở hữu 18.000 trạm bán xăng trên toàn Trung Quốc. Từ 2005 đến 2010, lực lượng lao động của PetroChina tăng 25% tương đương 113.000 người. Hơn 60% lực lượng lao động của hãng làm việc trong mảng sản xuất năng lượng. |
3. Hon Hai Precision Industry
| Số lượng nhân viên: 836.000 người Doanh thu trên mỗi nhân viên: 117.700 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 3.000 USD Hon Hai Precision Industry là công ty mẹ của hãng công nghệ Foxconn và cũng là hãng điện tử lớn nhất thế giới tính về doanh thu. Còn Foxconn hiện là công ty xuất khẩu lớn nhất tại Trung Quốc lục địa. Hãng lắp ráp mọi thứ từ máy tính cho đến điện thoại thông minh hay tấm màn hình cho các đối tác như Apple, Cisco, Dell, Nokia và Sony. Năm 2010, Foxconn lên kế hoạch tuyển thêm 400.000 lao động trong vài năm tới. Hiện công ty này đang phải đối mặt với tình trạng số lượng nhân viên tự tử gia tăng, mà nguyên nhân chính được cho là điều kiện làm việc quá khắc nghiệt. Do vậy, trong năm 2010, Foxconn đã phải tăng lương cho nhân viên. Chi phí lao động tăng cũng ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận của hãng. |
2. McDonald’s
| Số lượng nhân viên: 1,7 triệu người (cả bán thời gian) Doanh thu trên mỗi nhân viên: 14.200 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 2.930 USD McDonald’s là một trong những thương hiệu giá trị nhất trên thế giới với 33.000 cửa hàng, trên 118 quốc gia. Trong chương trình "National hiring day" hồi tháng 4 vừa rồi, McDonald tuyển dụng thêm 62.000 lao động chỉ trong một ngày. Con số này nhiều hơn so với dự đoán ban đầu là 50.000 người. Chương trình này nằm trong kế hoạch tăng thêm 7% lao động Mỹ của hãng. Hiện McDonald vẫn có kế hoạch mở thêm nhiều chuỗi cửa hàng tại nhiều nước trên thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc lực lượng lao động của hãng sẽ còn tăng cao trong các năm tới. |
1. Wal-Mart
| Số lượng nhân viên: 2,1 triệu người (cả bán thời gian) Doanh thu trên mỗi nhân viên: 199.500 USD Lợi nhuận trên mỗi nhân viên: 7.100 USD Wal-Mart là hãng bán lẻ lớn nhất thế giới với hơn 9.600 cửa hàng tại 28 quốc gia. Từ 2005 đến 2010, lực lượng của Wal-Mart đã tăng gần 17%, từ 1,8 triệu lao động năm 2005 lên 2,1 triệu lao động năm 2010. Trong số 2,1 triệu nhân viên của Wal-Mart, có 1,4 triệu người làm việc tại Mỹ. Ngoài ra, Wal-Mart cũng là hãng sử dụng nhiều nhân viên nhất tại Mexico và là một trong những hãng tư nhân đông nhân viên nhất tại Canada. Sử dụng nhiều lao động hơn bất cứ công ty tư nhân nào trên thế giới, Wal-Mart chịu sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức công đoàn và liên tục bị chỉ trích là có chính sách chống công đoàn. |
Tạ Linh (theo CNBC)
Abonneren op:
Posts (Atom)