Posts tonen met het label Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Alle posts tonen

maandag 25 november 2013

Việt Nam: Đảng quyền, Nhân quyền và Thanh niên với...“Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Đảng quyền, Nhân quyền và Thanh niên
Trần Gia Phụng (Danlambao) - Phổ biến bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ nhằm nâng cao hiểu biết của quần chúng bị áp bức và cả hiểu biết của đảng viên CS, là bước khởi đầu trong việc đòi hỏi giải quyết khiếu nại, kiện tụng của dân oan về quyền tư hữu đất đai, chấm dứt những cảnh tấn công, đánh đập, bịt miệng một cách thiếu văn hóa, giải quyết những vấn đề tự do tôn giáo, giải quyết những bản án bất công đối với những tù nhân lương tâm, mở rộng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí...

*

Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) là hậu thân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) điều khiển. Chế độ CSVN là chế độ độc tài đảng trị toàn trị, đặt quyền lợi của đảng lên bậc tối thượng, có thể gọi là chế độ đảng quyền.

Chế độ đảng quyền Việt Nam chỉ biết có quyền lợi của đảng CSVN, xem thường tất cả các quyền khác của con người (nhân quyền) và của công dân (dân quyền). Hiến pháp CSVN tự đặt đảng CSVN lên trên toàn thể nhân dân Việt Nam, tự phong là “đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” (Điều 4 HP).

Chẳng những hiến pháp, mà luật lệ, điều lệ, quy định của tất cả các tổ chức công quyền cũng như tổ chức xã hội dưới chế độ CS Việt Nam hiện nay đều tôn xưng, củng cố quyền lực của đảng CSVN. Điều 13 Luật an ninh quốc gia áp dụng từ ngày 1-7-2005 quy định rằng: “Các hành vi bị nghiêm cấm: tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm… xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam...”.

Hai lực lượng chính yếu bảo vệ quốc gia là quân đội và an ninh đều được sử dụng để phục vụ đảng CSVN hơn là phục vụ dân tộc. Quân đội CSVN gọi là quân đội nhân dân, lấy câu nói của Hồ Chí Minh ngày 22-12-1964 làm kim chỉ nam hoạt động: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội...” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11 (1963-1965), Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000 tr. 351.) Ngành công an CSVN cũng được gọi là công an nhân dân, sinh hoạt theo châm ngôn: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình.” Hai tổ chức dân sự là Mặt trận Tổ quốc và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản cũng chỉ là công cụ của đảng CS mà thôi.

Nhà nước CSVN không bao giờ cho phổ biến những tài liệu về nhân quyền hay bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (TNQTNQ) do Liên Hiệp Quốc (LHQ) công bố ngày 10-12-1948. Nền giáo dục của chế độ CSVN là nền giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ đảng cộng sản. Chính sách giáo dục nầy nhằm mục đích đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, và biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ.

Trong chương trình giáo dục cộng sản, có môn chính trị ở trung và đại học về chủ nghĩa CS, lịch sử đảng CS, lịch sử Quốc tế CS, nhằm phục vụ chủ nghĩa CS, chứ không có môn Công dân giáo dục để dạy về bổn phận và quyền lợi công dân, và hoàn toàn không có chuyện học hay phổ biến bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ. Ở Bắc Việt trước năm 1975 không có Đại học luật khoa. Sau năm 1975, khi chiếm được miền Nam Việt Nam cho đến nay, cũng không có môn Công dân giáo dục ở học đường và không bao giờ có việc phổ biến ở trong trường cũng như ngoài xã hội bản QTNQ. Sách báo CS chỉ có một luận điệu duy nhất là nhồi sọ mọi người về đảng quyền CSVN mà thôi.

Phải dài dòng như thế để thấy rằng những người sống dưới chế độ CS từ 1945, rồi những người sinh ra và lớn lên ở Bắc Việt Nam sau năm 1954, và những người sinh ra sau 1975 ở trên toàn quốc Việt Nam, hoàn toàn không có điều kiện để tiếp cận về Tổ chức nhân quyền và bản TNQTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ.

Dân số Việt Nam được sắp hạng là dân số trẻ trên thế giới. Năm 1975 dân số Việt Nam cả Bắc lẫn Nam Việt Nam khoảng từ 45 đến 50 triều. Hiện nay dân số lên đến khoảng 90 triều. Số tăng trưởng đó đều sinh sau năm 1975, cùng với số trẻ trước năm 1975 cộng lại, có thể nói hơn một nửa dân số thuộc giới trẻ.

Giới trẻ Việt Nam trong nước hiện nay dưới chế độ đảng quyền CS, hoàn toàn không được công khai giảng dạy, học hỏi về dân quyền, nhân quyền căn bản và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ; mà chỉ được đảng CSVN hướng dẫn về nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa của CS, tức nhân quyền giới hạn dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN. Tất cả những ai đòi hỏi nhân quyền ra ngoài định hướng xã hội chủ nghĩa đều bị trấn áp, tấn công, đày đọa và tù đày suốt đời.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy giới trẻ hiện nay ở trong nước ý thức rất rõ quyền làm người của mình, thông qua đấu tranh chống những bất công xã hội hiện nay. Chính những bóc lột trắng trợn, bất công chồng chất, đàn áp dã man của CSVN đã dạy cho tuổi trẻ những bài học nhớ đời về nhân quyền. Tuổi trẻ Việt Nam đã tự học hỏi về nhân quyền qua những chứng nghiệm thực tế từng trải trong xã hội mà mình đang sống. Từ dân oan kiện tụng, đến tự do ngôn luận, viết blog góp ý, tự do tôn giáo, đến cả tỏ bày lòng yêu nước cũng bị đàn áp, như Việt Khang đã viết: “Xin hỏi anh là ai?/ Không cho tôi xuống đường để tỏ bày, / Tình yêu quê hương này, dân tộc này, đã quá nhiều đắng cay.”

Vì vậy phong trào tranh đấu đòi hỏi nhân quyền căn bản đích thực của con người hiện nay ở Việt Nam, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Lúc đầu, chỉ một vài người đi tiên phong và bị đàn áp, nhưng lạ lùng thay, càng bị đàn áp, thì tuổi trẻ Việt Nam càng vươn lên, tranh đấu cho tự do và nhân quyền, đúng như câu nói của một nhà lý thuyết cộng sản: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Danh sách những nhà tranh đấu nhân quyền càng ngày càng dài, và sẽ tiếp tục dài thêm nữa khi chế độ đảng quyền còn tồn tại.

Do những cuộc tranh đấu liên tục ở trong nước, do những cuộc đàn áp dã man, những bản án bất công, những tù tội phi lý, mà chế độ đảng quyền CHXHCNVN trở thành nổi tiếng khắp thế giới về tài năng đàn áp nhân quyền. Điều nầy không cần ví dụ hay trích dẫn. Có thể vì vậy, trong năm nay, CHXHCNVN nạp đơn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ để kiếm cách rửa lại và lau chùi bộ mặt nhân quyền của chế độ.

Trước khi Đại hội đồng LHQ biểu quyết tại New York (Hoa Kỳ) bầu chọn đại diện mới vào HĐNQ, thì nhà cầm quyền CSVN đã thực hiện hai động tác gần như cùng một lúc:

1) Ngày 7-11-2013, tại New York, đại diện CHXHCNVN ký vào bản “Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác” (United Nations Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment). Bản công ước được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10-12-1984 và có hiệu lực từ ngày 26-6-1987. (Danh sách cập nhật, xem United Nations Treaty Collection, http://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx). Hơn 15 năm sau, CSVN mới ký vào văn kiện nầy.

2) Tại Hà Nội bộ Tư pháp và Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương của CSVN tổ chức lễ công bố “Ngày Pháp luật” nước CHXHCN Việt Nam tối 8-11-2013, do Quốc hội CS thông qua Luật phổ biến giáo dục pháp luật, và chọn ngày 9-11 hằng năm làm ngày Pháp luật Việt Nam.

Để quảng cáo với các nước trên thế giới, và dọn đường cho LHQ dễ chấp thuận cho CHXHCNVN vào HĐNQ, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN phát biểu tại buổi lễ ở Hà Nội rằng Ngày pháp luật “có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng và củng cố văn hóa lập hiến, văn hóa pháp luật dựa trên các nền tảng “đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” như Hiến pháp 1946 quy định. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thông điệp gửi đến nhân dân thế giới, các nhà đầu tư nước ngoài, đồng bào ta ở nước ngoài hình ảnh của một nước Việt Nam đang đổi mới và xây dựng một đất nước thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.” (Báo Công Thương, Hà Nội ngày 9-11-2013)

Thật ra Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là hiến pháp chết yểu, vì sau khi được quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 thì chỉ năm ngày sau, tức ngày 14-9-1946, cũng chính quốc hội nầy, dưới áp lực của đảng CS, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp. (Ở đây xin mở ngoặt là viên thủ tướng CS trưng dẫn bản hiến pháp chết yểu 1946 có nghĩa là bản hiến pháp nầy có giá trị hơn các bản Hiến pháp của CSVN được thông qua vào các ngày 31-12-1959, 18-12-1980 và 15-4-1992.)

Quốc hội CHXHCNVN chọn ngày 9-11 làm Ngày Pháp luật nhằm nhắc nhở ngày 9-11-1946 thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy nhiên, căn cứ trên một hiến pháp chỉ có trên giấy tờ nhưng không có giá trị thực hành, chưa bao giờ thực hành, thì không khác gì mời khách ăn bánh vẽ. Nguyễn Tấn Dũng lập lờ nói đến hình ảnh một nước Việt Nam đổi mới với các nhà đầu tư quốc tế nhằm lôi cuốn các nước chấp thuận cho CHXHCNVN gia nhập HĐNQLHQ.

Cuối cùng, ngày 12-11-2013 vừa qua, vì chỉ có 4 ứng viên cho 4 ghế trong khu vực Á Châu nên CHXHCNVN đương nhiên đắc cử vào HĐNQLHQ. Báo chí cộng sản trong nước hết lời ca tụng đây là thành tích ngoại giao vẻ vang của CHXHCNVN, trong khi báo chí nước ngoài cho rằng LHQ trao gươm lầm tướng cướp. Thật ra chẳng có ai để trao gươm nên LHQ đành trao cho tướng cướp. Như thế là một nhà nước đảng quyền hết sức phản động, chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, lại gặp thời gia nhập vào Hội đồng bảo vệ nhân quyền trên thế giới.

Khi ký vào bản “Công ước chống tra trấn” và gia nhập vào HĐNQLHQ, đương nhiên CHXHCNVN phải cam kết với LHQ là tôn trọng chủ trương của Công ước và của HĐNQ. Tuy cam kết như thế, nhưng không lấy gì bảo đảm rằng CHXHCNVN sẽ tôn trọng nhân quyền ở trong nước Việt Nam. Dầu vậy, việc ký vào bản Công ước chống tra tấn và việc xin gia nhập vào HĐNQLHQ là hành động đầu tiên của nhà nước CHXHCNVN công khai thừa nhận con người có nhân quyền đích thực như LHQ định nghĩa, khác với thứ nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa do CSVN quy định. Sự kiện nầy mở ra hai thử thách về cả hai phía:

Phía nhà cầm quyền CSVN phải lựa chọn một trong hai thái độ: hoặc tiếp tục chủ trương nhân quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đàn áp trước những đòi hỏi càng ngày càng cao của dân chúng Việt Nam về những quyền căn bản đích thực của con người; hoặc đã vào sân chơi của HĐNQ là phải tôn trọng luật chơi, nghĩa là tôn trọng những quyền tự do căn bản đã quy định trong bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948.

Phía người dân Việt Nam, hiện nay đại đa số là giới trẻ, sẽ dựa vào cơ hội nầy để đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN tôn trọng luật chơi. Trước đây, nhà cầm quyền CSVN không công nhận nhân quyền, tùy tiện đàn áp trắng trợn. Bây giờ, mang danh vào HĐNQ thì phải tôn trọng điều lệ, nội quy, chính sách của HĐNQ.

Việc đầu tiên có lẽ giới trẻ sẽ đòi hỏi là CHXHCNVN đã là thành viên của HĐNQ, thì ít nhất bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 của LHQ có thể được công khai phổ biến. Nếu nhà nước CHXHCNVN “quên” phổ biến, thì dân chúng có thể phổ biến “giùm” hai văn kiện nầy một cách rộng rãi đến mọi người dân ở trong nước.

Trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa không phải là thành viên của LHQ, cũng không phải là hội viên HĐNQ vì lúc đó chưa có HĐNQ, mà vẫn công khai phổ biến bản tuyên ngôn nầy. Chẳng những chính quyền VNCH tổ chức lễ kỷ niệm hàng năm vào ngày 10-12, VNCH còn đưa vào chương trình giảng dạy bậc trung học ở lớp 9, rồi lớp 12 và ở các trường Đại học Luật khoa.

Nay CHXHCNVN đã long trọng ký kết vào bản Công ước chống tra tấn, đồng thời gia nhập vào HĐNQLHQ, thì bản Công ước và bản Tuyên ngôn QTNQ ngày 10-12-1948 đều là văn kiện của nhà nước CHXHCNVN. Giới trẻ có thể phổ biến giùm một cách công khai, rộng rãi, bất bạo động hai văn kiện nầy mà Công an CSVN không có lý do gì cấm đoán hay đàn áp, vì đây là hai tài liệu của đảng và chứ không chống đảng. Điều nầy cần nhấn mạnh để cho toàn thể dân chúng Việt Nam, kể cá cán bộ, quân đội, công an CS mạnh dạn giúp tiếp tay phổ biến tài liệu của nhà nước.

Phổ biến bản “Công ước chống tra tấn” và bản Tuyên ngôn QTNQ nhằm nâng cao hiểu biết của quần chúng bị áp bức và cả hiểu biết của đảng viên CS, là bước khởi đầu trong việc đòi hỏi giải quyết khiếu nại, kiện tụng của dân oan về quyền tư hữu đất đai, chấm dứt những cảnh tấn công, đánh đập, bịt miệng một cách thiếu văn hóa, giải quyết những vấn đề tự do tôn giáo, giải quyết những bản án bất công đối với những tù nhân lương tâm, mở rộng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí...

Chắc chắn lúc đầu nhà nước CHXHCNVN sẽ vùng vẫy, gây khó khăn, trở ngại, nhưng nếu CHXHCNVN muốn tiếp tục cuộc chơi thì bắt buộc nhà cầm quyền CHXHCNVN phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Cũng chắc chắn những đòi hỏi hợp tình hợp lý về nhân quyền đích thực của công dân sẽ bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp, có thể cả tiếp tục tù đày, nhưng xin nhớ đến câu nói của nhà cách mạng Phan Châu Trinh cách đây hơn 100 năm: Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì mọi việc khác có thể lần được.” (Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, tr. 116.) CHẮC CHẮN THANH NIÊN VIỆT NAM THỪA CAN ĐẢM TIẾN LÊN.

Toronto, 23-11-2013


 
 
 Chúng ta phải làm gì? - Đặng Chí Hùng Hội luận trên
Paltalk (P1)
https://www.youtube.com/watch?...

    woensdag 8 mei 2013

    Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền * The Universal Declaration of Human Rights

    Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền * The Universal Declaration of Human Rights

    Clip thực hiện bởi Human Rights Action Center. Phụ đề tiếng Việt bởi Square1 (Danlambao)

    Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ. Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Thế chiến thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Nó bao gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia. Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc III. Năm 1966, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế. 

    Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn. 

    Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".

    *

    Toàn văn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

    Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới. 

    Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người. 

    Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức. 

    Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng. 

    Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn. 

    Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. 

    Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên. 

    Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này. 

    Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó. 

    Ðiều 1:
    - Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái. 

    Ðiều 2:
    - Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền. 

    Ðiều 3:
    - Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. 

    Ðiều 4:
    - Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm. 

    Ðiều 5:
    - Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục. 

    Ðiều 6:
    - Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật. 

    Ðiều 7:
    - Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy. 

    Ðiều 8:
    - Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định. 

    Ðiều 9:
    - Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán. 

    Ðiều 10:
    - Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc. 

    Ðiều 11:
    - Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự. 
    - Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra. 

    Ðiều 12:
    - Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy. 

    Ðiều 13:
    - Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia. 
    - Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở. 

    Ðiều 14: 
    - Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác. 
    - Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc. 

    Ðiều 15: 
    - Mọi người đều có quyền có quốc tịch. 
    - Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán. 

    Ðiều 16: 
    - Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn. 
    - Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự. 
    - Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia. 

    Ðiều 17: 
    - Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể. 
    - Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán. 

    Ðiều 18:
    - Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo. 

    Ðiều 19:
    - Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới. 

    Ðiều 20: 
    - Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. 
    - Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể. 

    Ðiều 21: 
    - Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do. 
    - Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng. 
    - Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do. 

    Ðiều 22:
    - Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân. 

    Ðiều 23: 
    - Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp. 
    - Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc. 
    - Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác. 
    - Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình. 

    Ðiều 24:
    - Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương. 

    Ðiều 25: 
    - Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình. 
    - Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng. 

    Ðiều 26: 
    - Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng. 
    - Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình. 
    - Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình. 

    Ðiều 27: 
    - Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia sẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học. 
    - Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật. 

    Ðiều 28:
    Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ. 

    Ðiều 29: 
    - Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình. 
    - Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. 
    - Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc. 

    Ðiều 30:
    - Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này. 

    Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948


    The Universal Declaration of Human Rights

    PREAMBLE 

    Whereas recognition of the inherent dignity and of the equal and inalienable rights of all members of the human family is the foundation of freedom, justice and peace in the world, 

    Whereas disregard and contempt for human rights have resulted in barbarous acts which have outraged the conscience of mankind, and the advent of a world in which human beings shall enjoy freedom of speech and belief and freedom from fear and want has been proclaimed as the highest aspiration of the common people, 

    Whereas it is essential, if man is not to be compelled to have recourse, as a last resort, to rebellion against tyranny and oppression, that human rights should be protected by the rule of law, 

    Whereas it is essential to promote the development of friendly relations between nations, 

    Whereas the peoples of the United Nations have in the Charter reaffirmed their faith in fundamental human rights, in the dignity and worth of the human person and in the equal rights of men and women and have determined to promote social progress and better standards of life in larger freedom, 

    Whereas Member States have pledged themselves to achieve, in co-operation with the United Nations, the promotion of universal respect for and observance of human rights and fundamental freedoms, 

    Whereas a common understanding of these rights and freedoms is of the greatest importance for the full realization of this pledge, 

    Now, Therefore THE GENERAL ASSEMBLY proclaims THIS UNIVERSAL DECLARATION OF HUMAN RIGHTS as a common standard of achievement for all peoples and all nations, to the end that every individual and every organ of society, keeping this Declaration constantly in mind, shall strive by teaching and education to promote respect for these rights and freedoms and by progressive measures, national and international, to secure their universal and effective recognition and observance, both among the peoples of Member States themselves and among the peoples of territories under their jurisdiction. 

    Article 1. 
    All human beings are born free and equal in dignity and rights.They are endowed with reason and conscience and should act towards one another in a spirit of brotherhood. 

    Article 2. 
    Everyone is entitled to all the rights and freedoms set forth in this Declaration, without distinction of any kind, such as race, colour, sex, language, religion, political or other opinion, national or social origin, property, birth or other status. Furthermore, no distinction shall be made on the basis of the political, jurisdictional or international status of the country or territory to which a person belongs, whether it be independent, trust, non-self-governing or under any other limitation of sovereignty. 

    Article 3. 
    Everyone has the right to life, liberty and security of person. 

    Article 4. 
    No one shall be held in slavery or servitude; slavery and the slave trade shall be prohibited in all their forms. 

    Article 5. 
    No one shall be subjected to torture or to cruel, inhuman or degrading treatment or punishment. 

    Article 6. 
    Everyone has the right to recognition everywhere as a person before the law. 

    Article 7. 
    All are equal before the law and are entitled without any discrimination to equal protection of the law. All are entitled to equal protection against any discrimination in violation of this Declaration and against any incitement to such discrimination. 

    Article 8. 
    Everyone has the right to an effective remedy by the competent national tribunals for acts violating the fundamental rights granted him by the constitution or by law. 

    Article 9. 
    No one shall be subjected to arbitrary arrest, detention or exile. 

    Article 10. 
    Everyone is entitled in full equality to a fair and public hearing by an independent and impartial tribunal, in the determination of his rights and obligations and of any criminal charge against him. 

    Article 11. 
    (1) Everyone charged with a penal offence has the right to be presumed innocent until proved guilty according to law in a public trial at which he has had all the guarantees necessary for his defence. 
    (2) No one shall be held guilty of any penal offence on account of any act or omission which did not constitute a penal offence, under national or international law, at the time when it was committed. Nor shall a heavier penalty be imposed than the one that was applicable at the time the penal offence was committed. 

    Article 12. 
    No one shall be subjected to arbitrary interference with his privacy, family, home or correspondence, nor to attacks upon his honour and reputation. Everyone has the right to the protection of the law against such interference or attacks. 

    Article 13. 
    (1) Everyone has the right to freedom of movement and residence within the borders of each state. 
    (2) Everyone has the right to leave any country, including his own, and to return to his country. 

    Article 14. 
    (1) Everyone has the right to seek and to enjoy in other countries asylum from persecution. 
    (2) This right may not be invoked in the case of prosecutions genuinely arising from non-political crimes or from acts contrary to the purposes and principles of the United Nations. 

    Article 15. 
    (1) Everyone has the right to a nationality. 
    (2) No one shall be arbitrarily deprived of his nationality nor denied the right to change his nationality. 

    Article 16. 
    (1) Men and women of full age, without any limitation due to race, nationality or religion, have the right to marry and to found a family. They are entitled to equal rights as to marriage, during marriage and at its dissolution. 
    (2) Marriage shall be entered into only with the free and full consent of the intending spouses. 
    (3) The family is the natural and fundamental group unit of society and is entitled to protection by society and the State. 

    Article 17. 
    (1) Everyone has the right to own property alone as well as in association with others. 
    (2) No one shall be arbitrarily deprived of his property. 

    Article 18. 
    Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom, either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in teaching, practice, worship and observance. 

    Article 19. 
    Everyone has the right to freedom of opinion and expression; this right includes freedom to hold opinions without interference and to seek, receive and impart information and ideas through any media and regardless of frontiers. 

    Article 20. 
    (1) Everyone has the right to freedom of peaceful assembly and association. 
    (2) No one may be compelled to belong to an association. 

    Article 21. 
    (1) Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen representatives. 
    (2) Everyone has the right of equal access to public service in his country. 
    (3) The will of the people shall be the basis of the authority of government; this will shall be expressed in periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote or by equivalent free voting procedures. 

    Article 22. 
    Everyone, as a member of society, has the right to social security and is entitled to realization, through national effort and international co-operation and in accordance with the organization and resources of each State, of the economic, social and cultural rights indispensable for his dignity and the free development of his personality. 

    Article 23. 
    (1) Everyone has the right to work, to free choice of employment, to just and favourable conditions of work and to protection against unemployment. 
    (2) Everyone, without any discrimination, has the right to equal pay for equal work. 
    (3) Everyone who works has the right to just and favourable remuneration ensuring for himself and his family an existence worthy of human dignity, and supplemented, if necessary, by other means of social protection. 
    (4) Everyone has the right to form and to join trade unions for the protection of his interests. 

    Article 24. 
    Everyone has the right to rest and leisure, including reasonable limitation of working hours and periodic holidays with pay. 

    Article 25. 
    (1) Everyone has the right to a standard of living adequate for the health and well-being of himself and of his family, including food, clothing, housing and medical care and necessary social services, and the right to security in the event of unemployment, sickness, disability, widowhood, old age or other lack of livelihood in circumstances beyond his control. 
    (2) Motherhood and childhood are entitled to special care and assistance. All children, whether born in or out of wedlock, shall enjoy the same social protection. 

    Article 26. 
    (1) Everyone has the right to education. Education shall be free, at least in the elementary and fundamental stages. Elementary education shall be compulsory. Technical and professional education shall be made generally available and higher education shall be equally accessible to all on the basis of merit. 
    (2) Education shall be directed to the full development of the human personality and to the strengthening of respect for human rights and fundamental freedoms. It shall promote understanding, tolerance and friendship among all nations, racial or religious groups, and shall further the activities of the United Nations for the maintenance of peace. 
    (3) Parents have a prior right to choose the kind of education that shall be given to their children. 

    Article 27. 
    (1) Everyone has the right freely to participate in the cultural life of the community, to enjoy the arts and to share in scientific advancement and its benefits. 
    (2) Everyone has the right to the protection of the moral and material interests resulting from any scientific, literary or artistic production of which he is the author. 

    Article 28. 
    Everyone is entitled to a social and international order in which the rights and freedoms set forth in this Declaration can be fully realized. 

    Article 29. 
    (1) Everyone has duties to the community in which alone the free and full development of his personality is possible. 
    (2) In the exercise of his rights and freedoms, everyone shall be subject only to such limitations as are determined by law solely for the purpose of securing due recognition and respect for the rights and freedoms of others and of meeting the just requirements of morality, public order and the general welfare in a democratic society. 
    (3) These rights and freedoms may in no case be exercised contrary to the purposes and principles of the United Nations. 

    Article 30. 
    Nothing in this Declaration may be interpreted as implying for any State, group or person any right to engage in any activity or to perform any act aimed at the destruction of any of the rights and freedoms set forth herein.

     

    zaterdag 4 mei 2013

    Hà Nội: Giới vận động dân chủ phát Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

    Hà Nội: Giới vận động dân chủ phát Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Saturday, May 04, 2013 1:28:30 PM







    HÀ NỘI 4-5 (NV) -
    Một ngày trước buổi sinh hoạt ngoài trời đang được những người vận động dân chủ hóa đất nước tổ chức, hàng trăm bản copy Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được phân phối.
    Một phụ nữ đọc bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do bà Bùi Thị Minh Hằng phân phát . (Hình trên facebook – Bùi Hằng)

    “Chiều nay tôi phát hết 200 rồi đấy. Nếu kịp ngày mai photo thêm , ra đứng ngã tư phát như quảng cáo thôi. Thằng công an nào gây sự sẽ chửi nó luôn. Vạch bộ mặt phản động của chúng nó. Dân rất ủng hộ.”

    Bà Bùi Thị Minh Hằng, một trong những người hăng hái vận động dân chủ hóa đất nước viết trên facebook ngày 4/5/2013.

    Bà và các bằng hữu đang cổ động cho chiến dịch “dã ngoại trao đổi về quyền con người” mà các công dân xác định mình là “Công Dân Tự Do” đứng ra tổ chức.

    Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là bản tuyên bố chung của tất cả các nước trên thế giới tham dự cuộc họp của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948. Nó là kết quả từ các lời kêu gọi sau Thế Chiến thứ 2 thúc giục mọi quốc gia tôn trọng các quyền căn bản của người dân về mọi mặt.

    Thời gian đó và cho đến tận ngày nay, đã qua 65 năm, các quyền tự do hội họp, lập hội, tự do báo chí và phát biểu, tự do ứng cử và bầu cử, tự do cư trú, sự bình đẳng trước pháp luật, vẫn không được thực thi tại nhiều quốc gia, đặc biệt như tại Việt Nam và những nước độc tài đảng trị, quân phiệt hay tôn giáo cuồng tín.

    Bản hiến pháp của chế độ Hà Nội tuy công nhận các quyền tự do căn bản nhưng lại thòng thêm những chữ “theo quy định của pháp luật”. Pháp luật CSVN siết các quyền của công dân bằng nhiều điều luật mơ hồ để giam giữ, khủng bố, bỏ tù công dân một cách tùy tiện.

    Khi được làm thành viên Liên Hiệp Quốc từ tháng 9 năm 1977,  CSVN đã long trọng cam kết tôn trọng các tuyên ngôn, các văn kiện căn bản của Liên Hiệp Quốc, trong đó Tuyên ngôn Quốc Tế về Nhân quyền. Đến năm 1982 chế độ Hà Nội ký cam kết thực thi “Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính trị” của công dân. Nhưng từ đó đến nay, hàng ngàn người đã bị bắt bỏ tù, không kể những cuộc khủng bố, sách nhiễu những ai đòi quyền làm người, từ tự do tôn giáo, tự do báo chí phát biểu, tự do ứng cử bầu cử.

    Guồng máy Công an của chế độ Hà Nội đã được vận dụng tối đa để thực hiện chủ trương độc tài đảng trị, đi ngược lại bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà họ đã đặt bút ký cam kết tuân hành.
    Công an CSVN ngăn chặn người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước ở Hà Nội.
    (Hình: Foreign Policy)

    Ngày 17/4/2012, một bài phân tích trên tờ tạp chí Foreign Policy nhận xét, trong khi Miến Điện (nổi tiếng thế giới là một chế độ quân phiệt độc tài hà khắc) đã trả tự do cho hàng trăm tù chính trị, thì chế độ Hà Nội lại vẫn tiếp tục sách nhiễu, khủng bố, bỏ tù người dân chỉ vì họ đòi quyền làm người. Chính vì vậy tác giả bài viết gọi Việt Nam là một con cọp kinh tởm (Terrible Tiger).

    Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế ghi nhận, trong năm 2012, hơn 40 người tại Việt Nam dùng internet bầy tỏ chính kiến hay thông tin, đã bị bỏ tù. Năm nay, cũng có hơn 40 người khác hoặc đã bị bỏ tù, hoặc đang chờ án tù. Trong số đó có luật sư Lê Quốc Quân, cô nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên.

    Một số người bạn của bà Bùi Hằng viết trên trang facebook của bà cho biết họ tiếp tay với bà cùng in và phổ biến bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

    “Cháu vừa chia bớt cho anh em mỗi người một tệp...” Một thanh niên viết trên facebook Bùi Hằng.

    “Nếu mai bọn chúng ngăn cản phát tờ rơi (TNQTNQ) sẽ tố luôn bọn chúng là phản động. Vạch mặt chúng trước đông người nhé...” Bà Bùi Hằng nhắc bạn.

    Trên trang facebook của bà có đăng lại bản tiếng Việt của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền gồm 30 điều mà nhóm “Công Dân Tự Do” sẽ thảo luận tại 3 địa điểm ở Sài Gòn, Hà Nội và Nha Trang cũng như tại nhiều nơi khác ở Việt Nam. (N.T.)

    « Trở về trang trước

    CÁC TIN KHÁC   »
    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=165845&zoneid=2#.UYWZaPnCS70