Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập bến Đà Nẵng hôm 05/03/2018. (Hình: Huy Khâm/Reuters)
WASHINGTON, Hoa Kỳ (NV) – Hoa Kỳ hy vọng có thể đạt được thoả thuận gửi một hàng không mẫu hạm thứ hai đến Việt Nam trong năm nay và mong muốn thắt chặt quan hệ quốc phòng hơn với Việt Nam, theo ông Randall G. Schriver, Trợ lý Bộ trưởng Quốc Phòng phụ trách vấn đề an ninh khu vực Ấn Độ- Thái Bình Dương cho biết hôm Thứ Tư 3 Tháng Tư.
Thắt chặt quan hệ quốc phòng
“Hoa Kỳ mong những lần cập bến của tàu sân bay Mỹ sẽ trở thành sự kiện thường xuyên của việc tăng cường mối quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù trong chiến tranh Việt Nam,” ông Schriver phát biểu tại buổi hội thảo “Việt – Mỹ: Hướng đến hợp tác chiến lược” tại Trung Tâm Chiến lược & Nghiên Cứu Quốc tế (CSIS) – thủ đô Washington ngày 3 Tháng Tư.
Buổi hội thảo được phát trực tiếp trên trang csis.org.
Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson từng cập bến Đà Nẵng vào Tháng Ba năm ngoái trong chuyến thăm đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Theo một số nhận định, sự kiện này nhấn mạnh mối quan hệ chiến lược ngày càng tăng của Hoa Kỳ – Việt Nam tại thời điểm ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng gia tăng trong khu vực. Một lính thuỷ thủ trên tàu ku trục ở cảng Đà Nẵng. (Hình: REUTERS/Kham)Ông Randall G. Schriver nhấn mạnh thêm trong buổi hội thảo: “Chúng tôi đang thảo luận với Việt Nam. Hy vọng của chúng tôi là đây có thể là một sự kiện đặc trưng thường xuyên trong mối quan hệ hai nước. Nó sẽ là dấu hiệu của một mối quan hệ chiến lược và chín chắn.”
Đặc biệt, ông Schriver tiết lộ ông hy vọng Hoa Kỳ sẽ hoàn thành và chuyển giao chiếc tàu khu trục thứ hai cho Việt Nam để giúp Việt Nam trong công tác an ninh hàng hải.
Cũng trong buổi hội thảo ở CSIS, ông Schriver cam kết giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền quốc gia giữa lúc Trung Quốc không ngừng các hoạt động quân sự hóa trên vùng Biển Đông có tranh chấp. Bán võ khí, kèm nhân quyền?
Năm 2017, Hoa Kỳ đã chuyển giao một tàu khu trục USCGC Morgenthau lớp Hamilton dành cho Cảnh sát biển. Con tàu này hiện đang hoạt động trong các nhiệm vụ an ninh hàng hải cho Việt Nam.
Tin từ Reuters cho biết hôm Thứ Hai, 1 Tháng Tư, Hoa Kỳ đã bàn giao sáu tàu tuần tra trị giá $12 triệu cho Lực lượng bảo vệ an ninh biển Việt Nam.
Tháng Hai vừa qua, trong chuyến tham dư Thượng đỉnh Mỹ-Bắc Hàn tại Hà Nội, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã có cuộc gặp với chính quyền CSVN. Đó cũng chính là thời gian ông Trump sử dụng cho việc “quảng cáo” bán vũ khí sản xuất từ Hoa Kỳ. Tổng Thống Mỹ Donald Trump gặp ông Nguyễn Phú Trọng khi đến Việt Nam dự hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Bắc Hàn hôm 27 Tháng Hai, 2019. (Hình: Getty Images)Nhận định của tờ ChannelNewsAsia đưa ra cho thấy, nhiều thập kỷ sau chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, mối quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù này ngày càng được thắt chặt. “Cả hai nước có mối quan tâm chung về hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi mỗi năm có lượng hàng hoá giá trị hơn $3,000 tỷ lưu thông.” Theo ChannelNewsAsia.
Thế nhưng, ngày 22 Tháng Ba vừa qua, trong buổi hội đàm viễn liên, ông Patrick Murphy, Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương đã trả lời các câu hỏi của phóng viên Việt Nam trong nước về chính sách của Hoa Kỳ tăng cường hỗ trợ an ninh hàng hải ở Biển Đông và việc Mỹ bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Ông Murphy khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam. Điều này quan trọng không những đối với Việt Nam mà còn đối với khu vực.
Về vấn đề bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, ông Murphy cho biết Hoa Kỳ nhìn thấy cơ hội hợp tác kể từ khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.
“Hiện nay Việt Nam có thể tự to đặt mua thêm nhiều vũ khí hơn từ Mỹ, nhưng còn về kế hoạch mua và nhu cầu mua vũ khí thì xin đặt câu hỏi này với chính phủ của nước bạn,” ông Murphy trả lời.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh thêm: “Và cũng xin nói một cách thẳng thắn, chúng tôi xem xét các cơ hội mua bán này khi chúng tôi tiếp tục trao đổi về các khác biệt giữa hai quốc gia, bao gồm cả vấn đề nhân quyền. Chúng tôi sắp có một cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam. Và chúng tôi sẽ nêu lên các khác biệt này.”
Theo nguồn tin cho biết từ Luật sư Vũ Đức Khanh ở Canada, hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ sẽ cập cảng Cam Ranh sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Hoa Thịnh Đốn của ông Nguyễn Phú Trọng.
Chuyến đi Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước Việt Nam đã được ông Hà Kim Ngọc, Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ nêu lên trong một cuộc phỏng vấn của báo điện tử VNExpress hôm Thứ Ba, 12 Tháng Ba, 2019. (Cát Linh) https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/quan-he-viet-my-giua-van-de-quoc-phong-mua-ban-vo-khi-va-nhan-quyen/
Hội đồng Châu Âu gửi thư cho giới hoạt động Việt Nam về EVFTA
Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Jean-Claude Juncker (phải), Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Donald Tusk (trái) và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Cấp cao Á-Âu, Brussels. (Hình: AFP)
Sài Gòn, Việt Nam (NV) – Văn phòng Chủ tịch Hội đồng châu Âu gửi thư phúc đáp đến 17 tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam.
Tin từ trang cá nhân của Luật sư Lê Công Định cho biết hôm 12 Tháng Hai, 2019 Văn phòng Chủ tịch Hội đồng châu Âu Âu (cơ quan chính trị cao nhất EU) đã gửi thư phúc đáp lá thư ngày 18 Tháng Giêng của khối xã hội dân sự độc lập về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong mối liên hệ với Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA).
Trong thư, đại diện của Chủ tịch Hội Đồng Châu Âu Donald Tusk nhấn mạnh: “Các vấn đề nhân quyền vẫn liên tục được EU nêu ra với Việt Nam, kể cả ở cấp cao nhất. Đối thoại Nhân quyền EU-Việt Nam tới đây cũng là một dịp để chúng tôi tiếp tục việc này, và sẽ đề cập đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam đối với quyền tự do biểu đạt, tự do hiệp hội, tự do tụ tập, tự do tôn giáo tín ngưỡng, và trường hợp của cá nhân những nhà hoạt động nhân quyền,” theo Facebook của Luật sư Lê Công Định.
Chủ tịch Hội Đồng Châu Âu cho biết nhà nước Việt Nam “đã nhiều lần nhắc lại cam kết thúc đẩy tiến bộ nhanh chóng” trong lĩnh vực liên quan đến quyền lao động, và “EU chắc chắn sẽ theo dõi sát sao bất kỳ diễn tiến nào trong lĩnh vực này”. Hội Đồng Châu Âu xác nhận họ ủng hộ các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam tiếp tục nỗ lực đấu tranh để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong nước.
Thư của Văn phòng Chủ tịch Hội đồng Châu Âu gửi cho các tổ chức XHDS Việt Nam. (Hình: Facebook Lê Công Định)
17 tổ chức xã hội dân sự độc lập được nêu trong lá thư của Văn phòng Chủ tịch Hội Đồng Châu Âu có Nhật Ký Yêu Nước, Hội Bầu Bí Tương Thân, Hội Cựu Tù nhân Lương tâm, Hội Nhà báo Độc lập, Văn phòng Công lý và Hòa bình, Luật Khoa tạp chí.
Ngày 18 Tháng Giêng, 2019, 18 tổ chức dân sự trong và ngoài Việt Nam đã gửi thư đến Quốc hội Châu Âu, đề nghị EU hoãn việc bỏ phiếu thông qua EVFTA vì những lo ngại về tình hình nhân quyền đang xuống dốc trầm trọng tại Việt Nam.
Thư kêu gọi được soạn thảo và đăng tải bởi Human Right Watch, với 18 Tổ chức XHDS trong và ngoài nước đồng ký tên được gửi đến Quốc hội Châu Âu vì những lo ngại về tình hình nhân quyền đang xuống dốc tại Việt Nam.
Thư nói rõ chẳng những Chính phủ Việt Nam đã không đáp lại những lời kêu gọi vài tháng qua của Nghị viện Châu Âu mà tình hình mấy tuần qua còn đang xấu đi với đạo luật an ninh mạng hà khắc nay đã có hiệu lực và những báo cáo đáng lo ngại về việc cưỡng chế đất đai đối với người Công giáo ở TPHCM vừa rồi.
Trong lá thư, các tổ chức XHDS đề nghị các nước thành viên và Nghị viện CHâu Âu yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các tù nhân lương tâm đang bị giam cầm vì thực thi quyền căn bản. Yêu cầu bãi bỏ và sửa đổi 1 số Bộ luật hiện hành như hình sự, Tố tụng Hình sự, Luật An ninh mạng…
Trước đó, ngày 10 Tháng Giêng, 2019, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch (HRW) ra thông cáo kêu gọi Nghị viện và Hội đồng Châu Âu nên hoãn phê chuẩn EVFTA cho đến khi nào chính phủ Hà Nội thực hiện các bước cụ thể cải thiện hồ sơ nhân quyền ngày càng tồi tệ tại Việt Nam. Một biện pháp mới nhất nhằm hạn chế các quyền con người là cho thực thi Luật an ninh mạng kể từ ngày 1 Tháng Giêng vừa qua.
Luật sư Lê Công Định cho rằng lá thư hồi đáp của Văn phòng Chủ tịch Hội Đồng Châu Âu cho thấy sự kiện này có ý nghĩa trong việc EU công nhận và khẳng định những nỗ lực của xã hội dân sự độc lập và các nhà hoạt động vì nhân quyền, dân chủ cho Việt Nam.
Đồng thời, cho thấy nhà nước Việt Nam phải nhìn nhận đã đến lúc chính quyền không thể gạt bỏ vai trò của xã hội dân sự ra khỏi tiến trình phát triển của đất nước. (K.L)
Cuộc tuần hành đầu năm đòi dân chủ ở Hồng Kông ngày 01/01/2019.REUTERS/Tyrone Siu
Khoảng vài nghìn người dân Hồng Kông đã xuống đường đúng ngày đầu năm 01/01/2019 để yêu cầu được hưởng một nền dân chủ toàn vẹn, tôn trọng những quyền cơ bản và thậm chí là độc lập với Trung Quốc. Nhiều người biểu tình cho rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc đang bóp nghẹt các quyền tự do ở Hồng Kông.
Theo thống kê của các nhà tổ chức, cuộc tuần hành đầu năm mới đã thu hút khoảng 5.800 người nhằm yêu cầu khôi phục các biện pháp cải cách dân chủ và phản đối « hành động trấn áp chính trị » của Bắc Kinh.
Ông Jimmy Sham, một nhà đồng tổ chức cuộc tuần hành, nhận xét : « Nếu nhìn lại năm vừa qua, đó là một năm rất xấu. Nhà nước pháp quyền bị thụt lùi ở Hồng Kông ».
Hãng tin Reuters cho biết hàng trăm nhà đấu tranh vì độc lập cho Hồng Kông đã tham gia đoàn tuần hành bất chấp các biện pháp ngăn chặn của chính quyền. Trong đoàn người biểu tình xuất hiện nhiều băng-rôn, khẩu hiệu ủng hộ ly khai.
Đối với Bắc Kinh, Hồng Kông là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và « toàn vẹn lãnh thổ quốc gia » đang bị hoạt động của « các nhà ly khai » Hồng Kông đe dọa, dù phong trào đấu tranh đòi độc lập cho Hồng Kông không thực sự được ủng hộ rộng rãi trong dân chúng.
Đảng và nhà cầm quyền CSVN cần thức thời, hiểu rõ sự cảm thông của Hoa Kỳ và sự chịu đựng của nhân dân là có mức độ, đừng coi thường sức mạnh 'tức nước, vỡ bờ' của nhân dân
Loan báo dỡ bỏ cấm vận võ khí cho Việt Nam không hề làm thay đổi điều kiện đòn bẩy của Mỹ trong việc áp lực Hà Nội cải thiện nhân quyền, mà ngược lại sẽ mang lại sức đòn bẩy nhiều hơn vì Washington sẽ cân đo nhân quyền Việt Nam trước mỗi cuộc giao thương võ khí với Hà Nội, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Tom Malinowski, khẳng định.
Trong chuyến công du Việt Nam tuần rồi, Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố Mỹ tháo gỡ hoàn toàn lệnh cấm vận võ khí sát thương áp dụng mấy chục năm qua đối với chính phủ Hà Nội, một động thái giúp quan hệ Việt-Mỹ thật sự bình thường hóa và gần gũi hơn.
Với khả năng Việt Nam gần như chắc chắn sẽ được gia nhập Hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP do Mỹ dẫn đầu, quyết định bỏ cấm vận võ khí vừa loan khiến nhiều người quan ngại rằng Hoa Kỳ đã để vuột những lá bài thương lượng để áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền.
Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn với Trà Mi VOA Việt ngữ ngày 2/6, giới chức cao cấp nhất phụ trách lĩnh vực nhân quyền trong Bộ Ngoại giao Mỹ đã mạnh mẽ bác bỏ những chỉ trích đó.
VOA: Cảm ơn ông dành thời gian cho cuộc trao đổi này. Xin được bắt đầu câu chuyện với chuyến thăm Việt Nam của ông và của Tổng thống Obama vào tháng trước. Các lãnh đạo xã hội dân sự độc lập bị cản không cho gặp Tổng thống cũng giống như những gì đã xảy ra trong các chuyến thăm của ông trước đó. Ông có bình luận thế nào? Ông Malinowski: Chúng tôi trải nghiệm thực tế này không một chút ảo tưởng về tình hình nhân quyền Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy rằng dù có một số tiến bộ trong vài năm qua, nhưng những tháng gần đây chính phủ Việt Nam ra tay đàn áp các nhà hoạt động xã hội độc lập nhiều hơn so với 1, 2 năm trước. Trong bối cảnh đó, Tổng thống Obama tại tất cả các cuộc tiếp xúc lãnh đạo Việt Nam cũng như các buổi xuất hiện trước công chúng đã đưa ra thông điệp rất mạnh mẽ về tầm quan trọng của quyền tự do ngôn luận, của cải cách luật pháp theo đúng cam kết của chính Hà Nội sao cho luật tuân thủ Hiến pháp. Chính phủ Việt Nam tìm cách ngăn chặn một số người gặp ông Obama, nhưng những người bị cản trở được truyền thông chú ý cũng ngang bằng, nếu không muốn nói là nhiều hơn, những người tham dự được. Vì vậy, theo tôi, nhà cầm quyền đã thất bại trong nỗ lực ngăn trở tiếng nói của họ được lắng nghe. VOA: So sánh bản gốc trên website của Tòa Bạch Ốc với các bản dịch trên truyền thông nhà nước Việt Nam, người ta thấy những đoạn phát biểu về nhân quyền của Tổng thống Obama trong bài diễn văn tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội ngày 24/5 bị báo nhà nước hoặc bóp méo, hoặc bỏ qua. Ông hiểu điều này thế nào? Ông Malinowski: Có một số người trong chính phủ Việt Nam rất lo sợ khi nghe những phát biểu cấp cao như vậy về nhân quyền. Chúng tôi không hề ngạc nhiên về điều đó. Nhưng trên thực tế, những lời phát biểu mạnh mẽ của Tổng thống về nhân quyền đã được phát sóng trực tiếp qua truyền hình và hàng triệu người dân Việt Nam đã nghe. Hàng triệu người trên Facebook đã chia sẻ và biết đích xác những gì ông đã nói. Tất nhiên có một số người trong chính phủ lo lắng và không muốn người dân nghe thấy những phát biểu đó, nhưng nỗ lực này sẽ càng ngày càng gặp khó khăn vì số người truy cập internet và tiếp cận thông tin đa chiều ngày càng đông. VOA: Với những gì ghi nhận, đặc biệt sau chuyến thăm Việt Nam gần đây, ông mô tả thế nào về xu hướng nhân quyền Việt Nam hiện nay: đi lên hay đi xuống?
Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Tom Malinowski
Ông Malinowski: Trong vài năm gần đây, xu hướng đó tiến triển tích cực một cách chậm chạp, dần dần. Càng ngày càng có thêm tranh luận mở về các vấn đề chính trị tại Việt Nam, có một số cải cách như thông qua Công ước Chống tra tấn hay một số thay đổi trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự, chẳng hạn. Nhưng trong vài tháng qua, có lẽ do sự chuyển tiếp qua dàn nhân sự lãnh đạo mới nên các cơ quan an ninh tỏ ra lo sợ rồi dùng tới các chiến thuật đàn áp nhiều hơn. Chúng tôi đã nói rất rõ với chính phủ Việt Nam rằng thực tế này không phù hợp với tinh thần của mối bang giao đôi bên đang xây đắp và Việt Nam sẽ thấy Mỹ tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ về các vấn đề này. VOA: Washington khá thành công trong việc thúc đẩy Hà Nội phóng thích tù nhân lương tâm nhưng không mấy thành công trong việc thúc đẩy cải cách pháp lý để chặn đứng việc hình sự hóa hành động thực thi nhân quyền của công dân. Ông nghĩ sao? Làm thế nào để nỗ lực không lệch hướng? Ông Malinowski: Chính nhà nước Việt Nam cam kết cải cách luật để phù hợp hơn với Hiến pháp và các chuẩn mực nhân quyền quốc tế. Tổng thống Obama và lãnh đạo Việt Nam ra tuyên bố chung tại Hà Nội. Qua đó, Hà Nội hứa theo đuổi các cải cách pháp lý này, đặc biệt họ nhắc tới luật về tự do tín ngưỡng, tự do biểu tình, tự do lập hội. Chúng tôi hy vọng Quốc hội Việt Nam sẽ thông qua các luật này trong năm nay. Vấn đề cải cách pháp lý không chỉ Mỹ thúc đẩy mà chính nhà nước Việt Nam đã đưa ra cam kết. Nhiều người dân Việt Nam đang dõi xem Quốc hội sẽ hành động thế nào. Chúng tôi đã bày tỏ hy vọng rằng những sự cải cách này sẽ tạo ra nhiều không gian hơn cho công dân Việt thành lập các tổ chức phi chính phủ, biểu tình ôn hòa, và tham gia các tổ chức tôn giáo. VOA: Ông thấy Việt Nam làm tốt tới đâu trong cam kết cải cách pháp lý? Ông Malinowski: Tiến trình này chỉ mới bắt đầu, chưa có tiến bộ nào để chúng tôi có thể nói là nhà nước Việt Nam đã đáp ứng đúng cam kết. Tuy nhiên, nhiều nước khác như Trung Quốc chẳng hạn, không hề thấy các cam kết như vậy từ chính phủ. Ở đây ít nhất chúng ta thấy họ có ý định bước tới phía trước, và tôi cho rằng điều đó mở ra một cơ hội. VOA: Nhưng giờ đây, Hiệp định tự do thương mại TPP gần như đã sẵn sàng cộng với việc dỡ bỏ cấm vận võ khí, nhiều người cho rằng Mỹ đã vuột mất những con bài thương lượng để áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền. Ý kiến ông thế nào? Ông Malinowski: Tôi hoàn toàn không tán thành ý kiến đó. TPP đã cung cấp cho chúng tôi một đòn bẩy chưa từng có trước đây. Chính phủ Việt Nam biết rõ họ sẽ không được hưởng bất kỳ lợi ích gì từ TPP cho tới khi nào họ thông qua những cải cách trong Luật Lao động theo quy ước của TPP, cho tới khi nào họ cho phép thành lập công đoàn độc lập. Về việc dỡ bỏ lệnh cấm vận võ khí, cần phải hiểu rằng bước đi vừa rồi chủ yếu chỉ mang tính biểu tượng. Chúng tôi thấy rằng duy trì lệnh cấm tuyệt đối không chuyển giao võ khí cho Việt Nam thật sự chẳng ích lợi gì. Thay vào đó, nên xây dựng mối quan hệ bình thường hơn với Việt Nam để nếu Việt Nam có yêu cầu mua một loại võ khí nào đó thì chúng tôi xét duyệt dựa trên cơ sở từng trường hợp một, xem xét xem việc mua bán ấy có phục vụ lợi ích của nước Mỹ và phù hợp với các giá trị của Hoa Kỳ hay không. Tổng thống Obama đã tuyên bố rõ tại Hà Nội rằng mọi yêu cầu cung cấp võ khí đều sẽ được xem xét trên cơ sở từng trường hợp một với sự cân nhắc tới nhân quyền Việt Nam. Chúng tôi vẫn còn đòn bẩy ấy để Quốc hội xem xét các thỏa thuận mua bán võ khí có thể có trong tương lai. Cho nên, chỉ trích vừa nêu là không hợp lý.
Thật ra không phải là không còn chướng ngại vật. TPP đã đề ra những chướng ngại buộc nhà cầm quyền Việt Nam phải vượt qua. Trước TPP, không có điều kiện gì bắt buộc Việt Nam phải thay đổi Luật Lao động. Giờ đây đã có điều kiện, họ phải đáp ứng điều kiện này mới được hưởng lợi TPP. Không có TPP, Việt Nam sẽ chịu ít áp lực hơn. Và loan báo dỡ bỏ cấm vận võ khí vừa qua cũng không hề thay đổi mức độ của điều kiện đòn bẩy ấy, mà thật ra còn thể hiện sức đòn bẩy nhiều hơn vì giờ đây chúng tôi cân nhắc tới nhân quyền Việt Nam mỗi khi Hà Nội muốn hỏi mua võ khí. Cần nhớ rằng sẽ có ích cho vấn đề nhân quyền nếu Việt Nam tiếp tục quyết định rằng liên kết với Mỹ và biến Mỹ thành đối tác kinh tế-an ninh chính là lợi ích quốc gia lâu dài. Khuyến khích sự liên kết đó thay vì đẩy lùi nó là yếu tố chung cuộc giúp thúc đẩy tiến bộ, giúp xã hội cởi mở nhiều hơn.
Các công nhân làm việc tại một nhà máy dệt may ở tỉnh Bắc Giang, gần Hà Nội.
VOA: Có ý kiến cho rằng nếu không vì khống chế, cô lập Trung Quốc, chắc gì Mỹ đã kéo Việt Nam vào TPP và dỡ bỏ cấm vận võ khí cho Hà Nội. Bình luận của ông thế nào? Ông Malinowski: Trước tiên, Việt Nam chưa có được TPP. Họ chỉ có được khi chứng tỏ những cải cách quan trọng mà TPP yêu cầu. Về ý kiến liên quan tới Trung Quốc, Tổng thống Obama đã tuyên bố tại Việt Nam rằng mọi việc không phải vì Trung Quốc mà vì bang giao Việt-Mỹ. Quan hệ gần gũi hơn, hiệu quả hơn là lợi ích quốc gia của cả đôi bên. Chúng tôi hy vọng Việt Nam và Trung Quốc vẫn duy trì quan hệ gần gũi. Chúng tôi không hề tìm cách can thiệp vào chuyện đó. VOA: Một số người nói rằng sai lầm thường mắc phải là xác định lợi ích chiến lược quá hạn hẹp, tập trung vào sự giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh hoặc quan hệ kinh tế. Để cổ súy cải cách, liệu kiểu giao tiếp như vậy có tác động lâu dài hay chăng? Ông Malinowski: Chúng tôi xác định chiến lược rất rộng lớn. Trường hợp Việt Nam, nhân quyền là một phần của phương trình đó. Tiến bộ về nhân quyền tại Việt Nam sẽ củng cố tất cả các xu hướng khác mà chúng tôi muốn khuyến khích kể cả xu hướng liên kết chiến lược gần gũi hơn với Hoa Kỳ, và ngược lại, quan hệ Việt-Mỹ càng gần gũi thì chúng ta càng có thể cổ võ nhân quyền tốt hơn. Khái niệm lợi ích quốc gia của chúng tôi rất rộng, chúng tôi đưa quan ngại về nhân quyền vào TPP và vào trong các cuộc thảo luận với Việt Nam về quan hệ an ninh. Nếu không, đã không có những điều kiện nghiêm ngặt về lao động trong TPP. VOA: Nhưng sẽ chỉ là những lời nói suông nếu không thật sự có những hành động theo sau. Mỹ đang làm gì để đảm bảo nhân quyền không là một đề tài nói suông của cả Washington và Hà Nội? Ông Malinowski: Dĩ nhiên. TPP rất quan trọng với chúng tôi nhưng Việt Nam sẽ không vào được TPP trừ phi có những cải cách pháp lý căn bản quan trọng. Cho nên rõ ràng đây không phải là chuyện nói suông mà là một sự kết nối rất rõ ràng. Trong tất cả các cuộc đối thoại cấp cao nhất kể cả trong cuộc gặp giữa Tổng thống Obama với lãnh đạo Hà Nội nhân chuyến công du tháng rồi, vấn đề nhân quyền được đưa ra thẳng thắn. Chúng tôi nhấn mạnh rõ ràng tiến bộ trong quan hệ Việt-Mỹ sẽ tùy thuộc vào tiến bộ hướng tới một xã hội cởi mở hơn ở Việt Nam. Qua tất cả những gì chúng tôi nói và làm, nhân quyền chiếm vị trí ưu tiên trong bang giao với Hà Nội. VOA: Mỹ có thể làm gì giúp tăng cường sức mạnh cho xã hội dân sự tại Việt Nam? Ông Malinowski: Chúng tôi sẽ tiếp tục lên tiếng, tiếp tục khuyến khích chính phủ Việt Nam tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết với quốc tế. Chúng tôi sẽ tiếp tục liên kết những tiến bộ cụ thể trong lĩnh vực nhân quyền với những yếu tố có tầm quan trọng đối với chính phủ Việt Nam chẳng hạn như TPP. Chúng tôi sẽ cung cấp sự hỗ trợ một cách rất cởi mở và thân thiện trong lúc Việt Nam thực hiện những cải cách pháp lý, giúp Việt Nam phát triển những hiệp hội thương mại độc lập, công đoàn độc lập. Chúng tôi sẽ vận dụng tất cả những đòn bẩy mà TPP tạo ra để cố gắng buộc Việt Nam tuân thủ những cam kết quan trọng đó. VOA: Xin chân thành cảm ơn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Tom Malinowski, đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.
Tổng thống Barack Obama sẽ viếng thăm chính thức Việt Nam từ ngày 22 đến 25/05/2016. Theo thông báo của Nhà trắng ngày 10/05/2016, trong chuyến viếng thăm đầu tiên này, ông Obama sẽ thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam về việc tăng cường hợp tác song phương Mỹ-Việt trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, an ninh, nhân quyền, cho đến các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Nhưng điều mà Hà Nội đang trông chờ nhiều nhất, đó là Washington bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Cho tới nay, trở ngại chính trong vấn đề này vẫn là tình trạng nhân quyền tồi tệ của Việt Nam. Nhưng cho dù Hà Nội chưa có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này, rất có thể Hoa Kỳ cũng sẽ đi đến việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí.
Lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà Nội là một trong những « tàn dư » lớn của thời chiến tranh Việt Nam. Lệnh cấm vận này chỉ mới được dỡ bỏ một phần vào năm 2014.
Theo Reuters, một số cố vấn ở Nhà trắng và bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng hãy còn quá sớm để chấm dứt hoàn toàn những hạn chế đối với việc bán vũ khí sát thương, khi mà Việt Nam chưa có thêm những tiến bộ về mặt nhân quyền. Nhưng các quan chức khác, trong đó có nhiều người bên Lầu năm góc, thì chủ trương nên giúp Việt Nam nâng cao khả năng phòng thủ để đối đầu với một nước Trung Quốc ngày càng hùng mạnh.
Theo lời các quan chức Hoa Kỳ được hãng tin Reuters trích dẫn ngày 09/05/2016, tổng thống Barack Obama hiện vẫn đang cân nhắc việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Theo Reuters, quyết định cuối cùng của tổng thống Obama có thể là còn tùy thuộc vào những khuyến cáo sau chuyến viếng thăm Việt Nam của trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về dân chủ, nhân quyền và lao động Tom Malinowski và của trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Russel.
Khi được hỏi là liệu Hoa Kỳ có sẽ thay đổi chính sách với Việt Nam trên vấn đề này hay không, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ Katina Adams đã tuyên bố rằng « nhân quyền vẫn là yếu tố chủ chốt trong chính sách của chúng tôi đối với Việt Nam ».
Nhưng theo nhận định của trang mạng Foreign Policy ( FP ) trong bài viết đăng ngày 09/05 vừa qua, có vẻ như Nhà trắng sẽ ra quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí trước khi diễn ra chuyến viếng thăm của tổng thống Obama tại Việt Nam.
Hiện giờ, vấn đề này vẫn gây chia rẽ nội bộ chính giới Hoa Kỳ, nhất là trong Quốc hội. Ngay chính chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ Bob Corker ( Cộng hòa ), người đã từng ủng hộ việc bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí vào năm 2014, nay cũng do dự về việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm này. Một cố vấn của thượng nghị sĩ Corker nói với FP : « Mọi thay đổi chính sách theo hướng mở rộng hơn cần phải có được xem xét thêm và phải phù hợp với các lợi ích của Mỹ, trong đó có mong muốn về những tiến bộ nhân quyền ».
Nhưng về phần thượng nghị sĩ Dân chủ Ben Carbin, cũng là thành viên Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, thì ủng hộ việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí, « nếu vấn đề nhân quyền được tính đến ». Bản thân ông Carbin đã từng đến thăm Việt Nam vào năm 2014 và đã nêu những quan ngại của ông về nhân quyền với các quan chức cao cấp của Hà Nội, kể cả với thủ tướng.
Theo FP, những người ủng hộ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm cho rằng Việt Nam trong thời gian đã đạt được những tiến bộ về nhân quyền và tình trạng nhân quyền của Việt Nam còn khá hơn là một số đối tác thân cận của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Ai Cập.
Về phần chuyên gia Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc, Việt Nam muốn Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí là vì lý do chính trị hơn là quân sự. Theo lời ông Thayer, nhiều giới chức chính phủ Hà Nội vẫn sợ rằng Washington đang thúc đẩy « diễn biến hòa bình » thông qua việc đòi tiến bộ về nhân quyền. Theo cái nhìn như vậy thì việc duy trì chính sách cấm bán vũ khí một cách « phân biệt đối xử » đối với Việt Nam là một chính sách mang tính trừng phạt.
Vấn đề là theo các chuyên gia, Việt Nam vẫn chưa cho Hoa Kỳ biết là trong tương lai họ sẽ cần mua những vũ khí gì, và việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận chưa hẳn là sẽ mở đường ngay cho những hợp đồng vũ khí lớn.
Phần lớn các thiết bị quân sự của Việt Nam hiện nay là của Nga, trong đó có những tàu ngầm và chiến đấu cơ phản lực hiện đại. Bây giờ chuyển qua mua vũ khí do Mỹ sản xuất chắc là sẽ rất tốn kém cho Việt Nam.
Theo FP, giống như giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ, hai nước Việt Mỹ có thể hợp tác trong việc tiếp cận công nghệ quốc phòng tân tiến. Nhân chuyền viếng thăm Việt Nam vào tháng 6 năm ngoái của bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, hai nước đã ra tuyên bố chung kêu gọi hợp tác về công nghệ quốc phòng.
Giống như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang cần hiện đại hóa các hệ thống vũ khí, và mua các radar, máy bay giám sát không người lái hoặc máy bay trinh sát như P-3 Orion hay P-8 Poseidon, để giúp truy tìm các chiến hạm và tàu ngầm của Trung Quốc ở Biển Đông.
Về phần nhà báo Phạm Trần tại Washington thì đặt vấn đề bãi bỏ lệnh vũ khí trong bối cảnh Nga từ mấy năm qua đã hợp tác chặt chẽ với trong lĩnh vực này Việt Nam, tức là đã đi trước Hoa Kỳ mấy năm:
Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN mở ra trong hai ngày kể từ 15/02/2016, tại Sunnylands, tiểu bang California (Hoa Kỳ). Trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á …
Các nhà hoạt động là một kênh để các nước phương Tây tìm hiểu về nhân quyền Việt Nam
Các nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam đã liên tiếp có các cuộc tiếp xúc với các quan chức và nhà ngoại giao các nước phương Tây trong hai ngày 20 và 21/11 để thông báo về tình hình nhân quyền ở quốc gia này.
Họ đã được ông Sigmar Gabriel, phó thủ tướng Đức đồng thời là lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) – một trong hai chính đảng lớn nhất nước Đức, tiếp ở Thành phố Hồ Chí Minh hôm 21/11 bên lề Hội nghị Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 14 của Doanh nghiệp Đức.
Cũng trong ngày 21/11 họ đã có buổi làm việc với các đại diện của Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước đó, ngày 20/11 tại Hà Nội, tân Đại sứ Hà Lan Nienke Trooster và Đại sứ Nhân quyền Hà Lan Kees van Baar cũng đã gặp gỡ và trao đổi với các nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam.
‘Câu chuyện khác’
Người có mặt trong cả ba buổi tiếp xúc trên là bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Blogger Mẹ Nấm, nói với BBC rằng mục đích của các cuộc gặp này là các nước ‘muốn có thêm thông tin về các trường hợp đàn áp nhân quyền ở Việt Nam’ để buộc Hà Nội phải thực hiện đúng những cam kết của họ khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
“Họ thấy một câu chuyện khác mà trước đây họ không nhìn nhận được,” bà nói nhưng cho biết là đại diện các nước ‘không đồng ý hẳn với thông tin mà các nhà hoạt động nhân quyền đưa ra mà sẽ kiểm chứng thêm’.
“Kết quả khả quan nhất (của các buổi gặp gỡ) là họ (các nước phương Tây) sẽ chất vấn trực tiếp với đại diện Nhà nước Việt Nam về từng trường hợp được đưa ra,” bà Quỳnh nói.
“Đây là một bước cải thiện cho các anh chị em trong tù đang bị đối xử khá khắc nghiệt như anh Trần Huỳnh Duy Thức và chị Mai Thị Dung,” bà nói thêm.
Về việc được một quan chức cấp cao như phó Thủ tướng Đức Sigmar Gabriel tiếp, blogger này cho rằng sẽ ‘tạo cho các nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam vị trí cân bằng hơn’.
“Bên an ninh buộc phải xem lại hành vi của họ để có cách hành xử tương ứng hơn chứ không phải đàn áp và sử dụng bạo lực như trước,” bà giải thích.
Theo bà Quỳnh thì đại diện các nước ‘quan tâm đến tự do ngôn luận’ cũng như ‘tình trạng bị đàn áp trước và sau khi bị bắt giam’.
“Họ thúc đẩy việc cải thiện nhân quyền bằng cách phương thức ôn hòa và lịch sự,” bà nói.
‘Đàn áp tinh vi’
Các trường hợp 'vi phạm nhân quyền' của Việt Nam đã được nêu ra với đại diện ngoại giao của Mỹ Bà cho biết các nhà hoạt động Việt Nam đã trình bày với đại diện ngoại giao Mỹ về ‘quyền được biết’ của công dân và ‘sự công tâm minh bạch trong thông tin đối với chiến dịch ‘Chúng tôi muốn biết’’.
Còn phía Đức và Hà Lan quan tâm về việc làm thế nào cải thiện tình hình nhân quyền của Việt Nam bên cạnh thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu.
“Câu đầu tiên (của phó Thủ tướng Sigmar Gabriel) là nước Đức quan tâm đến tình hình nhân quyền của Việt Nam bên cạnh phát triển mối quan hệ,” bà Quỳnh thuật lại.
“Việt Nam đã thành công khi vẽ cho thế giới bên ngoài thấy một số cải thiện nhân quyền bằng cách thả tù nhân lương tâm nhưng mặt khác họ vẫn có những đàn áp hết sức tinh vi,” bà nói.
“Cá nhân tôi là minh chứng cho việc công an sẵn sàng vi phạm một số điều luật của Việt Nam như giới hạn quyền tự do đi lại bằng cách tịch thu giấy tờ cá nhân.”
Tuy nhiên, Blogger Mẹ Nấm cũng nói rằng bà ‘không mong đợi lời hứa hẹn của các nước’.
“Thay đổi ở Việt Nam chỉ có thể là do người dân Việt Nam,” bà nói.
Trong hai thập niên qua, mỗi chuyến đi của giới chức cao cấp Mỹ đến Việt Nam đều được Hà Nội và Bắc Kinh quan tâm đánh giá cũng như diễn giải theo quan điểm của Đảng Cộng sản hai nước.
Ông John Kerry quan tâm đến cả vùng Hạ lưu sông Mekong Hà Nội xem những chuyến viếng thăm là dấu chỉ Hoa Kỳ và Việt Nam đã bỏ lại sau lưng quá khứ thù nghịch để hướng đến tương lai hợp tác và phát triển. Bắc Kinh thì canh chừng xem quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến xa đến mức nào.
Sự trở lại của Mỹ được chú ý vì năm 1975 cộng sản Việt Nam, với sự trợ giúp của Liên Xô và Trung Quốc, đã chiến thắng và hất cẳng được người Mỹ ra khỏi Đông Dương.
Nhưng không ngờ chỉ vài năm sau cục diện chính trị trong vùng lại có những xung đột giữa hai nước cộng sản anh em một thời khăng khít với nhau như “môi hở răng lạnh”.
Năm 1979 nổ ra cuộc chiến biên giới Việt-Trung. Năm 1988 có đụng độ trên biển trong vùng quần đảo Trường Sa.
Trong hơn một thập niên đó thì quan hệ Mỹ-Trung ngày càng phát triển, nhất là trong lãnh vực kinh tế và giáo dục với hàng hoá và sinh viên từ Trung Quốc ào ạt đổ vào Mỹ.
Vì thế trước xung đột Việt-Trung, Hoa Kỳ không quan tâm lắm vì không muốn làm mất lòng đối tác thương mại khổng lồ là Trung Quốc.
Cùng lúc, Hoa Kỳ rút lui quân sự ra khỏi Đông Nam Á để chứng tỏ sự ôn hòa, tránh đối đầu. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Mỹ không còn sử dụng cảng Cam Ranh, các căn cứ không quân ở Thái Lan đóng cửa, sau cùng là căn cứ hải quân ở Subic Bay cũng trả lại cho Philippines.
Nhưng Hoa Kỳ đã giật mình tỉnh giấc khi Trung Quốc khoanh vùng bao phủ gần hết biển của Việt Nam, Philippines và xuống đến tận Malaysia, gọi là đường lưỡi bò. Gần đây Trung Quốc lại khoanh cả không gian ở Đông Bắc Á.
Hoa Kỳ làm mới chính sách
Trước bành trướng ảnh hưởng của Bắc Kinh, Tổng thống Barack Obama có chính sách xoay trục – gọi là tái cân bằng – đưa Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á. Hà Nội chơi môn ngoại giao đu dây, gọi là làm bạn với mọi nước Vì thế, những chuyến viếng thăm của giới chức Mỹ đến các quốc gia trong vùng được đặc biệt chú ý để tìm ra những dấu chỉ trong chính sách mới của Hoa Kỳ.
Đối với Việt Nam, hơn một thập niên qua đã đón các Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush (Con), các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, thương mại của Mỹ. Cùng lúc Việt Nam cho chiến hạm Mỹ ghé cảng trên đường công tác ở Thái Bình Dương.
Hoa Kỳ xoay trục, nhưng ngày nay cục diện chính trị trong vùng cũng không khác xưa là bao.
Hơn nửa thế kỷ trước, lãnh đạo Mỹ từ Tổng thống Ike Eisenhower, John F. Kennedy đã muốn bảo vệ vùng đất này bằng việc giúp các nước Malaysia, Philippines, Thái Lan và Nam Việt Nam chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, từ Trung Quốc và Liên Xô, mà Việt Nam đã là chiến trường sôi động nhất với hơn nửa triệu lính Mỹ chiến đấu.
Nay Nhật, Nam Hàn, Philippines, Thái Lan vẫn là đồng minh của Hoa Kỳ. Việt Nam thống nhất nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi cộng sản Trung Quốc, như khi cuộc chiến diễn ra trong thập niên 1960.
Khác chăng là cuộc đối đầu của Washington với Bắc Kinh nay không còn là cuộc chiến súng đạn mà là chiến tranh kinh tế.
Với việc Mỹ xoay trục, Hà Nội lại vẫn chơi trò ngoại giao đu dây, gọi là làm bạn với mọi nước trong tinh thần tôn trọng chủ quyền độc lập và lãnh thổ của nhau. Không như trước đây là giữa Liên Xô và Trung Quốc, nay Hà Nội đang đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai cường quốc rất khác nhau về cơ chế chính trị, một bên là tự do dân chủ một bên là cộng sản độc tài.
Nhìn bản đồ địa chính trị, Đông Á chỉ còn Lào, Bắc Hàn và Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Bắc Kinh và đều là các nước cộng sản. Nam Hàn, Nhật Bản, Thái Lan, Philippines, Singapore là những đồng minh lâu đời của Mỹ; Indonesia và Malaysia là bạn của Hoa Kỳ vì đã là những quốc gia dân chủ, hay cũng đang tiến đến dân chủ như Campuchia và Myanmar.
Trước dấu chỉ Trung Quốc cũng sẽ khoanh cả không gian trên biển Đông Nam Á nên chuyến đi tuần qua của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đến Việt Nam và Philippines đã được dư luận đặc biệt chú ý.
Đã đến Việt Nam hơn chục lần trước đây để điều tra về POW-MIA trước khi khuyến cáo Tổng thống Bill Clinton thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước vào năm 1995, đây là chuyến đi đầu tiên của ông trong vai trò bộ trưởng ngoại giao.
Đặc biệt Ngoại trưởng Kerry mang theo những khoản trợ giúp tài chánh, tuy chỉ hơn 50 triệu đô-la nhưng là những dấu chỉ Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam nhiều hơn.
Đó là ngân khoản dành cải thiện môi sinh ở Đồng bằng sông Cửu Long do ảnh hưởng bởi thay đổi khí hậu và việc Trung Quốc xây đập trên thượng nguồn, đó là tiền mua những tàu tuần tra biển, tiền đầu tư giúp Việt Nam hoàn tất những bước tiến trong đàm phán TPP để nâng phát triển kinh tế cho Việt Nam.
Không như chính sách đối với Cuba, là một trong số năm nước cộng sản còn lại và đến nay vẫn bị Hoa Kỳ cấm vận và không bang giao, những nhà làm chính sách Mỹ chủ trương can dự và bắt tay với Việt Nam để đem lại những thay đổi cho đất nước này.
Trong hai thập niên qua Hoa Kỳ đã giúp Việt Nam nhiều trong kinh tế và giáo dục. Hàng Việt nhập vào Mỹ nay đã lên đến hơn 20 tỉ đô-la trong năm nay và số du sinh Việt tại các đại học Hoa Kỳ là 16 nghìn.
Nhân quyền như cái gai
Tuy nhiên, trong quan hệ Việt-Mỹ vấn đề nhân quyền vẫn là một chiếc gai.
Ngoại trưởng John Kerry khi còn ở Thượng viện đã nhiều lần ngăn chặn không cho dự luật nhân quyền Việt Nam được đưa ra thảo luận dù đã được đại đa số hạ nghị sĩ chấp thuận.
Nay trong tư cách nhà ngoại giao cao cấp nhất của Mỹ ông không thể thờ ơ với nhân quyền được nữa.
Trước ngày lên đường ông đã nhận được thư của 47 hạ nghị sĩ đồng ký tên yêu cầu liên kết việc Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) với những cải tiến về nhân quyền.
Lá thư với 47 chữ ký là con số đông nhất từ trước đến nay và có nhiều đại diện từ những khu vực đông người Việt ở California như Quận Cam với các dân biểu Loretta Sanchez, Linda Sanchez, Alan Lowenthal; vùng San Jose và Vịnh San Francisco với Zoe Lofgren, Mike Honda, Barbara Lee, George Miller.
Nhật báo Washington Post ngày 13-12-2013 cũng có bài xã luận yêu cầu Ngoại trưởng John Kerry đặt ưu tiên nhân quyền trong thảo luận.
Ban biên tập đã tiếp xúc với thân nhân của một số tù nhân đang bị giam vì phát biểu quan điểm của mình. Tờ báo nhắc đến trường hợp anh em luật sư Lê Quốc Quân, Lê Đình Quản và yêu cầu đặt vấn đề trả tự do cho họ với lãnh đạo Hà Nội.
Vì thế Ngoại trưởng John Kerry đã thẳng thắn nêu vấn đề nhân quyền với lãnh đạo Việt Nam và yêu cầu trả tự do cho một số tù nhân lương tâm cụ thể.
Tại buổi gặp gỡ với Hiệp hội Thương mại Mỹ và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Sài Gòn, Ngoại trưởng Kerry cũng đã nhắc đến một xã hội cởi mở hơn, người dân được tự do hơn sẽ giúp Việt Nam phát triển. Gần 50 dân biểu Mỹ tại các vùng đông cử tri Việt đã ký bức thư nhân quyền Ông phát biểu:
“Tôi nghĩ rằng cơ hội cho tương lai là to lớn. Nếu tập trung đúng vào sự cởi mở và tự do của xã hội, tôn trọng đúng đắn con người và quyền của họ, tập trung đúng đắn vào tăng trưởng và giáo dục, tôi sẽ chẳng hề có nghi ngờ rằng tất cả những năng lượng và nỗ lực đó dùng vào việc cố gắng định ra một phương hướng mới, nó sẽ mang lại thành công to lớn.”
Đây chẳng phải là điều gì mới với trong chính sách ngoại giao của Mỹ, vì nó như một chiếc kiềng với ba chân mới được vững vàng. Đó là vị trí chiến lược, quyền lợi kinh tế là những lý tưởng dân chủ tự do.
Tầm nhìn, cách tiếp cận khái niệm về nhân quyền phổ quát trong vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc, cùng đáp ứng trước yêu cầu của Mỹ sẽ cho thấy khoảng cách trong quan hệ hai nước ngày càng gần lại hay vẫn còn khoảng cách. Bài viết phản ánh cách nhìn riêng của tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.