Posts tonen met het label Thuốc trụ sinh. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Thuốc trụ sinh. Alle posts tonen

woensdag 11 oktober 2017

Chuyện kể về thuốc trụ sinh (Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh)

Chuyện kể về thuốc trụ sinh

(Hình minh họa: Philippe Huguen/Getty Images)
Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh
LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com.
Mùa phát giải thưởng Nobel đang xảy ra, ta hãy ôn lại một giải thưởng Nobel có tính cách lịch sử liên quan đến thuốc trụ sinh penicillin.
Bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ thứ 19, rất nhiều nhà khoa học và y sĩ đã quan sát và miêu tả tính chất diệt vi khuẩn của một số nấm và mốc, trong đó có cả loại nấm tên là Penicillium. Quan sát và miêu tả, nhưng hầu hết không đưa ra một lời giải thích nào thỏa đáng. Mãi cho tới năm 1928, khoa học gia người Tô Cách Lan, tên là Alexander Fleming, tình cờ nhận thấy trên đĩa cấy vi trùng Staphylococcus, một loại nấm màu xanh lá cây mọc lấn vào và ngăn chặn sự sinh sản của những con vi trùng Staphylococcus ấy. Tò mò, ông ta tiếp tục cấy riêng những nấm ấy, sau này có tên là Penicillium chrysogenum và lọc ra chất thuốc gọi là “penicillin”. Thoạt đầu ông ta chỉ muốn dùng “chất thuốc” lọc được để làm thuốc tẩy rửa, khử trùng bên ngoài mà thôi. Sau đó, một số bác sĩ đã thí nghiệm sử dụng thuốc penicillin vào việc chữa trị nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau. Do phát hiện thuốc trụ sinh penicillin, ông Alexander Fleming được giải thưởng Nobel vào năm 1945.
Sự khám phá ra thuốc trụ sinh penicillin được xem là một loại thuốc huyền diệu. Trước khi penicillin ra đời, một vài vết xướt hay vết trầy nhỏ cũng đủ bành trướng thành những u nhọt nhiễm trùng nặng, đưa đến việc cưa cắt tay chân. Thời đó, cứ 10 người bị sưng phổi có đến 4 người tử vong, và có khoảng 10 người trong 1,000 sản phụ sẽ mất mạng vì sanh nở. Con số thống kê nầy lấy được từ những bệnh viện “cao cấp”, trên thực tế, số tử vong còn cao hơn gấp bội. Chưa kể đến số lượng người bị điếc vì nhiễm trùng lỗ tai, bị mù vì bệnh giang mai hoa liễu, hoặc hàng trăm hàng ngàn binh lính tử vong vì thương tích ngoài mặt trận.
Sự thành công của penicillin đã khiến nhiều công ty dược phòng ráo riết đi tìm thêm những thuốc trụ sinh mới. Nhiều dược phòng đã yêu cầu các nhà truyền giáo ở khắp năm châu, hay những chiến sĩ đi hành quân xa gửi về những mẫu đất, những loại rêu, meo, mốc và nấm đủ loại để tìm tòi ra thuốc trụ sinh mới. Công ty Lederle đã xin những mẫu đất thu nhặt được trong khuôn viên trường Đại Học University of Missouri. Một trong những mẫu đất lấy được từ trong đống cỏ dại của khoa Nông Nghiệp, có chứa một loại vi khuẩn tiết ra một chất màu vàng kim loại. Chất thuốc nầy có khả năng tiêu diệt nhiều thứ vi trùng mà chính penicillin cũng chịu thua. Thuốc được đặt tên là Aureomycin (Aurum theo tiếng latin có nghĩa là kim loại vàng). Công thức hóa học của Aureomycin là chlortetracycline, chính là tiền thân của các loại thuốc tetracyclin hay doxycyclin ngày nay.
Cũng trong thời gian nầy, sau Thế Chiến Thứ 2, để cung ứng cho nhu cầu thực phẩm, những trại chăn nuôi gà theo kiểu công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Người ta tìm mọi cách để thúc cho gà nuôi chóng lớn, tăng cân và đẻ nhiều trứng, nhưng không có kết quả hữu hiệu. Lại tình cờ, khi chữa bệnh cho gà, công ty Merck khám phá ra rằng thuốc trụ sinh streptomycin khi trộn với thức ăn cho gà, cho dù không cần tăng nguồn thức ăn, sẽ làm cho gà tăng cân mau chóng. Lý do, một sản phẩm phụ của thuốc streptomycin chính là vitamin B12.
Vì thuốc Aureomycin có cấu trúc tương tự như streptomycin, năm 1948, một khoa học gia tên Thomas Jukes, làm việc cho hãng Lederle, để cạnh tranh, tiến hành một cuộc thử nghiệm thuốc Aureomycin, cho trộn vào thức ăn của gà. Kết quả cho thấy những con gà được “cho ăn” thuốc trụ sinh tăng cân nhiều hơn. Những cuộc thí nghiệm tương tự trên các loại gia cầm khác cũng cho thấy kết quả tương tự.
Mặc dù thuốc Aureomycin được đăng ký là thuốc trụ sinh cho người, nhưng lại ghi là “thuốc bổ” cho gà và gia súc. Kể từ đó thuốc Aureomycin (chlortetracycline) được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong công nghiệp nuôi súc vật để lấy thịt. Một phần làm cho thú vật chóng lớn, phần khác để phòng ngừa bệnh tật khi mà súc vật được nuôi chen chúc trong những chuồng trại chật hẹp.
Không riêng gì thú vật, khoảng giữa thập niên 1950’s người ta bắt đầu tiến hành những cuộc thí nghiệm “bán chính thức” trong con người, ở những nước nghèo như Guatemala và Kenya. Bằng cách cho trẻ em còm cõi “ ăn” thêm thuốc trụ sinh, người ta thấy hiện tượng tương tự, các trẻ con nầy tăng cân mau chóng. Thế là, người ta bắt đầu trộn, ngâm thuốc trụ sinh vào thịt cá được bày bán ở các siêu thị. Thuốc trụ sinh được bán không cần toa, trộn luôn vào kẹo chewing gum, kem đánh răng, nước súc miệng, thậm chí son môi thời ấy cũng có thuốc trụ sinh!
Ngày nay thuốc Aureomycin và nhiều loại trụ sinh khác vẫn được tiếp tục sử dụng trong “kỹ nghệ chăn nuôi”, kể cả hải sản tôm cá nuôi trong lồng. Bạn có thể Google tìm mua thuốc Aureomycin trên mạng internet với giả rẻ mạt, $15 dollar một pound. Đó là giá bán lẻ, còn giá bán sỉ cho trại chăn nuôi còn rẻ hơn bội phần.
Vấn đề là thuốc trụ sinh đi theo nguồn thức ăn thâm nhập vào cơ thể con người. Nghiên cứu cho thấy, thuốc trụ sinh vẫn còn tác dụng làm tăng cân, gây béo phì. Sử dụng thuốc trụ sinh lâu dài sẽ giết hại những con vi khuẩn tốt trong đường ruột. Có hàng nghìn tỉ vi khuẩn tốt sống ký túc trong ruột già của chúng ta. Những con vi khuẩn nầy giúp chống bệnh tật vì chúng cạnh tranh với những con vi trùng khác, giúp giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường và béo phì bằng cách giảm sự thẩm thấu của đường vào mạch máu, và nhiều hiệu ứng tốt khác. Một khi lượng vi khuẩn tốt bị giệt chủng, những con vi trùng độc sẽ bùng phát. Thí dụ như vi trùng C. difficile làm tiêu chảy kinh niên, mà cách chữa trị có khi phải cấy ghép phân của người mạnh khoẻ.
Có một điều khác mà người ta đã coi thường đó là sự lờn thuốc trụ sinh. Ngay từ thập niên 1940’s, chính ông Fleming, “cha đẻ” của thuốc trụ sinh cũng đã lên tiếng về khả năng bị lờn thuốc do sự lạm dụng.
Thuốc penicillin có tác dụng ngăn chận không cho vi trùng xây dựng được màng tế bào của chúng được vững chắc. Khi màng tế bào yếu, những vi trùng dễ bị vỡ và chết. Hiệu ứng này về lâu về dài, vi trùng tìm cách biến hoá để chống lại thuốc.
Trong nhiều năm qua, vi trùng đã lờn thuốc, rất nhiều loại thuốc đời con, đời cháu và đời chắt, bà con nội ngoại của thuốc penicillin đã lần lượt ra đời. Sớm nhất vào năm 1961 như Ampicillin, Amoxicillin, rồi Methicillin, Nafcillin, Oxacillin, Cloxacillin, Dicloxacillin, Flucloxacillin, đến Carbenicillin, Ticarcillin, Temocillin, và Mezlocillin. Cuối cùng là Piperacillin, Clavulanic acid, Sulbactam, Tazobactam… Ôi thôi đủ thứ!
Gần đây các cơ quan chức năng ý tế đã không ngừng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị lờn thuốc. Sẽ có một ngày, không có thuốc kháng sinh nào trên trái đất nầy có thể diệt được vi khuẩn! Thế là hết thuốc chữa!
Một phần có thể vì không có biên giới giữa thuốc dùng cho súc vật và loài người, phần khác chính con người cũng lạm dụng thuốc bừa bãi. Ngày nay gần 70% vi trùng có thể ảnh hưởng đến cả người lẫn súc vật.
Hiện tại các bác sĩ cho người lẫn thú y đuợc khuyến cáo nên hạn chế sử dụng thuốc trụ sinh. Riêng về nghành chăn nuôi, các nghiên cứu được thúc đẩy để bớt sử dụng thuốc trụ sinh với mục tiêu thúc đẩy tăng cân.
Trở lại với cuối thập niên năm 1950’s ở tại một làng quê hẻo lánh miền Trung Việt Nam, có một em bé khoảng 5 tháng tuổi bị sốt hôn mê suốt hơn 10 ngày và thường bị làm kinh phong liên tục cho dù đã được “thầy lang” chữa trị bằng tàn nhang và nước lạnh có pha tro đốt từ bùa ngải. Không thể để mất con, mẹ của em bé bèn lặn lội đón tàu lửa, mang em vào Bệnh Viện Trung Ương Huế để được chữa trị. Một bác sĩ người Pháp đã chẩn bệnh cho bé là bị sưng màng óc (meningitis), và cho uống thuốc trụ sinh bột có màu vàng kim loại. Sau năm ngày thuốc, em bé tỉnh hẳn và được cho xuất viện. Những viên thuốc đã cứu sống đứa bé ấy có tên là Aureomycin, loại thuốc mà ngày nay được bán rất rẻ tiền để thúc cho gia súc mau lớn tăng cân. Còn đứa bé ấy, hôm nay, chính là người đang viết bài nầy, kể “chuyện cổ tích” về thuốc trụ sinh!
Mời độc giả xem chương trình dạy tiếng Anh “Cách phân biệt âm S và âm Z”

https://www.youtube.com/watch?v=TLgrLW6-c64

donderdag 1 mei 2014

Nhật, EU liên tục cảnh cáo Việt Nam về thuốc trụ sinh trong tôm

Thứ năm, 01/05/2014

Tin tức / Kinh tế

Nhật, EU liên tục cảnh cáo Việt Nam về thuốc trụ sinh trong tôm

Công nhân làm việc tại một công ty chế biến và xuất khẩu tôm ở Sóc Trăng.
Công nhân làm việc tại một công ty chế biến và xuất khẩu tôm ở Sóc Trăng.
CỠ CHỮ- +
Việt Nam không ngớt bị Liên hiệp Châu Âu và Nhật Bản cảnh cáo về vấn đề thuốc trụ sinh trong tôm.

Theo tin của Trung tâm ASEAN Trung Quốc, từ đầu năm tới nay Việt Nam đã bị cảnh báo tổng cộng 11 lần về dư lượng quá độ của thuốc oxytetracycline trong tôm xuất khẩu sang Châu Âu và Nhật Bản.

Báo chí Việt Nam trích lời các giới chức Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói rằng sự kiện tôm Việt Nam bị cảnh cáo liên tục tại hai thị trường xuất khẩu lớn cho thấy có sự lạm dụng thuốc trụ sinh.

Hồi trung tuần tháng tư, Bộ Nông nghiệp ở Hà Nội đã thông báo cho phía Nhật Bản là họ sẽ áp dụng các biện pháp nghiêm khắc hơn để theo dõi vấn đề dư lượng thuốc trụ sinh trong tất cả các loại thủy sản nuôi trong hồ được mang bán sang thị trường Nhật Bản.

Theo các số liệu của Cục Ngư nghiệp Việt Nam, trong năm 2013 quốc gia Đông Nam Á này xuất khẩu một số lượng tôm trị giá 2 tỉ 500 triệu đô la, tăng 33% so với năm trước, giúp cho Việt Nam trở thành nước xuất khẩu tôm nhiều hàng thứ 3 trên thế giới.

Nguồn: Undercurrent News, Bao Hai Quan
  
http://www.voatiengviet.com/content/nhat-eu-lien-tuc-canh-cao-vietnam/1905194.html

donderdag 21 maart 2013

Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

Thứ năm, 21/03/2013


Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

CỠ CHỮ - +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Lê Giang ở Philadelphia, bang Pennsylvania, email đến câu hỏi sau đây:

“Xin hỏi về thuốc trụ sinh.

Khi tôi còn ở Việt Nam cách nay khoảng 20 năm, đau bệnh gì đi các thầy thuốc cũng được cho uống ‘thuốc trụ sinh’, đứt tay, ghẻ lở cũng ra nhà thuốc mua bột thuốc trụ sinh xức vào, có lúc khỏi bệnh, có lúc không. Thuốc thì lúc màu vàng, lúc màu đỏ, nhưng hình như đều có tên với cái đuôi là ‘cillin’.

Khi tôi di dân sang Mỹ, thuốc trụ sinh không mua được dễ dàng như vậy nữa và phải có toa bác sĩ theo quy định về thuốc men ở Mỹ -- là điều tôi có thể hiểu được. Thế nhưng cách uống thuốc thì khác, dường như lần nào phải uống trụ sinh, bác sĩ đều ra toa cho tôi phải uống 10 ngày liên tục, cho dù bệnh không còn thấy nữa sau vài ngày uống thuốc.

Xin hỏi:

1. Thuốc trụ sinh và kháng sinh là một phải không?
2. Tên thuốc có đuôi “cillin” là trụ sinh có đúng không? Khi xưa, thời còn chiến tranh ở Việt Nam, tôi hay nghe nói đến thuốc penicillin lắm, bây giờ thuốc này có còn hữu dụng như vậy nữa hay không?
3. Tại sao phải uống thuốc trụ sinh 10 ngày liên tục như vậy, như trong trường hợp của tôi?
4. Uống trụ sinh nhiều bị vàng răng, có đúng không?
"

Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ Văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

Trả lời ông Lê Giang (VOA)

1) Trụ sinh hay kháng sinh: ”trụ” - từ Hán Việt có nghĩa là “chống”, “kháng” có nghĩa tương tự. “Sinh” là đời sống. Trước 1975, miền nam VN gọi là trụ sinh, hiện nay gọi là kháng sinh để dịch từ antibiotic, (có lẽ theo tiếng quan thoại cũng gọi là kháng sinh) (anti=chống, “bio” đời sống, ví dụ biology là khoa học về đời sống.)

2) Penicillin:

Sir Alexander Fleming (1881-1955) là một nhà bác học người Tô cách lan (Scottish), tình cờ tìm ra một chất do nấm Penicillium notatum sản xuất (1928). Fleming để quên không rửa một đĩa Petri cấy vi khuẩn staphylococcus, và mấy ngày sau, ông thấy một loại nấm từ đâu rơi vào, mọc trong môi trường cấy. Chung quanh các chỗ nấm mọc, vi khuẩn staphylococcus không mọc được, ông mới kết luận là những nấm này tiết ra một chất có khả năng chống lại vi khuẩn. Ông trích được từ môi trường cấy một chất mà ông đặt tên là penicillin (PNC). Nhờ đó mà năm 1945 ông được chung giải Nobel y khoa với hai nhà khoa học khác có công ứng dụng penicillin trong y học lâm sàng. Chất này được gọi là penicillin do tên của nấm (fungus) penicillium sản xuất ra nó.

Tuy nhiên, hồi đó Fleming chỉ nghĩ đến dùng penicillin như một chất sát trùng ngoài da. Phải nhờ nhiều nghiên cứu khác thì năm 1942 mới có những thử nghiệm lâm sàng dùng penicillin chữa bệnh trên người.Thuốc hồi đó cực kỳ hiệu nghiệm với một số vi khuẩn như vi trùng gây bệnh giang mai (syphilis), bệnh lậu (gonorrhea), vi trùng bệnh scarlet fever, là những bệnh ghê gớm nhất thời đó. Thuốc penicillin V để uống,còn có penicillin chích thịt hoặc truyền tĩnh mạch, thuốc procaine Penicillin chích thịt (tác dụng kéo dài hơn, chích mỗi ngày một lần, thuốc benzathine penicillin còn kéo dài hơn nữa, chỉ cần chích một tháng một lần, để chữa giang mai, ngừa viêm khớp thấp cấp tính (acute rheumatic fever).

Sau này những thuốc trụ sinh khác được tổng hợp cũng như được khám phá ra từ các nguồn khác. Một số lớn thuốc tương tự trong gia đình penicillin (“beta-lactam antibiotics”) tên có đuôi -cillin như amoxicillin, methicillin, được dùng cho những hoàn cảnh với nhu cầu khác nhau. Ví dụ ampicillin có quang phổ trị liệu rộng hơn penicillin, amoxicillin hấp thụ tốt hơn ampicillin, methicillin trị các vi khuẩn kháng penicillin.

Hiện nay, người ta không dùng penicillin để rảy bột, thoa trên vết thương vì các vi trùng ngoài da phần lớn đã lờn thuốc, thuốc PNC dùng vào vết thương rát và khó chịu, thuốc hấp thụ vào máu không đồng đều, đi vào các khe vết thương cũng không tin cậy, có thể gây cơ thể dị ứng với penicillin và nhất là có những thuốc thoa tốt hơn như bacitracin, neomycin, hay gần đây mupirocin (Bactroban) hiệu nghiệm với vi trùng staphylococcus hơn.

3) Tại sao bác sĩ dặn dùng trụ sinh trong 10 ngày?

Thuốc dùng 10 ngày trong một số trường hợp mà bs sĩ ước tính, căn cứ trên các nghiên cứu lâm sàng, là thời gian 10 ngày cần để chữa cho dứt bệnh. Ví dụ, bệnh nhân bị nhiễm streptococcus Group A trong amidan, bác sĩ dặn uống mười ngày, dù hết nóng, hết đau họng. Lý do bs muốn dứt hẳn vi khuẩn trong người bệnh, để tránh hậu hoạ về sau, vì nhiễm vi trùng này có thể gây ra bệnh thấp khớp cấp tính (acute rheumatic fever) là một bệnh có thể làm đau tim, viêm cơ tim, viêm và hư các van tim. Tuy nhiên, đây chỉ là ước tính, căn cứ trên thống kê số đông từng được nghiên cứu.

Ví dụ khác, như thuốc azithromycin dùng chữ viêm tai giữa (otitis media) nhưng chỉ uống 5 ngày, trong lúc dùng amoxicillin thì uống 10 ngày; đều là những khuyến cáo trên các nghiên cứu lâm sàng. Nhiễm trùng đường tiểu nếu chỉ ở bọng đái có thể chỉ uống kháng sinh một liều cao, hoặc ba ngày, nhưng nếu bs nghi nhiễm trùng liên hệ đến thận, có thể cho bệnh nhân uống 2-3 tuần kháng sinh, nhất là ở trẻ em, để tránh hư hại thận và các biến chứng về sau.Hay người bệnh lao có thể uống thuốc hàng tháng , hàng năm.

Căn cứ trên những nghiên cứu mới, hiện nay y khoa Mỹ cũng như thế giới thiên về y khoa thực chứng (evidence based medicine), người ta xét lại rất thường xuyên, rất nhiều các khuyến cáo này.

4) Răng vàng do tetracycline (tetracycline tooth staining)

Một số thuốc như thuốc kháng sinh loại tetracycline (oxytetracycline, chlortetracycline, minocycline), nếu trẻ em uống vào lúc chúng dưới 8 tuổi (lúc các răng thường trực đang thành hình), kháng sinh sẽ đi vào cơ cấu mô răng của chúng làm cho răng đổi màu vàng (sau đó có thể biến thành màu nâu), cũng như ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của các xương khác. Đàn bà có bầu cũng không được dùng tetracycline và các kháng sinh liên hệ vì tác dụng tương tự trên thai nhi, làm răng sữa chúng bị vàng. Sau 8 tuổi dùng kháng sinh tetracycline không làm vàng răng. Các thuốc kháng sinh khác không làm vàng răng vĩnh viễn như tetracycline, trừ một số ngoại lệ như ciprofloxacin . Thường bác sĩ chữa cho các em đều biết chuyện này và tránh tetracycline cho trẻ em dưới 8 tuổi, trừ trường hợp bất khả kháng, dùng rất ngắn hạn.

Chúc quý thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.