vrijdag 1 mei 2015

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam ở thủ đô Washington DC (Hoa Kỳ) hôm 30/4/2015.

Lễ tưởng niệm các binh sĩ Mỹ và Đồng Minh hy sinh ở Việt Nam

Nguyễn Khanh, RFA
2015-04-30
tuong-niem-622.jpg
Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015.
RFA
Nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư năm nay, một trong những sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại là tổ chức buổi lễ tưởng nhớ những chiến binh Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam. Từ địa điểm buổi lễ ở thủ đô Washington.

Hy sinh cho tự do

Trước lễ đài, mọi người bùi ngùi nhớ đến 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh ở chiến trường Việt Nam, những người đã chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng tự do.
Phần lớn những người nằm xuống là những thanh niên rất trẻ, trong đó có những người mới tốt nghiệp trung học, cũng có người vừa học xong đại học, cũng có người mới lập gia đình, và cũng có người nằm xuống mà không nhìn thấy mặt của đứa con đầu lòng.
Trưởng Ban tổ chức, Cô Nguyễn Thị Ngọc Giao cho biết:
“Buổi lễ ngày hôm nay là để tưởng niệm 40 năm ngày 30/04/1095, là ngày chúng ta – những người miền Nam Việt Nam bị mất nước vào tay cộng sản.  Cho đến ngày hôm nay vẫn còn rất nhiều người tại Việt Nam phải chịu đau khổ dưới chế độ cộng sản.
Nhưng hôm nay tại Tượng đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Washington DC chúng ta tỏ lòng cảm ơn những người đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam.
Ngoài các chiến sĩ Hoa Kỳ, chúng ta còn trân trọng vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa và tất cả các chiến sĩ Đồng Minh. Điều này một lần nữa muốn nói rõ rằng chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa những người Việt với cộng sản.
Và chúng ta hôm nay đứng đây cám ơn các chiến sĩ Hoa Kỳ và Đồng Minh đã chiến đấu cùng với chúng ta; trong khi đó cuộc chiến chống lại cộng sản tại Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn.
Với chiếc ba lô đeo sau lưng và khẩu súng cầm trong tay, họ bước lên máy bay rời nước Mỹ để đến một vùng đất thật xa lạ mang tên Việt Nam, vùng đất mà có lẽ hầu hết đều không biết nằm ở vị trí nào trên bản đồ thế giới.
Vì lý tưởng bảo vệ tự do, họ chấp nhận rời mái nhà thân yêu, giã từ người thân, để đi đến vùng đất xa lạ đó, hãnh diện cầm súng chiến đấu với những người không nói chung ngôn ngữ, không cùng một màu da với họ.
Ông Cựu quân nhân Mỹ tên Grant McLure kể lại câu chuyện này với Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi:
Tôi là Grant McLure, trưởng toán liên lạc với quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Làm việc trong nhóm chúng tôi có những người Việt Nam. Nhóm gồm cả cố vấn quân sự lẫn dân dự, chẳng hạn như tôi làm việc với toán quân y phục vụ ở Ban Mê Thuột từ 1969 đến 1971. Hôm nay chúng tôi có mặt ở đây để bày tỏ lòng kính trọng với những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi đã có dịp làm việc chung trong thời chiến tranh”.

Những kỷ niệm chiến trường

tuong-niem-400.jpg
Các cựu binh tham dự Lễ tưởng nhớ những chiến binh hy sinh ở chiến trường Việt Nam ở thủ đô Washington DC hôm 30/4/2015. RFA PHOTO.

Nhiều mẩu chuyện ngắn ngủi khác cũng được nhiều người kể lại khi nói về người bạn đồng minh của mình 40 năm trước đây. Có người nhắc lại lần đầu tiên đi hành quân chung với anh lính Mỹ, có người nhắc lại chuyến trực thăng đổ quân xuống giữa rừng già do một anh phi công Mỹ cầm lái, cũng có người nhắc lại chuyện từng cầm máy truyền tin gọi cho đơn vị pháo binh Hoa Kỳ để nhờ bắn yểm trợ.
Nhưng quan trọng nhất, điều mà những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm muốn nói đến vẫn là tình đồng đội giữa người lính Việt Nam Cộng Hòa và người lính Mỹ.
Riêng với ông Trần Ngọc Huế, kỷ niệm mà ông bao giờ quên là những ngày sát cánh cùng các người bạn đồng minh trong trận chiến kéo dài nhiều ngày để lấy lại thành phố Huế:
“Tôi muốn kể lại một kỷ niệm mà tôi với người cố vấn Mỹ của tôi hồi tôi chỉ hy Đại đội Hắc Báo trong trận Mậu Thân để đánh tan sự chiếm đóng của quân cộng sản tại thành phố Huế.
Tuần đầu tiên thì chúng tôi, Đại đội Hắc Báo, không có cố vấn vì cố vấn trưởng của tôi lúc đó phải chống cự với sự tấn công của quan cộng sản tại căn cứ ở phía Nam Sông Hương. 10 ngày sau thì ông cố vấn này đã qua với chúng tôi; và lúc đó chúng tôi rất vui mừng là đã có một người bạn đồng minh ở bên cạnh hổ trợ để cùng nhau chia sẻ những gánh nặng như là tải thương, như là yêu cầu những phi pháo của phía Mỹ.
Chúng tôi rất là cám ơn những người đồng minh đó từ phía Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và Sư đoàn 101 Nhảy dù của Mỹ đã cùng các quân binh chủng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại Thành Huế sau 26 ngày đêm bị quân cộng sản vây hãm, đem lại sự thanh bình cho người dân Huế cho đến năm 1975.”

Bùi ngùi, xúc động

Không ai bảo ai, trong nhìn ánh mắt của những người tham dự, mọi người dường như muốn nói lên rằng điều đau buồn nhất là cuộc chiến Việt Nam đã không được quyết định ở chiến trường, mà lại được quyết định ở chính trường Washington.
Những ánh mắt đó như thầm bảo không chỉ người lính của quân đội miền Nam mà ngay chính những người lính Mỹ đã phải chiến đấu, chấp nhận mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh chính thân xác của chính mình, cũng không được quyền chiến thắng.
Vì thế, ánh mắt của những người Việt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm như thầm bảo với những người bạn Mỹ đã nằm xuống cho lý tưởng tự do rằng: chúng tôi không bao giờ quên những gì bạn đã làm cho đất nước chúng tôi, và xin hứa với các bạn rằng con đường chúng ta đã đi dù còn dài đến đâu đi chăng nữa, nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng tôi sẽ đi cho đến đích.
Buổi lễ không chỉ là dịp để Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại cám ơn sự hy sinh cao cả của những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, mà cũng là dịp để một số binh sĩ Mỹ gặp nhau, nhắc lại đoạn đường chiến đấu mà họ đã trải qua, đặc biệt với toán binh sĩ của Đại Đội C, Trung Đội 3, Tiểu đoàn 1/9 Thủy Quân Lục Chiến, ngày 30 tháng Tư năm nay là dịp để họ nhắc lại cũng ngày này 40 năm trước đây, họ chính là toán binh sĩ Mỹ cuối cùng lên chiếc trực thăng cất cánh từ Tòa Đại Sứ Mỹ:
“Chúng tôi thuộc toán binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng được đưa vào Saigon hôm 25 tháng Tư 1975, giữ trách nhiệm bảo vệ an ninh cho Tòa Đại Sứ Mỹ. Anh em chúng tôi hãnh diện đã làm tròn trách nhiệm cho tới phút chót, đồng thời cũng hãnh diện đá giúp di tản được một số người ra khỏi Việt nam vào giờ chót”.
Một cựu quân nhân trong toán là ông Carl Stroud còn cho chúng tôi xem hình chụp 2 lá cờ, một Mỹ, một Việt Nam Cồng Hòa, mà ông mang ra được từ Tòa Đại Sứ. Hai lá cờ này hiện đang được giữ ở Viện Bảo Tàng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Cũng cần nói thêm là ngoài 58,000 binh sĩ Mỹ hy sinh ở chiến trường Việt Nam còn có gần 2,000 binh sĩ nằm trong danh sách mất tích.
40 năm sau ngày cuộc chiến kết thúc, các toán tìm kiếm mới thu nhặt được hơn 700 thi hài, và không thể biết đến bao giờ mới tìm được hài cốt của những người lính cuối cùng, để đưa họ về an nghỉ ở nơi mà họ đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành, trước ngày họ rời quê nhà để lên đường sang Việt Nam chiến đấu.
(Nguyễn Khanh, tường trình từ Washington).


Biểu tình tưởng niệm 40 năm 30.4 tại Washington DC, Mỹ

Biểu tình tưởng niệm 40 năm 30/4 tại Washington DC

Kính Hòa, RFA
2015-04-30

Tường trình biểu tình tưởng niệm 40 năm 30/4 trước Tòa đại sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
20150430_124733-622.jpg
Trưa 30/4/2015 một cuộc biểu tình tưởng niệm 40 năm ngày Sài gòn sụp đổ do cộng đồng ngườii Việt vùng Maryland, Virginia, Whasington tổ chức diễn ra trước tòa Đại sứ Việt Nam tại thủ đô Washington DC.
RFA
Trưa 30/4/2015 một cuộc biểu tình tưởng niệm 40 năm ngày Sài gòn sụp đổ do cộng đồng ngườii Việt vùng Maryland, Virginia, Whasington  tổ chức diễn ra trước tòa Đại sứ Việt Nam tại thủ đô Washington DC.

Phản đối chế độ trong nước

Lúc khoảng 1 giờ trưa giờ Washington DC, khoảng 200 người Việt tập hợp tại vòng xoay trước tòa Đại sứ Việt nam để biểu tình. Họ đem theo cờ Mỹ và cờ Việt nam cộng hòa cùng các biểu ngữ đả đảo chế độ cộng sản Việt nam, chống những hành vi vi phạm nhân quyền.
Những người biểu tình cũng đem theo hình ảnh các tù nhân chính trị tại Việt nam như anh Trần Huỳnh Duy Thức, chị Tạ Phong Tần. Đặc biệt họ có một bộ quần áo đen mang dòng chữ vàng hoặc trắng như là “30/4 ngày quốc hận”, “40 năm ngày tháng tư đen”, “40 năm là quá đủ” để nói đến thời gian cầm quyền 40 năm của đảng cộng sản, mục đích mà họ đến đây để phản đối.
Trong đoàn biểu tình có những người đến từ xa như một người đến từ New York, người này nói:
Tôi là Nguyễn Văn Tánh cựu chủ tịch cộng đồng người Việt quốc gia Hoa kỳ. Đã 40 năm cộng sản vẫn đàn áp đồng bào của chúng ta ở Việt nam. Bởi vậy năm nay kỷ niệm 40 năm chúng ta phải quyết tâm người Việt ở hải ngoại đồng lòng yểm trợ người trong nước tổng nổi dậy đem lại thịnh vượng tự do hạnh phúc nhân quyền cho dân tộc Việt nam.”
Khi được hỏi có gì là cuộc đấu tranh từ trước đến nay có hiệu quả không, ông Tánh trả lời:
“Không phải là không có hiệu quả vì cộng sản nếu chúng ta không ngăn chận thì nó cứ như nước vỡ bờ. Và việc biểu tình cũng như thỉnh nguyện thư gửi Bộ ngoại giao Hoa kỳ, hành pháp Hoa kỳ, cũng như Ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc, chúng ta đã chận đứng việc đàn áp dã man của cộng sản rất là nhiều. Tôi cũng đồng ý là chúng ta phải có phương pháp mới. Tháng 10 tới đây chúng tôi sẽ thành lập Ủy ban liên kết người Việt hải ngoại, yểm trợ cho quốc nội hầu sớm đem lại tự do thanh bình cho đất nước.”

Yêu cầu Dân chủ cho Việt Nam


20150430_124707-400.jpg
Trưa 30/4/2015 một cuộc biểu tình tưởng niệm 40 năm ngày Sài gòn sụp đổ do cộng đồng ngườii Việt vùng Maryland, Virginia, Whasington tổ chức diễn ra trước tòa Đại sứ Việt Nam tại thủ đô Washington DC. RFA PHOTO.

Trong đoàn biểu tình có một số bạn trẻ. Một bạn đến từ Virginia vừa tốt nghiệp Đại học cho biết là lần đầu tiên đi biểu tình. Khi được hỏi là tại sao lại đi biểu tình và tại sao lại chống lại nhà cầm quyền Việt nam, bạn trẻ trả lời rằng cha mẹ bạn đã vượt biên vì không thể sống được với những người cộng sản, bạn đi biểu tình chống những người cộng sản vì mong muốn có dân chủ cho Việt nam.
Tham gia cuộc biểu tình còn có luật sư Trịnh Hội đại diện tổ chức dân sự Voice. Luật sư Hội nói rằng cuộc biểu tình hôm nay không chỉ để tưởng niệm bi kịch 40 năm trước mà còn để suy nghĩ hướng tới tương lai. Luật sư Hội nói tiếp:
Ngày 30 tháng tư không chỉ là ngày để tưởng niệm mà còn là ngày chúng ta bắt đầu hành trình đi tìm tự do và tự do đó  chỉ kết thúc khi chúng ta đem đến được tự do cho tất cả mọi người dân Việt nam.”
Tòa Đại sứ Việt nam cử đóng the cài từ sáng cho đến hết cuộc biểu tình. Trước mặt tòa Đại sứ ở giữa vòng xoay là tượng viên tướng Sheridan của miền Bắc nổi tiếng trong nội chiến Mỹ.
Cuộc nổi chiến này kết thúc êm đẹp vì không có người nào thuộc phe bại trận bị cầm tù. Và sau cuộc nội chiến đó nước Mỹ đã trở nên một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới.
Cuộc biểu tình kết thúc lúc 4 giờ chiều sau cuộc tuần hành xung quanh khu vực tòa đại sứ Việt nam.
(Kính Hòa tường trình trước Tòa đại sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ)

Thắp nến tưởng niệm 40 năm 30.4 tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ

Thắp nến tưởng niệm 40 năm 30.4 tại thủ đô Washington

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-04-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Chương trình sinh hoạt thắp nến “Tưởng niệm 40 ngày quốc hận 30.4” diễn ra vào đêm 29 tháng tư ngay trước toà đại sứ Việt Nam ở Washington DC
Chương trình sinh hoạt thắp nến “Tưởng niệm 40 ngày quốc hận 30.4” diễn ra vào đêm 29 tháng tư ngay trước toà đại sứ Việt Nam ở Washington DC
Billy Khương/VNPS
Kỷ niệm 40 năm biến cố 30 tháng tư, nhiều người Việt hải ngoại tập trung bày tỏ tình yêu thương đất mẹ Việt Nam và đồng bào ruột thịt.
Cát Linh tường trình cuộc canh thức diễn ra vào đêm trước ngày 30 tháng tư năm nay ở vùng thủ đô Washington DC, Virginia và Maryland.

Chương trình sinh hoạt thắp nến “Tưởng niệm 40 ngày quốc hận 30.4” diễn ra vào đêm 29 tháng tư ngay trước toà đại sứ Việt Nam ở Washington DC. Đoàn anh, chi, em ca, nhạc sĩ của trung tâm Asia có mặt để cùng những người Việt lưu vong tổ chức buổi tưởng niệm tròn 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ.
Rất nhiều những người Việt ở khu vực thủ đô Washington và cả những người từ một số tiểu bang xa đều tề tựu về. Họ đến rất sớm. Ngay từ khoảng 6 giờ chiều, công viên phía trước toà đại sứ Việt Nam đã phủ đầy một màu vàng của quốc kỳ VNCH do chính những người tham gia đêm tưởng niệm mang đến.
“Một nửa phẫn nộ. một nửa vui mừng. Vui mừng vì cộng đồng của mình đã lớn mạnh và ý thức được vấn đề quốc gia và cộng sản. Phẫn nộ vì ngày nay đất nước mình vẫn còn dưới gông cùm cộng sản tang thương. Tôi hy vọng ngày toàn dân đứng lên lật đổ không xa.” – Đó lời của ông Nhân, người đã bay từ Texas về Washington DC để tham dự đêm tưởng niệm 40 năm.
Một nửa phẫn nộ. một nửa vui mừng. Vui mừng vì cộng đồng của mình đã lớn mạnh và ý thức được vấn đề quốc gia và cộng sản. Phẫn nộ vì ngày nay đất nước mình vẫn còn dưới gông cùm cộng sản tang thương. Tôi hy vọng ngày toàn dân đứng lên lật đổ không xa
ông Nhân
Và ông Sự, cư dân của vùng Hoa Thịnh Đốn thì cho biết:
“Chúng tôi đến để kỷ niệm ngày buồn nhất, của mình và của dân tộc Việt Nam”.
Họ đến không chỉ là lần đầu tiên.
“Nhiều lần lắm rồi. Cứ có là đi.”

Trong đêm canh thức nơi xứ người của 40 năm sau ngày 30 tháng 4 lịch sử, bên cạnh những người trẻ giờ đây có cùng chung tiếng nói, những người may mắn đã đến được bến bờ tự do, mà còn có cả những mái đầu bạc đã không ngừng nghĩ đấu tranh trong suốt 40 năm qua. Giờ đây, họ đến để ủng hộ và khuyến khích tinh thần cho thế hệ sau. Như lời của bà Trương Anh Thuỵ, sáng lập viên nhà xuất bản Cành Nam:
“Tôi ở đây từ những ngày đầu. Tinh thần của những người di cư và những người xa quê thì lúc nào cũng nồng nàn với quê hương. Nhất là bây giờ, lòng yêu quê hương càng dạt dào và thôi thúc hơn. Bây giờ về hưu rồi thì lại trở lại với không khí cùng với giới trẻ để nối tiếp, khuyến khích họ.”

Khẳng định như khi chương trình bắt đầu, MC Nam Lộc đã nói cùng mọi người rằng đêm hôm nay mọi người đến để cùng ôn lại nỗi buồn trong quá khứ của cuộc đời tị nạn nhưng cũng không quên những người đã nằm xuống cho chúng ta được sống. cho nên, đêm nay không phải là một đêm của đại nhạc hội.

Người Việt khu vực thủ đô Washington cùng những người từ một số tiểu bang xa thắp nến diễu hành trước trước toà đại sứ Việt Nam ở Washington DC. Photo: Billy Khương/VNPS
Người Việt khu vực thủ đô Washington cùng những người từ một số tiểu bang xa thắp nến diễu hành trước trước toà đại sứ Việt Nam ở Washington DC. Photo: Billy Khương/VNPS

Bên cạnh đó, có lẽ một sự khác biệt rõ nhất trong nội dung của chương trình tưởng niệm tròn 40 năm ngày quốc hận 30.4, đó là mọi người cùng nhau có những chia sẻ về vi phạm nhân quyền tại Việt Nam của giới trẻ và văn nghệ sĩ đang sinh sống và trưởng thành tại Hoa Kỳ. Như lời của MC Thuỳ Dương:
“Đối với những người trẻ đêm hôm nay là một cơ hội để chúng ta cám ơn những người đã nằm xuống vì hai chữ tự do và bên cạnh đó chúng ta ở đây để chia sẽ cho con em chúng ta biết vì sao chúng ta ở đây.”
Điều này đã được thể hiện xuyên suốt trong 4 giờ diễn ra “Đêm Canh thức và văn nghệ đấu tranh” – một tên gọi khác của chương trình.
Đối với những người trẻ đêm hôm nay là một cơ hội để chúng ta cám ơn những người đã nằm xuống vì hai chữ tự do và bên cạnh đó chúng ta ở đây để chia sẽ cho con em chúng ta biết vì sao chúng ta ở đây
Thuỳ Dương
Nhạc sĩ Trúc Hồ phát biểu:
“Đây là đêm canh thức. chúng ta cùng nhau hát. Chúng ta cùng nhau tưởng niệm ngày đó tháng đó người thân của chúng ta đã ra đi như thế nào.”
Và nhạc sĩ Nam Lộc, người dẫn chương trình trong đêm canh thức cũng có trình bày:
“Chúng ta cùng canh thức, cùng nhắc nhở nhau rằng Mẹ Việt Nam vẩn đang khổ đau dưới ách thống trị của ĐCS, người dân trong nước vẫn đang sống trong nhục nhằn, tủi hận”
Đúng như mong mỏi của nhạc sĩ Trúc Hồ, sân khấu nhỏ trong khuôn viên trước toà đại sứ Việt Nam vang dội những bài hát về nỗi buồn lưu vong, những ca khúc đấu tranh cho dân tộc, nhân quyền. Không chỉ ca sĩ của trung Asia, mà toàn thể những người đứng quanh sân khấu cùng hát vang:
“Cảm giác như là mình đặt tâm trạng của mình trong bài hát đó. Rất là thích.” Chi Phương, đến từ Wahsington DC cho biết.
Nhạc sĩ Trúc Hồ cũng nhận định:
“Đây là ngọn lửa tự do.  Hôm nay ngày linh thiêng của dân tộc. chúng ta có mặt ở đây từ khắp nơi, có mặt ở đây vì một lý do duy nhất, chúng ta thề mang ngọn lửa tự do này về trên đất nước Việt Nam của chúng ta. Tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.”
Đoàn người nối tiếp nhau đi vòng quanh sân khấu chính. Trên tay mỗi người là một ngọn lửa nhỏ. Rồi những ca khúc chất chứa tình yêu quê hương dân tộc, và cả sự căm hờn đau đớn được hát vang như “Thiên thần trong bóng tối” / “Đáp lời sông núi”/ “Anh là ai”/ “Việt Nam tôi đâu”/”Một ngày Việt Nam”… được hát vang, ngạo nghễ và oai hùng.

"Sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!" (Nguyễn Ngọc Ngạn)

Bên thắng cuộc …

Cập nhật lúc 12/04/2015 10:21




(GNA: Chúng tôi không nghĩ ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn dễ thương của chương trình ca nhạc Thúy Nga lại là một nhà phân tích chính trị khà sâu sắc. Bài viết dưới đây nhân ngày đại thắng (của ai?) là một góc nhìn sáng tạo về hệ quả của cuộc biển dâu lịch sử)
 
 
Trong đợt lưu diễn văn nghệ đầu năm nay ở vài thành phố bên Mỹ, trùng hợp có một tờ tạp chí và một đài phát thanh hỏi tôi cùng một câu: Nhìn lại 4 thập niên vừa qua, 1975-2015, sự kiện gì đối với chú là quan trọng nhất?
 
Câu này dễ trả lời! Thế giới biến đổi từng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Nhưng riêng đối với tôi thì biến cố lớn nhất trong 40 năm qua là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống cộng sản toàn cầu. Nó mở ra một kỷ nguyên hòa bình mới, kết thúc chiến tranh lạnh, giảm thiểu tối đa các vũ khí chiến lược, tiết kiệm bao nhiêu tiền của và xương máu mà nhân loại đã đổ ra từ ngày có phong trào cộng sản.
 
 
Cần hình dung lại hàng triệu người đã chết thảm ở Siberia thời Stalin, trong cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông, rồi cải cách ruộng đất và sửa sai thời Hồ Chí Minh trên đất Bắc, cũng như đánh tư sản và tù cải tạo tại miền Nam sau 1975. Chưa kể chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiểm điểm lại những đau thương ngút trời gần một thế kỷ vừa qua, người ta mới thấy hết được niềm hạnh phúc khi đế quốc cộng sản sụp đổ, mà sự sụp đổ ấy không do tác động trực tiếp của thế giới tự do, mà do chính nội bộ của đảng viên và của quần chúng các nước xã hội chủ nghĩa dấy lên. Theo tôi, đó là sự kiện vĩ đại nhất của nhân loại trong 4 thập niên vừa qua!
 
Từ ngày ra hải ngoại, tôi vẫn mang trong đầu một điều tiếc nuối: Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia cuối cùng trên thế giới bị lọt vào tay Cộng Sản. Giả như đồng minh Hoa Kỳ không bỏ cuộc giữa đường, Miền Nam Việt Nam chỉ cần cầm cự thêm vài năm nữa, chắc chắn tình hình đã đổi khác.
 
Đến khi cộng sản toàn cầu sụp đổ, tôi lại cho rằng, sự sụp đổ ấy bắt nguồn sâu xa từ chiến tranh Việt Nam. Tôi tin như thế, nhưng dè dặt không dám viết ra vì sợ có người sẽ bảo là tôi chủ quan. Mãi đến khoảng năm 2005, tôi tình cờ đọc được cuốn sách của một tác giả người Mỹ, tôi mới cảm thấy an lòng và hết sức vui mừng vì có người đồng ý với suy nghĩ của tôi.
 
Tiếc là giờ này tôi không có cuốn sách ấy trong tay, vì hôm đó trong khi chờ chuyến bay ở phi trường, tôi tạt vào tiệm bách hóa Hudson News tính mua đại một tờ tạp chí nào đó để lên máy bay xem cho qua thì giờ, thì thấy có cuốn sách viết về Vietnam War nên vội lấy xuống. Tôi mới chỉ đọc được 2 trang của phần mở đầu thì chuyến bay thông báo boarding mà người xếp hạng ở quầy tính tiền sách đông quá, tôi đành bỏ lại cuốn sách trên kệ.
 
Ngồi trên phi cơ, tôi nhớ lại lập luận của tác giả cho rằng: Chiến tranh Việt Nam là cuộc chạy đua võ trang, hay đúng hơn là cuộc chạy đua tiêu tiền, giữa hai khối tư bản và cộng sản. Cuộc chạy đua ấy tuy kết thúc dở dang vì Hoa Kỳ bỏ cuộc, nhưng cũng đủ để làm khối cộng sản kiệt quệ về tài chánh, không vực dậy nổi, dẫn đến sự sụp đổ 15 năm sau!
 
Điều này tôi tin là đúng. Hồi mới sang Canada, năm 1979, tôi đọc một bài viết trong tờ Financial, nói rằng: Chiến tranh Việt Nam đã làm đồng dollar Mỹ mất giá và gây nên tình trạng lạm phát nặng nề. Lúc ấy tôi nghĩ: Mỹ giàu như thế mà còn điêu đứng vì chiến tranh Việt Nam, thì huống chi các nước cộng sản vốn quanh năm èo uột về kinh tế!
 
Quả thực đúng như vậy! Trong chiến tranh, người dân các nước Cộng Sản tạm quên cái đói khổ. Nhưng hết chiến tranh rồi, cái sai của chế độ và cái yếu của lãnh đạo tất nhiên phải lộ ra, không thể nào che đậy được. Lấy lý do gì để giải thích với nhân dân, sau bao nhiêu năm nhịn ăn cung ứng cho chiến trường, rồi bây giờ lại càng đói khổ hơn khi hòa bình trở lại!
 
Từ những “bức xúc” thực tế ấy, lãnh đạo Cộng Sản bất đắc dĩ phải đưa ra khẩu hiệu “đổi mới”, khởi đầu ngay tại Liên Xô từ năm 1985. Nói “bất đắc dĩ” là bởi vì trong thế giới Cộng Sản, bất cứ ai đề xuất một ý tưởng khác với những giáo điều cứng rắn của Đảng thì lập tức bị gán cho cái tội “xét lại” hoặc “phản Đảng” và thường đưa đến hậu quả thân tàn ma dại. Điều này chắc chắn ai cũng đã biết qua kinh nghiệm mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, Bên Thắng Cuộc của Huy Đức v.v… chúng ta đã thấy được phần nào những thanh trừng nội bộ rất cay đắng của Đảng Cộng Sản qua những vụ án mà họ gọi là “xét lại”, chẳng hạn như vụ Hoàng Minh Chính.
 
Hoàng Minh Chính là một đảng viên kỳ cựu, hoạt động cùng thời với anh em Lê Đức Thọ. Năm 1945 ở Hà Nội, nhạc sĩ Văn Cao tham gia Việt Minh, công tác trong đội ám sát. Chính Hoàng Minh Chính đã đưa súng cho Văn Cao đi giết những đảng viên Quốc Dân Đảng bị Việt Minh vu cho tội thân Nhật. Hơn 30 năm sau, Hoàng Minh Chính mới tỉnh ngộ, nhìn thấy nhu cầu phải cải tổ để cứu đất nước. Nhưng ý kiến của ông đụng vào những bức tường bảo thủ kiên cố nên ông bị truy bức, kéo theo bao nhiêu người khác mà phe bảo thủ muốn nhân dịp này tiêu diệt.
 
Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, thấy nông dân làm hợp tác xã không có hiệu quả vì cha chung không ai khóc, cơm nhà chúa múa tối ngày, cứ rềnh rang vác cuốc ra đồng đủ 8 tiếng rồi về, thu hoạch không năm nào đủ chỉ tiêu. Ông mới nghĩ ra sáng kiến là cho nông dân làm khoán. Làm nhiều ngày hay ít, chăm hay lười, không cần biết, miễn là nộp đủ số thóc quy định! Sáng kiến này tuy thực tế và có lợi cho Nhà Nước nhưng bị coi là đi lạc đường nên bí thư tỉnh ủy bị kỷ luật và cách chức! Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải là một ủy viên trung ương Đảng, thế mà còn bị trừng phạt vì một sáng kiến cá nhân, huống chi người dân thường, ai dám phát biểu ý kiến!
 
Vậy mà sau 10 năm kết thúc chiến tranh, giữa lúc phe bảo thủ còn đang thống trị toàn Đảng, thì Trường Chinh đã phải công khai hô hào đổi mới. Ai cũng biết Trường Chinh là lãnh tụ cộng sản kỳ cựu bên cạnh Hồ Chí Minh, một lý thuyết gia tiền phong của Đảng và là người chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại Miền Bắc, giết hại biết bao nhiêu nông dân cũng như đảng viên. Nói cách khác, Trường Chinh vẫn được coi là một thành trì kiên cố nhất của Đảng. Thế mà chính Trường Chinh phải thay đổi lập trường thì đủ biết hoàn cảnh Việt Nam sau chiến tranh thê lương như thế nào!
 
Trần Bạch Đằng viết trong bài “Dám Rẽ Ngoặt Trong Tư Duy” như sau:
 
“Mùa Thu năm 1985, thành quả của bao nhiêu năm chắt chiu của nước ta bỗng chốc sụp đổ qua sai lầm trong điều chỉnh giá cả và đổi tiền. Thế là toàn Đảng toàn dân “khởi đầu bằng sự khởi đầu”! Bác Trường Chinh tìm lối thoát trong cảnh cực kỳ rối ren… Bác kiên trì sự nghiệp đổi mới, đổi mới triệt để và toàn diện… Bác dũng cảm điều chỉnh lại tư tưởng của mình…”!
 
Nói “dũng cảm” bởi vì khi đề xuất ý kiến đổi mới tức là đụng chạm mạnh đến những vùng đất cấm kinh niên của Đảng, những nhân sự suốt đời cố chấp mà chỉ có người tầm cỡ như Trường Chinh, lúc ấy ngoài 70, mới dám lên tiếng!
 
Sau khi Trường Chinh mất, Trần Bạch Đằng viết:
 
“Thưa anh Năm Trường Chinh! Tiễn anh, chúng tôi ân hận vô cùng: Không đổi mới nhanh như anh ao ước!… Tôi tin, nếu quả còn cuộc sống ở thế giới khác sau khi người ta chết, thì những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, cũng sẽ mở rộng vòng tay đón Bác Năm Trường Chinh…”.
 
Ý nói: Cuối đời Trường Chinh đã thấy cái sai của mình, xin các oan hồn bị đấu tố trước đây, nếu gặp lại Trường Chinh ở thế giới bên kia, hãy tha cho Trường Chinh, đừng xúm lại hỏi tội!
 
(Ghi chú: Trần Bạch Đằng nguyên là Bí thư Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Bạch Đằng và Võ Văn Kiệt là tư lệnh tiền phương, chỉ huy lực lượng Việt cộng đánh vào nội thành Sài Gòn).
 
“Đổi mới” thật ra là một bản tuyên ngôn đầu hàng tư bản! Bởi vì: Cốt lõi của Cộng Sản là kinh tế chỉ huy, là mậu dịch quốc doanh, là kiểm tra hộ khẩu, là hợp tác xã, là mỗi tháng xếp hàng lĩnh 16 ký gạo! Một khi đã chuyển sang cơ chế thị trường tức là đã chào thua thế giới tự do rồi!
 
Kiệt quệ về kinh tế đã đành, người Cộng Sản còn mất hết niềm tin vào những lý tưởng mà họ được dạy dỗ trước đây.
 
Lùi lại hồi đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Cộng Sản là một cái gì mới mẻ, hấp dẫn rất nhiều người trí thức ở thành thị. Nó hấp dẫn bởi về mặt lý thuyết, nó đề cao lý tưởng công bằng xã hội, xóa bỏ bất công bằng đấu tranh giai cấp. Lúc ấy, quả thực tư bản còn quá nhiều khuyết điểm, chủ nhân bóc lột công nhân, công đoàn chưa thành hình, chế độ lao động hà khắc, không được luật lao động bảo vệ. Ở nông thôn thì phong kiến áp bức đến tận cùng. Do thực tế ấy, người ta dễ dàng bị lôi cuốn theo Cộng Sản dù chưa hiểu CS là gì. Đã thế, cộng sản lại ra đời đúng lúc phong trào giải phóng các dân tộc bị trị lên cao trên toàn cầu, nhất là sau Đệ nhị Thế chiến. Cộng Sản khôn khéo đem chiêu bài chống ngoại xâm để lôi kéo quần chúng, điển hình là biết bao nhiêu người đã theo Hồ Chí Minh, đâu phải vì thích Cộng Sản mà vì muốn đứng vào hàng ngũ đánh Pháp. Đến khi Cộng Sản thắng rồi thì đã quá muộn, họ không rút chân được nữa!
 
Thế giới tư bản thì càng ngày tự điều chỉnh để trở nên hoàn thiện, trong khi cộng sản dừng chân tại chỗ, hết chiến tranh là lộ ra hết khuyết điểm. Khi Liên Xô và Trung Cộng công khai thù nghịch nhau, khi Việt Cộng xâm lăng Miên Cộng (Khờ-Me Đỏ), khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vào đầu năm 1979 – nghĩa là gà cùng một mẹ mà chém giết nhau không nương tay – thì cái lý tưởng “thế giới đại đồng” và “chung sống hòa bình” giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn ý nghĩa gì nữa! Cứ nhìn Trung Cộng, người ta thấy ngay cái tình hữu nghị môi hở răng lạnh của hai nước Cộng Sản nó cay đắng như thế nào!
 
Lời dạy của Đảng trở thành trò hề, làm thất vọng tất cả những ai từng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Ý nghĩ giã từ chủ nghĩa xã hội vì vậy càng ngày càng lan rộng trong đầu nhiều đảng viên, chỉ chờ cơ hội là bùng phát!
 
Từ khi các nước Đông Âu và nhất là Liên Xô sụp đổ, thế giới không còn ai nhắc đến Cộng Sản nữa. (Chắc chỉ còn cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn bám lấy ma Cộng Sản để hù dọa hoặc chụp mũ nhau mà thôi!). Hai chữ “Cộng Sản” chỉ còn là một tì vết của lịch sử, đã lùi hẳn vào trong dĩ vãng, không còn là mối bận tâm cho nhân loại. Nó đã trở thành chuyện cổ tích, người bỏ Đảng mỗi ngày một đông. Trước mắt thế giới, kẻ thù mới bây giờ là Terrorist, là ISIS, là những nhóm quá khích không nhân tính, chứ kẻ thù cũ là Cộng Sản giờ này là hết hẳn đất đứng.
 
Dĩ nhiên cũng còn vài nước vẫn bám lấy danh hiệu Cộng Sản nhưng thật ra họ không còn mang chất cộng sản như xưa. Họ bám chỉ vì quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm mà họ phải bảo vệ mà thôi. Bắc Hàn và Cuba thì đói khát quanh năm, không đáng bàn đến. Trung Cộng thì tư bản hóa trước cả Việt Cộng. Cụ thể, ngày nay nếu phải đối phó với Trung Quốc thì hoàn toàn không phải là đối phó với một nước cộng sản mà là một đế quốc có chủ trương bá quyền.
 
Việt Nam cũng thế! Giờ này người ta chống Việt Nam không phải là chống một nước cộng sản mà là chống một chính quyền độc tài, độc đảng, chà đạp nhân quyền giống như nhiều nước độc tài khác trên thế giới.
 
Trong chế độ Cộng Sản đích thực, chỉ cần có vài mẫu ruộng đã ra pháp trường đấu tố, chỉ cần làm chủ một cửa tiệm hạng trung đã bị đánh tư sản, hoặc vào tù hoặc đi vùng kinh tế mới, chứ làm gì có những cán bộ đảng viên sở hữu những dinh thự nguy nga và ôm hàng tỉ hàng triệu dollars như hiện nay ở Việt Nam! Các cấp lãnh đạo Trung Quốc cũng thế! Có những quan chức phải dành riêng ra hẳn một căn nhà mới đủ chỗ chứa vàng và tiền mặt thì cộng sản ở điểm nào!
 
Nói tóm lại, trên thế giới ngày nay không còn nước nào áp dụng lý thuyết Cộng Sản đúng nghĩa. Tất cả đều đã đầu hàng tư bản, chạy theo tư bản, nhưng gắng gượng nên câu khẩu hiệu: “Áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!” Họ ngượng ngùng nói thế khi chính họ cũng biết rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có cơ chế thị trường! Tư bản thúc đẩy sản xuất và cải thiện sản phẩm bằng tự do cạnh tranh! Cộng Sản thúc đẩy sản xuất bằng tuyên truyền, bằng chỉ thị và bằng giấy biểu dương! Khác nhau như nước với lửa, không thể kết hợp được.
 
Cho nên, như tôi đã nói ở trên, người cộng sản một khi đã áp dụng cơ chế thị trường tức là đã bỏ cuộc, là giã từ hẳn chủ nghĩa của mình rồi! Chỉ cần để ý một chút, chúng ta thấy ngay ngày nay họ không còn tự hào khoe khoang về lý tưởng của họ như thuở trước. Những câu khẩu hiệu một thời họ hãnh diện nêu cao như “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân”, hoặc “Chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ loài người” giờ này chính họ đã lặng lẽ xóa đi. Hai chữ “vô sản” là đặc trưng của chế độ, ngày nay cũng đã biến mất! Đấu tranh giai cấp để tiến đến công bằng xã hội thì không thể áp dụng được nữa bởi giai cấp giàu nhất bây giờ gồm toàn đảng viên! Chả nhẽ họ tự đấu tố chính mình!
 
Chẳng những thế, trong nước đang có dư luận một ngày gần đây Đảng Cộng Sản sẽ đổi tên, bỏ hẳn hai chữ “Cộng Sản” đã lỗi thời vì quá nhiều khuyết điểm! Nhưng dù có đổi tên mà vẫn duy trì lề lối cũ, vẫn độc tài và thường xuyên vi phạm Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc thì thế giới vẫn tiếp tục lên án và người dân vẫn tiếp tục đấu tranh.
 
Bởi mục tiêu tối hậu không phải chỉ là xóa đi hai chữ Cộng Sản, mà là kiến tạo một quốc gia tự do, dân chủ và phú cường, để Việt Nam có thể hãnh diện đứng ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới.
 
Tổng kết lại, nhìn lại 4 thập niên vừa qua, nếu chỉ chú ý đến cái mốc kết thúc chiến tranh năm 1975 ở Việt Nam, thì người ta gọi Miền Bắc là “bên thắng cuộc”. Nhưng nếu mở tầm mắt rộng hơn, nhìn sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!
 
Nguyễn Ngọc Ngạn
Tháng 4/2015

http://thangbomaz.com/tin-chi-tiet/ben-thang-cuoc.html