Posts tonen met het label Salsa. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Salsa. Alle posts tonen

zaterdag 13 september 2014

Salsa, vũ điệu La Tinh thịnh hành nhất Âu Mỹ

THỨ SÁU 01 THÁNG TÁM 2014
Salsa, vũ điệu La Tinh thịnh hành nhất Âu Mỹ
© Kutimusic
Tuấn Thảo
Theo các số liệu chính thức, chỉ riêng tại Pháp, hiện có khoảng 1300 câu lạc bộ dạy nhảy salsa, tức là cao gần gấp đôi các lớp tango. Từ năm 1986, salsa chính thức trở thành một bộ môn thể thao. Điều đó có nghĩa là người Pháp có thể học salsa để khiêu vũ giải trí, nhưng với trình độ chuyên môn, thì ta cũng có thể tham gia vào các cuộc thi đẳng cấp quốc gia hay quốc tế.
Liên đoàn khiêu vũ quốc gia (Fédération Française de Danse) của Pháp dạy ba kiểu nhảy salsa khác nhau : salsa cubana như tên gọi của nó là salsa theo phong cách của người Cuba. Đây là thể điệu thông dụng nhất tại Pháp, do các bước nhảy căn bản tương đối dễ học, hợp với thị hiếu của người Tây Âu.
Còn salsa puertoricana chẳng những là nhảy cặp mà còn phải nhảy theo một hàng, thường là theo tuyến ngang. Cách gọi này không hoàn toàn chính xác do kiểu nhảy này tuy thịnh hành, nhưng lại xuất phát từ Mỹ chứ không phải là từ Puerto Rico. Trái lại, salsa colombiana thì thật sự bắt nguồn từ Colombia, nhịp điệu dồn dập hơn đi kèm với cử chỉ điệu bộ nhanh nhẹn, mang nhiều tính biểu diễn.
Cả ba kiểu nhảy này cho thấy là tuy có cùng một gốc, nhưng vũ điệu salsa lại phát triển thành nhiều nhánh khác nhau. Về mặt âm nhạc cũng vậy, rất khó thể nào mà khẳng định chính xác nguồn gốc của salsa, do dòng nhạc này hấp thụ cùng lúc nhiều luồng ảnh hưởng, kết hợp nhiều thể điệu khác nhau, kể cả nhịp mambo và son montuno của người Cuba, bomba và plena của Puerto Rico, jazz và bebop của người Mỹ. Có lẽ vũng vì thế mà salsa hiểu theo nghĩa đen là nước xốt, hiểu theo nghĩa bóng là hoà quyện trộn lẫn.
Những bản ghi âm của tay đàn Ignacio Piñeiro cho thấy là salsa đã manh nha từ đầu những năm 1930, chữ salsa xuất hiện lần đầu tiên trong bản nhạc Echale Salsita của nghệ sĩ này, nhưng Ignacio Piñeiro đã thử nghiệm cách biểu diễn hỗn hợp nhiều thể điệu khác nhau (changuí, charanga, son montuno) trong cùng một bản nhạc (đó là bài Dónde Estabas Anoche1925). Đến những năm 1950, thời kỳ thịnh hành của mambo và bolero, điệu salsa ra đời tại quần đảo Caribê, hầu như vào cùng một thời điểm với điệu cha cha cha.
Nếu như cha cha biến tấu từ mambo, thì salsa là một cách để cho người nghệ sĩ biểu diễn theo lối phản quy tắc : ở đây cần hiểu theo nghĩa, mỗi thể điệu định ra một khuôn thước, nhưng người biểu diễn không nhất thiết phải chơi rập khuôn. Ngược lại, tùy theo vốn liếng, bản lĩnh, và ngẫu hứng trong khoảnh khắc, họ có thể biến tấu, tự kết hợp nhiều thể điệu với nhau. Lối tiếp cận phóng khoáng này do gần giống với nhạc jazz, nên sau đó tìm được sự đồng cảm, hưởng ứng của giới chơi jazz : thoát khuôn nhưng không phản ý, phá cách nhưng vẫn nguyên cốt.
Vào giữa những năm 1950, José Curbelo viết bài Mambo Cha Cha, Benny Moré đặt tựa ca khúcSon Guajiro, Cheo Marquetti thành lập nhóm Conjunto Salseros, họ hoà quyện những thể điệu sẵn có để tìm cho ra một cách diễn đạt mới, đặt nền móng cho phong trào salsa, từ đó mà lan tỏa sang khắp thế giới.
Nếu như các nhịp điệu cơ bản nhất đã ra đời tại Cuba và Puerto Rico, thì phong trào salsa (kể cả vũ điệu lẫn âm nhạc) chỉ thật sự trỗi dậy nhờ vào sự đóng góp của Hoa Kỳ, Venezuela, Mêhicô, Colombia, Panama, Cộng hoà Dominica … mỗi nước mỗi nước mỗi miền đóng góp một chút : calypso, son cubano, danzón, pachanga, boogaloo. Các nhánh sông ngòi tuôn tuôn siết chảy đổ về hợp nhất thành hồ sâu biển rộng.
Thế nhưng, sự đóng góp dồi dào và quan trọng nhất lại xuất phát từ Hoa Kỳ, hay nói cho đúng hơn là từ cac cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha sống trên đất Mỹ. Việc Hoa Kỳ công nhận vào năm 1952 bản hiến pháp của Puerto Rico, nâng vùng đất này lên thành một vùng tự trị trong liên bang Mỹ, đã tạo ra làn sóng nhập cư ồ ạt đầu tiên.
Người dân Puerto Rico đến định cư tại New York lập ra khu phố El Barrio còn được gọi là Spanish Harlem, khu vực phía đông bắc Manhattan, chiều ngang từ đại lộ thứ nhất đến đại lộ thứ năm, chiều dọc từ con đường số 96 đến 125, trở thành tâm điểm của người định cư nói tiếng Tây Ban Nha, còn được gọi là “Nuyorican”.
Làn sóng định cư thứ nhì đến từ Cuba vào năm 1959. Hòn đảo này hoàn toàn bị cô lập do lệnh cấm vận. Cộng đồng người tỵ nạn chủ yếu lập nghiệp tại New York và nhất là Miami. Ảnh hưởng của âm nhạc Cuba vào dòng nhạc salsa bắt đầu lu mờ. Salsa hấp thụ nhạc jazz của Mỹ, cũng như các luồng văn hóa đến từ quần đảo Caribê.
Salsa thật sự cất cánh trên đất Mỹ từ đầu những năm 1970, với ngày đăng quang của nữ hoàng Celia Cruz, và hàng loạt thần tượng như Tito Puente, Johnny Pacheco, Ray Barretto, Larry Harlow, Roberto Roena, Bobby Valentín, Héctor Lavoe … Họ cũng nhận được sự tiếp sức của các nghệ sĩ jazz Latinh như Eddie Palmieri và Willie Colón sau một thập niên khám phá tìm tòi với dòng nhạc bossa nova của Brazil.
Từ những năm 1980 cho tới những năm gần đây, thế hệ sau tiếp nối nỗ lực của thế hệ trước. Các nghệ sĩ như Gloria Estefan hay Ricky Martin hoà quyện salsa với pop, Jennifer Lopez và Marc Anthony chủ yếu khai thác dòng nhạc salsa romantica, Edith Lefel hoà quyện salsa với zouk, Sean Paul kết hợp salsa và reggaetton thành salsaton, các tay DeeJays thì lại chuyên hoà âm lại điệu salsa với nhạc khí điện tử để rồi gọi đó là latin house …
Sự kết hợp không ngừng đó có thể giải thích vì sao giới trẻ thời nay, cảm thấy hợp với nhạc salsa hơn là bolero cho dù rất nhiều bản bolero nổi tiếng từng được chuyển thể, hoà phối theo điệu rumba salsero. Tuy nhiên, sự hoà quyện không ngừng đó dẫn tới sự biến chất của salsa, do kết hợp không khéo nên đễ biến thành món lẩu thập cẩm.
Ngành sản xuất băng đĩa khai thác chữ salsa (cũng như chữ La Tinh) như một thương hiệu, và thảy vào bên trong nhiều thể điệu như cumbia, bachata, merengue mà thật ra chẳng ăn nhập gì với salsa. Một số nhịp điệu hỗn hợp được thực hiện theo đơn đặt hàng, chế biến theo công thức mà lại chóng quên điệu salsa chỉ quyện hồn La Tinh, khi tuôn chảy cảm xúc vô hình. nơi xuất phát ngẫu hứng thật tình.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140801-salsa-vu-dieu-la-tinh-thinh-hanh-nhat-au-my

Cha Cha và Salsa, bộ gõ cách tân làn điệu La Tinh

THỨ BẢY 16 THÁNG TÁM 2014
Cha Cha và Salsa, bộ gõ cách tân làn điệu La Tinh
Tuấn Thảo
Dòng nhạc pop La Tinh thật sự cất cánh từ những năm 1980. Nhiều nghệ sĩ xuất thân từ Cuba, Puerto Rico hay Cộng hoà Dominica chủ yếu sống ở Mỹ nỗ lực chinh phục thành phần người nghe ở ngoài cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha. Nhờ vậy, Gloria Estefan, Ricky Martin, Shakira, hay Marc Anthony được nâng lên ngang tầm với các thần tượng nhạc pop quốc tế.
Trong số những gương mặt đã góp phần không nhỏ vào việc cách tân làn điệu để giúp phổ biến rộng rãi hơn nữa dòng nhạc La Tinh, phải kể đến sự đóng góp của nghệ sĩ José Alberto, còn có biệt danh là El Canario, tức là ‘’hoàng yến’’, do anh có cài biệt tài huýt sáo phụ họa cho ca hát.
Sinh năm 1958 tại Cộng hoà Dominica, anh thừa hưởng dòng máu nghệ thuật của song thân, bố là nhạc sĩ, mẹ là diễn viên múa. Năm lên 7, José Alberto theo gia đình đến định cư tại Puerto Rico và bắt đầu học đàn học hát, trước khi sang Hoa Kỳ lập nghiệp.
Đến khi lớn lên, anh bắt đầu kiém sống nhờ chơi đàn trong một ban nhạc rock, nhưng rồi dần dần chuyển qua các thể điệu La Tinh, nhạc khí sở trường của anh là bộ gõ kể cả trống đôi, dùi gỗ và trống lắc. Bộ gõ La Tinh này sẽ được anh tận dụng khai thác sau đó trên album kinh điển, bao gồm các bài hát của nhóm Tứ Quái The Beatles, chuyển thể theo phong cách La Tinh.
Tập nhạc đầu tay, José Alberto ghi âm vào năm 14 tuổi khi tham gia dàn nhạc của Tito Rodriguez Junior tại New York. Anh bắt đầu đi hát năm anh 19 tuổi (1977) sau khi ký hợp đồng biểu diễn với vũ trường "Corso Nightclub". Đây là giai đoạn mà anh đã học hỏi rất nhiều với các nghệ sĩ đàn anh, trau dồi hai thể điệu sở trường là mambo và salsa, ghi âm các album đầu tay trong khuôn khổ của nhóm Tipica 73. Hầu như cùng thời với nhóm Santana khai phóng dòng nhạc rock La Tinh với tập nhạc Abraxas, ban nhạc Tipica 73 cho ra đời những album ‘’kinh điển’’ hoà quyện thể điệu pop với dòng nhạc salsa.
José Alberto khởi nghiệp hát solo kể từ năm 1982 trở đi, sau khi chia tay các đồng nghiệp trong nhóm. Trong khuôn khổ dự án âm nhạc Noche Caliente (Đêm cuồng nhiệt) hợp tác với nhà sản xuất Louie Ramirez, anh chuyển thể nhiều bản nhạc slow trữ tình ướt át (thường là các bản ballad của làng nhạc nhẹ hay nhạc pop) sang nhịp điệu salsa cuồng nhiệt nóng bỏng. Có thể nói là José Alberto đã có công làm giàu cấu trúc và cú pháp, khi hình thành thể điệu salsa romantica, thường là với câu mở đầu nhịp nhàng lả lơi trước khi chuyển sang nhịp điệu sôi động nóng bỏng trong phần điệp khúc.
Năm anh tròn 30 tuổi, José Alberto chinh phục thị trường quốc tế với album đề tựa Sueño Contigo (Mơ cùng với Em), trong khi Gloria Estefan thành công trên thị trường Anh Mỹ nhờ các bài hát song ngữ. Tài nghệ ca hát và chơi nhạc của anh lọt vào tai của nữ hoàng salsa Celia Cruz.
Sự gặp gỡ này mở ra một giai đoạn hợp tác dồi dào, vì trong nhiều năm liền ban nhạc của José Alberto lưu diễn khắp nơi với Celia Cruz. Quan hệ giữa hai nghệ sĩ giống như tình cảm giữa hai mẹ con, anh xem bà như một người mẹ đỡ đầu, còn bà thì dạy cho anh các bí quyết gia truyền, giúp anh thành nhân trên đường đời, chứ không chỉ đơn thuần là thành đạt trong sự nghiệp.
Nhờ vào sự dìu dắt ấy mà vào năm 1989 José Alberto (lúc đó 31 tuổi) giành lấy giải thưởng cao quý nhất nhân kỳ liên hoan New York Salsa Festival dành riêng cho nghệ sĩ có tài năng biểu diễn xuất sắc nhất trên sân khấu. Phiên bản của nhạc phẩm Oye Como Va, do ông hoàng mambo Tito Puente sáng tác vào năm 1963, trở nên để đời qua lối thể hiện của nữ hoàng salsa Celia Cruz với phần nhạc đệm của José Alberto. Sự tâm đầu ý hợp ấy giúp cho phiên bản này nổi trội hơn cả phiên bản của Santana ghi âm vào năm 1973 trên album Abraxas.
Phong cách của José Alberto ảnh hưởng khá nhiều đến lớp nghệ sĩ đàn em. Jennifer Lopez và Marc Anthony khi khai thác làn điệu salsa romantica, vay mượn trực tiếp từ lối biểu diễn của José Alberto. Về phần mình, nam nghệ sĩ Jon Secada người gốc Cuba (mà tên thật là Juan Francisco Secada), đã dùng phiên bản chuyển ngữ sang tiếng Tây Ban Nha của bài Evil Wayslàm bệ phóng cho tập nhạc của anh gồm các ca khúc La Tinh để đời.
Nhạc phẩm Evil Ways ăn khách vào năm 1969 trên album đầu tay của Santana, nhưng không phải là nguyên tác của nhóm này. Bài hát do tay đàn nhạc jazz Clarence "Sonny" Henry sáng tác với sự hỗ trợ của tay trống Willie Bobo, chuyên chơi nhạc khí La Tinh. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha của bài Evil Ways mang tựa đề A Quién Vas A Querer, qua phần diễn đạt của nam ca sĩ Jon Secada gợi hứng khá nhiều từ cách chơi của José Alberto, đậm chất cha cha trong phần đầu, rồi biến tấu không ngừng theo jazz phối hợp với salsa.
Tuy nổi tiếng là một nghệ sĩ salsa, thể loại sở trường của người Puerto Rico và cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha ở bang Florida, nhưng José Alberto không quên nguồn gốc của mình là hải đảo Dominica. Vào năm 1996, anh tham gia vào một dự án âm nhạc bên cạnh Celia Cruz và nhiều tên tuổi lớn khác của dòng nhạc La Tinh. Với tựa đề Tropical Tribute to the Beatles, qua đó rất nhiều bài hát ăn khách của nhóm Tứ Quái The Beatles, được chuyển thể theo phong cách và nhịp điệu đến từ quần đảo Caribê, hiểu theo nghĩa rộng nhất.
Một cách bất ngờ, José Alberto khi ghi âm nhạc phẩm And I Love Her đã chọn hẳn thể điệu bachata tiêu biểu cho cộng hoà Dominica, thay vì chuyển thể theo nhịp điệu salsa như anh vẫn thường làm. Bản nhạc này mang tựa đề Un Gran Amor Le Di rất khác với phiên bản chuyển ngữ của ông hoàng dòng nhạc La Tinh Roberto Carlos (người gốc Brazil) là bài mang tựa đề Yo La Amo.
Tình khúc And I Love Her là một trong bài hát của The Beatles trở nên kinh điển trong tủ nhạc La Tinh. Nhưng phiên bản phối theo làn điệu bachata của José Alberto mới thật sự là để đời. Sau một thời gian cách tân dòng nhạc La tinh với gần 20 album trong đó có 12 tập nhạc solo, nhờ các bản sáng tác nguyên gốc hay là khoác áo mới cho các tình khúc vang bóng một thời, cánh chim hoàng yến (El Canario) cuối cùng trở về với nguồn cội, hót khúc tình ca bên sườn núi đợi.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140816-cha-cha-salsa-nghe-si-cach-tan-lan-dieu-la-tinh

dinsdag 5 augustus 2014

Salsa, vũ điệu La Tinh thịnh hành nhất Âu Mỹ

THỨ SÁU 01 THÁNG TÁM 2014
Salsa, vũ điệu La Tinh thịnh hành nhất Âu Mỹ
© Kutimusic
Tuấn Thảo
Theo các số liệu chính thức, chỉ riêng tại Pháp, hiện có khoảng 1300 câu lạc bộ dạy nhảy salsa, tức là cao gần gấp đôi các lớp tango. Từ năm 1986, salsa chính thức trở thành một bộ môn thể thao. Điều đó có nghĩa là người Pháp có thể học salsa để khiêu vũ giải trí, nhưng với trình độ chuyên môn, thì ta cũng có thể tham gia vào các cuộc thi đẳng cấp quốc gia hay quốc tế.
Liên đoàn khiêu vũ quốc gia (Fédération Française de Danse) của Pháp dạy ba kiểu nhảy salsa khác nhau : salsa cubana như tên gọi của nó là salsa theo phong cách của người Cuba. Đây là thể điệu thông dụng nhất tại Pháp, do các bước nhảy căn bản tương đối dễ học, hợp với thị hiếu của người Tây Âu.
Còn salsa puertoricana chẳng những là nhảy cặp mà còn phải nhảy theo một hàng, thường là theo tuyến ngang. Cách gọi này không hoàn toàn chính xác do kiểu nhảy này tuy thịnh hành, nhưng lại xuất phát từ Mỹ chứ không phải là từ Puerto Rico. Trái lại, salsa colombiana thì thật sự bắt nguồn từ Colombia, nhịp điệu dồn dập hơn đi kèm với cử chỉ điệu bộ nhanh nhẹn, mang nhiều tính biểu diễn.
Cả ba kiểu nhảy này cho thấy là tuy có cùng một gốc, nhưng vũ điệu salsa lại phát triển thành nhiều nhánh khác nhau. Về mặt âm nhạc cũng vậy, rất khó thể nào mà khẳng định chính xác nguồn gốc của salsa, do dòng nhạc này hấp thụ cùng lúc nhiều luồng ảnh hưởng, kết hợp nhiều thể điệu khác nhau, kể cả nhịp mambo và son montuno của người Cuba, bomba và plena của Puerto Rico, jazz và bebop của người Mỹ. Có lẽ vũng vì thế mà salsa hiểu theo nghĩa đen là nước xốt, hiểu theo nghĩa bóng là hoà quyện trộn lẫn.
Những bản ghi âm của tay đàn Ignacio Piñeiro cho thấy là salsa đã manh nha từ đầu những năm 1930, chữ salsa xuất hiện lần đầu tiên trong bản nhạc Echale Salsita của nghệ sĩ này, nhưng Ignacio Piñeiro đã thử nghiệm cách biểu diễn hỗn hợp nhiều thể điệu khác nhau (changuí, charanga, son montuno) trong cùng một bản nhạc (đó là bài Dónde Estabas Anoche1925). Đến những năm 1950, thời kỳ thịnh hành của mambo và bolero, điệu salsa ra đời tại quần đảo Caribê, hầu như vào cùng một thời điểm với điệu cha cha cha.
Nếu như cha cha biến tấu từ mambo, thì salsa là một cách để cho người nghệ sĩ biểu diễn theo lối phản quy tắc : ở đây cần hiểu theo nghĩa, mỗi thể điệu định ra một khuôn thước, nhưng người biểu diễn không nhất thiết phải chơi rập khuôn. Ngược lại, tùy theo vốn liếng, bản lĩnh, và ngẫu hứng trong khoảnh khắc, họ có thể biến tấu, tự kết hợp nhiều thể điệu với nhau. Lối tiếp cận phóng khoáng này do gần giống với nhạc jazz, nên sau đó tìm được sự đồng cảm, hưởng ứng của giới chơi jazz : thoát khuôn nhưng không phản ý, phá cách nhưng vẫn nguyên cốt.
Vào giữa những năm 1950, José Curbelo viết bài Mambo Cha Cha, Benny Moré đặt tựa ca khúcSon Guajiro, Cheo Marquetti thành lập nhóm Conjunto Salseros, họ hoà quyện những thể điệu sẵn có để tìm cho ra một cách diễn đạt mới, đặt nền móng cho phong trào salsa, từ đó mà lan tỏa sang khắp thế giới.
Nếu như các nhịp điệu cơ bản nhất đã ra đời tại Cuba và Puerto Rico, thì phong trào salsa (kể cả vũ điệu lẫn âm nhạc) chỉ thật sự trỗi dậy nhờ vào sự đóng góp của Hoa Kỳ, Venezuela, Mêhicô, Colombia, Panama, Cộng hoà Dominica … mỗi nước mỗi nước mỗi miền đóng góp một chút : calypso, son cubano, danzón, pachanga, boogaloo. Các nhánh sông ngòi tuôn tuôn siết chảy đổ về hợp nhất thành hồ sâu biển rộng.
Thế nhưng, sự đóng góp dồi dào và quan trọng nhất lại xuất phát từ Hoa Kỳ, hay nói cho đúng hơn là từ cac cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha sống trên đất Mỹ. Việc Hoa Kỳ công nhận vào năm 1952 bản hiến pháp của Puerto Rico, nâng vùng đất này lên thành một vùng tự trị trong liên bang Mỹ, đã tạo ra làn sóng nhập cư ồ ạt đầu tiên.
Người dân Puerto Rico đến định cư tại New York lập ra khu phố El Barrio còn được gọi là Spanish Harlem, khu vực phía đông bắc Manhattan, chiều ngang từ đại lộ thứ nhất đến đại lộ thứ năm, chiều dọc từ con đường số 96 đến 125, trở thành tâm điểm của người định cư nói tiếng Tây Ban Nha, còn được gọi là “Nuyorican”.
Làn sóng định cư thứ nhì đến từ Cuba vào năm 1959. Hòn đảo này hoàn toàn bị cô lập do lệnh cấm vận. Cộng đồng người tỵ nạn chủ yếu lập nghiệp tại New York và nhất là Miami. Ảnh hưởng của âm nhạc Cuba vào dòng nhạc salsa bắt đầu lu mờ. Salsa hấp thụ nhạc jazz của Mỹ, cũng như các luồng văn hóa đến từ quần đảo Caribê.
Salsa thật sự cất cánh trên đất Mỹ từ đầu những năm 1970, với ngày đăng quang của nữ hoàng Celia Cruz, và hàng loạt thần tượng như Tito Puente, Johnny Pacheco, Ray Barretto, Larry Harlow, Roberto Roena, Bobby Valentín, Héctor Lavoe … Họ cũng nhận được sự tiếp sức của các nghệ sĩ jazz Latinh như Eddie Palmieri và Willie Colón sau một thập niên khám phá tìm tòi với dòng nhạc bossa nova của Brazil.
Từ những năm 1980 cho tới những năm gần đây, thế hệ sau tiếp nối nỗ lực của thế hệ trước. Các nghệ sĩ như Gloria Estefan hay Ricky Martin hoà quyện salsa với pop, Jennifer Lopez và Marc Anthony chủ yếu khai thác dòng nhạc salsa romantica, Edith Lefel hoà quyện salsa với zouk, Sean Paul kết hợp salsa và reggaetton thành salsaton, các tay DeeJays thì lại chuyên hoà âm lại điệu salsa với nhạc khí điện tử để rồi gọi đó là latin house …
Sự kết hợp không ngừng đó có thể giải thích vì sao giới trẻ thời nay, cảm thấy hợp với nhạc salsa hơn là bolero cho dù rất nhiều bản bolero nổi tiếng từng được chuyển thể, hoà phối theo điệu rumba salsero. Tuy nhiên, sự hoà quyện không ngừng đó dẫn tới sự biến chất của salsa, do kết hợp không khéo nên đễ biến thành món lẩu thập cẩm.
Ngành sản xuất băng đĩa khai thác chữ salsa (cũng như chữ La Tinh) như một thương hiệu, và thảy vào bên trong nhiều thể điệu như cumbia, bachata, merengue mà thật ra chẳng ăn nhập gì với salsa. Một số nhịp điệu hỗn hợp được thực hiện theo đơn đặt hàng, chế biến theo công thức mà lại chóng quên điệu salsa chỉ quyện hồn La Tinh, khi tuôn chảy cảm xúc vô hình. nơi xuất phát ngẫu hứng thật tình.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140801-salsa-vu-dieu-la-tinh-thinh-hanh-nhat-au-my