Posts tonen met het label Thủy điện. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Thủy điện. Alle posts tonen

zondag 24 november 2013

Kiểm soát thủy điện tại Việt Nam : Chính quyền bất lực

Thứ sáu 22 Tháng Mười Một 2013

Kiểm soát thủy điện tại Việt Nam : Chính quyền bất lực

Lũ lụt tiếp tục hoành hành tại miền trung Việt Nam
Lũ lụt tiếp tục hoành hành tại miền trung Việt Nam
Reuters

Trọng Thành
Trong một phát biểu ngày hôm qua, 21/11/2013, tại Quốc hội Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận thực trạng yếu kém của việc quản lý thủy điện, đặc biệt là các đập thủy điện ở miền trung, gây thiệt hại nhân mạng và tài sản rất lớn trong mùa mưa lũ. Trận lũ lịch sử ở miền trung vào giữa tháng 11, khiến ít nhất 42 người thiệt mạng. Dư luận nghi ngờ các đập thủy điện có phần trách nhiệm lớn trong nhiều trường hợp xả nước gây chết người.


Giáo sư Nguyễn Thế Hùng tại Đà Nẳng
 
22/11/2013
 
 
Từ Đà Nẵng, Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, một chuyên gia về thủy lợi, thủy điện, cho RFI biết các suy nghĩ của ông.
Giáo sư Nguyễn Thế Hùng : Chính phủ cần phải có một quyết tâm qua hơn nữa trong việc mời các xí nghiệp cũng như địa phương, để chúng ta bố trí thêm các trạm thủy văn đầu nguồn, để chúng ta dự báo lưu lượng đến hồ cho chính xác. Đồng thời trong mùa mưa lũ chúng ta phải có đại diện giám sát của nhân dân. Rồi các chỗ nước chảy vào hồ, phải có các camera, cộng với giám sát của nhân dân ở những nơi người ta xả lũ, tràn xả lũ, thì như thế các thủy điện không bao giờ người ta dám xả sai quy trình hết.
Còn việc xây dựng các quy trình thì rất dễ dàng, các nhà khoa học Việt Nam xây dựng được không có khó khăn gì.
RFI : Xin Giáo sư cho biết nhận định về phản ứng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận trước Quốc hội trách nhiệm của chính phủ trong tình trạng các đập thủy điện, thủy lợi gây hại ?
GS Nguyễn Thế Hùng : Chuyện này là trách nhiệm của chính phủ. Năm nào cũng lũ lụt gây thiệt hại nhiều sinh mạng và tốn tiền hàng tỷ, tỷ. Rồi vấn đề chặt phá rừng. Không phải chỉ có thủy điện người ta mới chặt phá, mà bình thường không có thủy điện người ta vẫn chặt phá.
Cái Nhà nước này như cái Nhà nước chết, nghĩa là ‘‘trống đánh xuôi, kèn thổi ngược’’. Không có một quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước.
Những gì mà Nhân dân người ta phản ánh lên thì Nhà nước phải lắng nghe, và phải đáp ứng những gì chính đáng của nguyện vọng Nhân dân, thì phải chăm lo. Chứ năm nào cũng nói là lũ lụt.
Mà cái chuyện để chúng ta ứng phó, chẳng hạn bố trí các trạm thủy văn, rồi bố trí các đại diện của Nhân dân, rồi các camera quan sát ghi nhận các dòng chảy về hồ thì không có. Rồi việc bảo vệ rừng….
Cứ nói tới, nói lui, tôi nghĩ là năm tới mưa rồi cũng sẽ tiếp tục như thế.
RFI : Giáo sư nghĩ thế nào về nhận định của Phó Thủ tướng phụ trách thủy điện, ông Hoàng Trung Hải, rằng trong đợt lũ mới nhất tại miền trung, không phát hiện thấy đập thủy điện nào xả nước sai quy trình ? Trong thực tế hiện nay, chính quyền - trung ương và địa phương - có kiểm tra được việc xả nước hay không ?
GS Nguyễn Thế Hùng : Về thủy điện, phải biết lưu lượng vào hồ, lưu lượng chảy ra, phải biết mực nước hồ, thì bắt đầu mới biết (việc đập thủy điện) xả lũ lớn hơn hay không. Chứ còn tình trạng thiếu số liệu đầu vào như thế, thì địa phương làm sao họ đánh giá được.
Thứ hai là chuyện địa phương của mình có phải là đại diện của địa phương hay không ? Chính quyền bây giờ nhiều chỗ bị các nhóm lợi ích lobby (chi phối) thì sao ? Cứ nói như thế mà nói hoài, suốt năm nay qua năm khác.
Thứ nhất là phải đầy đủ dữ liệu. Mà muốn như thế Nhà nước phải có biện pháp mạnh, để xây dựng các trạm thủy văn, cũng như bố trí những người thực sự đại diện của Dân làm việc giám sát. Và quyền chính trị của họ phải bất khả xâm phạm. Một trong những nguyên tắc là tôi muốn nói được, thì phải bảo đảm sinh mạng chính trị của tôi. Chứ còn người ta không được đảm bảo sinh mạng chính trị, không được đảm bảo đời sống, mà cứ nói chuyện thế này thế khác.
Nói một chuyện không thể nào chấp nhận được, mà cứ nói hoài như vậy, hết năm nào qua năm khác thì rất là khó nghe.
RFI: Xin chân thành cảm ơn Giáo sư Nguyễn Thế Hùng.
tags: Châu Á - Lũ lụt - Môi trường - Năng lượng - Thiên tai - Thủy điện - Việt Nam - Xã hội
 
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131122-kiem-soat-thuy-dien-tai-viet-nam-gioi-chuyen-mon-len-an-chinh-quyen-bat-luc

donderdag 21 november 2013

Lào : Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông

Thứ tư 20 Tháng Mười Một 2013
Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông
Vùng Thác Khone (xứ sở 4.000 hòn đảo), gần đập Don Sahong. Ảnh Mạng sông ngòi quốc tế (International Rivers)
Vùng Thác Khone (xứ sở 4.000 hòn đảo), gần đập Don Sahong. Ảnh Mạng sông ngòi quốc tế (International Rivers)
Trọng Thành
Tình hình trên con sông Mêkông xuyên qua bốn nước Đông Nam Á lục địa lại nóng lên, với việc chính phủ Lào chính thức khởi công xây dựng con đập thứ hai Don Sahong trên dòng chính, vào đầu tháng 10/2013, tiếp theo đập Xayaburi tai tiếng. Sau tin này, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế và khu vực đã đồng loạt lên án.
Vì sao dự án đập Don Sahong lại bị phản đối mạnh ? Nếu được xây dựng, con đập này để lại những hệ quả gì cho khu vực hạ lưu ? Ủy hội sông Mêkông và chính phủ các nước thành viên, đặc biệt là Việt Nam và Lào có vai trò gì trong vấn đề này ? Giới khoa học và môi trường Việt Nam phản ứng ra sao ? Đây là những câu hỏi đặt ra trong tạp chí Khoa học của RFI tuần này.
Khách mời của tạp chí Khoa học RFI trong chương trình hôm nay là Giáo sư Võ Tòng Xuân (nguyên Hiệu trưởng Đại học An Giang), Tiến sĩ Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ), cố vấn Mạng Lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), Thạc sĩ Lê Thị Thu Sửu, điều phối viên Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam và Ông Trần Anh Thư, Phó giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh An Giang.
Xứ sở thần tiên 4.000 hòn đảo : Yết hầu của dòng Mêkông
Dự án Don Sahong là một trong hơn 10 dự án đập thủy điện trên dòng chính hạ lưu Mêkông, chủ yếu là trên đất Lào. Mặc dù, Don Sahong là đập tương đối nhỏ, dự kiến công suất chừng 260 MW, tức là chỉ bằng khoảng một phần năm công suất của đập Sayaburi, nhưng việc xây dựng đập này gây một chấn động hết sức lớn, bởi vị trí hết sức đặc biệt của Don Sahong.
Phim tài liệu "The Saving the Mekong" (Cứu dòng Mêkông) của Eureka Films, với nhiều hình ảnh về xứ sở 4.000 hòn đảo

Don Sahong nằm trong khu vực Siphandone (hay "Si Phan Don"), tỉnh Champasak (miền nam Lào), chỉ cách biên giới Lào - Campuchia khoảng 1km. Si Phan Don trong tiếng Lào có nghĩa là « xứ sở của 4.000 hòn đảo ». Chính tại đây dòng sông Mêkông trên cao nguyên Bolaven (Nam Lào) chia thành nhiều nhánh lớn, trước khi đổ xuống đồng bằng Cam Bốt qua nhiều thác nước, ghềnh nước, nổi tiếng với tên gọi chung là « Thác Khone », cao hơn 20 mét, với bề ngang tổng cộng khoảng 10 km (được coi là thác nước lớn nhất vùng Đông Nam Á).
« Don Sahong » là tên một trong các hòn đảo lớn, nơi dự kiến xây đập. Dọc theo Don Sahong là một hẻm nước cùng tên (« Hoo Sahong ») dài khoảng 5 km. Chính tại hẻm này mà dự án đập bị phản đối đang bắt đầu được chính phủ Lào cho xúc tiến xây dựng.
Ngày 01/11/2013, Liên minh cứu sông Mêkông (The Save the Mekong Coalition), gồm 19 tổ chức khoa học, hiệp hội bảo vệ môi trường nổi tiếng của thế giới và khu vực, đã gửi thư ngỏ đến Thủ tướng bốn nước Cam Bốt, Lào, Thái Lan và Việt Nam – bốn quốc gia thành viên Ủy hội sông Mêkông (MRC) - yêu cầu ngừng ngay dự án xây đập Don Sahong, đồng thời kêu gọi các công dân trong khu vực tham gia ký tên. Trong Liên minh cứu sông Mêkông có Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế (IRN/ International Rivers Network), Quỹ bảo vệ thiên nhiên (WWF/ Worldwide Fund for Nature), hay Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VNR)...
Ngày 16/11, Viet Ecology Foundation (VEF), một tổ chức NGO về môi trường có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, cũng có một thư ngỏ gửi Thủ tướng Lào yêu cầu ngưng dự án đập, đặc biệt chỉ trích bản báo cáo tác động môi trường của công ty National Consulting Company, cố vấn cho chủ thầu Mega First Corporation (phụ trách xây đập Don Sahong), phủ nhận các tác động trên ngư sinh của đập này và không thẩm định tác động xuyên biên giới xuống hạ lưu trên lãnh thổ Cam Bốt và Việt Nam.
Cá mất, nước kiệt…
Trước hết xin mời quý vị nghe tiếng nói của bà Lâm Thị Thu Sửu, điều phối viên Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam.
Lâm Thị Thu Sửu : Khi chúng tôi nhận được tin chính phủ Lào sẽ xây đập Don Sahong trên dòng Mêkông, thì chúng tôi rất là lo ngại về tác động và ảnh hưởng của đập này đối với khu vực hạ lưu Mêkông, đặc biệt là các cộng đồng ngư dân ở Campuchia và nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.
Dòng Mêkông, Cam Bốt : Cá heo nước ngọt Irrawaddy, trong danh sách đỏ các động vật có nguy cơ tuyệt chủng.
Photo : WWF
Đã có những nghiên cứu cụ thể về các tác động do việc đập Don Sahong nếu được xây dựng sẽ ảnh hưởng đến đường di cư của cá. Nó sẽ chặn đường di cư của cá, từ thượng lưu cho đến hạ lưu và ngược lại, và nó sẽ hạn chế nguồn cá về Biển Hồ - Tongle Sap (Campuchia) và đồng bằng Cửu Long Việt Nam. Ngoài ra, nếu tính tới các tác động tích lũy cộng dồn, nếu xây đập Don Sahong này, nằm trong hệ thống 12 đập trên dòng chính Mêkông, thì mức độ của nó càng nghiêm trọng hơn, lượng phù sa cho việc trồng lúa ở đồng bằng Cửu Long cũng bị ảnh hưởng rất nặng nề.

Về tác hại của các đập thủy điện trên dòng chính Mêkông, giáo sư Võ Tòng Xuân đặc biệt nhấn mạnh đến nạn thiếu nước tại đồng bằng Cửu Long.

Võ Tòng Xuân : Hiện nay, nước ở đồng bằng Cửu Long để phục vụ cho vụ đông xuân đã bắt đầu thiếu rồi. Chúng ta thấy trong mùa khô, nước ngọt thiếu nên nước mặn vào khá sâu phía trong. Nếu mà có thêm những đập mới nữa, thì tôi e nước sông Cửu Long sẽ càng thiếu hơn, khiến vụ đông xuân sẽ bị ảnh hưởng có thể rất tồi tệ.
Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long - Mêkông
DR
Chúng ta biết hiện nay, ngoài các đập Trung Quốc làm ở Vân Nam, thì đập Sayaburi đang được thực hiện. Năm năm gần đây, ở Đông Bắc Thái Lan cũng đang được mở rộng, để trồng các giống lúa ngắn ngày trong mùa khô. Và hiện nay, tại vùng miền nam của Lào, nhất là ở tỉnh Champasak, thì chính phủ Lào đang cho mở rộng lúa mùa khô. Đồng thời bên Campuchia lúa vụ đông xuân cũng đang được mở rộng.

                            Bỏ tham vấn láng giềng : Lào nại cớ « dòng nhánh »

Theo nhiều nhà quan sát, điều gây bất ngờ và phản đối mạnh trong dự án xây đập Don Sahong là phía Lào đã bỏ qua giai đoạn « Tham vấn trước », điều phối viên Mạng Lưới Sông Ngòi Việt Nam Lâm Thị Thu Sửu cho biết.  

Lâm Thị Thu Sửu : Hiệp định Mêkông năm 1995 nói rõ rằng tất cả các dự án có sử dụng nước trên dòng chính Mêkông, thì đều phải áp dụng một quy trình gọi là quy trình thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận, tiếng Anh gọi là PNPCA. Các tài liệu từ trước đến nay cho biết rằng đập Don Sahong là một trong 12 đập trên dòng chính Mêkông, tức là nó phải tuân thủ quy trình này. Tuy nhiên, Lào cho rằng, đập Don Sahong chỉ nằm trên một dòng nhánh của Mêkông, và họ chỉ có việc thông báo cho các thành viên trong Ủy hội này.

Là một người theo dõi sát các diễn biến xung quanh các nghiên cứu về hệ quả xây đập đối với dòng Mêkông và vai trò của Ủy hội sông Mêkông, cũng từ phía chính phủ Việt Nam và xã hội dân sự Việt Nam, ông Trần Anh Thư chia sẻ.  
 
Trần Anh Thư : Nói chung cái chủ đề này đã làm rất nhiều hoạt động, ví dụ thông qua một số dự án, do các nhà tài trợ của MCA (Mỹ), cũng đã có tập hợp lại các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, người nông dân, để đánh giá các tác động, ảnh hưởng của các đập thủy điện đối với môi trường sinh thái, an sinh đối với người dân ở khu vực hạ lưu. Từ những báo cáo đó, chúng tôi cũng tập hợp, đề xuất cho Ủy ban sông Mêkông quốc tế, rồi đề xuất cho chính phủ Việt Nam. Bộ Tài nguyên – Môi trường, cơ quan chủ quản, thì cũng đã thuê đánh giá tác động của thủy điện. Đồng thời ở góc độ cộng đồng (các nước hạ lưu Mêkông) cũng đã hình thành một trang web về Mêkông : savethemekong.org, ở đó cũng có đưa ra các diễn đàn.

                                                   Ủy hội Mêkông thiên vị thủy điện

Tuy nhiên tôi thấy rằng, tất cả những việc này cũng chỉ ở mức độ đánh động thôi. Nếu về chính thức, Ủy ban sông Mêkông cũng có một chương trình nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường của các đập thủy điện trên dòng Mêkông. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị về cái này, thì tôi cho rằng các báo cáo này chưa đánh giá hết được tác động, mà có vẻ vẫn còn thiên lệch, nghĩa là còn bênh vực cho quan điểm xây dựng các đập thủy điện. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã có một nghiên cứu khác, đánh giá tác động môi trường mang tính độc lập hơn về các đập thủy điện.

Bản thân tôi cho rằng, vấn đề quản lý tài nguyên nước của Mêkông, thì phải học hỏi kinh nghiệm của Úc (lưu vực Murray-Darling), của Châu Âu trên lưu vực sông Danube. Họ cũng đã có những bài học trả giá cho vấn đề này, và hiện nay họ cũng đã tìm được giải pháp tốt trên tinh thần chia sẻ nguồn lợi của tài nguyên bình đẳng và các nước cùng có lợi, thì mới ra được kết quả tốt. Vấn đề là phải ngồi lại với nhau, để chia sẻ tài nguyên nước, trên tinh thần các nước đều được hưởng lợi và bảo đảm an toàn về tài nguyên nước cho hạ lưu.

                                                               Bi quan bao trùm

Về triển vọng tìm ra một giải pháp mang tính công bằng, hợp lý trong vấn đề các dự án đập thủy điện trên sông Mêkông, cũng như nhiều nhà khoa học khác, Giáo sư Võ Tòng Xuân có tâm trạng bị quan về khả năng tác động đến quyết định xây đập của Lào. 
 
Võ Tòng Xuân : Cái này không tác động được, tại vì ngay đập Xayaburi kia, thì cả thế giới cũng đã lên tiếng, Việt Nam cũng lên tiếng, nhưng mà cuối cùng họ cũng tiếp tục làm. Mình cũng không thể cấm họ được. Giống như các con đập trên sông Cửu Long ở phần Vân Nam (Trung Quốc) cũng thế. Mặc dầu, dư luận liên tục cảnh báo những nguy cơ của nó. Không có một sức mạnh nào, một cái cơ quan pháp luật nào, để mà ngăn không cho họ làm hết. Chỉ hy vọng là dư luận quốc tế nói lên thêm, đồng thời những cơ quan cho vay tiền để thực hiện những công trình đó, thì chính các cơ quan đó cũng phải thấy rằng họ cũng có một phần tham gia trong cái tác hại này, họ sẽ phải nghĩ kỹ, trước khi cho vay để thực hiện những cái đập này.

Giáo sư Võ Tòng Xuân và nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường khác, dù thất vọng, nhưng đặt hy vọng ít nhiều vào các ảnh hưởng từ phía các định chế quốc tế và sự thức tỉnh của các cơ sở cấp tín dụng cho những dự án xây đập, trong bối cảnh Ủy hội sông Mêkông và các chính phủ dường như đều tỏ ra bất lực, trước việc các đập thủy điện cứ lần lượt được tiến hành, bất chấp sự phẫn nộ của xã hội dân sự. Về phần mình, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cảnh báo nguy cơ tan vỡ của hiệp ước sông Mêkông, vốn dựa trên nguyên tắc cùng quản lý các nguồn tài nguyên chung và cùng phát triển tiềm năng kinh tế của con sông này. Ông Lê Anh Tuấn nhấn mạnh đến việc thức tỉnh ý thức của người dân tại các khu vực có nguy cơ bị việc xây đập đe dọa, với sự hỗ trợ của giới khoa học, giới quản lý, để tự họ quyết định các biện pháp hành động nhằm hóa giải các nguy cơ tàn phá dòng Mêkông, đang ngày càng trở nên sát sườn.
Vị trí dự án đập Don Sahong, đập cuối cùng trong số các dự án đập trên dòng chính Mêkông ở Lào, giáp biên giới với Cam Bốt
Photo International Rivers

Lê Anh Tuấn : Tôi thấy là đây là một vấn đề nan giải. Ở phía Lào, một mặt họ quyết tâm xây dựng đập thủy điện, mặc dầu đã có can ngăn bước đầu của chính phủ Việt Nam, chính phủ Campuchia, cũng như sự phản đối mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự, đặc biệt ở Thái Lan, ở Campuchia và tiếng nói của Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam ở Việt Nam. Bây giờ đập Don Sahong, giống như là con cờ đômino thứ hai trên chuỗi đập dự kiến, nó đổ.
Bây giờ, tôi thấy là vấn đề này nó đang bế tắc, nó ảnh hưởng đến tinh thần Mêkông, tức là sự hợp tác, chia sẻ những quyền lợi và chia sẻ rủi ro, mà hiệp định Mêkông đã xây dựng được. Tôi nghĩ rằng một lúc nào đó, nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, thì tinh thần Mêkông đó có thể bị ảnh hưởng nặng nề, có thể bị sụp đổ, nếu chúng ta không có một giải pháp căn cơ để giải quyết, trên cơ sở đối thoại giữa các bên với nhau.
Thông tin và việc tìm kiếm thỏa hiệp trong đàm phán
Theo tôi nghĩ, chính phủ các nước phải gặp gỡ trao đổi thẳng thắn qua các đàm phán thỏa thuận, và mỗi bên phải có sự nhân nhượng về mặt quyền lợi, để đảm bảo quyền lợi sống của các dân tộc, các quốc gia khác không bị ảnh hưởng.
Trong tình trạng các chính phủ liên quan thì đang lúng túng như vậy, thì từ phía giới khoa học quan tâm đến dòng sông Mêkông, có những đề xuất nào mới mang tính riêng biệt trong vấn đề này ?
Lê Anh Tuấn : Thực ra những thông tin cho đến giờ vẫn còn rất mơ hồ. Chúng tôi cũng không nắm được các vấn đề về kỹ thuật (của đập Don Sahong). Rồi sự đánh giá về tác động của đập cũng chưa đầy đủ. Cái đó do là chính phủ Lào cũng không hoàn toàn minh bạch trong thông tin này. Tuy nhiên, chúng tôi cũng ráng thu thập được càng nhiều càng tốt thông tin, và chúng tôi cũng sẽ có cơ hội chúng tôi tập hợp lại các thông tin đó để trao đổi lẫn nhau.
Để chúng tôi làm một định hướng, và cái định hướng này chúng tôi sẽ kiến nghị lên chính phủ, để chính phủ có những tiếng nói mạnh mẽ hơn, hoặc thay đổi chiến lược đối phó của mình, hoặc là có thể có những giải pháp thương lượng nào đó với Lào, liên quan đến vấn đề các đập thủy điện trên Mêkông.
Đấy là về phía giới khoa học và chính phủ Việt Nam, còn về góc độ của những người dân trên lưu vực Mêkông, nơi chịu ảnh hưởng (hoặc có nguy cơ) của các đập thủy điện, thì họ nhận thức như thế nào về việc này ?
Lê Anh Tuấn : Khi đập Sayaburi dự kiến làm, thì chúng tôi tổ chức nhiều cuộc hội thảo, và tuyên truyền cho người dân ở đồng bằng sông Cửu Long biết được những điều này. Những nhóm mà chúng tôi chú ý tới là những người nông dân sản xuất lúa, nuôi cá ở đồng bằng Cửu Long, các cấp chính quyền ở địa phương, cấp tỉnh, cấp huyện. Rồi giới khoa học, chúng tôi tổ chức trong các trường Đại học. Đồng thời cung cấp thêm thông tin liên quan đến các đập thủy điện này. Tuy nhiên, cho đến bây giờ thì họ cũng mới chỉ nắm được câu chuyện về thủy điện một cách chung chung thôi, còn cụ thể thì họ cũng rất mơ hồ. Bởi vì, thực ra những thông tin này đến với người dân, thì không được đầy đủ và minh bạch cho lắm. Cái đó chúng tôi cũng lo ngại. Và có thể một khi mà họ biết được đầy đủ, thì vấn đề có thể đã muộn rồi.
Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (DR)

Giới khoa học trong khu vực, theo tôi biết, hầu hết có quan tâm và lo ngại. Nhưng số đó không nhiều lắm, các điều kiện để tập hợp tất cả tiếng nói của các nhà khoa học đến bây giờ vẫn chưa đầy đủ, và hoạt động của giới này cũng chưa đủ mạnh để tạo ra các tác động lớn.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang tìm cách trao đổi với nhau càng nhiều càng tốt các thông tin chúng tôi có, và bày tỏ ra quan điểm của mình với nhau để cùng thảo luận cho đầy đủ hơn.
Cư dân lưu vực Mêkông đi tìm một tiếng nói chung
Mới gần đây, chúng tôi có xây dựng một chương trình đào tạo về quản trị thủy điện bền vững thông qua dự án JIZ (Đức) hay M-Power (Thái Lan). Chúng tôi tìm cách nâng cao nhận thức cho giới giáo viên các trường đại học dọc theo sông Mêkông. Sắp tới đây là các hoạt động tập huấn cho các tổ chức xã hội dân sự, rồi chúng tôi cũng sẽ tiếp tục làm với các cấp chính quyền, và cuối cùng là nhóm doanh nghiệp tư nhân. Tất cả các chương trình này chỉ là chương trình khởi điểm ban đầu. Mục đích của chúng tôi là, khi xây dựng các chương trình này, là tạo ra các tiếng nói chung, sự hiểu biết chung về vấn đề (Diễn đàn nhân dân sông Mêkông do Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam tổ chức, đầu tháng 8/2013).
Bởi vì thật sự ra là, hiểu về tác động của các thủy điện trên các hệ sinh thái hoặc là sinh kế của người dân, thì nhiều người cũng chưa hiểu nhiều lắm. Tôi hy vọng rằng, thông qua chương trình này, mọi người sẽ hiểu được rõ ràng hơn và từ đó họ có cơ sở để lập luận và có thể có những chương trình hành động cụ thể để gây tác động rộng rãi hơn.
Rừng ngập nước ở Stung Treng (Cam Bốt) : Khu bảo tồn quốc tế theo hiệp ước Ramsar. Rừng này bị dự án Don Sahong đe dọa. (DR)

Tức là cái tinh thần Mêkông, trước kia do các chính phủ hợp tác lại để thống nhất với nhau, thì thật ra ảnh hưởng của nó rất bị giới hạn, do nhiều lý do. Tinh thần Mêkông thực sự sâu sắc có lẽ phải bắt đầu từ những hợp tác, đào tạo như Tiến sĩ vừa mô tả ? Hy vọng là cái đó mới có thể dẫn đến các kết quả bền vững, phải không ạ ?
Lê Anh Tuấn : Đó là mục đích của chúng tôi. Hồi nào giờ, quan điểm về tinh thần Mêkông nằm ở cấp chính phủ, còn đi xuống các cấp…, thì rất mờ nhạt và bị giới hạn. Thì thông qua chương trình này, chúng tôi hy vọng là các nước trên sông Mêkông, kể cả các nước như Trung Quốc chẳng hạn. Người dân ở đó họ sẽ có tiếng nói chung trong việc nhìn nhận về vấn đề Mêkông, để có thể là hiểu về nhau dễ hơn và có thể dễ dàng trao đổi với nhau hơn.
Chúng tôi mong mỏi rằng, mọi người nghe đài, bạn nghe đài, có cơ hội ủng hộ cho những hoạt động của các nhóm môi trường và người dân ở khu vực sông Mêkông để làm sao đảm bảo rằng cuộc sống của người dân không bị xáo trộn nhiều và sự bền vững của hệ sinh thái sông Mêkông được bảo tồn. Hy vọng là cái đó sẽ đảm bảo được hòa bình và thịnh vượng trên sông Mêkông được bền vững, người dân không bị những tác động lớn do những thay đổi về mặt môi trường, về mặt sinh thái.
***
Don Sahong, dự án đập thủy điện mà chính phủ Lào vừa quyết định thực hiện, gây rất nhiều lo ngại cho giới bảo vệ môi trường và dân cư các khu vực hạ lưu, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long. Việc chính phủ Lào khăng khăng tiến hành dự án, bất chấp ý kiến phản đối của các nước láng giềng, không tuân thủ các quy định được thỏa thuận trong Hiệp ước Mêkông 1995 về thủ tục tham vấn và nghiên cứu điều tra khách quan về các tác động môi trường khiến công luận lo ngại về sự bất lực của cơ chế liên chính phủ của Ủy hội sông Mêkông (MRC), nếu không muốn nói là sự thiên vị của tổ chức này.
Trong bối cảnh này, liệu giới khoa học, giới môi trường các nước hạ lưu Mêkông cùng dân cư các khu vực đang bị các đập thủy điện đe dọa có đủ sức mang lại một tiếng nói có trọng lượng ? Nạn « thủy điện gây lũ » ở khu vực miền Trung Việt Nam mới đây cho thấy, những thiệt hại nhãn tiền và sự thức tỉnh cùng những áp lực của xã hội có thể buộc những người cầm quyền bắt đầu phải thay đổi chính sách « sống chết mặc bay », đặt quyền lợi của nhóm phái lên trên lợi ích của cả một cộng đồng.
RFI xin chân thành cảm ơn Bà Lâm Thị Thu Sửu, Ông Trần Anh Thư, Giáo sư Võ Tòng Xuân và Tiến sĩ Lê Anh Tuấn đã dành thời gian cho chương trình.
Tin bài liên quan
Lào sắp xây thêm đập trên dòng chính sông Mêkông
WWF chỉ trích Lào tiếp tục xây đập thủy điện Xayaburi
Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu
Tác động của đập thủy điện hạ lưu Mekong lên đồng bằng Cửu Long
Việt Nam không còn chống dự án đập Xayaburi của Lào
Tuy Lào đã sửa đổi, đập Xayaburi vẫn gây tác hại cho Việt Nam
Chính phủ Lào vẫn cho phép xây đập thủy điện Xayaburi
Đập Xayaburi trên dòng Mêkông : Chính quyền Lào bị tình nghi "tiền hậu bất nhất"
Chính quyền Lào khẳng định tạm hoãn xây dựng đập thủy điện Xayaburi
Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết bảo vệ sông Mekong
Việt Nam và Ủy hội Sông Mêkông « dạy » Trung Quốc một bài học quản lý
Xayaburi: Lào xây đập, Trung Quốc hưởng lợi ?
Ủy hội Sông Mêkông : cuộc họp quan trọng về đập Xayaburi của Lào
Nhà nhiếp ảnh Lâm Đức Hiền : hành trình trên sông Mêkông
Ngược thác Khone : Bí mật của sự đa dạng sinh học trên dòng Mêkông
"(...) Sông Mekong là sông có sự đa dạng sinh học của các loài cá là cao nhất trong các sông ở Á châu. Sản lượng đánh cá thuộc hạng cao nhất trên thế giới và vì thế sự đóng góp của sông Mekong vào dinh dưỡng và an ninh lương thực trong vùng rất là quan trọng. Trong nhiều vùng ở lưu vực phía trên và dưới thác Khone, hơn 80% lượng protein tiêu thụ là từ cá và thủy sản.
Thác Khone là nút điểm mà các loài cá thiên cư đi từ hạ nguồn ở Cam Bốt và Việt Nam lên thượng nguồn ở Lào để sinh sản. Để vượt lên thượng nguồn các loài cá dùng các kênh (hay hẻm) nước (channel). Ngay tại thác Khone chỉ có vài hẻm nước là cá có thể lội lên được đến thượng nguồn ở Lào, trong đó có hẻm nước Hou Sahong dài 7km từ đảo Don Sahong (Don tiếng Lào có nghĩa là đảo) đến đảo Don Sadam là quanh năm cá có thể lội ngược vượt dòng nước vì hẻm nước này đủ rộng trong mùa khô và không có thác nào trên chiều dài hẻm so với các hẻm khác.
Gần đây trong một bài nghiên cứu khoa học trên tạp chí “Critical Asia Studies”, ông Ian Baird cho biết có nhiều loài cá thiên cư từ Cam Bốt, Việt Nam qua thác Khone cho đến tận Vientiane, các vùng Thái Lan ở kế cận, và bắc Lào... "
Trích bài "Dự án xây đập thủy điện Don Sahong (Nam Lào) và ảnh hưởng môi trường" của nhà nghiên cứu môi trường Nguyễn Đức Hiệp. 

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20131120-thuy-dien-don-sahong-nguy-co-tan-vo-cua-hiep-uoc-mekong
 
 

donderdag 17 oktober 2013

"Lũ" thủy điện miền Trung : Nguyên nhân và giải pháp

Thứ tư 16 Tháng Mười 2013
"Lũ" thủy điện miền Trung : Nguyên nhân và giải pháp
(DR)
Trọng Thành
Các tỉnh miền Trung Việt Nam bắt đầu vào mùa bão năm nay lại tiếp tục hứng chịu nhiều thiệt hại về người và của. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, không chỉ thiên tai bão lũ gây lo sợ, mà người dân tại khu vực này còn phải gánh chịu thêm những thảm họa bất ngờ do các hồ đập thủy điện (cũng như các hồ chứa nước thủy lợi) gây ra. Lũ do người chập với lũ do trời là nguyên nhân gây ra nhiều cái chết oan ức và thiệt hại vật chất vô cùng lớn tại nhiều tỉnh miền Trung. Các câu hỏi chính đặt ra là : Vì sao nhiều hồ chứa tại miền Trung là những nguồn gốc tiềm tàng của các trận lũ nhân tạo ? Và chính quyền trung ương có trách nhiệm gì trước thực trạng đáng buồn này ?
Riêng sau trận bão số 10 cuối tháng 9 vừa qua, đã xẩy ra một loạt vụ thủy điện xả nước trùng với thời gian lũ do mưa bão. Ngày 30/09, hồ thủy lợi Vực Mẫu (Nghệ An) xả nước khiến 2 người chết, 1 người mất tích ; trong khoảng từ ngày 01/10 đến 04/10, các thủy điện Đăk Mi 4, Sông Tranh 2, A Vương và một số thủy điện khác trong tỉnh Quảng Nam đồng loạt xả nước, gây ngập lụt đến hai mét trên cả một vùng rộng lớn, ít nhất 3 người chết ; cũng ngày 04/10, 1 người chết tại tỉnh Phú Yên, trong thời gian thủy điện Sông Ba xả nước ; tại Hà Tĩnh cùng ngày, thủy điện Hố Hô xả lũ khiến 2 người chết và 1 người mất tích...
Khác hẳn so với cách đây bốn năm, vào thời điểm nhiều người chết trong vụ thủy điện A Vương và một số thủy điện khác xả lũ, khi các cơ quan quản lý lên tiếng bác bỏ trách nhiệm, thì trong những vụ chết người mới đây, công luận ngày càng nhất trí hơn trong việc khẳng định phần trách nhiệm của việc các hồ chứa xả lũ lớn gây tai nạn chết người.
« Lũ thủy điện », « Khổ vì thủy điện », « Thủy điện đang hủy hoại cuộc sống của người dân như thế nào? » hay « Nhấn chìm cả thị xã vẫn đúng quy trình ! »… là những hàng tít không hiếm gặp trên báo chí trong nước, cảnh báo nguy cơ thủy điện giết người.
Sau thập niên phát triển ồ ạt thủy điện để đáp ứng khẩn cấp nhu cầu phát triển kinh tế, cho đến nay Việt Nam đã có một mạng lưới nhà máy thủy điện rộng lớn, chiếm tới khoảng 40% tỷ trọng điện toàn quốc. Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận của loại hình năng lượng tái tạo này, thủy điện – đặc biệt tại khu vực miền Trung với những đặc thù về địa hình, sông ngắn, dốc, lưu vực nhỏ, hễ mưa lớn hầu như đều có lũ – là một mối họa lơ lửng. Nhiều người ví hàng nghìn hồ chứa tại các tỉnh miền Trung, từ Thanh Hóa tới Khánh Hòa, là « những quả bom nước khổng lồ » treo lơ lửng trên đầu người dân ở hạ lưu.
Bên cạnh vấn đề chất lượng hết sức đáng ngờ của rất nhiều công trình, được báo chí trong nước mô tả cặn kẽ, nhiều nhà chuyên môn còn đặc biệt chỉ ra : Thiếu quy trình xả lũ an toàn cho hạ du, cùng sự yếu kém của khâu dự báo lưu lượng nước từ thượng nguồn, hay việc « ăn gian » dung tích phòng lũ trong thiết kế hồ chứa (Flood prevention volume of reservoir), là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạn lũ do người nhập vào lũ do trời, gây ra bao thảm họa không đáng có.
Trong tạp chí Khoa học về vấn đề « ''Lũ'' thủy điện miền Trung : Nguyên nhân và giải pháp » tuần này, sau đây chúng tôi xin chuyển đến quý vị tiếng nói của Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, một chuyên gia về thủy lợi - thủy điện, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng.
Giáo sư Nguyễn Thế Hùng (Đà Nẵng)
 
16/10/2013
 
 
Quy trình xả lũ không hợp lý
GS Nguyễn Thế Hùng : Tôi thấy việc quy hoạch thủy điện ở Việt Nam có một vấn đề là, đáng ra phải quy hoạch, tính toán chi ly hơn ; đo đạc về địa hình, tính toán về thủy văn và tất cả các vấn đề hiệu quả kinh tế - kỹ thuật đáng lẽ phải chi ly hơn. Nhưng hiện nay tôi biết được, nhiều công trình được làm một cách vội vàng, đánh giá tác động môi trường không đầy đủ, vừa thiết kế vừa thi công xen kẽ, ví dụ như sông Tranh 2.
Đó là về phần các luận chứng kinh tế - kỹ thuật khi thi công công trình, còn khi vận hành, thì các nước tiên tiến có các quy định về liên hồ chứa, có các luật để bảo đảm việc này, còn Việt Nam chưa làm được như thế, nên khi lũ về thì chưa có quy trình xả lũ hợp lý, một số hồ không có dung tích phòng lũ. Cho nên mấy năm qua lũ lụt gây thiệt hại về người và của ở miền Trung rất nhiều. Báo chí, rồi người dân rất là bất bình đối với việc xả lũ như thế. Hiện nay nhà nước bước đầu đã ban hành các qui trình xã lũ.
Hình như Việt Nam không có đập nào có bố trí quy trình cứu trợ khi đập vỡ
Kỹ sư Đặng Đình Cung : Dù nghiên cứu thiết kế và xây dựng kỹ đến đâu chăng nữa, thì cũng có một xác suất nào đó một đập bị vỡ. Theo tường thuật tai nạn đăng trên các báo trong nước thì có thể khẳng định rằng chính quyền nơi có đập bị vỡ đã không chuẩn bị sẵn một quy trình đối phó với một tai nạn như vậy. Hình như ở Việt Nam không có đập nào mà có bố trí quy trình cứu trợ khi có tai nạn đập vỡ.
Đập thủy lợi là những công trình (thuộc loại) vững chắc nhất của nhân loại. Nhưng tỷ lệ những đập bị vỡ ở Việt Nam cao bất thường so với trung bình thế giới. Chúng tôi không đề cập đến hiện tượng tham nhũng rút ruột công trình, mà chỉ nói đến thiết kế sai hay/và xây cẩu thả. Nếu anh xây đập như là nông dân đẩy đất để làm bờ ruộng thì đập của anh sẽ không bao giờ vững chắc được.
 

RFI : Thưa Giáo sư, trước mắt làm thế nào khắc phục được các thiệt hại khủng khiếp do thủy điện xả lũ không đúng quy trình, trong mùa lũ năm nay và thời gian tới ?
GS Nguyễn Thế Hùng : Nhà nước cần phải đưa ra những quy định chặt chẽ nhằm mục đích tối quan trọng là bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân vùng hạ lưu, vì mình làm thủy điện là mục đích để phục vụ công nghiệp, phục vụ đời sống của dân chúng. Nếu mình làm thủy điện vì lợi ích của tập đoàn, nhưng rồi làm thiệt hại cho lợi ích của dân chúng, thiệt hại về nhân mạng và tài sản, thì đó là mâu thuẫn. Trước mắt, chính phủ cần phải có quy định rõ ràng, về việc quản lý các hồ chứa trong mùa mưa lũ.
Thứ nhất phải có những dự báo và quy trình xả lũ bắt buộc, hợp lý, để giúp cho hạ lưu không có những đợt lũ đột ngột, khiến dân chúng không đề phòng kịp.
Không đủ trạm đo thủy văn trên thượng nguồn
Tôi biết, một trong những khó khăn là như thế này. Năm nào cũng bảo là lũ lụt về làm thiệt hại hàng tỷ, hàng tỷ đồng, nhưng hiện tại, các trạm đo thủy văn ở thượng nguồn rất là thưa thớt. Ví dụ tôi đơn cử ở Quảng Nam-Đà Nẵng, cái địa bàn rộng như thế, mà chỉ có lẻ tẻ mấy trạm đo mưa, thì không tài nào có thể dự báo được lũ về.
Phải có nhiều trạm đo mưa ở thượng nguồn, trên lưu vực của các hồ chứa, thì khi lũ về, các trạm đo mưa trên thượng nguồn, người ta dự báo, thì ở các hồ chứa người ta mới biết là dự báo mưa bao nhiêu, khi đó mới đưa ra quy trình xả nước hợp lý. Chứ như hiện nay, người ta cứ tích nước miết, các hồ chứa thường giữ mực nước hồ ở mực nước dâng bình thường, chừng nào người ta thấy nước dâng lên nhanh, thì người ta mới xả. Người quản lý hồ thủy điện sợ rằng : nếu xả nước hồ lớn hơn lượng nước đến hồ, mà mưa không về, tức là không có lũ về, thì hồ mất đi lượng nước đủ để phát điện và người chủ hồ cảm thấy bị thiệt hại. Cho nên thông thường, người chủ đập không dám xả nước trong hồ và đón lũ, và như vậy rất nguy hiểm. Do đó, một điều quan trọng là phải tăng cường các trạm thủy văn, đặc biệt là ở đầu nguồn của các hồ chứa, để có các dự báo tương đối chính xác hơn, từ đó giúp những người quản lý hồ chứa có các dự báo chắc chắn hơn.
Và việc quản lý liên hồ chứa phải được luật hóa, những ai vi phạm phải bị trừng trị theo những khung hình phạt rõ ràng, thì lúc đó sẽ giảm được thiệt hại về người và của cho nhân dân.
Để dự báo không khó, nhưng chính phủ phải quyết làm
RFI : Thưa Giáo sư, việc xây dựng đủ các trạm thủy văn trên thượng nguồn, thì có phải là việc có thể làm được ngay trước mắt không ?
GS Nguyễn Thế Hùng : Xây dựng những trạm đo mưa cũng không có khó lắm đâu. Làm thì làm ngay cũng vẫn được thôi, nhưng bây giờ ở đây đã vào mùa mưa lũ rồi. Thông thường khi mình làm vào mùa hè. Tại những trạm như vậy, đặt thiết bị, những phương tiện để truyền tin về, thì việc đó không khó, nhưng vấn đề là phải có quyết tâm của chính phủ, thì mới làm được. Chứ cứ năm này qua năm kia, nói là thiệt hại hàng tỷ, tỷ, trong khi xây dựng các trạm, thì chẳng phải nhiều tiền lắm đâu so với thiệt hại do lũ lụt, nhưng lại không làm.
Cho nên, cái kiểu nói chuyện cứ như nửa đùa, nửa thật như thế là không được. Vì có nhiều cái rất là khó nói trong đó. Đại loại, có những cái mà tôi cho rằng không được minh bạch và có những tiêu cực trong đó.
Cần để người dân hạ lưu giám sát việc xả nước hồ chứa
RFI : Thưa Giáo sư, như Giáo sư nói, thì việc dự báo trước được lũ là điều hoàn toàn có thể làm được ngay, chứ không cần phải đợi đến sang năm ? Mà mùa lũ này nếu không dự báo tốt, thì thiệt hại sẽ còn rất lớn.
GS Nguyễn Thế Hùng : Nếu bây giờ, đặt các trạm kịp thời, thì phải có một quyết tâm cao, một tinh thần trách nhiệm. Cần phải có sự giám sát của người dân, nếu không thì bên quản lý hồ chứa giống như anh vừa đá bóng, vừa thổi còi.
Ví dụ như đối với các hồ nhỏ có tràn xả lũ gọi là « tràn xả lũ tự do », khi nước lũ về, thì các hồ này tự động xả lũ khi mực nước lũ lớn hơn đỉnh tràn tự do, nên người quản lý hồ không can thiệp vào việc xả lũ được. Đa số các đập thủy điện vừa và lớn ở miền Trung có bố trí các tràn xả lũ có cửa van điều khiển được, có thể chủ động xả nước trong hồ trước khi lũ về nhằm đón lũ, giảm mực nước lũ ở hạ lưu hồ. Và khi mực nước lên trên mực nước dâng bình thường cần phải xả, thì phải xả ngay. Chứ nhiều lúc, các hồ chứa, người quản lý không làm như thế ; mà người ta làm theo kiểu, để nước đến chân mới nhảy. Người ta để đến khi nước dâng lên trên mực nước dâng bình thường đến một mức nào đó (thường là trên mực nước dâng bình thường một độ cao khá lớn, có khi đến mực nước gia cường), rồi khi đó thấy mưa tiếp tục, mực nước hồ tiếp tục dâng, sợ xả với lưu lượng nhỏ không an toàn cho đập, nên xả ào ào xuống với lưu lượng khá lớn ; khi đó nếu ở hạ lưu (có mưa lớn), và một số hồ khác cũng xả thì lượng nước lên đột ngột dồn dập, gây tai họa rất lớn cho dân chúng ở hạ lưu hồ. Do đó, tôi thấy, mùa mưa lớn ở miền Trung đang bắt đầu, cần phải có sự giám sát của người dân ở vùng hạ lưu các hồ thủy điện, phối hợp với các cơ quan phụ trách hồ, chứ nếu giao hết cho người phụ trách hồ, và bảo họ làm đúng theo quy trình, thì lúc đó không ai giám sát được… Khi mà lũ về, có thể người ta xả lũ không đúng qui trình, xả nhiều mà nói là « ít », từ đó rất khó mà kết luận là bên nào có lỗi.
Thủy văn miền Trung rất đa dạng, cần nhiều phương tiện - thiết bị dự báo
RFI : Liệu việc điều tiết nước hồ một cách chặt chẽ, hợp lý có đang được áp dụng tại một số đập ở miền Trung ?
GS Nguyễn Thế Hùng : Trên lý thuyết về qui trình điều tiết lũ (xả lũ) theo dự báo mưa thì rất dễ ; nhưng trên thực tế không ai dám xả lũ theo dự báo mưa như hiện nay ! Vì như tôi đã nói : Thứ nhất là người ta không dự báo thủy văn (mưa) chính xác cho các hồ cụ thể được ; vì sự khác biệt là rất lớn giữa các địa điểm khác nhau, ngay trong một vùng như Quảng Nam-Đà Nẵng rất rộng lớn, có chỗ không mưa, có chỗ mưa ào ào như thác đổ, mà dự báo lượng mưa tỉnh Quảng Nam một cách chung chung, thì không ai biết được chính xác chỗ hồ chứa mình quản lý sẽ mưa như thế nào, lượng mưa phân bổ từng thời đoạn (giờ) là bao nhiêu ? Ví dụ anh là chủ hồ, nghe dự báo một cách chung chung như thế, thì anh không biết đằng nào mà xả lũ. Thủy văn miền Trung rất phức tạp, vì mưa phụ thuộc vào địa hình, vào khí tượng. Ví dụ ở phía Nam và Bắc đèo Hải Vân, chỉ có một cái đèo mà mưa khác hẳn nhau.
Sự lộn xộn, Mạnh được Yếu thua của các cơ quan quản lý
Các nước tiên tiến họ bố trí các trạm đo mưa dầy đặc, và kết hợp nhiều phương tiện để dự báo, dùng nhiều phương pháp để quan sát, đo đạc. Từ đó mới chủ động có dự báo tin cậy, để điều tiết lũ hồ hợp lý ; còn Việt Nam, hiện nay, nói trên lý thuyết thôi, chứ không tài nào dự báo được với các trạm dự báo thưa thớt và các phương tiện như hiện có. Và khi lũ về thì người ta vẫn lại tích nước giữ trong hồ, vì có tâm lý kiểu « thấy nước là thấy tiền », thả nước đi là mất tiền thì tiếc. Do đó người ta thường tham giữ nước đầy hồ, và khi mực nước hồ lên đến mức báo động mưa lớn tiếp tục, sợ vỡ đập, thì đùng đùng xả lũ, gây thiệt hại cho hạ lưu.
RFI : Xin Giáo sư cho biết trách nhiệm quản lý của các cơ quan Nhà nước ra sao trong việc để diễn ra tình trạng như thế này.
GS Nguyễn Thế Hùng : Ở Việt Nam, việc quản lý rất là lộn xộn. Thứ nhất có Bộ Công thương, rồi Bộ Tài Nguyên và Môi trường, rồi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Bộ Tài nguyên quản lý nước, họ bảo nước là một tài nguyên, rồi Bộ Công thương, bây giờ họ làm các công trình thủy điện, họ bán điện lấy tiền, thì họ xem điện như là một sản phẩm để buôn bán. Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp thì quản lý đất đai, ruộng nước. Bây giờ, ví dụ một cái hồ có các mục tiêu phát điện, cấp nước tưới cho ruộng, rồi phục vụ nước công nghiệp, như vậy, có tới ba « người » cùng quản lý một đối tượng như thế thì lộn xộn quá.
Bây giờ ví dụ chuyện xả lũ xẩy ra gây thiệt hại cho hạ lưu, thì ví dụ như « ông thủy điện » mà xả quá quy trình quy định, ví dụ như họ không hạ xuống mực nước hồ trước khi lũ về, thì chuyện đó ai chứng giám ?! Phải có người làm trung gian chứng giám, còn nếu như ông quản lý thủy điện bảo ông ấy đã đưa nước hồ về rồi, thì rõ ràng là ông ấy vừa đá bóng, vừa thổi còi. Không có một cơ quan nào để họ giám sát, họ kiểm tra chéo bên nào nói đúng.
Trong nhiều trường hợp, mạnh được yếu thua, công lý không có. Ngay từ ban đầu, đã không có tiêu chuẩn để mà đưa ra xét cụ thể. Không có sự giám sát của địa phương, rồi sự hứa hẹn của cơ quan này, cơ quan kia. Có ký văn bản, nhưng cuối cùng không thực hiện, cuối cùng cũng không ai chịu tù tội, vì cái chuyện không tuân thủ cái văn bản đã được ban hành, đã ký kết.
***
Ngày 14/10 vừa qua, ngay trước khi trận bão số 11 Nari đổ vào các tỉnh miền Trung, chính phủ Việt Nam hỏa tốc ra « Chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn hồ chứa nước » (21/CA TRU-TTg), thừa nhận một phần các nguyên nhân mà giới chuyên môn đã chỉ ra, như tình trạng kém về chất lượng của phần lớn các hồ chứa nước và thực tế nhiều chủ đập không có « phương án phòng chống lụt bão bảo đảm an toàn đập », « phương án phòng chống lũ lụt (cho) vùng hạ du », không có « hệ thống cảnh báo xả lũ cho vùng hạ du »…
Tuy nhiên, biện pháp kể trên dường như mới chỉ là giải pháp mang tính tình thế và phản ứng mang tính « hỏa tốc » rất có thể sẽ dừng lại ở câu chữ. Để giải quyết căn bản vấn nạn « » thủy điện, cùng những vấn đề liên quan đến tài nguyên nước nói chung, giới chuyên gia thường xuyên khẳng định cần phải kiên quyết thực thi các giải pháp thực sự căn bản. Một trong các giải pháp đó là hoàn chỉnh và thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa, tuy nhiên, một bài viết mới đây của Tiến sĩ Tô Văn Trường, trên báo « Người đô thị » trung tuần tháng 10, cho biết cho đến nay trong số 9 liên hồ chứa của miền Trung, mới chỉ có quy trình vận hành liên hồ mùa lũ của lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, Sông Ba là được phê duyệt. Như vậy, hầu hết các công trình còn lại vẫn là mối lo lớn của hạ lưu mỗi khi mùa mưa đến, cho dù gần đây chính quyền trung ương và nhiều địa phương đã phải chấp nhận từ bỏ hàng loạt dự án thủy điện (theo một thông báo từ Bộ Công thương ngày 14/10, 424 dự án thủy điện đã bị loại và hàng trăm dự án bị tạm dừng, tính đến tháng 9/2013).
Câu hỏi đặt ra là phải chăng thực trạng bê bối phổ biến và hiển hiện trong lĩnh vực thủy điện (cũng như rất nhiều lĩnh vực khác trong xã hội) vẫn chỉ là biểu hiện cho một xã hội mà ở đó, một tập thể lãnh đạo hùng hậu, nhưng thường là không có cá nhân nào thực sự chịu trách nhiệm, bên cạnh đó là vô vàn « sứ quân » mặc sức làm sao thì làm, để mọi hậu quả người dân thấp cổ bé họng và môi trường gánh chịu ? (Xem thêm các bài "Nhìn lại tổng thể bài toán phát triển thủy điện" và bài "Thủy điện và lỗ hổng trong quy trình vận hành" của Tô Văn Trường).
Các tin bài liên quan
Việt Nam : Bão Nari làm 5 người chết, gây thiệt hại nặng
Việt Nam : Không thể coi thường các tiêu chuẩn an toàn khi xây đập thủy điện
Đập thủy điện Sông Tranh 2 trong thế dầu sôi lửa bỏng
Vì hám lợi, các đập thủy điện tại Việt Nam xả lũ gây thiệt hại cho cư dân
Đập thủy điện A Vương xả lũ vô trách nhiệm
Kinh nghiệm cá nhân: Làm thế nào để ước tính chính xác và kịp thời lượng lũ về?
Việc dự báo được chính xác lượng nước lũ từ thượng nguồn đổ về có ý nghĩa quyết định đối với việc xả nước từ hồ chứa kịp thời, với lưu lượng hợp lý, không gây thiệt hại cho hạ lưu, đồng thời bảo đảm được có đủ nước cho vận hành thủy điện. Về mặt tổng thể cho khu vực miền Trung, đây dường như là một bài toán rất nan giải. Tuy nhiên, đã có những tìm kiếm cá nhân với những thực nghiệm bước đầu được coi là thành công, bằng những phương tiện khá đơn giản và chi phí không lớn, mà một giám đốc công ty thủy điện miền nam Trung Bộ muốn được chia sẻ :
« Khi có mưa nhiều và có khả năng lũ về, tôi đi thuê người dân đo nước mưa trên lưu vực sông ở thượng nguồn trong mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12). Tôi chia lưu vực thượng nguồn thành nhiều phần nhỏ và ở mỗi phần nhỏ, thuê người ta đo mực nước dâng lên, để ước tính lượng nước sẽ về hồ là bao nhiêu. Rồi tôi phối hợp với các số liệu đo được tại hồ chứa nước thủy điện để ước tính lượng nước cần phải xả. Vì thời gian từ lưu vực sông về đến hồ thường là khoảng 8 đến 10 tiếng, đủ để mình xả nước trước một cách rất thoải mái. Mình ‘‘vận hành’’ xong như vậy là nước vẫn còn đầy hồ, chứ không phải là xả xong, rồi mình không còn nước nữa.
Để có được người đo nước trên lưu vực, tôi chọn một ông giáo viên, một viên chức có vẻ cần cù... Mình cung cấp dụng cụ và hướng dẫn họ, đưa cho họ điện thoại và tiền cước phí. Ngày nào họ đo nước thì mình trả tiền, ban đêm thì tiền gấp đôi ban ngày. Khi có mưa, thì cứ hai tiếng đo một lần. Trên phần lưu vực chỗ tôi, tôi chọn 8 điểm để đo, số điểm bao nhiêu là tùy theo diện tích của lưu vực mà mình tính. Lưu vực của tôi rộng 1.100 km².
Hiện tại, tôi đã có một phương tiện để đo mực nước riêng ở lòng hồ, chính xác tới centimet. Trong tương lai, tôi sẽ cố gắng để nâng mức độ chính xác lên tới milimet. Trước đây, hai tiếng đồng hồ tôi đo một lần, thì tôi nay đang cố gắng tăng tần số lên 15 phút/lần (những khi có mưa lớn, khả năng lũ nhiều về). Còn nếu tôi nâng được độ chính xác của đo mức nước ở hồ chứa lên tới milimet, tôi sẽ tăng tần suất đo từ 3 đến 5 phút/lần. Mục tiêu là để có thể vẽ được đường đồ thị nước về chính xác đến mức tối đa, tức là khả năng dự báo thật sát với thực tế. Hiện nay dự báo của Nhà nước là 6 giờ/đọc một lần.
Khi mưa về nhanh, ba phút là nước có thể lên vài milimet, nếu dùng dụng cụ đo bình thường, thì không thể xác định được sự thay đổi, vì thế tôi muốn nâng mức chính xác của dụng cụ tôi đang thử nghiệm hiện nay. Khi mình biết được chính xác nước về dồn dập hay đang chậm lại, hay bình thường, thì mình có thể xả nước ở hồ một cách linh hoạt.
Về nguyên tắc, anh phải xả lũ một cách từ từ, giống như là lũ tự nhiên, chứ không được xả lũ đột ngột. Mà để xả lũ được một cách tự nhiên, thì anh phải làm, phải học, nhưng mà đây là điều mà hiện nay người ta không lưu tâm ».
Ông Phạm Phong, Tổng Giám đốc Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Sông Ba (Phú Yên)
 

 

dinsdag 15 oktober 2013

Về vấn đề thủy điện nước ta (Ts. Nguyễn Thanh Giang)

Về vấn đề thủy điện nước ta
Ts. Nguyễn Thanh Giang (Danlambao) - Thủy điện được xem là nguồn lợi thiên nhiên rất lớn. Do không phải chi phí cho các nhiên liệu như uran, dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và do chi phí nhân công thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hóa cao, chỉ cần ít người làm việc tại chỗ khi vận hành nên giá thành điện sản xuất thường rất rẻ. Thủy điện cung cấp khoảng 20% lượng điện trên thế giới. Tại một số nước, thủy điện đóng vai trò chủ chốt trong cung cấp điện năng. Na Uy sản xuất toàn bộ năng lượng điện của mình bằng sức nước. Iceland thủy điện cung cấp 83% nhu cầu của họ. Áo 67%. Canada 70%.

Ở Việt Nam, do phải gấp rút tăng trưởng kinh tế để bù lại nhiều thập kỷ trì trệ ngõ hầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu nên nhu cầu tăng trưởng điện bình quân lên tới 15%/năm. Tuy nhiên, nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch trong nước như than, dầu, khí ngày càng cạn kiệt và đã đến giới hạn khai thác. Theo tính toán, đến năm 2015 chúng ta sẽ phải nhập khẩu than mà việc nhập khẩu cũng không dễ dàng. Trong tình hình như vậy, thủy điện được xem là cứu cánh.

Với khoảng 260 công trình đang vận hành có tổng công suất gần 11.000MW, thủy điện Việt Nam đang cung cấp khoảng 36% nhu cầu điện của cả nước.

Song, việc phát triển thủy điện vừa qua có thể xem là khá tùy tiện, đặc biệt là ở miền Trung. Riêng bốn tỉnh miền Trung cùng hai tỉnh ở Tây nguyên là Kontum và Đắk Nông đã có gần 150 dự án thủy điện lớn nhỏ đã được phê duyệt. 

Là địa phương có số lượng các nhà máy thủy điện lớn nhất, Quảng Nam có đến 62 dự án thủy điện với tổng công suất lên tới 1.601MW. 

Tuy không tiêu tốn nhiên liệu nhưng thủy điện tiềm ẩn nguy cơ gây tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Ước tính mỗi MW thủy điện phải "nuốt" trên 10 ha rừng. Chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Vì vậy, việc phát triển thủy điện một cách tùy tiện vừa qua đã gây nên khá nhiều hậu quả tai hại.

Do thiếu quy hoạch chung nên các công trình thủy điện không có lưu lượng xả để duy trì dòng chảy, do việc xây hồ chứa chưa quan tâm đến chức năng phòng chống lũ và cấp nước cho hạ du nên hạn hán và lũ lụt đã không chỉ là thiên tai mà còn do nhân tai. 

Tại Nam Trung bộ, toàn vùng hiện có 17.277 ha cây trồng bị thiếu nước, hạn hán và xâm nhập mặn, trong đó lúa có 15.627 ha, cà phê 300 ha. Hạn nặng làm mất trắng 50 ha lúa.

Tại Tây Nguyên hiện có 51.403 ha cây trồng thiếu nước và hạn hán, trong đó lúa gần 15.000 ha, cà phê trên 34.000 ha. Hầu hết các hồ chứa thủy điện, thủy lợi trong vùng đều có dung tích thấp hơn nhiều so với thiết kế, nhiều hồ nhỏ đã cạn, không còn khả năng tưới.

Nhiều năm trước, các đoàn địa chất thủy văn khảo sát ở Tây Nguyên chỉ cần khoan 15 - 20 mét sâu đã chạm nguồn nước. Nhưng đến nay, muốn tìm nước phải khoan sâu đến 150 - 200 mét.

Việc xây dựng nhà máy thủy điện tại Bình Định vừa qua đã làm chuyển dòng sông Ba khiến tỉnh Gia Lai bị thiếu nước cho hoạt động nông nghiệp. Hậu quả này có nguy cơ sẽ lan sang cả Phú Yên. 

Theo Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường ICEM – một cơ quan nghiên cứu độc lập do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ - hiện lượng phù sa ở các con sông bồi lắng ở Quảng Nam đã đến mức báo động. Sông Vu Gia tại trạm quan trắc Thành Mỹ (Nam Giang) bình quân mỗi năm có 460.000 tấn đất, cát bồi lắng. Với lượng bồi lắng như vậy, cơ quan này cảnh báo thành phố cổ Hội An (Quảng Nam) sẽ là nơi hứng chịu nhiều cơn lũ lớn do chính tác động này. Thủy điện sông Bung 4 đi vào tích nước (490 triệu m3) thì nước ở sông Bung sẽ cạn kiệt, dẫn đến hạ lưu khô hạn. 

Nhân tai gây nên do thủy điện không chỉ tàn phá môi trường, phá hoại sản xuất mà còn uy hiếp tính mạng người dân. Nhà máy thủy điện A Vương xả lũ trong bão nhấn chìm hàng chục ngàn nhà dân các vùng Đại Lộc, Hội An, gây thiệt hại trên 800 tỷ đồng. Nhiều vụ xả lũ ở các đập thủy điện khác không chỉ gây thiệt hại kinh tế lớn hơn mà còn cả sinh mạng người dân!.

Xin nêu mấy khuyến nghị:

1 - Rà soát để điều chỉnh lại kế hoạch phát triển thủy điện. Đến thời điểm hiện nay, số dự án đăng ký ồ ạt đã lên tới con số 1.097, với tổng công suất dự kiến là 24.246 MW. Trong đó, chỉ mới 195 dự án đã phát điện, 245 dự án đang xây dựng. Còn tới 657 dự án chưa đầu tư. 

Hiện cả nước đã có hơn 6.500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích 11 tỷ m³ nước. Triển khai hết số dự án còn lại sẽ có bao nhiêu túi nước hãi hùng treo trên đầu người dân?

2 - Hủy bỏ dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A. Đây là 2 dự án do Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư, nằm trên địa bàn bàn 3 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Phước.

Theo dự kiến trong quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, Thủy điện Đồng Nai 6 sẽ đưa vào vận hành năm 2015 và Thủy điện Đồng Nai 6A đưa vào vận hành năm 2016. Tổ hợp này sẽ sản xuất khoảng trên 929 triệu kWh.

Tuy nhiên, hai dự án sẽ làm mất vĩnh viễn trên 372ha đất rừng, trong đó có hơn 128ha đất ở khu Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên. 

3 - Xem xét kỹ lại chủ trương xây dựng Thủy điện Đrăng Phốk. Công suất dự kiến của công trình này chỉ khoảng 28MW, trong khi 63ha rừng thuộc Vườn Quốc gia Yok Đôn sẽ bị hủy diệt. 

4 - Kịp thời sửa đổi sự bất hợp lý trong quy trình thẩm đinh và cấp phép đầu tư cho các dự án thủy điện.

Hiện nay, những dự án yêu cầu vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng trở lên thuộc quyền cấp phép của Thủ tướng Chính phủ. Những dự án đặc biệt lớn sẽ do Quốc hội phê chuẩn. Việc cấp phép đầu tư các dự án thủy điện nhỏ hơn thuộc thẩm quyền của UBND các tỉnh.

Về quy trình thẩm định, chỉ các dự án nhóm A mới giao cho Bộ Công Thương chủ trì làm đầu mối lấy ý kiến các Bộ, ngành và địa phương có liên quan để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Với những dự án quy mô nhỏ, UBND địa phương tự tổ chức thẩm định.

Về báo cáo đánh giá tác động môi trường: các dự án thủy điện vừa và lớn, các dự án quan trọng (dung tích hồ trên 100 triệu m3, chiếm trên 20 ha rừng phòng hộ, dự án nằm trên 2 tỉnh...) do Bộ TNMT phê duyệt, các dự án còn lại do các sở TNMT thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt. 

Sự bất hợp lý trong các quy định này (chỉ căn cứ vào giá trị của khoản vốn đầu tư) làm cho các dự án ngoài nhóm A không lấy được ý kiến bàn luận và sự thẩm định của các nhà khoa học có chuyên môn cao, trong khi ngay cả các dự án loại này cũng có thể gây nên thảm họa môi trường khó lường, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh mạng đồng bào.

5 - Công khai hóa các dự án thủy điện, mở rộng dân chủ trong việc tiếp thu các ý kiến liên quan đến kế hoạch phát triển thủy điện nói chung và cho mỗi dự án nói riêng. Khen thưởng xứng đáng cho các ý kiến phản biện có giá trị. Xử phạt, nghiêm trị những quyết sách sai trong việc triển khai các dự án thủy điện cho dù xuất phát từ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hay vì kém cỏi trong nhận thức khoa học, trong tổ chức thực hiện hay quản lý hành chính.

6 - Gấp rút xây dựng và triển khai các dự án phát điện năng lượng Mặt Trời và gió. Việt Nam là một nước nhiệt đới, có bờ biển dài 2.400 km, tài nguyên nắng và gió rất dồi dào, sự chậm trễ trong việc triển khai lĩnh vực này có thể xem là lỗi về chủ trương. Chính sách khuyến khích hỗ trợ của Chính phủ về giá mua cho điện Mặt Trời và điện gió (1 cent/kWh) có thể xem là chưa thỏa đáng. Cần mạnh tay chi phí cho những đầu tư ban đầu để rồi sẽ có được giá thành hạ hơn trong việc sản xuất điện bằng các phương pháp này. Sự bù lỗ cho điện Mặt Trời và điện gió phải được xem là cần thiết, nó được tính như khoản tài chính chi cho bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. 

Hà Nội 13 tháng 10 năm 2013 

Chuyên ngành Địa Vật lý 
Số nhà 6 - Tập thể Địa Vật lý Máy bay Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội Mobi: 0984 724 165

zaterdag 28 september 2013

Trung Quốc làm dịu cơn khát năng lượng bằng thủy điện

Thứ bảy 28 Tháng Chín 2013

Trung Quốc làm dịu cơn khát năng lượng bằng thủy điện

Tại Trung Quốc, nhiều đập thủy điện được xây dựng tại những nơi có nguy cơ động đất cao. Ảnh AFP
Tại Trung Quốc, nhiều đập thủy điện được xây dựng tại những nơi có nguy cơ động đất cao. Ảnh AFP

Lê Phước
Để phục vụ cho nền kinh tế đang rất khát năng lượng, để phục vụ cho hơn 1,3 tỷ dân số, Bắc Kinh làm đủ mọi cách để tìm năng lượng. Một trong những nguồn năng lượng quan trọng của nước này là thủy điện. Với tham vọng thủy điện khổng lồ, Bắc Kinh đã lao vào công cuộc đắp đập ngăn sông, bất chấp mọi hậu quả về môi trường và dân sinh. Phản ánh chủ đề này, nhật báo Le Monde đăng bài đáng chú ý : «Trung Quốc cuồng đập thủy điện ».


Le Monde cho biết, Bắc Kinh đã đặt chỉ tiêu đầy tham vọng cho ngành thủy điện của nước này, đó là : Đến năm 2015, 15% năng lượng tiêu thụ của Trung Quốc sẽ được sản xuất từ năng lượng tái tạo, trong đó chủ yếu dựa vào thủy điện.
Hiện tại, công suất thủy điện Trung Quốc đạt 190 000 MW, và dự tính sẽ được tăng lên mức 380 000 MW. Ở mức này, chỉ riêng ngành thủy điện cũng đã giúp ngành năng lượng tái tạo đạt mức 10% tổng mức năng lượng tiêu thụ trên cả nước. Trên lý thuyết, với mức dự tính trên, Bắc Kinh đã khai thác đến 71% tiềm năng thủy điện quốc gia.
Một chuyên gia của tập đoàn năng lượng Alstom của Pháp hoạt động tại Trung Quốc cho biết, tốc độ tăng trưởng của thủy điện Trung Quốc mà 15 GW/năm. Con số này vượt xa các khu vực khác : Bắc Mỹ là 1,9 GW, Nam Mỹ là 1,8 GW, Châu Âu là 0,5 GW, còn Châu Phi cũng chỉ có 0,3 GW.
Để thực hiện được mục tiêu đầy tham vọng nêu trên, nhà cầm quyền Trung Quốc đã tăng cường quá trình đắp đập ngăn sông để xây dựng các công trình thủy điện qui mô, bất chấp cái giá phải trả về môi trường (tác động khí hậu, đất lở...) và việc một số lượng rất lớn người dân phải dời đi nơi khác.
Ngoài đập thủy điện lớn nhất thế giới là đập Tam Hiệp, Le Monde còn nhắc đến hai đập thủy điện khổng lồ khác được xây dựng dọc theo sông Dương Tử, khu vực tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên với công suất cả hai trên 20 000 MW.
Đề cập đến các tập đoàn nước ngoài có mặt trong các dự án thủy điện của Trung Quốc, Le Monde nhắc đến tập đoàn Alstom của Pháp, Andritz của Áo và Voith của Đức. Tuy nhiên, sau quá trình hợp tác với các tập đoàn nước ngoài, phía Trung Quốc cũng đã thu được nhiều kinh nghiệm đáng kể, và đã dần lớn mạnh để vươn lên, dần chiếm lĩnh thị trường nội địa. Hai tập đoàn Trung Quốc đang nổi lên là Harbin Electric (Cáp Nhĩ Tân) và Dongfang Electric (Đông Phương), hiện chiếm lĩnh đến 40% thị trường thủy điện tại Trung Quốc.
Quân nổi dậy Syria : vàng thau lẫn lộn
Trong bối cảnh Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc đồng thuận ra nghị quyết về hồ sơ vũ khí hóa học của Syria, thì nhật báo Libération cung cấp thêm một chi tiết khác cho thấy, trong cuộc chiến Syria, không phải vũ khí hóa học là mối hiểm họa duy nhất đối với người dân.
Tờ báo dành trọn trang nhất đăng dòng tựa : « Syria : cuộc sống thường nhật trong thời chiến ». Tờ báo cho biết, một đặc phái viên người Syria của tờ báo đã thực hiện một phóng sự hiện trường tại thành phố Raqqa, miền Tây Bắc Syria. Nữ phóng viên đã nhờ vào tấm khăn che mặt của phụ nữ Hồi Giáo để qua mắt các lực lượng địa phương.
Raqqa có khoảng 200 000 dân, đã rơi vào tay quân nổi dậy từ 6 tháng nay. Bài phóng sự kể về đời sống thường nhật ở đây, theo đó, người dân phần thì chịu những đợt tấn công oanh kích của quân đội chính phủ, phần thì khổ sở vì sự hà khắc của các lực lượng nổi dậy chiếm đóng, những lực lượng mà hiện tại có nhiều thành phần Hồi Giáo cực đoan và khủng bố.
Bài phóng sự cho biết, quân đội nổi dậy đã « mở rộng vòng tay » đón các nhóm võ trang Hồi Giáo cực đoan và hiếu chiến. Hiện tại, các lực lượng này đang dần tăng ảnh hưởng, và đối đầu trực tiếp với quân nổi dậy.
Bên cạnh bài phóng sự, Libération còn dành bài xã luận nhận định rằng, tình hình chiến sự tại Syria ngày càng phức tạp, cuộc sống người dân như đi vào ngõ cục. Tờ báo còn cho biết thêm, các lực lượng Hồi Giáo cực đoan hiếu chiến đã dần phân chia một phần lãnh thổ với một lực lượng nổi dậy rất « mong manh ». Các nhà báo nước ngoài khi vào lãnh thổ Syria, nếu không bị chính quyền gây khó dễ, thì cũng có nguy cơ bị bắt cóc bởi quá nhiều « nhóm mafia hay các nhóm Thánh chiến ».
Libération đăng một số hình ảnh minh chứng về cảnh hoang tàn của chiến tranh, trong đó có một bức ảnh về một đền thờ Hồi Giáo tại Raqqa. Điểm đáng chú ý là phía trước đền thờ này là một chiến binh Hồi Giáo tay đang cầm một khẩu súng trường.
Iran thân Mỹ : Israel buồn
Vừa qua, tại Hoa Kỳ, phái đoàn Iran đã có những động thái ngoại giao mang tính hòa dịu với phương Tây trên hồ sơ hạt nhân của chính phủ Teheran. Trong khi đó thì Israel lấy làm khó chịu. Nhật báo cánh tả Libération nhận định : « Iran mỉm cười tại Liên Hiệp Quốc, khiến Israel phải nghiến răng ».
Bên lề cuộc họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Iran Javad Zarif đã tham dự cuộc hợp với người đồng cấp Mỹ John Kerry, và các ngoại giao của Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và Đức. Các bên đã đồng ý sẽ tổ chức cuộc đàm phán thực chất về tham vọng hạt nhân của Iran tại Geneva vào ngày 15 và 16/10 tới. Ngoại trưởng Iran và ngoại trưởng Mỹ cũng đã bắt tay thân thiện sau cuộc họp.
Tổng thống tân nhiệm Iran, ông Hassan Rohani, đã có bài diễn văn mang tính hòa dịu trên hồ sơ hạt nhân trước Đại Hội Đồng. Hôm qua, trước khi rời Hoa Kỳ, tổng thống Iran Hassan Rohani cũng đã có cuộc điện đàm mang tính lịch sử với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.
Trong khi đó, thủ tướng Iran, ông Benyamin Nétanyahou cho rằng, ông Rohani đang giở trò để kéo dài thời gian chứ không thật lòng muốn từ bỏ hạt nhân. Ông Nétanyahou còn nhấn mạnh : chỉ có tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran mới có thể buộc Teheran thay đổi lập trường. Ông Nétanyahou còn kêu gọi các nước không nên mắc bẩy của Iran như đã từng mắc bẫy Bắc Triều Tiên trong hồ sơ hạt nhân.
Libération nhận định về nguyên nhân phản ứng nói trên của phía Israel như sau : Việc Mỹ nhượng bộ không tấn công quân sự vào Syria trong hồ sơ vũ khí hóa học đã khiến cho Israel không vui, rồi giờ đây Israel lại càng cảm thấy bất an khi đồng minh Mỹ có động thái thân thiện với Iran. Tờ báo cho rằng : « Không có cái bóng của Mỹ, Israel bỗng cảm thấy bị cô lập ở Trung Đông ».

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130928-trung-quoc-lam-diu-con-khat-nang-luong-bang-cac-dap-thuy-dien

zaterdag 1 juni 2013

Thủy điện Trung Quốc : nhà nước giàu nhưng dân trắng tay

Thứ sáu 31 Tháng Năm 2013

Thủy điện Trung Quốc : nhà nước giàu nhưng dân trắng tay

Chính quyền Trung Quốc từng công nhận tháng 05/2011 là đập Tam Hiệp gây  ra nhiều vấn đề cho môi trường chung quanh. Ảnh chup con đập từ vệ tinh
Chính quyền Trung Quốc từng công nhận tháng 05/2011 là đập Tam Hiệp gây ra nhiều vấn đề cho môi trường chung quanh. Ảnh chup con đập từ vệ tinh
Getty Images

Tú Anh
Một thập kỷ sau ngày khánh thành đập Tam Hiệp, Bắc Kinh phát triển một mạng lưới 50 đập thủy điện khổng lồ trên toàn quốc. Nhu cầu năng lượng không giới hạn này của Trung Quốc gây thiệt hại nặng cho các nước láng giềng và … nhân dân Trung Quốc.


Tam Hiệp, đập thủy điện lớn nhất thế giới xây trên sông Dương tử đã chôn vùi hàng trăm thành phố, làng mạc và hơn 1,2 triệu dân phải di tản đi nơi khác. Bất chấp lời ta thán của dân gian và làn sóng phản đối của giới bảo vệ môi trường, Bắc Kinh vẫn tiến hành một chính sách thủy điện đầy tham vọng với hơn 50 dự án trong kế hoạch năm năm 2011-2015.
Nhu cầu năng lượng không giới hạn của Trung Quốc là động lực thúc đẩy Bắc Kinh bất chấp mọi hệ quả cho con người và môi trường. Chỉ riêng trên sông Dương tử, 29 đề án đang và sẽ được thực hiện.
Đập Tam Hiệp với năng suất tương đương với 12 lò hạt nhân là mô hình cho các đập kế tiếp. Được xem là giải pháp điều chỉnh lưu lượng sông Dương tử, bảo vệ dân cư thường xuyên là nạn nhân của lũ lụt, đập Tam Hiệp đã gây ra những hệ quả tai hại mà giới bảo vệ môi trường đã cảnh báo trước. Cụ thể là vào năm 2011, lưu lượng sông Dương tử xuống đến mức thấp kỷ lục được ghi nhận từ 50 năm qua. Chính quyền Trung Quốc phải thừa nhận « có nhiều vấn đề khẩn cấp » do đập Tam Hiệp gây ra : một là cho môi trường thiên nhiên và hai là chính sách tái định cư cho dân bị di dời chổ ở.Trong khi đó thì mưa lũ đã đổ xuống các thành phố ở hạ nguồn giết chết hàng trăm người.
Số phận của hàng triệu dân phải di dời cũng rất bi thảm. Một nạn nhân 69 tuổi than thở với AFP là chính quyền cấp cho ông mảnh đất ở một nơi xa xôi không ai muốn đến, không làm ăn gì được. Nói chung là những người bị trưng thu đất đai chỉ nhận được món tiền bồi thường không xứng đáng.
Nạn nhân thứ ba là tình trạng lưu thông trên sông Dương tử . Con đường huyết mạch nối liền Trùng Khánh ra biển bị gián đoạn vì đập thủy điện. Tàu thuyền phải chờ cả tuần để qua đập khiến cho phần lớn thương vụ trên sông bị mất khách hàng.
Do quản lý kém, đập thủy điện biến thành nơi tích tụ hàng triệu tấn rác không kể đất đá trên núi tràn xuống và phân người. Từ khi có đập thủy điện lượng cá trên sông giảm đi một cách nhanh chóng.
Trên thượng nguồn, giữa Tứ Xuyên và Vân Nam, hồ Khê Lạc Độ, một đập thủy điện khác vừa được xây dựng xong, đang trong tiến trình tích nước kể từ ngày 04/05/2013 và dự trù sẽ phát điện từ tháng 6. Khê Lạc Độ, cao 285,5 mét, được xem là đập lớn nhất thế giới nếu tính theo lượng nước xã. Giữa tháng 5, bộ môi trường cũng đã bật đèn xanh cho xây một đập khổng lồ khác, cao 314 mét, trên sông Đại độ.
Trên sông Nộ giang ở Vân Nam, chính quyền Trung Quốc cho phép xây một loạt 5 đập thủy điện trên tổng số 13 đề án bất chấp hệ quả cho sinh thái. Trước cuộc tranh đấu mãnh liệt của dân chúng địa phương và giới bảo vệ môi trường , năm 2004, chính phủ Ôn Gia Bảo phải hủy bỏ một dự án để xoa dịu công luận Trung Quốc. Vấn đề là sông Nộ giang chảy sang láng giềng Miến Điện và Thái Lan với tên gọi Salween.
Nhu cầu phát triển thủy điện của Trung Quốc đe dọa đời sống của các lân bang. Tháng ba năm nay, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã chỉ trích ba dự án xây đập trên dòng sông Bramapoutre phát nguyên từ Tây Tạng và chảy xuống Ấn Độ. Nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Cam Bốt, Miến Điện, Việt Nam đã bị lòng tham của Trung Quốc biến thành nạn nhân mà tương lai kinh tế và nông nghiệp tùy thuộc vào ý muốn của Bắc Kinh.
Theo nhận định của nhà bảo vệ môi trường Đới Thanh, cán bộ chính quyền địa phương và giới doanh nghiệp móc ngoặc với nhau để thủ lợi. Đối với những kẻ này thì môi trường và cuộc sống của nhân dân không có ý nghĩa gì.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130531-thuy-dien-trung-quoc-nha-nuoc-giau-nhung-dan-trang-tay