zondag 1 april 2012

Châu Âu nâng quỹ đối phó khủng hoảng tài chánh lên 800 tỉ euro

31 Tháng Ba 2012     
REUTERS/Mal Langsdon

Thụy My
Sau nhiều cuộc thương lượng gay go, tại Copenhagen ngày 30/03/2012, khối euro đồng ý nâng quỹ cứu trợ tài chính lên mức 800 tỉ euro, tương đương 1.000 tỉ đô la. Mục tiêu nhằm giúp các thành viên đối phó với nguy cơ khủng hoảng nợ công. Eurozone đáp ứng đòi hỏi của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tuy ở mức tối thiểu.

Ủy viên châu Âu phụ trách kinh tế Olli Rehn nhận định, cuối cùng Eurozone đã đưa ra một quyết định quan trọng về dài hạn. Ông Jörg Asmussen, thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Trung ương châu Âu (BCE) cho rằng các nước khu vực đồng euro đã « làm tròn nhiệm vụ », và sẽ có vị thế tốt trong đối thoại với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) sẽ họp lại vào tháng Tư.
Bà Christine Lagarde, Tổng giám đốc IMF và Bộ Tài chính Hoa Kỳ đều lên tiếng hoan nghênh quyết định trên đây. Định chế tài chính quốc tế này đã đặt điều kiện cho khu vực đồng euro phải tăng cường công cụ cứu trợ tài chính trước khi được IMF hỗ trợ.
Tuy vậy, số 800 tỉ euro nói trên là giải pháp tối thiểu, vì trong đó gồm cả 300 tỉ euro đã cấp hoặc đã hứa hỗ trợ cho ba nước Hy Lạp, Ai Len và Bồ Đào Nha. Trên thực tế, châu Âu không thể cho vay quá 500 tỉ euro.
Cho đến phút cuối, các nước khu vực đồng euro vẫn chia rẽ giữa hai phe : một bên muốn tăng cường tối đa quỹ cứu trợ tài chính để trấn an thị trường, bên kia muốn giới hạn ở mức thấp nhất để tiết kiệm chi phí.
Đức và Phần Lan từ chối việc nâng khả năng cho vay toàn bộ lên 940 tỉ euro, bằng cách tính vào cả Cơ chế Ổn định châu Âu (MES) và Quỹ Ổn định Tài chính châu Âu (FESF). Giải pháp được chọn lựa là gộp 500 tỉ của cơ chế ổn định dài hạn với 200 tỉ euro đã cam kết dành cho quỹ hỗ trợ ngắn hạn, thêm vào khoảng 100 tỉ euro các khoản cho vay cũ, để đạt đến tổng số 800 tỉ euro.
Hãng tin AFP nhận định, số tiền này hãy còn khiêm tốn để có thể cứu trợ một nước như Tây Ban Nha hiện đang bị thâm hụt ngân sách nặng nề. Tuy vậy thỏa thuận trên sẽ giúp các quốc gia khu vực đồng euro có thể hy vọng nhận được sự giúp đỡ của các định chế quốc tế.

http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20120331-chau-au-nang-quy-cuu-tro-khung-hoang-len-800-ti-euro

Phan Đăng Di, hành trình tìm tài trợ của một nhà làm phim độc lập

30 Tháng Ba 2012   
Đạo diễn Phan Đăng Di ( trái ) tại Liên hoan Cannes 2010.
Thanh Hà
Thanh Hà
Bên cạnh việc viết kịch bản, chọn cảnh quay, tuyển chọn diễn viên, hay dàn dựng, một nhà làm phim còn phải chú trọng đến khâu tìm kiếm nguồn tài trợ. Công việc tìm kiếm nguồn tài trợ đối với dòng phim tác giả (cinéma d’auteur) lại càng nhiêu khê. Đạo diễn Phan Đăng Di không phải là một ngoại lệ. Đối với các nhà làm phim độc lập, nước Pháp là một điểm đến quan trọng.
Sang Pháp trong hơn hai tuần lễ vào tháng 3/2012, đạo diễn Phan Đăng Di tận dụng thời gian vừa để quảng bá bộ phim « Bi đừng sợ » của anh vào lúc tác phẩm này được trình chiếu tại khoảng 70 rạp trên toàn quốc, vừa để xúc tiến công việc tìm nguồn tài trợ cho một dự án mới.
Dù chỉ có mặt tại Paris ít ngày, Phan Đăng Di vẫn dành thì giờ cho ban Việt Ngữ RFI để chia sẻ kinh nghiệm của một nhà làm phim tìm đến với các quỹ hỗ trợ điện ảnh của Pháp như quỹ Fonds Sud dành để phát huy nền điện ảnh của các nước phương Nam hay quỹ Francophonie đặc biệt quan tâm đến các nhà đạo diễn thuộc khối Pháp ngữ.
Theo nhận xét của đạo diễn Phan Đăng Di, Pháp là một trong các quốc gia hiếm hoi trên thế giới đặc biệt quan tâm đến dòng điện ảnh nghệ thuật và chính nhờ thế mà khác giả Pháp dù là ở những thành phố nhỏ vẫn có thể dễ dàng tiếp cận với các nền điện ảnh của thế giới. Cũng hiếm có nơi nào mà khán giả lại có một cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật thứ bảy như trên quê hương của anh em Auguste và Louis Lumière.
Đạo diễn Phan Đăng Di
30/03/2012
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Cam Bốt liệu có trung lập về vấn đề Biển Đông, trước sự ve vãn của Trung Quốc?

30 Tháng Ba 2012     
Chân dung ông Hồ Cẩm Đào đang được dựng lên ở trung tâm thủ đô Phnom Penh, ngày 29/03/2012.
Chân dung ông Hồ Cẩm Đào đang được dựng lên ở trung tâm thủ đô Phnom Penh, ngày 29/03/2012.
REUTERS/Samrang Pring

Thụy My
Hôm nay 30/03/2012 Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bắt đầu chuyến viếng thăm chính thức Cam Bốt, trong bối cảnh hội nghị thượng đỉnh ASEAN sắp diễn ra tại thủ đô Phnom Penh. Cam Bốt hiện đang là chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Phải chăng Trung Quốc đang cố gây sức ép để nước chủ nhà gạt bỏ hồ sơ Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự?

Chúng tôi đã đặt câu hỏi này với thông tín viên Phạm Phan ở Phnom Penh.
RFI: Xin chào thông tín viên Phạm Phan. Chuyến viếng thăm của ông Hồ Cẩm Đào là một sự kiện quan trọng đối với chính phủ Phnom Penh phải không thưa anh?
Phạm Phan: Theo thông tin chính thức của Tân Hoa Xã và viên đại sứ Pan Guangxue (Phan Quảng Học) của Trung Quốc tại Phnom Penh, thì chuyến viếng thăm chính thức của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đến Phnom Penh kéo dài bốn ngày là một sự kiện quan trọng nhất từ 12 năm qua.
Phát biểu của Đại Sứ Trung Quốc ở Phnom Penh trong một cuộc họp báo như sau: “Chuyến viếng thăm sẽ củng cố sâu rộng trên mọi phương diện trong quan hệ song phương như kinh tế, thương mại, văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị. Mối quan hệ Trung Quốc – Cam Bốt là mối quan hệ của những người anh em tốt, đối tác tốt, láng giềng tốt, và là người bạn tốt”.
Trong thời gian lưu lại Phnom Penh, khi Thượng đỉnh ASEAN diễn ra, ông Hồ Cẩm Đào sẽ có cuộc diện kiến với Quốc vương Sihamoni. Theo nhận xét của Tân Hoa Xã, thì đây là sự kiện rất quan trọng trong tiến trình đắp xây quan hệ Bắc Kinh – Phnom Penh.
Trong chương trình nghị sự, ngoài các cuộc gặp mặt những nhân vật lãnh đạo xứ Chùa Tháp, một số hợp đồng sẽ được ký kết, phần lớn là Trung Quốc sẽ tiếp tục đổ đô la vào cho Phnom Penh. Giai đoạn hiện nay được đánh dấu như một thời kỳ phát triển tốt đẹp giữa Bắc Kinh – Phnom Penh vốn đã được thiết lập từ thập niên 1950.
Nhân vật quyền uy tột đỉnh của Trung Quốc cũng sẽ bay đi Siêm Riệp để viếng đền Angkor. Tại đây, ông đến thăm công trình trùng tu đền Ta Keo mà các chuyên gia khảo cổ học người Trung Quốc đang cùng các chuyên viên Cam Bốt làm việc với sự tài trợ của Trung Quốc.
Đại sứ Trung Quốc tại Phnom Penh cho biết Bắc Kinh cám ơn Cam Bốt về sự giúp đỡ chung thủy cho Trung Quốc, về các vấn đề liên hệ đến quyền lợi thiết yếu, và cam kết tiếp tục phụ giúp cho Phnom Penh trong nhiều lĩnh vực kinh tế trong tương lai như cơ cấu hạ tầng, đào tạo nhân lực, phòng chống thiên tai..
Liệu sự hiện diện của ông Hồ Cẩm Đào có là sức ép để Cam Bốt gạt chủ đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự?
Các dữ kiện do Hội đồng Phát triển Cam Bốt trưng ra cho thấy, tính đến cuối năm 2011, Trung Quốc đã có 317 dự án đang được thực hiện tại Cam Bốt với tổng số tiền là 8, 9 tỷ Mỹ kim. Con số này đã nâng Trung Quốc lên vị trí nhà đầu tư lớn nhất ở xứ chùa Tháp. Về thương mại song phương đạt đến 2,5 tỷ Mỹ kim, cao gấp 11 lần so với năm 2000. Mối quan hệ song phương Bắc Kinh – Phnom Penh được đưa lên tầm hợp tác chiến lược toàn diện sau chuyến đi Bắc Kinh của Thủ tướng Hun Sen vào tháng 12/2010.
Mỹ và các quốc gia Châu Âu luôn kèm viện trợ phát triển với điều kiện phải tôn trọng nhân quyền, một chương trình viện trợ không hào phóng và có thể gây khó chịu cho những người đang cai trị ở Phnom Penh. Về mặt ngoại giao thì Bắc Kinh luôn miệng phát biểu chỉ viện trợ cho Cam Bốt mà không áp đặt bất kỳ điều kiện nào. Điều này có nghĩa là chuyện của Cam Bốt, Trung Quốc không can thiệp vào, dù có vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.
Nhưng trong thực tế, liệu Trung Quốc chỉ bỏ tiền ra mà không cần điều kiện gì hết?
Chuyến đi của ông Hồ Cẩm Đào diễn ra trước Thượng đỉnh ASEAN có hai ngày, trông có vẻ gấp rút, và không có bất kỳ chuyến viếng thăm của vị nguyên thủ trên thế giới nào diễn ra trong một thời điểm quan trọng như thế.
Vì sao? Vài thành viên trong khối ASEAN đang có vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, trong khi đó, Trung Quốc là nước duy nhất tự cho rằng: hầu hết lãnh hải ở Biển Đông là của họ.
Đây chính là một điều mà Trung Quốc rất cần ở Cam Bốt, một nước nhỏ nhưng năm nay làm chủ tịch luân phiên ASEAN, và điều quan trọng hơn là Cam Bốt có vị trí địa lý sát cạnh phía Tây của Việt Nam, cũng là một đồng minh chiến lược của Phnom Penh.
Thưa anh, Cam Bốt với vai trò chủ tịch ASEAN 2012 và đang ngấp nghé một chiếc ghế Hội đồng Bảo an, liệu có thể né tránh vấn đề Biển Đông?
Tại một hội nghị cách nay một tuần bao gồm 26 viên đại sứ và tổng lãnh sự của nhiều ngoại giao đoàn, Thủ tướng Hun Sen nói, năm nay Cam Bốt trong vai trò chủ tịch luân phiên khối ASEAN và đang nỗ lực kiếm một ghế thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cho nên trong các xung đột tiềm tàng tại khu vực như tranh chấp Biển Đông, nước chủ nhà Cam Bốt chỉ làm công việc điều phối ở vị thế trung lập, không đứng về bên này hay bên kia trong cuộc tranh chấp.
Theo nhận xét của ông Ou Virak, nhà hoạt động nhân quyền ở Cam Bốt, nếu Cam Bốt đứng trung lập thì tốt, nhưng điều này khiến một số thành viên ASEAN sẽ không hài lòng.
Ông Arata Mahapatra, một nhà phân tích, đang làm việc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược có trụ sở tại Ấn Độ, trong cuộc phỏng vấn với ban tiếng Cam Bốt của đài VOA cho rằng, một khi Cam Bốt đứng ở vị thế trung lập sẽ làm tăng uy tín Cam Bốt trên trường quốc tế. Nhưng trong khi phân nửa thành viên khối ASEAN đang có vấn đề tranh chấp về Biển Đông, tất nhiên họ không vui về quan điểm trung lập này.
Trong cuộc họp báo trước khi ông Hồ Cẩm Đào đến Phnom Penh, tòa đại sứ Trung Quốc tại Phnom Penh cho biết: “ Trung Quốc sẽ giải quyết vấn đề Biển Đông với những nước đòi hỏi chủ quyền trong khuôn khổ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông gọi tắt là DOC, và Trung Quốc có ý định hợp tác với các bên liên hệ nhằm giải quyết sự khác biệt để tìm kiếm công cuộc phát triển chung. Tuy nhiên, Trung Quốc mạnh mẽ phản đối ý định quốc tế hóa sự tranh chấp ở Biển Đông, và không cho phép các lực lượng bên ngoài can thiệp vào cuộc tranh chấp này”.
Trong tình hình hiện nay, liệu rằng Cam Bốt có giữ được vị thế trung lập giữa lúc Hà Nội, một đồng minh lâu đời của Phnom Penh, đang có tranh chấp về lãnh hải với Bắc Kinh?
Người ta cũng đặt một câu hỏi rằng, trong khi Biển Đông là một vùng biển liên hệ đến nhiều nước và là một tuyến hải hành tự do từ trước đến nay, và khi cộng đồng quốc tế, với Trung Quốc là một thành viên trong đó, đã có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), vậy tại sao Bắc Kinh không cho phép các nước liên hệ quốc tế hóa hồ sơ này?
RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn thông tín viên Phạm Phan từ Phnom Penh, đã cho biết thêm chi tiết về chuyến viếng thăm Cam Bốt của ông Hồ Cẩm Đào.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20120330-cam-bot-lieu-co-trung-lap-ve-van-de-bien-dong-truoc-su-ve-van-cua-trung-quoc
Thông tín viên Phạm Phan - Phnom Penh
30/03/2012

Cuộc chiến Việt-Trung trong "Xe lên xe xuống" - tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Bình Phương

28 Tháng Hai 2012     
Bìa tiểu thuyết Xe lên xe xuống của Nguyễn Bình Phương
Bìa tiểu thuyết Xe lên xe xuống của Nguyễn Bình Phương
Người Việt

Thụy Khuê
Sự giáo dục chiến thắng chỉ tạo nên những thánh nhân nhưng "không một bà mẹ nào muốn con là thánh".Hệ thống mây ngũ sắc chụp lên toàn lãnh thổ khiến con người không thể thoát khỏi vòng phong toả để tìm đến một chân trời khác. Thế hệ thanh niên ngụp lặn trong vùng đất thánh, gây tội ác, bị rình rập, rượt bắt, chạy lên đỉnh, bị sập lưới. Họ chưa từng ý thức được thế nào là tội ác, trước khi lìa đời.

Trong tiểu thuyết Người đi vắng, Nguyễn Bình Phương kể chuyện một đứa nhỏ mỗi lần nghe thấy tiếng rao của ông thiến lợn là nó hoảng sợ, hai chân chụm lại giấu chim, nhắm mắt tự hỏi: ai là người đẻ ra những ông thiến lợn? Một giọng ôn tồn bảo: khi người ta tìm ra mẹ của kẻ thù thì kẻ thù mất sức mạnh. Câu nói bí ẩn, dĩ nhiên thằng nhỏ chẳng hiểu gì, bởi đó là bí quyết tồn tại của nhà văn trong một xã hội niêm phong: muốn yên thân thì chớ có loay hoay điều tra ai là mẹ của những ông thiến lợn. Tìm đến cội rễ của ung thư, đào mả các đại trùng hiển nhiên là hiểm nguy có thể kề tính mệnh.
Tiểu thuyết Xe lên xe xuống của Nguyễn Bình Phương (do Diễn Đàn Thế Kỷ phát hành, địa chỉ: diendantheky.net) dẫn ta vào cái xã hội niêm phong đó, đường đi hiểm trở như đường vào hang Văn Dú, nhưng Thế Lữ có hai người Thổ dẫn đường. Lối vào tác phẩm mới nhất của Bình Phương cũng kỳ quặc huyễn hoặc trong trận đồ bát quái, là một thử thách cho những kẻ mạo hiểm, dù lọt được vào vẫn có khả năng bị tẩu hoả nhập ma bởi những phù phép yểm trong chữ nghĩa, để ám kẻ nào tìm ra rường mối của chiến tranh, rường mối của bạo lực, rường mối của một xã hội mà con người đã bị thiến tư tưởng.
Xe lên xe xuống là một cạm bẫy kiểu Vàng và Máu như thế trên mạn ngược, ở Việt Bắc, biên giới Việt-Hoa.
Chìa khoá mở vào không gian niêm phong này nằm trong mấy trang đầu, nếu tìm thấy mã số của chữ nghiã, bạn có thể đi suốt tác phẩm, bởi Bình Phương là một đạo diễn rất hiện đại (hoặc nói theo thời thượng: rất hậu hiện đại), cho máy quay hai kịch bản song song rồi chiếu cùng một lúc lên màn ảnh. Nội dung hai kịch bản này cũng lại bị cắt thành từng khúc, những mẩu đời đứt đoạn, những suy tư chặt đôi, đảo lộn trật tự, chắp lại thành một chuỗi liên tục những sự kiện không liên tục, hệt như con đường mòn nổi tiếng ở miền Trung đã bị bom đạn phá tan nát, được đắp bằng những mảnh xác không tên, và nó tồn tại như một lịch sử vĩ đại anh hùng. Bình Phương dẫn ta vào những trang sử anh hùng ấy, nhưng không đi xe ca máy lạnh trên đại lộ như du khách ngoại quốc, Việt kiều, mà đi chân đất xuống địa đạo, xuyên vào lớp xi măng và các chất liệu đã được nghiền nát trộn trạo để làm đường, xem trong có gì. Sau một chuyến đi như vậy, không ai có thể toàn vẹn.

Sự thực là hai chuyến đi, được kể bằng hai thoại của hai anh em đã chết. Thoại một, của người em, chia làm hai trường đoạn: phần in nghiêng, xẩy ra sau khi chết. Phần in đứng, xẩy ra trước khi chết. Thoại hai, của người anh, sau trận Tám Tư,bị điên và chết thuật lại cho em về các trận đánh trong nhật ký. Hai thoại cũng là hai chuyến đi: một về tương lai và một về quá khứ, cùng phát xuất ở đỉnh Tà Vần, mồ chôn hai anh em và cũng là mộ phần của tất cả những đỉnh cao loài người, bởi đỉnh đi cùng với vực như Mai Thảo đã kinh qua trong bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời.

Tiểu thuyết bắt đầu bằng những dòng in nghiêng, trên chiếc xe gồm có một phụ nữ tên Trang, một người lái xe và "đám người mặt lạnh đanh". Đám mặt lạnh đanh này chính xác có ba: một người cầm bộ đàm, một người cao lớn và một người thấp bé; lái xe chính xác là phó công an tỉnh. Đó là những kẻ thực thụ hiện diện, những kẻ đang sống, đang cầm cân "công lý".

Trong xe còn chở một thế giới thứ nhì, thế giới những người đã chết, đại diện là kẻ xưng mình (sau sẽ biết tên là Hiếu), là người kể chuyện, là bồ của Trang, hắn có người anh là lính đánh nhau với Tàu trong hai trận Bẩy Chín, Tám Tư, chết vì điên loạn. Câu chuyện hắn kể rút trong nhật ký của người anh.

Nguyễn Bình Phương nén các dữ kiện trong một số chữ tối thiểu giống như cái máy ép rác: nếu ta bỏ vào đó lổn nhổn tất cả rác rưởi cuộc đời thải ra hàng ngày, nó chỉ ép một phút là dẹp cứng thành vài mi-li-mét. Vậy chỉ cần đọc vài dòng Xe lên xe xuống thì mọi sự sẽ được bình phương lên thành vài chục trang tiểu thuyết.

Lời kể của mình nhân vật chính trong truyện, đi cùng với lời kể của anh, anh ruột mình và lời nhiều nhân vật khác: như lời cậu, cậu ruột của mình; lời hắn, bạn học cũ và guide dẫn mình đến Tà Vần, lãnh địa bí mật, cạm bẫy cuộc chiến Bẩy Chín của ta với khựa (Tàu) và cũng là hãm địa con người trong thời điểm cú vọ hôm nay... Lối viết này, thuật ngữ phê bình gọi là đa âm.

Lời của những kẻ không tên cất lên về những nhân vật thần kỳ của các đội ngũ anh hùng, thổ phỉ; về những cuộc săn (người) đêm trên đỉnh Lũng Tẩu; về những vụ bán cao bành trướng ăn vào người phình lên như quả bóng; về vụ bà phó chủ tịch huyện anh hùng Tám Tư ăn thịt người chết để mong trẻ mãi; về hai cuộc chiến Bẩy Chín, Tám Tư giữa hai nước anh em hữu nghị -nuốt chửng không biết bao nhiêu nhân mạng- đã bị lịch sử chôn sống, không ma chay, không bát âm, không điếu văn, không giỗ chạp.

Những kẻ không tên được chỉ định bằng những: mình, anh, cậu, chú, hắn... (riêng mình, nếu để ý lắm, mới nghe thấy có người gọi là Hiếu) bên cạnh mấy người có tên như Trang, Thu, Hằng, Vân Ly, ... tạo ra một thế giới mà người nữ hình như có chút ưu đãi, nghiã là có tên; họ có chút địa vị cá nhân hơn người nam chăng? Chưa chắc, bởi những người có tên như bọn thằng Quých, thằng Hiệp, thằng Thuỷ... cũng chỉ là bọn tép riu, tòng phạm, hoặc chết lãng nhách như thằng Quých, hoặc chết oan như Vân Ly. Tóm lại đàn bà con gái trong cái xã hội này cũng chỉ là cây kiểng, tên để trưng; thực sự nữ cũng như nam, không ai có một địa vị cá nhân nào.

Sự các nhân vật không có tên, có phải là do trường phái tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet chăng? Tôi đồ rằng không. Ở đây không hề có cái lo lắng cách tân cách điệu, trường môn, trường phái gì cả, mà chỉ là để thể hiện một xã hội tập thể, con người đã mất hết danh vị cá nhân, đã thuần thục trong đời sống đội ngũ như: đội ngũ nhà văn, đội ngũ giáo sư, đội ngũ thổ phỉ, đội ngũ bác sĩ, đội ngũ công an, đội ngũ ma tuý, đội ngũ buôn lậu,... tất cả đều đã được phân loại rõ ràng. Tính chất binh bị thấm vào ngôn ngữ, phản ánh toàn bộ tổ chức xã hội mà chiến tranh là lẽ sống, mà cá nhân con người đã trở thành phi danh tánh, như con giun con dế, một mặt nó giúp cho những anh, những mình, những hắn kia, khó bị lộ diện trong những trận phục kích hay buôn lậu; một mặt, nó giúp cho đám người có phận sự rượt bắt họ không bị lộ danh tánh hình tích. Xã hội, trở thành nặc danh, thả dàn cho những tội ác, ở cả bên này và bên kia công lý.

Với bút pháp trinh thám đầy mật mã, tác giả thám hiểm nhiều cuộc đời, nhiều lớp thời gian, trùng lấp, chồng chất lên nhau, vẽ nên nhiều chân dung độc đáo trong cảnh kháng chiến đánh phỉ, cảnh chiến tranh Bẩy Chín-Tám Tư, cảnh làm tình, cảnh thanh toán, buôn lậu, ma tuý, cảnh lùng bắt, cú vọ... Nhiều mặt trận, nhiều thực tại được giấu sâu trong lòng đất, ở những địa đạo, dưới những nấm mồ, không ai dám nhắc đến trong "sử sách" vì tính chất "tiêu cực" của nó. Qua những mật mã, chúng đội mồ hiện lên như những bóng ma người người lớp lớp lũ lượt chồng chéo lên nhau như một định mệnh, một nhân quả về tội ác, không phân biệt ranh giới âm dương.

Tác phẩm là thiên điều tra về tội ác và trừng phạt, tìm đến mẹ của bạo lực để giải mã tại sao dân tộc ta đạt "kết quả" như ngày nay: Bạo lực cổ đại từ thời Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu (tháng 1/1075), sắp đầu người thành đống, mỗi đống 100 đầu, cả thảy 580 đống. Bạo lực trung đại với Tây Sơn-Nguyễn Ánh. Bạo lực kháng chiến với Thổ Phỉ-Cách Mạng. Bạo lực hiện đại với Bẩy Chín-Tám Tư. Bạo lực hậu hiện đại với Ma Tuý-Buôn lậu-Sex, trong một xã hội tập thể, mà mỗi người đều có ám vọng muốn nhìn xem bên trong của kẻ khác chứa những gì.

Bạo lực nguyên thuỷ được trình bầy qua động tác chặt; dụng cụ thớt; sản phẩm đầu người.
"Phỉ nó chặt...
Mình nghĩ nếu xét thuần về mặt hành động thì phỉ là loại chạm tới cái cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất của con người. Vì phỉ hay dùng hình thức chặt, thứ hình thức mang lại khoái cảm và uy quyền. Phỉ chặt đầu, chặt tay, chặt chân, chặt ngang người. Các loài khác không biết chặt, chỉ cắn, xé, móc. Giết một con gà mà không vang lên tiếng chặt nào thì chỉ là giết một con giun. Vào quán thịt chó mà không nghe tiếng chặt côm cốp thì dứt khoát chỉ có cảm giác ăn đậu phụ. Tiếng chặt tạo ra sự hưng phấn ghê ghớm. Dọc theo lịch sử dằng dặc của đường biên này luôn luôn là những tiếng băm chặt nhau chí chát. Khi triệt hạ thành Ung Châu, Lý Thường Kiệt đã cho chặt đầu tất cả những kẻ trong thành rồi xếp thành năm trăm tám mươi đống, mỗi đống một trăm cái đầu. Tiếng chặt đầu côm cốp của Thái uý vẫn còn làm cho họ run rẩy, đau đớn đến tận bây giờ. Năm một tám tám sáu, khi phái đoàn phân định biên giới Hoa-Pháp bắt tay vào việc, toàn bộ gia quyến của viên quan được triều đình Nguyễn bổ nhiệm để cai quản và thu thuế vùng Bạch Long đã bị phỉ giết chết, hàng chục sinh mạng, không phân biệt trẻ con, người già, đều bị chặt nhỏ (...) Phỉ đặt người ta lên phiến đá và nhẩn nha chặt như chặt thịt lợn. Có người bị chặt đứt phăng hai tay, hai chân mà vẫn còn sống, mồm miệng loe máu kêu gào. Mình nhớ không nhầm thì chùa Trăm tháp ở Bình Định còn giữ lại tảng đá lớn mà Nguyễn Ánh dùng làm thớt chặt hàng nghìn người thuộc phe Tây Sơn thất trận. Tất nhiên, Nguyễn Ánh làm thế vì trước đó ông ta đã chứng kiến tận mắt cảnh bố mình bị anh em nhà Tậy Sơn chặt đôi người".

Có lần Trùm phỉ Chu Chồ Sền bảo Chu Văn Tấn: "Chúng mày vì nghèo khổ mà đi làm cách mạng. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Thế là giống nhau".
Ông ngoại của mình cũng là trùm phỉ. Vậy Phỉ là người Việt nguyên thủy nhất, thành thật nhất, có gì nói thẳng, chưa hề biết giữ mồm giữ miệng, chưa hề biết các sự nhạy cảm, chưa hề biết phân biệt tiêu cực và tích cực.

Văn hoá chặt nằm trong văn hoá ẩm thực của ta từ thời nào, những nhà nghiên cứu nên chú ý khai quật, có điều chắc chắn đó là văn hoá phỉ, là cỗi rễ Việt được phỉ giữ lại và bảo tồn đến chết. Đó cũng là yếu tố đặc thù của dân Việt (ta học được của Tàu rồi Việt hoá đi như tất cả những thứ khác) bởi vì cơm Tây, cơm Mỹ chẳng có món nào chặt như món gà luộc hay thịt chó của người mình.

Khi Lỗ Tấn nói người Trung Hoa ăn thịt người, thiên hạ đã rần rần phản đối, có thể vì cái vụ đó mà Lỗ Tấn một dạo cũng bị đem vào tủ lạnh, may nhờ lý lịch A.Q xuất thân bần cố, đã cứu và đưa Lỗ trở lại văn đàn như một chiến sĩ vô sản trăm phần trăm.

Nguyễn sinh sau đẻ muộn mà lại có mòi thâm thúy hơn Lỗ: không ăn nói hồ đồ, vô bằng chứng, mà lấy ngón trỏ chỉ thẳng vào mâm cơm bảo đấy cái dân tộc tính của mình đấy: rặt các món chém chặt. Đố ai chối được.
Từ nguồn văn hóa chém chặt, sinh ra bọn trẻ ngày nay, không chặt đốt như Trang, Quých, Hiệp ... Và mình bề ngoài có vẻ hiền lành, bên trong hồn nhiên là trùm phỉ hậu hiện đại.

Nếu bạo lực cổ điển có danh nghiã tốt đẹp bảo vệ xứ sở, thống nhất đất nước, những chân lý tuyệt đối không ai cãi được, thì bây giờ bọn trẻ không thèm đếm xỉa đến những khẩu hiệu lẩm cẩm quá đát ấy nữa, bạo lực hậu hiện đại coi việc đốt người như chuyện vặt, như uống coca, như làm tình, và dường như họ cũng không ý thức được tay mình có máu, bởi có chém chặt gì đâu, chỉ cần bình xăng và một que diêm là xong trong nháy mắt, tay không bẩn, quần áo vẫn lượt là láng coóng.

Hai chuyến đi song song diễn ra trước mắt người đọc, như hai cuộc vận chuyển thời gian ngược chiều, như hai thời đại gặp nhau ở đỉnh Tà Vần, trong cùng một huyệt tại vùng địa đầu biên giới có cái tên huyền thoại Việt Bắc.
Bọn trẻ đã hiểu: làm gì có lý tưởng, làm gì có tình hữu nghị anh em, cậu ơi, làm chó gì có sự tử tế giữa hai quốc gia, toàn thổ phỉ cả, mà trần trụi chỉ là chémchặt, là ác giả ác báo, là hận thù xuyên nòi giống, là sự rình rập, giam hãm, giăng bẫy, báo thù. Từ một quá khứ hiển vinh như thế làm gì chúng không can trường phóng xe vào ma tuý, sex và tội ác. Từ đời cha đến đời con, tất cả đều đã nhập tiệc thịt người, bà phó chủ tịch xã nói: nếu ăn thịt người chết thì sẽ trẻ mải mãi. Bà là vị nữ anh hùng trong cuộc chiến với khựa.

Những đám mây ngũ sắc giống chiếc nơm úp thẳng xuống bí mật phong toả, càng làm nặng ký chính sách niêm phong, cấm địa, chôn vùi lịch sử, dìm tội ác xuống vùng sâu, để tạo một huyền thoại anh hùng không bao giờ hiện hữu.

Trong suốt cuộc hành hương của mình, Hiếu luôn luôn tìm cách chụp hình những đám mây với ảo giác chụp được nội dung và hình thức sự phong toả con người.
Trong suốt hành trình ngược chiều quá khứ và phóng về tương lai, Hiếu gặp toàn một loạt cỏ cây, đồi núi, con người, đã bị các vết chém chặt bằm nát.

Núi Bạc tốn máu như núi Đất. Pháo của họ đã nã nát nhừ ngọn núi không lấy gì làm cao ấy, đào xới tung nó lên đến cả nửa ngày trời, sau đó mới cho bộ binh dùng súng phun lửa và hơi cay lao lên. Núi bạc không có những trận giáp lá cà kinh hoàng đến mức những ai còn sống sót sau trận ấy, dù ta hay họ đều hoá điên như ở Núi Đất, nhưng lại đầy rẫy những huyền thoại về các linh hồn.
Sông ngòi cũng một mầu: Sông Nho Quế lại đỏ, sông Bằng đỏ máu... Từ anh hùng đến thổ phỉ, từ ta đến Tàu, ở hai bờ sông chia ranh, cùng một tiếng gọi đòi thủ cấp.

Cách đây hơn 20 năm, Bảo Ninh mô tả chiến tranh như một bộ máy nghiền nát tất cả, trừ tình yêu.
Nguyễn Bình Phương tiến thêm một bậc: chiến tranh nghiền nát cả tình yêu chỉ để lại tội ác, không cho con người một hy vọng nào. Bình Phương chiếu ống kính vào tội ác của một dân tộc được giáo huấn thường trực trong các bài học chiến thắng và anh hùng, mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. Chiếu vào hậu quả của các chiến thắng từ thời Lý, thời Tây Sơn-Gia Long, đến thời Cách Mạng-Thổ Phỉ, cuộc chiến Việt-Trung... Văn hoá chặt đã thấm vào máu, nằm trong mâm cơm: dân ta mải chặt mà quên sống. Vùng đất biên giới anh hùng nằm trên những xác người, chỉ tạo nên những hệ gia đình thui chột như gia đình Hiếu: Ông ngoại trùm phỉ bị chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh chiến sĩ đánh Tàu, chết vì điên, bị chuột gặm mắt và hai cánh mũi; em trùm phỉ hiện đại, bị phục kích chết ở đỉnh Tà Vần...

Sự giáo dục chiến thắng chỉ tạo nên những thánh, nhưng "không một bà mẹ nào muốn con là thánh".Nền tảng đầu tiên của con người là gia đình đã bị hủy diệt. Hệ thống mây ngũ sắc chụp lên toàn lãnh thổ, khiến con người không thoát ra được vòng phong toả để tìm đến một chân trời mới. Thế hệ thanh niên, ngụp lặn trong vùng đất thánh, gây tội ác, bị rình rập, chạy lên đỉnh, bị sập lưới, đẩy xuống vực sâu. Họ chưa từng ý thức được thế nào là tội ác, trước khi lìa đời.

Ruồi đực cũng uống rượu khi bị hất hủi

25 Tháng Ba 2012
Nguồn Wikipédia

Trọng Nghĩa
Nam giới khi bị thất tình thường tìm quên nơi đấng lưu linh. Loài ruồi cũng thế. Một công trình nghiên cứu nơi loài ruồi giấm công bố trên tập san khoa học Mỹ Science hôm 13/03/2012 đã chứng minh : Ruồi đực, khi bị ruồi cái cự tuyệt, thường hay uống rượu, thậm chí còn uống rất nhiều !

Trong thí nghiệm được công bố, thoạt đầu, các nhà nghiên cứu đặt một loạt những con ruồi đực vào trong một cái lồng kính, bên trong có sẵn những con cái sẵn sàng giao hợp. Sau đó, họ đặt một loạt những con đực khác vào ở chung với con ruồi cái đã giao phối. Lẽ dĩ nhiên là khi những con đực này đòi hỏi, lập tức chúng bị những con cái đó từ chối.
Sau đó, hai loạt ruồi đực được thỏa mãn và bị cự tuyệt được đặt vào trong những cái hộp có chứa hai ống hút, một ống với thức ăn lỏng bình thường và một ống với chất lỏng có pha 15% rượu. Những con ruồi đực bị hất hủi về mặt tình dục đã lập tức hút ngay chất dinh dưỡng có rượu, hấp thụ chất này với khối lượng lớn. Ngược lại, những chú ruồi đã được thỏa mãn thì lại chủ yếu tiêu thụ thức ăn không có rượu.
Theo các nhà nghiên cứu, phản ứng kể trên của các con ruồi đực hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên, mà tùy thuộc vào tỷ lệ một loại phân tử mang tên khoa học là neuropeptide F có trong não của loại ruồi này.
Thí nghiệm cho thấy là chất neuropeptide F trong não con ruồi tăng lên khi chúng được thỏa mãn về mặt tình dục, và giảm xuống khi không được thỏa mãn. Khi có tỷ lệ phân tử neuropeptide F cao, con ruồi không thích ăn thức ăn có rượu. Ngược lại, khi tỷ lệ phân tử này bị hạ thấp vì không được thỏa mãn, con ruồi lại chọn thực phẩm có chứa cồn và tiêu thụ với số lượng lớn, như để bù đắp sự thiếu hụt đó.
Theo bà Ulrike Heberlein, giáo sư cơ thể học và thần kinh học tại Đại học California ở San Francisco và là tác giả chính của công trình nghiên cứu này, thì trong não người cũng có một chất dẫn truyền thần kinh tương tự gọi là neuropeptide Y. Phát hiện về tác dụng của phân tử neuropeptide F nơi loài ruồi có thể mở đường cho việc tìm ra các phương pháp điều trị mới chống lại bệnh nghiện rượu hoặc là các loại ma túy khác.
Các nhà khoa học trong nhóm của bà Ulrike Heberlein tin rằng nếu điều chỉnh được mức độ của các neuropeptide nơi người, ta có thể loại bỏ tình trạng nghiện ngập.
Theo giáo sư Heberlein, nếu chất neuropeptide Y thực sự đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy con người lạm dụng rượu và ma túy, thì giới y học có thể hoàn chỉnh các liệu pháp nhằm điều hòa các phân tử đó trong não, sao cho đảm bảo được một mức độ đầy đủ và cố định, khiến cho người ta không còn cảm thấy thèm nữa.
Bà cho biết là những thí nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để kiểm tra hiệu năng của chất neuropeptide Y trong việc làm giảm tâm trạng lo lắng và các rối loạn tâm lý khác, cũng như bệnh béo phì.
Ruồi giấm (mouche drosophile - Drosophila melanogaster) là loài sinh vật từng được khoa học sử dụng để nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 đến nay, đặc biệt trong nghiên cứu gen.

http://www.viet.rfi.fr/khoa-hoc/20120325-ruoi-duc-cung-uong-ruou-khi-bi-hat-hui

Thám hiểm Thái Bình Dương ở độ sâu 11 km

 27 Tháng Ba 2012     
Tàu ngầm Deepsea Challenger chuẩn bị hạ thủy, 25/03/2012.
Tàu ngầm Deepsea Challenger chuẩn bị hạ thủy, 25/03/2012.
REUTERS/National Geographic/Mark Thiessen

Trọng Thành
Ngày hôm qua, thứ Hai 26/03/2012, vào lúc 17 giờ 52 phút giờ Washington, tức 7 giờ 52 phút giờ quốc tế, ông James Cameron - đạo diễn các bộ phim nổi tiếng Titanic, Avatar, Abyss – đã chạm đáy biển Thái Bình Dương, ở độ sâu 10.898 mét. Như vậy, đạo diễn phim Titanic đã phá kỷ lục trước đó của một sĩ quan hải quân Mỹ Don Walsh, lập vào năm 1960, với độ sâu 10.916 mét.

Challenger Deep, khu vực đáy biển mà ông Cameron thám hiểm, nằm trong vũng Mariannes, thuộc Thái Bình Dương, cách đảo Guam khoảng 500 cây số.
Khác với người lập kỷ lục trước, chỉ ở được dưới đáy biển chừng 20 phút, đạo diễn James Cameron, 57 tuổi, đã lưu lại nhiều giờ ở độ sâu chưa từng có này, để quay phim và lấy các mẫu vật.
Phương tiện đưa đạo diễn Titanic xuống đáy biển là một chiếc tầu ngầm nhỏ có chiều dài 8 mét, mang tên Deepsea Challenger, được trang bị hết sức tối tân, có khả năng kháng cự được áp lực nước rất lớn.
Kênh truyền hình National Gegraphic – chuyên về địa lý học và các khoa học - , phụ trách chuyến thám hiểm của James Cameron cho biết, chuyến khảo sát này là nội dung của một bộ phim tài liệu ba chiều, sẽ được công chiếu trên truyền hình và tại các rạp chiếu phim, đồng thời sẽ được dùng làm phương tiện học tập.
Tàu ngầm chở đạo diễn Titanic, đi xuyên qua nhiều môi trường khác nhau, nhiều tầng đáy biển khác nhau, sẽ mang lại những chỉ dẫn bổ ích cho các nhà chuyên môn, cũng như cho chúng ta biết rõ hơn về một khu vực, gần như chưa được biết tới này của Trái Đất.
http://www.viet.rfi.fr/khoa-hoc/20120327-cuoc-tham-hiem-thai-binh-duong-o-do-sau-11-km-da-duoc-quay-thanh-phim-tai-lieu-3d

Lô độc đắc hy hữu tại Hoa Kỳ : Hơn 600 triệu đô la về tay ít ra ba người

31 Tháng Ba 2012     

Chơi xổ số và giấc mơ trở thành tỷ phú
Chơi xổ số và giấc mơ trở thành tỷ phú
Reuters

Mai Vân
Lô độc đắc kỷ lục tại Hoa Kỳ, 640 triệu đô la đến trưa nay vẫn chờ người nhận. Cuộc xổ số đã diễn ra vào ngày 30/03/2012, số trúng là 2-4-23-38-46-23. Hiện chưa có thông báo chính thức về nhân dạng người “số đỏ”, nhưng theo báo chí Mỹ, đã có ít ra là ba người đánh trúng 6 số.

Theo giới lãnh đạo cơ quan lô tô, có 1 vé trúng được ghi nhận gần Thành phố Baltimore ở bang Maryland, một vé khác tại Redbud, bang Illinois. Đài truyền hình CNN còn cho biết là một người trúng thứ ba cư ngụ ở tiểu bang Kansas.
Theo các chuyên gia, phải chờ vài ngày nữa thì những người trúng số mới lộ diện, họ còn phải tham khảo ý kiến luật sư.
Theo nguyên tắc, người trúng số có hai cách nhận tiền : nếu nhận ngay thì “chỉ” nhận được 462 triệu mà thôi, còn nếu muốn nhận đủ 640 triệu, thì phải chấp nhận lãnh dần dần, tiền thưởng chia thành 26 khoản, mỗi năm được lãnh một khoản. Và phải đóng thuế.
Do con số tiền thưởng lớn chưa từng thấy, trong những ngày qua này, nước Mỹ đã kinh qua một cơn sốt chơi xổ số, cho dù ban tổ chức đã cảnh báo là cơ may trúng số còn hiếm hơn là... bị sét đánh. Khách đánh lô tô - người Mỹ và cả người nước ngoài - đã xếp hàng dài rồng rắn trước các điểm đăng ký.
Người thì mơ ước hồi hương để sống cuộc sống đế vưon như Rafael Estrada người Cộng Hòa Dominicana, được AFP trích dẫn, người thì muốn đóng góp từ thiện như Cosmin Barbos, người Rumani. Báo chí Mỹ cũng góp phần giúp độc giả mơ mộng : với nửa tỷ đô la, ta có thể mua đươc một chiếc Boeing 787, hay một hòn đảo tại Thái Lan.
Theo AFP, sở dĩ giải trúng lần này to lớn như thế, đó là vì qua 18 lần xổ số kế từ tháng giềng, không có ai trúng cả tiền thưởng được dồn lại.
Lần xổ số trước đây với hàng trăm triệu đô la tiền thưởng và có người trúng, là vào tháng Ba năm 2007. Khi ấy, lô trúng là 390 triệu, chia cho hai người, một ở bang New Jersey, một ở Georgia.
Châu Âu cũng có những lô độc đắc kếch xù, tuy không bằng. Lô có người trúng gần đây nhất là vào tháng 7/2011, với 185 triệu euro.
http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20120331-lo-doc-dac-hy-huu-tai-hoa-ky-hon-600-trieu-do-la-ve-tay-it-ra-ba-nguoi