maandag 13 april 2015

Ký ức giải phóng Trường Sa của đặc công hải quân

Thứ ba, 14/4/2015 | 01:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ ba, 14/4/2015 | 01:00 GMT+7

Ký ức giải phóng Trường Sa của đặc công hải quân

"Nếu là lực lượng nước ngoài chiếm đảo, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, nhưng khi nghe tiếng miền Bắc kêu gọi đầu hàng, chúng tôi đã buông súng", Thiếu tướng Mai Năng nhắc lại lời một viên chỉ huy Việt Nam Cộng hòa bị bắt làm tù binh ở Trường Sa năm 1975.
Mỗi độ tháng tư về, trong ký ức trung tá Đào Mạnh Hồng (hiện sống ở TP Hải Phòng, nguyên lính đặc công Đội 1, Đoàn 126), Trường Sa lại hiện lên rất gần và trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây như mới xảy ra ngày hôm qua.
Cuối tháng 3/1975, ông Hồng cùng đồng đội nhận nhiệm vụ hành quân cấp tốc từ Quảng Ninh vào Đà Nẵng. "Lúc xuống tàu, chúng tôi đều nghĩ mình sẽ quay lại miền Nam, trực tiếp chiến đấu chứ không biết sẽ nhận lệnh đi giải phóng Trường Sa", cựu binh 62 tuổi nhớ lại.
co.jpg
Lá cờ bộ đội hải quân cắm trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa) ngày 14/4/1975. Ảnh: Hoàng Phương.
Đêm 10/4/1975, các tàu vận tải giả dạng tàu đánh cá, phủ lưới lên trên boong chở bộ đội rời Đà Nẵng đến Trường Sa. Dọc đường đi, gặp tàu tuần tra của Hạm đội 7, có máy bay trinh sát nên cả đoàn phải rẽ ngược lên phía Bắc để đánh lạc hướng, chờ nguy hiểm qua đi rồi mới tiếp tục hành trình.
Gần 300 người cùng vũ khí ngồi san sát như những lớp cá xếp ngay ngắn dưới hầm tàu, lênh đênh trên biển. "Chúng tôi cứ ngồi trong khoang chật chội như thế, thiếu không khí, sóng dập sóng nhồi nên người mệt lử. Tôi bị say sóng không ăn được gì, thi thoảng người bên cạnh nhét cho một viên đường và cho uống nước để giữ sức", ông Hồng nói. Cảm giác lần đầu tiên say sóng đó đến giờ nghĩ lại ông vẫn thấy nôn nao.
Tối 13/4/1975, đoàn tàu "đánh cá" đến được quần đảo Trường Sa, nhận lệnh đánh đảo Song Tử Tây trước.  Một giờ sáng hôm sau, nhiệm vụ được phân công rõ ràng, Đội 1 đặc công do trung úy Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy, chia làm 3 mũi tiến công đảo. Trong đêm đen, các chiến sĩ mang theo súng AK, lựu đạn,... dùng xuồng cao su chèo tay, lợi dụng dòng hải lưu dần tiếp cận đảo. Trời, biển, đảo thời khắc ấy là một khối đen thăm thẳm, chỉ nghe tiếng sóng ầm ào. Trên đảo thi thoảng có ánh đèn tuần tra le lói. 
Phân đội do thượng sĩ Hồng dẫn đầu tiếp cận đảo sớm nhất. Theo hiệp đồng chiến đấu, phân đội của trung úy Quế sẽ nổ súng lệnh, tấn công đảo lúc 4h30. Nhưng đến sát giờ, đội đặc công do ông Quế chỉ huy vẫn chưa tiếp cận được đảo. Thượng sĩ Hồng phân vân không biết có nên nổ súng. "Phân đội có một khẩu B41. Tôi quyết định cho nổ súng tấn công trước, nếu đợi trời sáng bị phát hiện, yếu tố bí mật, bất ngờ sẽ không còn nữa", ông Hồng nhớ lại và cho rằng nổ súng trước là quyết định sáng suốt nhất đời lính của ông.
Khi chiến sĩ Lê Minh Đức bắn phát súng B41 đầu tiên cũng là lúc bộ đội xung phong lên đảo. Vừa  nổ súng, họ vừa tiếp cận cột cờ để chiếm ưu thế và kêu gọi lính Việt Nam Cộng hòa đầu hàng. Sau 30 phút chống trả yếu ớt, binh sĩ trấn giữ đảo buông súng. Cùng lúc, hai phân đội đặc công còn lại tràn lên đảo, hoàn toàn làm chủ tình hình. Rạng sáng 14/4, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh cột cờ của đảo Song Tử Tây.
Kết thúc cuộc tấn công chớp nhoáng,  hai chiến sĩ đặc công hi sinh. Liệt sĩ Tống Văn Quang sau này được mai táng gần cột cờ chủ quyền trên đảo. Còn chiến sĩ Ngô Công Quyền bị thương ở bụng, mất trên đường về đất liền. Phía Việt Nam Cộng hòa có  6 binh sĩ tử trận, 33 người bị bắt làm tù binh.
IMG-3734.jpg
Đại tá Phan Xuân Ạp hồi kể lại những ngày giải phóng Trường Sa. Ảnh: Nguyễn Đông.
Cùng tham gia tăng cường giải phóng Trường Sa, theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Quân khu 5, còn có tiểu đoàn đặc công 471 (thuộc Quân khu 5). Ngày 16/4, một cánh quân của tiểu đoàn này được lệnh xuống ba tàu vận tải giả dạng tàu cá ra đảo Sinh Tồn. Sau khi tiếp cận mục tiêu và trinh sát, đặc công bất ngờ đột kích lên đảo, bắt sống nhiều lính Việt Nam Cộng hòa.
Bốn ngày sau, 36 đặc công thuộc tiểu đoàn 471 tiếp tục nhận lệnh xuống tàu ra Trường Sa. Đến ngày 24/4,  đặc công hải quân đã trinh sát các đảo Nam Yết, Trường Sa lớn, An Bang, Sơn Ca. "Cấp trên lệnh xuống là phải chờ chứ chưa được đánh đảo", cựu binh đặc công Phan Xuân Ạp (64 tuổi, Chủ tịch Hội cựu chiến binh phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, Đà Nẵng) kể. Rạng sáng 25/4, lệnh tấn công được phát ra, các mũi đặc công đổ bộ, tràn lên đảo Sơn Ca. Quân lính Việt Nam Cộng hòa chống cự yếu ớt và đầu hàng sau 30 phút đấu súng.
Theo ông Ạp, sở dĩ quân giải phóng nhanh chóng giành thắng lợi ở Trường Sa là do lính Việt Nam Cộng hòa trấn giữ đảo thường xảy ra xô xát nên hầu hết vũ khí bị thu giữ, cất trong kho bởi vậy trở tay không kịp khi bị tấn công bất ngờ.
Nhận được tin Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam giải phóng đảo Song Tử Tây, chính quyền Sài Gòn điều 2 tàu chiến từ Vũng Tàu ra định phản kích chiếm lại, nhưng nản lòng trước những thất bại liên tiếp trên đất liền, nên quay sang tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết. Đến ngày 27/4, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã rút khỏi các đảo để theo tàu về đất liền.
"Khi chúng tôi tiếp quản Nam Yết, phát hiện trước đó lính Việt Nam Cộng hòa đã hạ hết nòng pháo ngang tầm bắn trên mặt nước, rải mìn kín xung quanh đảo. Cũng may, đặc công hải quân không đổ bộ sớm, chứ không chắc chắn có nhiều thương vong", ông Ạp nói. Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa rút khỏi đảo nào thì quân giải phóng lập tức lên tiếp quản, bố phòng chặt chẽ. Ngày 28/4, các đảo Trường Sa Lớn và An Bang được giải phóng.
Sau khi làm chủ Song Tử Tây, gần 30 đặc công hải quân được giao nhiệm vụ trụ lại phòng thủ đảo. Trung tá Đào Mạnh Hồng cho biết, đó là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng. "Sáng 14/4, một tàu đánh cá Trung Quốc tiến đến gần đảo, khi thấy cờ giải phóng thì chần chừ rồi quay đầu đi vòng quanh đảo, thăm dò 3 ngày liên tục".
Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Hải quân "bằng mọi giá không để cho quân đội nước ngoài vào chiếm đảo", lính đặc công đắp ụ cát, chặt thân dừa giả làm nòng pháo, rồi dùng bao bạt phủ lên trông giống ụ pháo, đánh lừa những con tàu lởn vởn quanh đảo như những bóng ma. Sau vài ngày thăm dò, chúng đành bỏ đi.
"Ngày ấy, chúng tôi đi giải phóng và giữ đảo bằng ý chí và một niềm tin sắt đá vì nhận thức rõ rằng, mảnh đất thiêng liêng này thuộc về chủ quyền đất nước", trung tá Hồng nói. 
mainang.jpg
Thiếu tướng Mai Năng, chỉ huy cuộc giải phóng các đảo Trường Sa năm 1975. Ảnh: Giang Chinh.
Đại tá Phan Xuân Ạp cho rằng, đất nước thống nhất đã 40 năm, nhắc lại quá khứ là điều cần thiết, đặc biệt khi chủ quyền biển đảo trở thành mối quan tâm lớn trong bối cảnh hiện nay. "Phải nói rằng, chính quyền Sài Gòn đã rất ý thức việc giữ chủ quyền biển đảo để phòng thủ đất nước bằng việc cho lính ra đóng giữ 6 đảo. Từ đó, quân giải phóng mới dễ dàng làm chủ tình hình. Những người lính đi giải phóng Trường Sa luôn mong mỏi một điều, thế hệ hôm nay và ngày mai phải giữ được những hòn đảo nơi địa đầu tổ quốc để phòng thủ đất nước từ xa", ông Ạp nói.
Thiếu tướng Mai Năng, chỉ huy chiến dịch giải phóng Trường Sa thì nhớ mãi câu nói của viên chỉ huy Việt Nam Cộng hòa khi bị hỏi cung ngay tại chỗ. Ông hỏi: "Sao cấp trên dặn kiên quyết phòng thủ mà lại đầu hàng?". Viên chỉ huy trả lời: "Nếu là lực lượng nước khác chiếm đảo, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Nhưng khi nghe tiếng miền Bắc kêu gọi đầu hàng,  chúng tôi đã buông súng, muốn giao lại đảo cho quân giải phóng". 
Nguyễn Đông - Hoàng Phương

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ky-uc-giai-phong-truong-sa-cua-dac-cong-hai-quan-3180288.html

Thứ hai, 13/4/2015 | 01:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ hai, 13/4/2015 | 01:00 GMT+7

Chiến dịch 'ngoài kế hoạch' giải phóng Trường Sa 1975

Khi các cánh quân trên đất liền ồ ạt tiến về Sài Gòn, lực lượng đặc công hải quân bất ngờ nhận lệnh giải phóng quần đảo Trường Sa trong tay quân đội Việt Nam Cộng hòa, bởi "nếu chậm, có thể quân đội nước ngoài xâm chiếm trước".
Tháng 3/1975, sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, chiến trường miền Nam chuyển biến mau lẹ. Ngoài thời cơ thống nhất đất nước, Bộ Tổng tham mưu đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhìn nhận cần gấp rút giải phóng các đảo trong quần đảo Trường Sa - vùng lãnh hải có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế và quân sự mà quân đội Việt Nam Cộng hòa đang nắm giữ.
Khi đó, Trường Sa có 11 đảo có người ở do quân đội của ba nước và vùng lãnh thổ đóng giữ, gồm: Đài Loan chiếm giữ Ba Bình; Philippines giữ Thị Tứ, Vĩnh Viễn, Bến Lạc, Nam Côn, Song Tử Đông; chính quyền Việt Nam Cộng hòa đóng giữ Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa Lớn và mới đặt bia chủ quyền ở đảo An Bang, chưa có người ở. Lực lượng quân đội Sài Gòn đóng giữ ở đây gồm khoảng 150 lính bảo an, thuộc Tiểu đoàn 371 Phước Tuy.
truongsa1.jpg
Bộ đội đặc công trên đảo Trường Sa năm 1975. Ảnh tư liệu.
"Sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc ngày 19/1/1974 càng cho thấy tầm chiến lược của những mảnh đất xa xôi, chập chờn trên sóng gió biển Đông. Cần tổ chức giải phóng kịp thời phần đất này. Nếu chậm, để quân đội nước khác xâm chiếm, tình hình sẽ rất phức tạp... Theo thăm dò, triển vọng ở đây có dự trữ dầu lửa lớn. Có thể thấy biển và đại dương sẽ là nguồn tài nguyên chủ yếu của nhân loại kể từ thế kỷ 21", Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ vấn đề và gọi đây là "một sự kiện đặc biệt diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu".
Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo chính quyền Sài Gòn đang chiếm giữ. Kiến nghị ngay lập tức được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25/3/1975. Chính ủy Hải quân Hoàng Trà được điều về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu, kiến nghị về nhiệm vụ của hải quân trong trận tổng giao chiến cuối cùng. Bộ Ngoại giao cung cấp tài liệu về các đảo, quần đảo thuộc vùng biển Việt Nam, Cục Quân báo nắm tình hình biển Đông.
Giải phóng các đảo do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ trong quần đảo Trường Sa trở thành một hướng tiến công chiến lược trên biển, nhằm phối hợp với các hướng tiến công trên bộ vào Sài Gòn. 
Về thời cơ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dặn dò: "Nếu đối phương đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay, nếu nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại. Trên mặt trận biển Đông, hành động của Hải quân cũng phải thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Khó khăn lớn nhất cho Hải quân là giải phóng các đảo trên một vùng biển rộng lớn với lực lượng nhỏ bé, xung quanh là sự lăm le của một số nước, trong đó có tàu của Hạm đội 7 Mỹ. Vị tổng tư lệnh lo lắng đặt câu hỏi: "Thời cơ giải phóng là như vậy, nhưng cách đánh thì sao? Trong tình hình vũ khí, phương tiện của ta còn kém hơn cả đối phương về số lượng và trình độ hiện đại?".
Nhiệm vụ được giao cho Đoàn 126, Quân chủng Hải quân. Đoàn đặc công nổi danh với hàng trăm trận đánh chìm tàu chiến của Mỹ ở Đông Hà - Cửa Việt làm lực lượng chủ công, phối hợp với đội đặc công nước của Tiểu đoàn 471 và Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 28, Sư đoàn 2 (Quân khu 5). Tàu vận tải quân sự của Trung đoàn 125 được giao nhiệm vụ chở quân. Thượng tá Mai Năng, Trưởng Đoàn 126 là chỉ huy trận này.
Ông Mai Năng giờ là thiếu tướng, nguyên Tư lệnh Binh chủng Đặc công. Nhớ lại ngày lên gặp Phó tư lệnh hải quân Hoàng Hữu Thái nhận nhiệm vụ ở quân cảng Đà Nẵng cuối tháng 3/1975, ông kể: "Giở hải đồ ra, chúng tôi thấy khoảng cách giữa các đảo trong quần đảo tương đối xa nhau. Từ Song Tử Tây đến An Bang khoảng 230 hải lý, các đảo còn lại đều cách nhau trên 10 hải lý".
Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ phải giải phóng đồng loạt 6 đảo. Ông Năng phân tích, đặc công nước chỉ chuyên đánh tàu, đánh cảng, hoạt động ở vùng cửa biển, chưa bao giờ đánh đảo. Địa bàn Trường Sa rộng lớn, chưa thông thuộc địa hình, không thể trinh sát trước, đặc công muốn đánh thì mắt phải thấy, tai phải nghe, tay phải sờ, chân phải đến. Phương án được thống nhất là không đánh đồng loạt vì lực lượng mỏng và không có quân dự bị, mà đánh và rút kinh nghiệm ở đảo đầu tiên giải phóng được rồi phát triển ra các đảo khác, trinh sát đến đâu, đánh đến đó.
sonca.jpg
Đảo Sơn Ca được giải phóng ngày 25/4/1975. Ảnh tư liệu.
Ngày 9/4/1975, Cục Quân báo phát hiện chính quyền Sài Gòn bắt đầu rút quân khỏi các đảo. Quân ủy Trung ương lập tức gửi điện tối khẩn cho các ông Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Hoàng Hữu Thái. "Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước đang có ý đồ xâm chiếm", nội dung bức điện nêu. Cùng thời điểm này trên đất liền, các cánh quân lớn đang hành quân thần tốc tiến vào thị xã Xuân Lộc, chọc thủng tuyến phòng ngự cuối cùng của cửa ngõ phía đông Sài Gòn.
Một ngày sau, các tàu vận tải 673, 674, 675 của Quân chủng Hải quân cải trang thành tàu đánh cá nước ngoài, chở theo các chiến sĩ đặc công rời quân cảng Đà Nẵng tiến về Trường Sa. Sau 3 ngày lênh đênh, đoàn tàu đến nơi, cách Song Tử Tây vài km vờ đánh cá để trinh sát tình hình.
Trong các đảo ở Trường Sa mà quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ, Nam Yết là mạnh nhất, có sở chỉ huy chung và khoảng 60 binh sĩ; Song Tử Tây có khoảng 40 và mỗi đảo còn lại khoảng 20 người, được trang bị vũ khí bộ binh, cối... Hạn chế lớn nhất của đội quân đóng giữ ở đây là lực lượng mỏng, khả năng ứng cứu từ đất liền ra hoặc giữa các đảo với nhau không dễ dàng, tinh thần hoang mang do thất bại liên tiếp từ đất liền.
Quân chủng Hải quân chọn đánh Song Tử Tây trước vì đây là chỗ yếu nhất và để thăm dò phản ứng của đối phương, làm bàn đạp tấn công các đảo còn lại. 
4h30 sáng 14/4, các tàu vận tải bí mật áp sát Song Tử Tây, 3 mũi đặc công cùng đổ bộ. Bị đánh bất ngờ, lính trên đảo chống trả yếu ớt. Sau 30 phút giao tranh, đặc công hải quân làm chủ Song Tử Tây, 6 lính Việt Nam Cộng hòa tử trận, 33 người bị bắt sống, 2 lính đặc công hy sinh.
Rạng sáng 14/4, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh cột trước bia chủ quyền trên đảo. Sau đó, một bộ phận chiến sĩ ở lại phòng thủ, số khác đưa tù binh, thương binh về Đà Nẵng bàn giao.
bia-chu-quyen-9504-1402984461.jpg
Bia chủ quyền trên đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa do Hải quân Việt Nam Cộng hòa dựng năm 1956. Ảnh: Nam Anh. 
Thực hiện chiến thuật vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, ngày 25/4, bộ đội hải quân chiếm Sơn Ca; ngày 27/4 làm chủ Nam Yết và Sinh Tồn; ngày 28/4 chiếm Trường Sa Lớn và An Bang. 
"Đúng như anh Văn nhận định, sáng 29/4, một số tàu lạ tiến vào gần các đảo, khi nhìn thấy cờ của quân giải phóng thì quay đầu bỏ đi. Nếu chúng tôi chậm vài tiếng đồng hồ trong việc làm chủ, tình hình sẽ phức tạp hơn", tướng Năng nói và cho hay đây là trận đánh lớn có ý nghĩa nhất với lực lượng đặc công khi góp phần giải phóng một vùng lãnh hải lớn, tạo nên tuyến phòng thủ đất nước từ xa. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng này vẫn nguyên giá trị và tính thời sự trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo hôm nay.
"Nhờ chớp thời cơ có lợi, tiến công giải phóng được 6 đảo trên, chúng ta mới có bàn đạp để từng bước mở rộng phạm vi đóng giữ ra các đảo, bãi cạn khác như ngày nay (9 đảo, 21 bãi cạn, 33 điểm đóng quân), củng cố thế đứng vững chắc trên toàn bộ quần đảo vốn được xác định là lá chắn phòng thủ từ xa phía sườn đông của Tổ quốc", thượng tướng Nguyễn Văn Hiến, Đô đốc hải quân đánh giá.
33 điểm đóng quân của Việt Nam tại huyện đảo Trường Sa bao gồm:
- Tại 9 đảo với 10 điểm đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh (2 điểm đảo A, B), An Bang, Trường Sa Đông, Trường Sa.
- Tại 12 bãi cạn nửa nổi nửa chìm với 23 điểm đảo (đảo đá): Đá Nam, Đá Thị, Đá Lớn (3 điểm đảo A, B, C), Cô Lin, Len Đao, Tốc Tan (3 điểm đảo A, B, C), Núi Le (2 điểm đảo), Tiên Nữ, Thuyền Chài (3 điểm đảo A, B, C), Đá Tây (3 điểm đảo A, B, C), Đá Đông (3 điểm đảo A, B, C), Đá Lát.
Hoàng Phương - Nguyễn Đông

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chien-dich-ngoai-ke-hoach-giai-phong-truong-sa-1975-3180329.html

Thứ bảy, 28/2/2015 | 11:38 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ bảy, 28/2/2015 | 11:38 GMT+7

Những căn cứ đồn trú trái phép của Trung Quốc ở Trường Sa

Bất chấp sự phản đối của Việt Nam và các nước trong khu vực, Trung Quốc vẫn xây dựng nhiều căn cứ kiên cố, đưa quân lên đồn trú, tiếp tục cải tạo đất ở nhiều bãi đá chiếm đóng phi pháp tại Trường Sa.
Trong ảnh là căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Đá Châu Viên. Đá này thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1988.
Theo trang mạng bách khoa toàn thư Baike của Trung Quốc, toàn bộ rạn san hô này rộng khoảng 7,6 km2, phần nổi rộng 0,25 km. Trung Quốc coi đây là "căn cứ đầu tiên" tại Biển Đông và tiếp tục nhiều hoạt động san lấp, xây dựng để mở rộng căn cứ.
 
Đá Gaven là một rạn san hô hình trái tim, thuộc quần đảo Trường Sa, bị Trung Quốc chiếm từ năm 1988 và bắt đầu đưa quân đồn trú trái phép tại đây từ năm 2003.
Theo Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế của Mỹ, Bắc Kinh bắt đầu xây đảo nhân tạo có quy mô hơn 70.000 m2 từ tháng 3/2014. Các tòa nhà chính ở đây dường như có tháp phòng không. Trung Quốc cũng cải thiện điều kiện đóng quân tại đây, đặt nền tảng vững chắc cho "sự kiểm soát lâu dài ở Biển Đông".
 
 
Bãi Chữ Thập là rạn san hô hình bầu dục thuôn dài, chia làm hai khu, tây nam và đông bắc. Toàn bộ rạn san hô này rộng 7,8 km, dài 26 km, diện tích 108 km2. Ở giữa có hồ nước nông, sâu khoảng 14,6 đến 40m. Khi thủy triều lên, toàn bộ rạn san hô chìm xuống dưới nước khoảng 1 m. Rạn san hô chính nằm ở góc tây nam, ước tính rộng 4 km2.
Theo Backchina, tháng 7/2013, Trung Quốc bắt đầu cải tạo đá Chữ Thập phi pháp. Cho đến ngày 17/11/2014, diện tích cải tạo ở đá Chữ Thập đạt 1,26 km2 và sẽ tiếp tục mở rộng do việc cải tạo vẫn đang tiếp diễn.
Sohu cho biết, Hải quân Trung Quốc lần lượt xây dựng một đài quan trắc trên bãi Chữ Thập, một bãi đáp trực thăng và vườn rau rộng 500 m2, phục vụ cho hơn 2.000 quân đồn trú. Ngoài ra, phía đông đá Chữ Thập, Trung Quốc cũng cho đào và xây dựng một bến cảng, làm nơi neo đậu cho tàu chở dầu và tàu hải quân. Trung Quốc coi đây là "vị trí chiến lược" ở Biển Đông.
 
 
Đá Vành Khăn nằm ở phía đông quần đảo Trường Sa, là một rạn san hô hình bầu dục, tổng diện tích ước tính 46 km2. Ở giữa rạn san hô là một vùng nước rộng khoảng 36 km2, sâu 20 - 30 m, là nơi tránh bão lý tưởng cho tàu thuyền lớn.
Năm 1995, sau khi chiếm đá Vành Khăn, Trung Quốc cho xây dựng 13 nhà giàn. Năm 1999, Trung Quốc hoàn thành một tòa nhà 3 tầng bằng bê tông cốt thép - "tiền đồn vĩnh cửu" làm căn cứ bành trướng ở Biển Đông.
 
Đá Tư Nghĩa bị Trung Quốc chiếm đóng năm 1988. Kể từ đó, Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình kiên cố để quân lính đồn trú trên "cửa ngõ quan trọng" này. Đá Tư Nghĩa nằm cách Ken Nan 1,4 km về phía tây và đá Bình Sơn 2,4 km về phía đông.
Kiến trúc ở đây gồm có bãi đỗ trực thăng, ở bốn góc là các tháp phòng không hoặc chảo radar. Theo Sina, thiết kế này cho thấy, Trung Quốc đã quy hoạch hóa kiến trúc xây dựng trên các đảo chiếm đóng, đa phần các đảo đều được xây dựng theo mô hình này.
 
Đá Xu Bi là một rạn san hô vòng phía tây nam quần đảo Trường Sa, dài khoảng 6,5 km, rộng 3,7 km.
Trung Quốc chiếm đóng Xu Bi từ năm 1988. Từ đó đến nay, Trung Quốc đã nhiều lần chở vật liệu ra rạn san hô này để xây dựng các nhà nổi kiên cố.
 

Hồng Hạnh (theo Sina/Back China)

http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/nhung-can-cu-don-tru-trai-phep-cua-trung-quoc-o-truong-sa-3151260.html

Geen opmerkingen:

Een reactie posten