Diễn biến chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ
Khi xây dựng Điện Biên Phủ thành cứ điểm mạnh nhất Đông Dương 60 năm trước, thực dân Pháp tin chắc lòng chảo này sẽ nghiền nát Việt Minh. Nhưng quân đội Việt Minh, từ thế yếu đánh thế mạnh, giành chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Trong cuốn sách "Kể chuyện đất nước", nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện phải thốt lên: "Từ máy bay nhìn xuống, người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Navarre, một trong những tướng tài ba nhất của thực dân Pháp lại đem quân tự nhốt vào vào cái "chậu" bốn bề bịt kín thế này... Đi bộ từ đồng bằng lên, nhớ lại cảnh đoàn dân công trèo đèo lội suối dưới làn bom đạn của địch... người ta tự hỏi: Không hiểu vì sao Tướng Giáp lại dẫn những đơn vị chủ lực của mình từ nơi xa xôi đến đây để giao chiến trong hoàn cảnh vô cùng không thuận lợi?"... Lịch sử bao giờ cũng có lôgic của nó, Pháp xem Điện Biên Phủ là cỗ máy nghiền nát Việt Minh. Việt Minh biết vậy, nhưng vẫn xông lên mong lật ngược tình thế.
Cuối năm 1953, Pháp sa lầy vào trên chiến trường Đông Dương. Để tìm giải pháp đàm phán ưu thế, Henri Navarre được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Ngày 20/11/1953, Pháp bắt đầu nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, và xây dựng nơi đây thành pháo đài bất khả xâm phạm.
Lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tinh nhuệ và được trang bị vũ khí tối tân với hệ thống phòng ngự liên hoàn. Có 2 sân bay là Mường Thanh và Hồng Cúm.
Tại Điện Biên Phủ, Pháp còn nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Mỹ về hậu cần và vũ khí. Trong ảnh, máy bay vận tải hạng nặng C119 của Mỹ chuẩn bị cất cánh chở hàng giúp Pháp.
Có 16.000 quân Pháp tại đây, được bố trí ở 3 phân khu. Phân khu Bắc gồm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Phân khu trung tâm gồm các cao điểm phía Đông, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh. Phân khu Nam gồm cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm.
Với quân đông, hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vật cản vững chắc, quân lương đầy đủ, người Pháp cho rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là"pháo đài khổng lồ không thể công phá". Pháp tin Việt Minh với cách đánh truyền thống, khó khăn vũ khí và nhất là hậu cần sẽ dễ dàng sa lưới. Vì thế, ngay từ đầu năm 1954, Pháp cho máy bay rải tuyền đơn thách thức Việt Minh tấn công.
Về phía Đảng Lao Động Việt Nam, dù thấy trước nhiều khó khăn nhưng xác định Điện Biên Phủ là cơ hội lớn sẽ tạo nên bước ngoặt chiến lược, từ đó chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ.
Quân đội Việt Nam tham gia chiến dịch tuy nhiều hơn quân Pháp, song về hỏa lực và phương tiện chiến tranh thì quân Pháp có ưu thế. Mặt khác, Pháp được bảo vệ trong hệ thống công sự trận địa vững chắc. Nếu không có phương án tác chiến đúng đắn thì khó có thể thắng địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Trận này rất quan trọng phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh".
Ngày 14/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" và dự định ngày nổ súng là 20/1. Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng những đợt tiến công ồ ạt. Song một đơn vị đại bác vào trận địa chậm và kế hoạch bị lộ nên lịch tấn công dời đến ngày 26/1. Ngày đêm 25/1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ và đưa ra "quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân", chuyển từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh", sang "đánh chắc, tiến chắc", đánh dài ngày theo kiểu bóc vỏ từng cứ điểm đối phương.
Để khắc phục vấn đề hậu cần, Đảng Lao động Việt Nam đã huy động tối đa sức người, sức của. Dân quân tham gia chiến dịch lên đến 260.000, cao gấp nhiều lần bộ đội chiến đấu. Tính tổng cả chiến dịch đã huy động tới 12 triệu ngày công. Trong ảnh, công an bảo vệ dân quân mở đường cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bên cạnh xe cơ giới, chiến dịch Điện Biên Phủ đã huy động hơn 20 nghìn chiếc xe đạp thồ tham gia vận chuyển hàng hóa, vũ khí. Ban đầu, một xe chỉ chở được 100 kg, nhưng sau cải tiến thêm tay ngai, quấn lốp, mỗi xe chở được trên 200 kg, có xe 300 kg. Xe của chiến sĩ Ma Văn Thắng, quê Phú Thọ chở được 352 kg, đạt kỷ lục trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đường vận chuyển trên sông Nậm Na cũng được khai thông. Dân công đã đóng được 11.600 bè gỗ, tổ chức vận chuyển được 1.700 tấn gạo. Để chống chọi với thời tiết núi rừng khắc nghiệt, các đơn vị bộ đội tổ chức ăn sạch, ở sạch, dựng bếp Hoàng Cầm, tăng gia sản xuất. Vì thế trong chiến dịch sức khỏe bộ đội tốt, không có dịch bệnh xảy ra.
Hơn hết, Pháp không ngờ Việt Nam đã gỡ lựu pháo 105 mm và pháo cao xạ 37 mm, dùng sức người kéo vào lòng chảo Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Minh cũng xây dựng được hệ thống giao thông hào chằng chịt hơn 400 km, và ngày càng khép chặt vòng vây quân Pháp. Để đem đến quyết định thắng lợi trên đồi A1, quân đội Việt Nam đã gỡ mìn, lấy thuốc nổ, chuẩn bị khối bộc phá 1000 kg.
17h30 ngày 13/3/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Đợt 1 từ13/3 đến 17/3, Việt Minh tấn công vào phân khu Bắc. Sau 5 ngày đã làm chủ Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Chiến thắng này mở rộng cánh cửa phía bắc Điện Biên Phủ và khích lệ tinh thần chiến sĩ.
Đợt 2 của chiến dịch bắt đầu từ ngày 30/3 đến 30/4, tiến công vào tập đoàn cứ điểm phía Đông, gồm các ngọn đồi C1, E, D, A1. Trong đợt tiến công lần 2, một thời gian biểu mới được áp dụng cho bộ đội là ngủ ngày, đánh suốt đêm. Việt Minh dùng chiến thuật vây lấn bằng hệ thống giao thông hào dần bao vây, siết chặt, đào hào cắt ngang cả sân bay, vào tận chân lô cốt cố thủ của địch.
Đây là đợt tiến công gay go, quyết liệt, hai bên giành nhau từng tấc đất, giao thông hào. Cả hai bên đều bị thiệt hại lớn. Sau một tháng chiến đấu, Việt Minh làm chủ nhiều cứ điểm, pháo cao xạ 37 mm của Việt Minh ngày càng tiến sâu vào trận địa.
Quân Pháp ngày càng thất thế trên chiến trường Điện Biên Phủ, phải chờ tiếp viện của Mỹ. Mỗi ngày quân Pháp ở đây cần 295 tấn hàng các loại nhưng chỉ máy bay chỉ tiếp viện tối đa 175 tấn, nhưng 15% số này rơi vào vùng chiếm đóng của Việt Minh. Đói khát, mùa mưa, hầm hào lầy lội, quân lính chết không chỗ chôn, sức khỏe kém, bệnh dịch... tình cảnh quân Pháp khó khăn đến cùng cực.
Thừa thắng xông lên, quân đội Việt Nam mở đợt tấn công lần 3, từ ngày 1/5 đến 7/5, Việt Minh đánh chiếm các cứ điểm còn lại. Riêng đồi A1, cứ điểm được xây dựng kiên cố nhất đã tiến hành tới 4 đợt tiến công nhưng chỉ chiếm được nửa quả đồi. Đêm 6/5, quân đội Việt Nam phải dùng thuốc nổ bí mật phá sập hệ thống hầm ngầm, chiếm được quả đồi.
17h30 ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries.
Tướng De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Sau này De Castries - người từng theo học Trường Quân sự Saint Cyr nổi tiếng thế giới - đã thốt lên rằng: "Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là không biết Tướng Võ Nguyên Giáp đã tốt nghiệp từ những trường, học viện võ bị cao cấp nào".
Toàn bộ 16.000 lính Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoặc bắt sau khi kết thúc chiến dịch.
Sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương.
Thiếu tướng Delteil thay mặt Bộ Tổng tư lệnh Quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương ký bản hiệp định đình chiến ở Việt Nam và Lào ở Hội nghị Geneva.
Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam và chấm dứt chế độ thực dân ở các nước này. Các nhà phân tích cho rằng có nhiều nguyên nhân làm nên thắng lợi lịch sử ở Điện Biên Phủ, và chắc chắn trong đó có sự khinh địch của liên quân Pháp - Mỹ. Việt Nam đã làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" chính từ trong thế yếu ấy.
http://vnexpress.net/photo/thoi-su/dien-bien-chien-thang-lay-lung-dien-bien-phu-2983460.htmlDương (Ảnh Tư liệu)
10 chiếc xe tăng trên chiến trường Điện Biên
Trong 10 chiếc xe tăng do Mỹ sản xuất được biên chế cho quân đội Pháp tại chiến trường Điện Biên, có 3 chiếc còn khá nguyên vẹn bị quân đội Việt Nam thu giữ sau trận chiến.
Sau khi nhảy dù chiếm lòng chảo Điện Biên tháng 11/1953, quân đội Pháp đã đưa tới nhiều khí tài phục vụ nhu cầu phòng thủ của tập đoàn cứ điểm, trong đó có các loại pháo, xe quân sự, đặc biệt là một đại đội xe tăng gồm 10 chiếc.
Xe tăng M24 được không vận từ Cát Bi (Hải Phòng) lên Điện Biên và lắp ráp ngay tại sân bay Mường Thanh.
|
Những chiếc tăng này thuộc dòng xe M24 mang tên Charfee, do các hãng sản xuất vũ khí Mỹ chế tạo. Dòng xe này được đặt tên theo tên của Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Adna R. Chaffee, Jr., người được mệnh danh là "Cha đẻ của lực lượng thiết giáp Hoa Kỳ”.
Đây là loại tăng chiến đấu hạng nhẹ, nặng 18 tấn, trang bị pháo 75mm. Ngoài ra, có một súng máy Browning 12,7 mm trên nóc tháp pháo và hai súng máy 7,62 mm. Xe dài 5,56 m (bao gồm cả chiều dài pháo chính), cao 2,77 m và rộng 3 m. Toàn thân xe được bọc giáp dày 9-25 mm. Mỗi kíp xe theo tiêu chuẩn có 5 người.
Mười chiếc xe tăng này được tháo rời và không vận từ sân bay Cát Bi (Hải Phòng) tới sân bay Mường Thanh và lắp ráp ngay tại tập đoàn cứ điểm.
10 chiếc tăng được biên chế thành đại đội số 3, thuộc trung đoàn kỵ binh hạng nhẹ số 1 (3/1 RCC), với một xe chỉ huy và 3 phân đội, trong đó phân bổ cho phân khu Mường Thanh 2 phân đội (6 xe), và phân khu phía Nam (Isabelle - Hồng Cúm) 3 xe. Chỉ huy đại đội là đại úy Yves Hervouët.
Xe chỉ huy mang tên Conti. Ảnh: Anciens-cols-bleus.net
|
Theo “truyền thống” lãng mạn của người Pháp, giống như việc các cứ điểm tại tập đoàn cứ điểm Điện Biện mang tên các “mỹ nhân” như Isabelle (Hồng Cúm), Béatrice (Him Lam), Éliane…, các xe tăng của đại đội 3 cũng được đặt những tên riêng. Theo cuốn sách "The Last Valley" (Thung lũng cuối cùng) của tác giả Martin Windrow thì chiếc xe chỉ huy đại đội mang tên Conti, hai phân đội tăng ở phân khu Mường Thanh được chia thành phân đội Bleu (Xanh dương), gồm các xe Bazeille, Douaumont, Mulhouse và phân đội Rouge (Đỏ): Ettlingen, Posen, Smolensk. Phân đội tăng đóng tại Hồng Cúm mang tên Vert (Xanh lá cây), gồm 2 xe tăng mang tên Ratisbonne và Neumach.
Chiếc xe tăng chỉ huy được đặt là Conti, lấy từ tên tiểu đoàn 3 trung đoàn kỵ binh hạng nhẹ số 1 - Régiment Conti Cavalerie.
Các tên Bazeille, Ettlingen, Posen, Smolensk, Auerstaedt, Ratisbonne, Neumach là do những người lính Lê dương gốc Đức đặt để tưởng nhớ những địa danh ở quê hương. Bazeille là thị trấn ở miền Nam nước Pháp, Etlingen là một thị trấn ở Tây Nam nước Đức, Posen là một làng ở Ba Lan nhưng thuộc nước Phổ (Đức), còn Smolensk ở miền Tây nước Nga.
Trong cuộc chiến tại Điện Biên, đại đội xe tăng này đã gây rất nhiều khó khăn và thiệt hại cho quân đội Việt Nam. Như trong trận đánh đồi Độc Lập, ngày 15/3, quân Pháp mở cuộc phản công dưới sự chỉ huy của Trung tá Pierre Langlais, chỉ huy trưởng phân khu trung tâm thay cho Trung tá Jules Gaucher vừa tử trận, huy động 2 tiểu đoàn dù, tổng cộng 1.000 lính và tới 5 xe tăng, nhưng đang tiến quân thì bị nã pháo trúng đội hình nên bị đẩy lùi.
Xe tăng M24 hoạt động trên cánh đồng Mường Thanh.
|
Cuộc phản kích hòng chiếm lại con đường nối giữa phân khu Hồng Cúm và phân khu trung tâm ngày 28/3, cũng là một trận chiến khốc liệt có xe tăng yểm trợ. Trận này, xe tăng Pháp đã xông vào trận địa pháo phòng không của Việt Minh. Theo hồi ký “Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” (Hữu Mai thể hiện), do không có bộ binh bảo vệ, các pháo thủ đã phải dùng cờ lê, chân súng máy… đánh giáp lá cà với quân dù Pháp, trước khi được các đồng đội hỗ trợ giải nguy. Theo Đại tướng, đây là cuộc phản kích quy mô lớn cuối cùng của quân Pháp.
Sau này, khi quân ta phát huy hiệu quả của súng không giật (DKZ) đạn lõm, lần lượt từng chiếc xe tăng của Pháp đã bị tiêu diệt.
Trong trận đánh đồi A1, sáng 1/4, quân Pháp cho 2 xe tăng từ phân khu trung tâm lên phản công, các chiến sĩ đại đội 674, tiểu đoàn 251, trung đoàn 174, đại đoàn 316 dùng DKZ bắn cháy một chiếc, chiếc còn lại bị thương phải bỏ chạy. Chiếc xe bị bắn cháy mang tên Bezeille, hiện được trưng bày trên đồi A1.
Xác chiếc xe Bezeille bị bắn cháy trên đồi A1. Ảnh: Người lao động.
|
Một số xe tăng khác thì bị pháo binh của Việt Minh tiêu diệt, như chiếc tăng hiện “phơi xác” trên cánh đồng Mường Thanh, đã bị đại đội 802 pháo 105mm thuộc trung đoàn pháo 45 bắn hạ ngày 23/4. Còn chiếc xe Ettlingen bị đại đoàn pháo 351 bắn cháy ngày 7/5, đang nằm gần cửa hầm tướng De Castries, cạnh đó là chiếc xe chỉ huy Conti.
Đại tá Hoàng Đăng Vinh, nguyên chiến sĩ đại đội 360, tiểu đoàn 130, trung đoàn 209, đại đoàn 312, người tham gia tổ chiến đấu đã xông vào hầm bắt sống tướng De Castries, kể lại: “Trong quá trình tiến vào trung tâm, các đồng đội của tôi nhìn thấy trước mặt có một ụ đất nhô lên khá cao, xung quanh là 4 chiếc xe tăng chạy vòng tròn. Đang không biết là gì thì tổ bắt được một tên địch, sau khi tra hỏi hắn khai đó là hầm của tướng De Castries. Mừng rỡ khi biết thông tin đó, tổ của tôi liền tung thủ pháo đón đầu khiến một xe tăng trúng đạn rơi xuống giao thông hào, một chiếc khác bị đơn vị bạn tiêu diệt, hai chiếc còn lại liền tháo chạy".
Kết thúc trận Điện Biên Phủ, Việt Minh đã tiêu diệt 8 xe tăng địch, và thu được 2 chiếc còn nguyên vẹn. Những chiếc xe tăng chiến lợi phẩm này đã tham gia vào đoàn quân duyệt binh mừng chiến thắng ngày 13/5 trên cánh đồng Mường Phăng. Hình ảnh những chiếc xe tăng này, với những chiến sĩ Việt Nam hân hoan mừng chiến thắng bên trên và cắm cờ “Quyết chiến quyết thắng” đã được nhà quay phim Roman Carmen ghi vào trong bộ phim tài liệu nổi tiếng “Việt Nam” của ông.
Vợ chồng Đại đoàn phó Cao Văn Khánh chụp ảnh cưới trên xe tăng bị bắn cháy tại Mường Thanh.
|
Ít ngày sau khi tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Đại đoàn phó Đại đoàn 308 Cao Văn Khánh tổ chức lễ cưới với người vợ, y sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản. Hai người đã có tấm ảnh để đời khi hạnh phúc đứng trên tháp pháo xác chiếc xe tăng M24 bị bắn cháy tại sân bay Mường Thanh.
Sau này, các xe tăng M24 chiến lợi phẩm từ chiến trường Điện Biên đã được quân đội dùng trong công tác huấn luyện hiệp đồng binh chủng.
Tiên Long
- Những cuộc hội ngộ bất ngờ giữa Điện Biên (7/5)
- Người dân chen chân xem diễu binh (7/5)
- http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/10-chiec-xe-tang-tren-chien-truong-dien-bien-2986903.html
Cuộc hỏi cung chớp nhoáng tướng De Castries
"De Castries lúc đó đội mũ calô, mặc quân phục mùa hè. Mặt tái mét nhưng rất kiểu cách.", trung tá Nguyễn Xuân Tính nhớ lại.
60 năm sau chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", ở tuổi 84 mái tóc bạc phơ nhưng hành động và dáng đi của người chiến sĩ Điện Biên năm xưa vẫn nhanh thoăn thoắt. Đôi mắt tinh anh và minh mẫn, ông Tính bảo: "Tôi rất tự hào vì là chiến sĩ Điện Biên. Chứng kiến sự thất bại của quân Pháp và chiến thắng hào hùng của quân dân ta vẫn còn in đậm trong ký ức...". Với ông, sâu đậm nhất đó chính là giây phút ông được giao nhiệm vụ làm phiên dịch trong cuộc hỏi cung tướng De Castries khi vừa bị bắt.
Quê gốc ở Đông Sơn (Thanh Hóa), 20 tuổi, ông Tính rời ghế nhà trường nhập ngũ và được phiên chế vào Đại đoàn 312 đóng quân ở Hà Nội. Năm 1954, đơn vị ông được lệnh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ở tuổi 84 nhưng trung tá Nguyễn Xuân Tính vẫn minh mẫn, nhớ tỉ mỉ những ký ức về Điện Biên. Ảnh: Nguyễn Hải.
|
Ông Tính hồi tưởng lại, lúc đó đã gần 18h ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng chiến sĩ dẫn giải tướng De Castries và Bộ tham mưu Pháp về sở chỉ huy của Đại đoàn 312.
Vốn là người giỏi tiếng Pháp nên ông Tính được chỉ huy Đại đoàn điều lên làm phiên dịch nhằm phân loại binh lính, hạ sĩ quan các cấp để giải về những nơi quy định.
"Tướng De Castries lúc đó đội mũ calô, mặc quân phục mùa hè, mặt tái mét nhưng rất kiểu cách. Bị dẫn giải tới Sở chỉ huy, De Castries tưởng đây là Bộ tổng chỉ huy của quân ta nên cất lời vừa chào vừa như hỏi: "Kính chào các ngài! Bộ tổng chỉ huy", ông Tính nhớ lại giây phút trông thấy tướng De Castries.
Tướng De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Ảnh tư liệu.
|
Lúc này, ông Lê Trọng Tấn nói bằng tiếng Pháp cho phép De Castries và Bộ tham mưu của ông ta ngồi xuống. Viên tướng Pháp cảm ơn rồi ngồi ở hàng ghế dành cho mình. Thấy chỉ có mình De Castries ngồi, ông Tấn nhắc lại: "Tôi cho phép tất cả các ông ngồi". Một viên sĩ quan đáp: "Thưa ngài! Thiếu tướng của chúng tôi chưa cho phép ngồi".
Ông Tấn liền gằn giọng: "Không còn tướng tá nào nữa! Tất cả các ông đều là tù binh nên mọi mệnh lệnh của chúng tôi các ông đều phải chấp hành". Đến khi hỏi cung thì các vị chỉ huy Đại đoàn hỏi qua phiên dịch.
Sau khi kiểm tra tên tuổi, cấp bậc, số hiệu sĩ quan của từng người, đem ảnh và chữ ký đối chiếu chính xác, cuộc hỏi cung bắt đầu. Ông Tính nhớ lại tỉ mỉ giây phút mình làm phiên dịchcuộc hỏi cung này.
Khi cán bộ ta hỏi câu cuối cùng: "Để khỏi mang danh là viên tướng nòi của một cường quốc bị bắt sống, Bộ tổng chỉ huy của các ông đã điện yêu cầu ông tự sát thì nước Pháp sẽ tri ân và suy tôn ông là anh hùng trong cuộc chiến tại Việt Nam. Ông đã hứa "xin tuân lệnh". Sao không thực hiện?", De Castries trả lời rằng: Thưa ngài! Tôi thấy mình cần có trách nhiệm với hàng ngàn thương binh và binh sĩ dưới quyền để chia sẻ, chịu chung số phận với họ.
Theo ông Tính, thời gian của cuộc hỏi cung tướng De Castries tại Sở chỉ huy Đại đoàn chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy 30 phút trước khi tách ông ta và số sĩ quan tham mưu để giải về nơi quy định. Vì vậy về sau mọi người vẫn nói đây là cuộc hỏi cung chớp nhoáng.
Ông Tính vẫn hàng ngày làm thơ, viết sách để tặng bạn bè, con cháu. Ảnh: Nguyễn Hải.
|
Cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ Điện Biên, anh chiến sĩ Nguyễn Xuân Tính tiếp tục bước vào giảng đường Đại học sư phạm Hà Nội.
Sau đó, ông về công tác tại Quân khu 4, phụ trách mảng khoa học quân sự, văn phòng Bộ tư lệnh. Năm 1982, ông xuất ngũ với hàm trung tá.
Ông Tính lập gia đình cùng cô giáo làng Trần Thị Minh Lý, có với nhau 5 người con. Cả gia đình ông hiện sinh sống tại thành phố Vinh (Nghệ An). Hàng ngày, ông Tính vẫn làm thơ, viết sách để tặng bạn bè con cháu.
Nguyễn Hải
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cuoc-hoi-cung-chop-nhoang-tuong-de-castries-2986941.html
Cuộc hỏi cung De Castries sau khi bị bắt
Trung tá Tính kể lại nội dung cuộc hỏi cung tướng De Castries ngay sau khi bị bắt vào chiều 7/5/1954.
Toàn bộ 16.000 lính Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoặc bắt sau khi kết thúc chiến dịch. Ảnh tư liệu.
|
De Castries và toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt và bị hỏi cung trong vòng 30 phút ngay sau đó. Nội dung cuộc hỏi cung ghi theo lời kể của ông Nguyễn Xuân Tính, người được giao làm phiên dịch:
- Ông và Bộ chỉ huy quân Viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố "Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm" và chính ông đã cho máy bay rải truyền đơn mời chúng tôi vào chơi trong cái bẫy đã gài sẵn. Nay ông nghĩ thế nào về nơi đó?
De Castries không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, giọng chua chát: Vâng hôm nay chúng tôi đã được gặp các ngài.
- Các ông đánh giá thế nào về lực lượng pháo binh của mình Điện Biên Phủ, mà chỉ huy pháo binh (Đại tá Piros) của các ông tuyên bố, chỉ cần phản pháo 10 phút thì pháo của Việt Minh phải câm họng và sau hai ngày pháo của ông sẽ nghiền nát chúng tôi?.
- De Castries: Chúng tôi không ngờ các ngài đem pháo hạng nặng lên Điện Biên Phủ và sử dụng có hiệu quả nên áp chế được pháo chúng tôi.
- Có phải không nghiền nát được chúng tôi mà Đại tá Piros đã tự nghiền nát tay mình bằng một quả lựu đạn?
- De Castries: Vâng! Piros đã tự kết liễu đời mình.
- Ông đã nhận được điện của Đại tướng Navarre cho phép thực hiện các kế hoạch Albatros phá vây chạy sang Lào, sao các ông không thực hiện?
- De Castries: Các ngài đã thắt chặt vòng vây và đón lõng nên chúng tôi không thể mạo hiểm.
- Không mạo hiểm nghĩa là các ông phải chịu thất thủ và phải đầu hàng, các ông biết điều đó từ khi nào?
- De Castries: Khi các ngài cho nổ khối bộc phá đồi A1 khi cho dạo dàn nhạc Staline thì chúng tôi biết giờ phút thất thủ đã đến. (Dàn nhạc Staline là cụm từ quân Pháp ám chỉ dàn hỏa tiễn Cachiusa do Liên Xô sản xuất được bộ đội sử dụng vào thời điểm cuối cùng của chiến dịch).
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cuoc-hoi-cung-chop-nhoang-tuong-de-castries-2986941-p2.html
Người lính đầu tiên nã đạn xuống cứ điểm Him Lam
95 tuổi, bước đi không vững nhưng cựu binh Nguyễn Huy Mẫn vẫn nhớ như in những ký ức về trận pháo kích mở màn của quân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
Ở cái tuổi xưa nay hiếm, mắt mờ, chân run nhưng khi được hỏi về trận pháo kích vào trung tâm đề kháng Him Lam (Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), ông Nguyễn Huy Mẫn, tổ 13, phường Bắc Sơn, quận Kiến An (Hải Phòng) như khỏe hơn.
Khi đó là lính thuộc Đại đội 806 (tên cũ Đại đội 119), Trung đoàn 45, Đại đoàn 351, đơn vị ông được giao nhiệm vụ khai hỏa, nã những phát pháo đầu tiên vào Him Lam - cánh cửa sắt của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Cựu pháo binh Nguyễn Huy Mẫn. Ảnh: Giang Chinh.
|
Đại đội của ông có 4 khẩu 105 ly, 14 pháo thủ, 2 cán bộ chỉ huy. Ngoài việc chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, đơn vị ông còn chịu trách nhiệm đón đoàn văn nghệ sĩ từ Hà Nội lên công tác gồm các nhà văn Nguyễn Đình Thi, Thép Mới, họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà quay phim kiêm chụp ảnh Nguyễn Tiến Lợi. Trong một lần sang đồi E1 tìm hiểu thực tế sáng tác, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hy sinh.
Ông Mẫn được giao chỉ huy khẩu đội pháo "đầu đàn", gồm pháo thủ Vạn (quê Ninh Bình), hai người khác quê Nam Định tên là Chính và Khả.
Trước giờ nổ súng, khẩu đội ông được lệnh điều chỉnh hướng bắn. Khi di chuyển, mọi người phát hiện nòng pháo vướng vào thành công sự, không đủ xạ giới. Đội buộc phải xin thêm thời gian để phá thành công sự. Bộ chỉ huy mặt trận ra hạn 29 phút phải hoàn tất công việc.
Khẩu đội đang loay hoay thì một cán bộ công binh xin được vào “chia lửa” và gần 10 phút sau, công việc đã hoàn tất. Nòng pháo được chỉnh hướng bắn nhưng đường đạn lại bị một cây đại thụ chắn tầm cách đó hơn 1 km. Phương án được đưa ra là dùng thuốc nổ phá cây, nhưng để đảm bảo bí mật, bất ngờ cây sẽ được phá cùng lúc pháo nhả đạn.
17h10 ngày 13/3/1954, khẩu đội 105 ly của ông Mẫn nhận lệnh khai hỏa. Viên đạn bay khỏi nòng cũng là lúc khối bộc phá phát nổ vang dậy núi rừng, cây đại thụ phía trước bị thổi bay, dọn đường cho pháo nã đạn vào đồn địch tại cứ điểm Him Lam.
Tiếng pháo vừa dứt, không thấy trinh sát báo kết quả về, cả khẩu đội ngơ ngác, ông Mẫn mồ hôi tứa ra ướt đẫm bộ quân phục.
Rút kinh nghiệm từ quả đạn đầu, pháo được chỉnh lại cự ly theo tin trinh sát tiền duyên báo về. Loạt đạn thứ hai được bắn đi, cả khẩu đội hồi hộp và vỡ òa khi nhận tin phát đạn trúng mục tiêu, hạ gục cột cờ trong cứ điểm Him Lam.
19 quả đạn 105 ly bắn vào Him Lam chiều hôm đó đã đánh sập cột cờ, phá hủy 7 lô cốt mẹ trong đó có lô cốt của Bộ chỉ huy Pháp, 5 tổ đài vô tuyến, diệt tại chỗ nhiều sĩ quan và lính Pháp.
Với kết quả này, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh tất cả các đơn vị pháo tiếp tục đồng loạt bắn phá Him Lam. 300 viên đạn 105 cày nát trận địa địch, làm địch tê liệt hoàn toàn, tạo điều kiện cho bộ binh Sư đoàn 312 tấn công tiêu diệt cứ điểm.
Sau trận mở màn, pháo thủ Nguyễn Huy Mẫn được tặng giấy khen, còn đơn vị của ông được tặng cờ "Quyết chiến, quyết thắng".
Một trong 4 khẩu pháo105 ly của Đại đội 806 - đơn vị ông Mẫn bắn phát mở màn vào Him Lam được trưng bày tại Bảo tàng pháo binh Việt Nam. Ảnh: Giang Chinh.
|
Cuối tháng 4/1954, ông Mẫn nhận lệnh hỏa tốc về Tiểu đoàn pháo hỏa tiễn 224 H6 (hỏa tiễn 6 nòng Kachiusa Liên Xô) vừa thành lập, để huấn luyện sử dụng vũ khí mới.
Chưa kịp định hình vũ khí mới sẽ sử dụng ra sao, hình hài thế nào thì mỗi người được giao một chiếc cuốc hoặc xẻng. Ai nấy đều nghĩ, đời binh nghiệp đến đây là hết, chuyển sang "nghề" làm cầu, dọn bom nổ chậm nên tinh thần rất chán nản.
Hai đêm sau, đang thiu thiu ngủ thì ông Mẫn nghe tiếng động cơ bên kia núi nên rủ đồng đội đi trinh sát. Một mình bò xuống thung lũng, ông Mẫn phát hiện những khối đen phủ bạt kín, ông thấy giống pháo nhưng không có đường khương tuyến; phía cuối nòng không có cơ bẩm (quy lát). Ông Mẫn băn khoăn “pháo gì mà nòng giống như cái ống bương trơn tuột, nhìn vào đâu mà bắn”.
Trước khi trở lại đơn vị, ông Mẫn không quên đo khoảng cách giữa 2 bánh xe và ước chừng bề ngang khoảng 2,1 m.
Sáng hôm sau, ông Mẫn hồ hởi báo cáo lên cấp trên "mình có công ăn việc làm rồi" và kể lại sự việc đêm qua.
Cùng ngày, Cục tác chiến gọi đơn vị ông Mẫn lên nhận lệnh, giao làm đường rộng 1,9 m để kéo pháo. "Làm đường 1,9 m thì một bánh xuống suối à. Tôi nhất định cho đơn vị làm đường 2,2 m", ông Mẫn khăng khăng khi nhận lệnh vì tin vào kết quả "trinh sát" đêm hôm trước của mình. Quả nhiên, chiếc xe kéo dàn hỏa tiễn vừa khít trên con đường mới mở.
Sau hai ngày học sử dụng vũ khí mới, chiều 6/5/1954, tiểu đoàn hỏa tiễn 224 được lệnh bắn phá cứ điểm của địch. Khẩu đội của ông Mẫn bắn 8 loạt đạn, mỗi loạt 12 viên.
Chiều 7/5/1954, sau loạt đạn thứ 7, đơn vị ông nhận lệnh ngừng bắn. Bộ chỉ huy mặt trận báo tin Tướng De Castries ra hàng.
Đơn vị ông Mẫn kéo pháo sang cứ điểm phía Nam Hồng Cúm tiếp tục chiến đấu. Vừa chuyển pháo xuống đường thì tin thắng trận báo về: Quân Pháp ra hàng, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
Kết thúc chiến dịch, ông Mẫn cùng đoàn quân chiến thắng về tiếp quản thủ đô, tham gia nhiều hoạt động rồi công tác tại Nhà máy ximăng Hải Phòng. Ngoài giờ làm ở nhà máy, ông Mẫn đánh xe ngựa kiếm thêm tiền nuôi con ăn học. Đến giờ, con cháu ông đều nên người, đứng đầu nhiều doanh nghiệp, công ty của thành phố cảng.
Bốn khẩu pháo 105 ly của Đại đội 806 từng nhả đạn trong trận Him Lam được trưng bày tại 4 bảo tàng ở Điện Biên và Hà Nội. Đồng đội của ông người còn, người mất. Riêng ông, dịp này nhận được lời mời của Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh pháo binh lên thăm lại chiến trường xưa, nhưng vì lý do sức khỏe ông đành lỗi hẹn.
Cùng với Độc Lập (phía bắc), Bản Kéo (tây bắc), Him Lam là một trong ba trung tâm đề kháng được coi là cửa ngõ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Him Lam được quân Pháp xây dựng đầu tiên trên điểm cao gần 500 m, gồm ba cứ điểm trên ba quả đồi nằm ngay cửa ngõ đông bắc cánh đồng Mường Thanh, án ngữ con đường Tuần Giáo - Điện Biên, cách phân khu trung tâm 2,5 km.
Với vị trí đầu sóng ngọn gió, Him Lam được đầu tư kiên cố. Đảm nhận phòng thủ Him Lam là tiểu đoàn 3 thuộc Bán lữ đoàn Lê Dương thứ 13 (III/13è DBLE). Đây là đơn vị có bề dày chiến tích gần 100 năm. Him Lam được trọng pháo ở Mương Thanh và Hồng Cúm yểm hộ theo một kế hoạch hỏa lực dày đặc. Lực lượng bảo vệ được trang bị súng có kính ngắm điện tử phát hiện mục tiêu ban đêm. Lực lượng dự bị với xe tăng, pháo binh, không quân chi viện sẵn sàng phản kích trong trường hợp bị tấn công.
Him Lam được Bộ chỉ huy mặt trận của ta xác định là trận mở màn, để đảm bảo nguyên tắc "trận đầu phải thắng". Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ tấn công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam với sự hỗ trợ hỏa lực trọng pháo của Đại đoàn 351. Trận đánh kéo dài từ hơn 17h đến 22h30, quân ta tiêu diệt hoàn toàn trung tâm đề kháng Him Lam.
|
Giang Chinh
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nguoi-linh-dau-tien-na-dan-xuong-cu-diem-him-lam-2976426.html
Geen opmerkingen:
Een reactie posten