Posts tonen met het label cải lương. Alle posts tonen
Posts tonen met het label cải lương. Alle posts tonen

zondag 13 oktober 2013

Nếu cải lương tổ chức như gánh hát Tàu ở Thái Lan

Nếu cải lương tổ chức như gánh hát Tàu ở Thái Lan

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2013-10-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

conhacvn.com-305.jpg
"Con gái chị Hằng" (soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng) với Tám Vân - Thanh Nga - Hữu Phước
Photo courtesy of conhacvietnam.com



Trong chúng ta, những người thuộc lớp tuổi từ trung niên trở lên, yêu thích cổ nhạc cải lương hằng quan tâm đến sự tồn tại, theo dõi hoạt động của bộ môn nghệ thuật độc đáo của dân tộc này, chắc cũng đều nhận thấy có lúc cải lương lên đến đỉnh cao, đó là thời điểm những năm của thập niên 1960. Sự kiện tốt đẹp ấy đã khiến cho các ca sĩ tân nhạc cũng tìm đến lò cổ nhạc để học ca vọng cổ, với hy vọng trở thành đào kép cải lương, kiếm tiền dễ hơn. Các tài tử chiếu bóng nổi tiếng như Thẩm Thủy Hằng, cũng thọ giáo Má Bảy Phùng Há để lên sân khấu làm đào cải lương.
Thế mà sau cái Tết Mậu Thân, cải lương khủng hoảng trầm trọng, xuống dốc thê thảm, ngày một bi đát thêm lên, và cho đến ngày nay thì đang đi vào ngỏ cụt. Nếu như không có biện pháp nào để cứu vản tình hình, không biết tương lai rồi sẽ ra sao?
Có điều là người yêu thích cổ nhạc cải lương vẫn còn nhiều, ở đâu cũng có, mà điển hình là ở các tụ điểm có đờn ca tài tử là có người bỏ thì giờ đến ngồi nghe. Các buổi tập tuồng, quay phim ngoài trời, thiên hạ bao quanh coi rất đông. Tóm lại trong xã hội hiện nay số người ham mê cải lương cổ nhạc rất nhiều, mà giới hành nghề sân khấu lai nghẹt thở, sống dở chết dở thì nghĩa làm sao chớ? Sao lại mâu thuẫn như vậy?

Uyển chuyển theo tình thế

Buổi nói chuyện hôm nay tôi xin đề cập đến các gánh hát Tàu ở Thái Lan, để chúng ta suy nghiệm xem cái mô hình này có thể đem áp dụng với các gánh cải lương của ta trong tương lai, hầu mở ngỏ cho bộ môn nghệ thuật này được sống trở lại.
Nếu như nghệ thuật cải lương của ta mà có lề lối tổ chức như các gánh hát Tàu ở Thái Lan, thì người ta nghĩ bộ môn này sẽ không bệ rạc như hiện thời. Thật vậy, có lắm người am hiểu đã nói như thế, bởi căn cứ vào cách tổ chức, hình thức hoạt động, cũng như linh động uyển chuyển theo tình thế của các đoàn hát Tàu ở Thái Lan thì rất khó mà bị rã gánh.
Vậy chớ các gánh hát của người Hoa ở Thái Lan đã tổ chức, hoạt động như thế nào mà lại tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác? Sau đây mời quí vị đi xem hoạt động các gánh hát người Hoa ở Thái Lan:
Ở Thái Lan xem các đoàn hát dạo Tàu biểu diễn là một trong những món ăn tinh thần của cộng đồng người Hoa tại nước này, cũng tỷ như cải lương là món ăn tinh thần của bà con ta ở thôn quê vậy. Cộng đồng người Hoa ở Thái Lan không đông đảo như các Chú Ba ở Chợ Lớn. Vậy mà vào các dịp lễ hội truyền thống dân tộc, từng nhóm vài chục người, hay nhiều khi đông hơn, là các hội tương tế với hàng trăm, hàng ngàn hội viên, thì người Hoa thường tìm mời các đoàn hát dạo quen thuộc với họ về hát và chung vui với nhau.
Tuy nói là hát dạo chớ thật ra là đi lưu diễn như các đoàn cải lương ở nước ta thôi. Mỗi đoàn hát như vậy thường chỉ gồm có 5, 6 người, mà đông nhất cũng không quá 10 người, có thể hát diễn ở bất cứ nơi nào, đình chùa hay xóm chợ v.v… miễn sao có đồng bào người Hoa tập trung là có thể hát được.
cailuong-ab-250
Gánh hát rong nghèo ở miền Bắc Việt Nam, thập niên 1930-1940. File photo.

Cũng giống như những gánh hát cải lương ở nước ta, họ trình diễn vừa để phục vụ, vừa để nuôi thân nên rất chịu đi lưu diễn. Chỉ có những lúc quá ế, ít được mời diễn, họ mới tạm rã gánh để làm việc khác, nhưng vẫn giữ các mối liên lạc với nhau, để chờ dịp hội tụ đi diễn tiếp. Họ rất tôn trọng kỷ luật, tuân theo sự chỉ huy của bầu gánh, tập trung là có ngay. Đây là điều rất khó khăn đối với đào kép cải lương của ta, do cái máu làm eo, làm khó, của những kẻ mà xưa kia thiên hạ gọi là “con hát”.
Gần như đúng với cái tên của mình, các đoàn hát dạo người Tàu khi diễn không cần phông màn, tranh cảnh hay đạo cụ sân khấu chi cho lỉnh kỉnh, nhưng không vì vậy mà nghệ thuật diễn của họ kém. Cách phục trang, hóa trang và diễn của những diễn viên đoàn hát dạo, nhiều khi rất đúng theo nghệ thuật sân khấu. Điều này chứng tỏ họ dày công nghiên cứu, tập luyện về về nghệ thuật ca diễn.
Khi diễn, nhưng diễn viên các đoàn hát dạo thường trích đoạn từ các câu chuyện truyền thuyết dân gian, cũng giống như các truyện của ta như: Trương Chi Mỵ Nương, Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Chém Chằng, Phạm Công Cúc Hoa v.v… Các truyện xưa tích cũ được mang ra để phóng tác thành những làn điệu ca diễn.
Do mang tính chất ít người nên các diễn viên đoàn hát dạo, họ thường ca nhiều trong buổi diễn hơn là diễn xuất, và cũng do vậy mà họ phải có giọng ca hay. Đây cũng là thể hiện năng lực câu khách của từng đoàn, do bởi tuy là những đoàn hát dạo, nhưng giữa họ với nhau vẫn mang tính cạnh tranh gay gắt, như các đoàn sân khấu chuyên nghiệp.

Nghệ sĩ cần yêu nghề

Cải lương ở nước ta, đào kép các đoàn nhỏ nếu tài nghệ giỏi, nổi tiếng sẽ được các đoàn lớn mời về với giao kèo cao giá, mà lương đêm cũng nhiều hơn gấp bội. Đào kép các đoàn hát dạo người Tàu ở Thái Lan cũng na ná, nếu được nổi tiếng thì những người trong một đoàn hát dạo sẽ được mời ca diễn thường xuyên, tại các nhà hàng sang trọng của người Hoa với tiền thù lao khá hơn. Lúc đó, dĩ nhiên cuộc sống của họ sẽ được nâng cao, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Với phương cách tổ chức hoạt động như trên của gánh hát Tàu, đã cho chúng ta thấy rằng muốn cho một gánh hát tồn tại là đoàn hát phải có ít người, chớ không đông đảo như các gánh cải lương của ta (nhân số đông gấp 3, 4 lần trở lên), và phông màn cũng đơn giản, rất dễ dàng mỗi khi đi lưu diễn.
Thứ đến là ca nhiều hơn diễn xuất, hình thức này rất thích hợp với khán giả bình dân, nhiều người đi coi hát chỉ cốt nghe ca vọng cổ với tiếng ca của Út Trà Ôn, Bảy Cao, Năm Nghĩa, Tấn Tài, Minh Cảnh, Út Bạch Lan, Thanh Hương v.v… Tôi từng nghe nhiều khán giả nói rằng, nếu không có Út Trà Ôn ca vọng cổ thì đi coi hát làm chi, cho tốn tiền mua vé.
phung-ha-250
Cô Bảy Phùng Há, một đại danh lừng lẫy của nền cải lương Việt Nam. File photo.

Dù thế, họ cũng phải thường xuyên tập luyện để nâng cao nghệ thuật, lúc không hát là họ tập luyện. Không như đào kép cải lương của ta (phần nhiều là kép chánh), họ thường hay bỏ tập tuồng, lại cũng không học tuồng, để khi lên sân khấu thì trông cậy vào người nhắc tuồng đứng sau tấm màn cảnh. Người ta từng biết có những gánh hát, trong lúc mọi người có mặt tập tuồng theo quy định, thì anh kép chánh đang binh xập xám, đi đánh bi da, thậm chí đang ở mâm đèn… Phải chấm dứt tệ trạng này thì nghệ thuật cải lương mới làm ăn nên nỗi được.
Còn một vấn đề nữa là phải dễ dàng tập trung, khi hát ế có thể sống tạm bằng nghề khác, nhưng nếu có hát thì tập trung huy động nhanh, không để cho bầu gánh bị mất uy tín. Gánh hát ít người dĩ nhiên dễ dàng tập trung hơn. Qua hiện thực trên người ta thấy rằng, muốn cho cải lương sống trở lại cũng không khó gì mấy, miễn là nam nữ đào kép phải là những nghệ sĩ yêu nghề, yêu mến thực sự bộ môn nghệ thuật cải lương.
Hiện nay ở trong nước hầu như tỉnh nào, huyện nào cũng có những nhóm đờn ca tài tử, họ rất muốn trở thành nghệ sĩ trên sân khấu, nhưng ngặt nỗi là không có gánh hát để thu dụng họ. Bởi người ta luôn nghĩ rằng gánh hát là phải nhiều người, nhiều tranh cảnh, chứ thật ra những thứ đó chẳng cần thiết chi lắm. Đa số khán giả bình dân, nếu có gánh hát, dù nhỏ, nhưng ca hay, diễn khá, mà gần nhà là họ đi coi.
Những giọng ca tài tử ở cùng khắp là những kho tàng hết sức phong phú, chưa được khai thác. Nếu như ở các địa phương có người yêu thích cải lương, có phương tiện tài chánh tương đối khá, chứ không nhứt thiết phải giàu có, cũng có thể hội tụ các ca sĩ tài tử ngay tại địa phương mình, rồi thành lập gánh hát nhỏ (chỉ 5, 7 người thôi) là có thể hoạt động được. Cũng như điều cần yếu là phải có kịch bản thích hợp với nhân số ít người của đoàn hát, và vấn đề trước hết phải tận dụng những người có năng khiếu ở địa phương chớ không cần phải nhờ soạn giả tên tuổi. Về nhạc sĩ thì chỉ cần 1 người đờn là đủ, nhưng nếu hát ở chỗ nào có tay đờn thì họ sẽ tham gia ngay, có khi rất nhiều tay đờn mà không phải trả tiền, hoặc chỉ trả chút ít tiền cà phê cà pháo tượng trưng mà thôi.
Tôi còn nhớ năm Mậu Thân gánh hát rã gần hết, còn lại một số ít đoàn hoạt động cầm chừng, một đêm hát, 5, 6 đêm nghỉ, trung bình mỗi tuần chỉ hát có một đêm. Thế mà đến đầu năm 1969, một gánh hát nhỏ thuộc loại “bỏ túi” được ra đời tại Tây Ninh, vẫn sống được, sống dài dài cho đến năm 1975 vẫn con thấy hát. Đó là gánh hát có tên trên bảng hiệu là Hương Dạ Lý (mới nghe qua xin đừng hiểu lầm Dạ Lý Hương của ông Bầu Xuân), phông màn, tranh cảnh toàn là đồ cũ phai màu, mua lại của các đoàn hát bị rã gánh, và đào kép thì chẳng ai tên tuổi.
Hai năm đầu, đoàn chỉ hát quanh quẩn các quận, xã, ấp thuộc tỉnh Tây Ninh, sau đó mới bắt đầu đi lưu diễn ở Bình Dương, Biên Hòa. Hễ gặp đình thì hát đình, gặp miễu thì hát miễu, gặp chợ thì hát chợ, chớ chưa từng vô một rạp hát nào.
Có lần tôi có dịp đi Biên Hòa, ngang qua Tân Vạn, cạnh xa lộ Biên Hòa, bên hương lộ băng qua Chợ Đồn, bỗng thấy treo tấm bảng Hương Dạ Lý treo ở một căn nhà rộng lợp tôn giống như cái kho. Tôi dừng lại, thì đây là một cái ga ra xe hơi, hỏi ra thì gánh hát đến đây không tìm được đình, miễu hay chợ. May nhờ một nhà hào phú trong vùng cho gánh hát chui vô ga ra hát tạm, miễn phí. Vậy mà đêm qua vẫn có nhiều khán giả, nên bầu gánh, đào kép bữa nay có tiền, họ đang ăn điểm tâm với hủ tiếu, cà phê. Tôi vào ngồi chung bàn với ông bầu, và cho biết tôi ở Tây Ninh, thấy gánh hát lưu diễn ở đây nên ghé lại thăm. Tâm sự với ông bầu tôi được biết thành phần nghệ sĩ của đoàn khoảng 10 người, đều là người thân, bà con nội ngoại với nhau, không có lương hướng cố định, hát nhiều tiền thì chia nhiều, ít tiền thì chia ít. Cô đào trẻ tên Mộng Nghi mới 15 tuổi được khán giả nông thôn tặng cho biệt danh “Mỹ Châu 2”, bởi cô có giọng ca giống Mỹ Châu. Khoảng tháng 3 – 1975 tôi còn thấy gánh hát bỏ túi này, đang hát ở một ngôi chợ vùng Bến Cầu, Gò Dầu Hạ, Tây Ninh, sau đó thì chẳng biết ra sao.
Các hình ảnh, sự kiện như trên đã cho người ta có cái nhìn, nếu giờ đây nếu cải lương có vài đoàn hát kiểu bỏ túi như vậy, chắc nhiều đoàn khác sẽ ra đời, và cũng áp dụng đường lối hoạt động như Hương Dạ Lý khi xưa. Theo tôi nghĩ, cải lương sẽ dần dần sống trở lại. Coi như làm nhỏ mà chắc ăn, hơn là làm lớn rồi đổ nợ, rã gánh…

dinsdag 20 augustus 2013

Kiên Giang : Lối viết cải lương mang đậm chất thơ

Thứ bảy 17 Tháng Tám 2013
Kiên Giang : Lối viết cải lương mang đậm chất thơ
Nhà thơ kiêm soạn giả Kiên Giang (DR)
Nhà thơ kiêm soạn giả Kiên Giang (DR)
Lê Phước
Miệt U Minh đã sản sinh ra hai cây bút lừng danh trong đời sống văn hóa Nam Bộ, đó là nhà văn - nhà nghiên cứu Sơn Nam và nhà thơ - soạn giả Kiên Giang. Nếu Sơn Nam là nhà văn “rặc ròng” Nam Bộ, thì Kiên Giang cũng là nhà thơ Nam Bộ “rặc ròng”.
Chất thơ và chất Nam Bộ đã thấm sâu trong tâm hồn Kiên Giang, để khi ông bước vào lĩnh vực sáng tác cải lương, ông đã tạo được cho mình một lối sáng tác rất riêng: lối sáng tác mang đậm chất thơ.
Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh năm 1929, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông lấy tên quê hương để làm bút danh cho mình. Kiên Giang là bút danh khi ông làm thơ, còn khi viết báo và soạn tuồng, thì ông lấy tên là Hà Huy Hà.
Tuy vậy, cái tên Kiên Giang đã trở nên quen thuộc và mọi người vẫn quen gọi ông là Kiên Giang - Hà Huy Hà, hay chỉ đơn giản là Kiên Giang. Tuổi thơ của Kiên Giang trải qua những nhọc nhằn ở vùng U Minh Thượng, nơi cha mẹ ông phải tảo tần gian khó để nuôi ông ăn học.
Nhà thơ chân quê Nam Bộ
Cái tên Kiên Giang bắt đầu được biết đến trên thi đàn miền Nam Việt Nam từ năm 1955. Kiên Giang đã để lại cho đời nhiều bài thơ thuộc hàng tuyệt tác. Nét đặc sắc ở thơ Kiên Giang, đó là nó « rặc ròng » Nam Bộ. Lời thơ chân chất, bình dị, nhưng rất diễm tình, rất nên thơ. Thử đọc lại mấy câu sau đây :
Chiều chiều gió đẩy gió đưa,
Nhìn xem lá mạ mà mơ duyên nồng.

(Quán giữa đồng)
Hay là :
Ngày thơ xé mắm ăn bần chín
Bóng mát lung linh chở khẳm xuồng

(Chậu nhỏ đựng đầy hồn cố thổ)
Thật không thể nào Nam Bộ hơn được nữa! Và cũng thật không thể nào tả những điều bình dị mà nên thơ hơn được nữa ! Trong rất nhiều bài thơ của Kiên Giang, mỗi khi nhắc về ông, người ta nghĩ ngay đến hai tuyệt tác: Hoa trắng thôi cài trên áo tím và Tiền và Lá. Đây là hai chuyện tình buồn, rất buồn, nhưng đẹp và rất đẹp. Người mộ điệu làm sao khỏi thấy lòng tê tái khi đọc những vần thơ :
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa

(Hoa Trắng thôi cài trên áo tím)
Hay như :
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.

(Tiền và lá)
Cả hai bài thơ này đều đã được phổ nhạc và được nhiều thế hệ ca sỹ thể hiện. Riêng về cổ nhạc, hai bài thơ cũng đã được chuyển lời vọng cổ và được nhiều người yêu mến.
Soạn giả cải lương : Thơ trong nhạc, nhạc trong thơ
Bên cạnh sự nghiệp thi ca, Kiên Giang còn là một soạn giả lừng danh một thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều - Hoa Phượng, Quy Sắc. Đặc biệt, hai soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng được xem là đệ tử của ông.
Cũng giống như các soạn giả khác, những vở cải lương của Kiên Giang thường là những chuyện tình buồn. Thế nhưng, nét đặc sắc của Kiên Giang đó là, lời văn trong các vở tuồng lúc nào cũng đơn giản, mộc mạc, gần gũi với bà con Nam Bộ. Một điều đặc biệt hơn cả, mà mỗi khi người ta nghe là biết ngay tuồng tích của Kiên Giang, đó là : lời văn chân phương mộc mạc nhưng thấm đẫm chất thơ, những chuyện tình buồn gần gũi với đời thường nhưng lại rất thi vị.
Trong nhiều vở tuồng thành công của Kiên Giang, nổi tiếng nhất là hai vở Người vợ không bao giờ cưới và Áo cưới trước cổng chùa.  Người vợ không bao giờ cưới hay còn được gọi là Sơn nữ Phà Ca, là câu chuyện tình của một công tử miền xuôi tên là Mộng Long cùng với cô sơn nữ kiều diễm Phà Ca. Chàng trai miền xuôi trong một chuyến đi săn đã gặp gỡ và phải lòng cô sơn nữ.
Thế nhưng, do sự phân chia giai cấp và những mưu tính lợi danh mẹ cha, mà hai người không được trọn chữ đá vàng. Phà Ca nuốt lệ vào lòng để nhìn người yêu đi cưới cô vợ giàu sang.  Người mộ điệu vẫn còn thấy lân lân với những câu thơ khi hai người hội ngộ:
Đói lòng ăn nữa trái sim,
Uống lưng bát nước đi tìm người thương.

Hoặc còn nghe văng vẳng đâu đây lời than xé lòng của Phà Ca khi Mộng Long đi lấy vợ:
Ngày mai đám cưới người ta,
Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn.

Trái sim là một loại trái rừng, có vị ngọt nhưng hơi chát. Ăn Sim xong là phải uống nước ngay để tránh bị nghẹn. Một điều bình thường và bình dị như thế mà khi đã vào tay Kiên Giang rồi nó trở nên lung linh quá, nên thơ quá, đẹp đẻ quá.
Còn những câu than thở của cô sơn nữ khi người yêu lấy chồng cũng vậy, nó quê mùa lắm, nhưng đã trở nên thi vị và diễm tình qua ngòi bút của Kiên Giang. Mấy mươi năm trước, lời ngâm này đã làm đau xé không biết bao nhiêu con tim người mộ điệu qua giọng ca bi ai của Sầu Nữ Út Bạch Lan. Đây là một vai diễn để đời của Út Bạch Lan, đến mức mà người mê cải lương vẫn thường hay gọi cô là Sơn Nữ Phà Ca. Vai diễn Phà Ca cũng là một vai để đời của Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Vai diễn này đã giúp cho Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958, mở đầu cho một sự nghiệp chói lọi sau này.
Vở tuồng đã ra đời trên nửa thế kỷ, thế mà sức sống hiện tại vẫn còn mạnh. Bà con mê cải lương Nam Bộ, dù già dù trẻ, hầu như ai cũng biết đến Sơn Nữ Phà Ca. Mấy mươi năm nay, mỗi lần cầm cây đờn ghi ta phím lõm lên, là ông cụ nhà tôi tay đờn miệng cứ ca một khúc Sương Chiều trong Sơn Nữ Phà Ca : « Mộng Long ơi anh có thấy chăng đóa hoa rừng, nở giữa đồi sim…. ».
Áo cưới trước cổng chùa cũng là một tuyệt tác đậm chất thơ của Kiên Giang. Vở tuồng này ông viết về một ngôi chùa ở quê hương Kiên Giang của ông, đó là chùa Phù Dung. Bên cạnh ngôi chùa hiện vẫn còn ngôi mộ của một người phụ nữ tên là Dì Tự, người được cho là thứ thiếp của tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích. Soạn giả Kiên Giang đã dựa vào một giai thoại về người phụ nữ này để viết vở cải lương Áo cưới trước cổng chùa.
Nội dung vở tuồng Áo cưới trước cổng chùa kể về mối tình thơ mộng của cô gái miền biển Kiên Giang tên là Xuân Tự với anh thanh niên cùng xóm tên gọi Tô Châu. Cha của hai người là tri kỷ của nhau, nên đã chỉ phúc giao hôn cho Xuân Tự và Tô Châu từ nhỏ.
Cha của Xuân Tự mất sớm, cha của Tô Châu là Hải Lâm cố gắng lo liệu đám cưới cho hai người để trọn lời hứa với người đã khuất. Thế nhưng, số trời xui khiến, Xuân Tự được tổng trấn yêu thương. Rồi sau đó bao giông bão cuộc đời ập đến, Xuân Tự trở nên tật nguyền và phải giấu mẹ đi tu tại chùa Phù Dung.
Xuân Tự có một người chị nuôi cùng lớn lên từ nhỏ là Phương Thành. Do Xuân Tự đã quy y, nên mọi người mới bàn nhau gạt mẹ của Xuân Tự mà đem Phương Thành thay thế Xuân Tự để tổ chức đám cưới đúng ngày hai bên đã dự kiến, vừa để an ủi vong linh người quá cố, vừa để có người chăm sóc cho mẹ của Xuân Tự vốn bị mù lòa và đau yếu.
Màn cuối là màn hay nhất của vở tuồng này. Ngày đó, Xuân Tự tay nương gậy trúc từ chùa trở về nhà dự đám cưới chị, và mang cho chị chiếc áo cưới màu xanh nước biển mà cô đã chuẩn bị từ lâu cho đám cưới của mình. Tuy nhiên với linh cảm của một người mẹ, cuối cùng mẹ của Xuân Tự đã phát hiện ra sự thật. Mẹ con ôm nhau mà nứt nở. Đám cưới cuối cùng cũng diễn ra, Xuân Tự lạy từ biệt mẹ già trở lại chùa Phù Dung tiếp tục đời kinh kệ.
Thật đúng là « Áo cưới trước cổng chùa ». Ta thấy chỉ cái tên tuồng cũng đã rất thi vị và đầy hình ảnh. Lời văn trong vở tuồng thì cũng rất nên thơ và mộc mạc theo kiểu Kiên Giang. Người mộ điệu vẫn còn nhớ như in câu ngâm của chị em Xuân Tự khi lên chùa :
Tay bưng quả nếp lên chùa,
Thắp hương lễ phật xin bùa cầu duyên.

Hai câu thơ này phổ biến đến mức mà có người còn lầm tưởng là ca dao. Hay như hai câu ca trong màn kết Xuân Tự nói với mẹ già, cũng thấm đẫm nước mắt và nhưng đầy ý thơ :
Mẹ tin con đã vu quy,
Dẫu rằng Xuân Tự quy y lâu rồi.

Xuân Tự là một trong những vai diễn ấn tượng của Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Lệ Thủy cũng tỏa sáng với vai Xuân Tự tại đoàn 2-84. Ngoài ra, vở tuồng này còn góp phần làm tỏa sáng nhiều tên tuổi khác : Tô Kim Hồng (vai Phương Thành), Lương Tuấn (vai Tô Châu), Diệp Lang (vai Hải Lâm), đặc biệt là nữ nghệ sĩ Thanh Nguyệt đã xuất thần với vai diễn mẹ của Xuân Tự.
Những bài vọng cổ lai láng tình thơ
Ngoài cải lương, Kiên Giang còn nổi tiếng với nhiều bài vọng cổ đặc sắc, có thể kể ra : Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây ...
Ta thấy những bài vọng cổ của Kiên Giang hầu hết lấy cẩm hứng từ cuộc sống nông thôn Nam Bộ. Tuy nhiên, lời văn thì hoàn toàn bình dj mà không quê mùa, người nghe cảm nhận được ở tác giả có một sự trau chốt ngôn từ rất cẩn thận. Tuy nhiên, do cái chất Nam Bộ đã thấm vào máu của Kiên Giang, nên lời vọng cổ của ông càng chọn lọc thì càng lộ rõ chất Nam Bộ. Và do cái chất thi vị đã thấm sâu trong tâm hồn Kiên Giang, nên lời vọng cổ của ông rất nên thơ, rất trữ tình.
Hai bài vọng cổ được nhiều người biết đến nhất của Kiên Giang, đó là bài Trái Gùi Bến Cát và Tiền Và Lá.
Bài Trái Gùi Bến Cát được ông viết từ một câu chuyện có thật của một người phụ nữ ở Lái Thiêu. Người phụ nữ này đi Lộc Ninh (Bình Phước) mua bán để nuôi con nhỏ và người chồng đang ốm đau. Ngày nào cũng vậy, sáng tinh mơ cô đón xe lửa lên đường đi buôn bán, tối mịt cũng trở về bằng xe lửa.
Mỗi bận như vậy, cô thường mua mang về cho đứa con nhỏ thứ trái cây mà đứa con yêu thích: trái gùi ở Bến Cát Bình Bương. Thế nhưng, một hôm nọ, sau khi bán xong, do đói khát, cô vừa mua xong xâu gùi chín cho con, khi đón xe lửa trở về, cô bị trượt chân té xuống đường ray và bị xe lửa cán qua mà trên tay vẫn còn nắm chặt xâu gùi. Bài vọng cổ mở đầu bằng một lối vè rất dân dã Nam Bộ :
Nghe vẻ nghe ve, ai về Bến Cát
Nghe con trẻ hát: Sài Gòn, Lộc Ninh;
Tang tính, tang tình, trái gùi Bến Cát …

Tiếp theo đó là bốn câu thơ cũng rất dân dã:
Mẹ đi chợ chớ ở lâu,
Bận về mẹ nhứ mua xâu trái gùi.
còn chờ xe lửa kéo còi,
Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi.

Thật sự không còn có thể Nam Bộ hơn được nữa. Chưa hết, sau khi vợ mất, người chồng sống trong cảnh nhớ nhung triền miên. Đây là nỗi niềm của người chồng được Kiên Giang mô tả ở câu vọng cổ số 5:
Bao chiều tàu lại tàu qua,
Khói tàu vơ vẫn xót xa tiếng còi.
Khi nhìn khói quyện mây trời,
Ngỡ người vợ cũ về nơi chân thêm.

Người nghe cảm nhận được ở đây một nỗi buồn tê tái nhưng là một nỗi buồn rất thi ca. Nghệ sĩ Minh Cảnh được xem là người thể hiện thành công nhất bài vọng cổ này. Trong sáng tác của Kiên Giang, từ thơ tới vọng cổ, ta thấy mẹ là chủ đề xuyên suốt. Hình ảnh người mẹ được ông nâng niu, trân quý. Khách thơ làm sao quên được những vần thơ về mẹ rất đặc sắc của Kiên Giang :
Chày khuya làm mỏi canh sương
Nện từng nhịp mạnh mở đường chữ thơm

(Cối khuya)
Hay như :
Mẹ rắc hoàng hôn theo gạo trắng
Cám bay phương phất quyện hương cau
Nghiêng nghiêng bóng xế sau lưng Mẹ
Gạo trắng như màu tóc trắng phau.

(Sàn gạo)
Kiên Giang đã đưa thành công hình ảnh người mẹ trong những bài thơ của ông vào những bài vọng cổ do ông sáng tác, để có được những lời vọng cổ và những hình ảnh đẹp và đầy chất thơ ca, như bài Trái Gùi Bến Cát bên trên rõ ràng là một tuyệt tác về mẹ của Kiên Giang.
Về tình yêu đôi lứa, Kiên Giang cũng có một tuyệt phẩm để đời, đó là bài Tiền Và Lá. Bài này ông phát triển từ bài thơ cùng tên của chính ông. Nội dung bài ca kể về một chuyện tình buồn của một đôi trai gái cùng lớn lên từ thuở ấu thơ : Hồi bé thơ, anh hay rủ em ra cất nhà chòi bên bờ giếng, anh lấy đất nắn tượng người để bán, em nhặt lá vàng rơi làm tiền để mua tượng. Khi lớn lên, em mới phát hiện ra rằng, tiền không phải là lá, và thế là ngày xưa em dùng lá để mua tượng hình nhân do anh nắn, còn bây giờ em đã bị người ta dùng tiền thật mua đi mất rồi.
Chúng ta thấy, đó một chuyện tình buồn, nhưng đã được Kiên Giang thi vị hóa với những hình ảnh so sánh rất đỗi gần gũi đời thường mà lại rất nên thơ. Bài thơ đã hay, mà khi Kiên Giang viết thành vọng cổ lại càng hay. Bài thơ viết theo thể lục bát, với lời lẽ bình dị và chân quê. Có lúc người ta còn tưởng bài thơ Tiền Và Lá là của nhà thơ chân quê Bắc Bộ Nguyễn Bính. Nhưng rõ ràng, xem lại lời lẽ trong bài thơ, ta thấy rằng, nếu không phải một người sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, không lấy Nam Bộ làm cái chất trong tâm hồn và tính cách, thì không thể có được những lời thơ “rặc ròng” Nam Bộ như vậy được.
Trở lại bài vọng cổ Tiền Và Lá, Kiên Giang đã khéo léo đưa được chất thơ vào trong bài vọng cổ. Và khi nghe, người mộ điệu có lúc thả hồn phiêu lãng để không còn biết là mình đang lạc vào thế giới của thi ca hay những cung bậc bổng trầm của bài vọng cổ. Chẳng hạn như Kiên Giang đã khéo léo đưa trọn vẹn 6 câu lục bát trong bài thơ vào bài vọng cổ, khiến người mê vọng cổ rất thích thú :
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra .
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Nhớ em những buổi chiều hôm,
Anh gom lá đốt khói lên tận trời.

Kiên Giang hiện tại tuổi đã ngoại bát tuần. Những bài thơ, những vở cải lương hay những bài vọng cổ của ông vẫn có sức hút mạnh mẽ đối với các thế hệ người mộ điệu. Đến hiện tại, người mê thơ vẫn còn ngậm ngùi với Hoa trắng thôi cày trên áo tím, với Tiền Và Lá, người mê vọng cổ-cải lương vẫn còn xao xuyến với Sơn nữ Phà Ca, Chiếc Áo Trước Cổng Chùa, với Trái Gùi Bến Cát, với Tiền và Lá, hay với nhiều bài khác nữa.
Sáng tác đừng xa rời thực tế
Dù nói về thơ ca hay vọng cổ-cải lương, thì lối sáng tác của Kiên Giang vẫn mang đậm chất bình dị, gần gủi và rất nên thơ. Đặc biệt, tinh hoa của Kiên Giang tập trung ở cái chất thuần Nam Bộ của ông. Có người còn so sánh : Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê Bắc Bộ còn Kiên Giang là nhà thơ chân quê Nam Bộ. Và Kiên Giang đã đưa được cái chân quê Nam Bộ này vào những tác phẩm của ông để tạo được nét đặc sắc riêng.
Nói về vọng cổ-cải lương, ta thấy rằng nét đặc sắc của Kiên Giang thể hiện ở hai điểm: bình dị và thi vị. Ông đã vận dụng cái chất nông thôn Nam Bộ, vốn là bản chất của ông, để sáng tác, bởi thế lời văn rất bình dị. Ông đã chuyển tải thành công cái thi vị của cuộc đời, vốn đã ăn sâu trong tâm hồn của một nhà thơ như ông, để viết nên những lời ca đầy thi vị. Và chính cái bình dị đã khiến cho bài ca của ông trở nên gần gũi, chính cái chất thi ca đã khiến cho các tác phẩm vọng cổ-cải lương của ông trở nên đẹp và thơ mộng, làm say lòng người mộ điệu.
Nhìn lại lịch sử cải lương 100 năm qua, có thể nói rằng, Kiên Giang là soạn giả điển hình cho lối sáng tác “thơ trong nhạc, nhạc trong thơ”. Lối sáng tác của Kiên Giang là một tấm gương sáng cho thế hệ soạn giả cải lương hiện tại. Bởi dù muốn dù không cũng phải thừa nhận rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho cải lương mất đi sức hấp dẫn, đó chính là các bài vọng cổ và những vở cải lương được sáng tác ngày nay hình như thiếu chút thi vị, và thường có lời văn quá bóng bẩy văn chương, mà lại còn đề cập đến những chủ đề quá xa vời đối với người mê cải lương vùng sông nước Nam Bộ.
 
TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa
 

zondag 21 juli 2013

Diệp Lang : Bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên trong làng sân khấu cải lương

Thứ bảy 20 Tháng Bẩy 2013
Diệp Lang : Bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên
Diệp Lang (DR)
Diệp Lang (DR)
Lê Phước
Trong làng sân khấu cải lương, có nhiều trường phái diễn xuất, trong đó ta thấy nổi lên hai loại:  Diễn xuất thiên về tượng trưng ước lệ và diễn xuất thiên về tự nhiên. Trường phái tượng trưng ước lệ thì chịu ảnh hưởng của cách diễn xuất xem trọng điệu bộ như trong hát bội, còn trường phái tự nhiên thì nghiêng về cuộc sống thường nhật, tức có sao diễn vậy, diễn giống như ngoài đời vậy.
Một trong những bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên là nghệ sĩ Diệp Lang, người được mệnh danh là “Ông Hội Đồng” của sân khấu cải lương.
Diệp Lang tên thật là Dương Công Thuấn, sinh năm 1941, tại làng Bình Tiên huyện Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Cha của Diệp Lang là ông Ba Diệp, một tay đờn kìm có tiếng trong làng cải lương lúc bấy giờ. Thuấn mồ côi mẹ thuở lên mười và sống với ông nội ở quê nhà, còn ông Ba Diệp thì bôn ba theo các đoàn hát. Khoảng năm 13 tuổi, Thuấn theo cha lên Sài Gòn theo đoàn cải lương Kim Thoa.
Con nhà nòi

Ông Ba Diệp hướng con theo nghề hát vì nghĩ rằng nghề đờn phải suốt đời ngồi sau cánh gà chẳng ai nhìn đến. Mới theo nghề mà Thuấn đã không may, vì vỡ tuồng đầu tiên tham gia là vỡ Lấp sông Gianh của soạn giả Kinh Luân, khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân). Vỡ tuồng này nói lên nguyện vọng xóa bỏ ranh giới chia cắt non sông.
Trong đêm khai trương, có người quăng lựu đạn lên sân khấu, gây thương vong khá nhiều người. May mắn thay, hai cha con ông Ba Diệp đều bình an vô sự. Sau đó, hai cha con về đoàn Minh Chí - Việt Hùng. Được một thời gian, ông Ba Diệp bị bệnh nặng phải trở về quê và sống ở đó cho đến ngày cuối đời. Thuấn thì tiếp tục theo nghề hát. Khi cha mất mà Thuấn cũng không về thọ tang được vì không có tiền. Năm ấy Thuấn được 16 tuổi.
Có thể nói nhờ “cái bóng” của cha, Thuấn đi xin vào đoàn hát nào cũng được sự ưu ái. Cái tên Diệp Lang bắt đầu xuất hiện khi Thuấn về đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ năm 17 tuổi. Ông bầu đoàn này đặt cho Thuấn cái tên Diệp Lang với ý nghĩa là : ”Con trai ông Ba Diệp”. Một hôm anh kép chánh có việc, Diệp Lang được chọn lên thế vai trong vỡ "Chiếc Nhẫn Kim Cương". Tên tuổi anh kép chánh Diệp Lang bắt đầu được chú ý. Năm 1960, Diệp Lang được mời về hát cho đoàn Hữu Tâm-một đoàn hát tên tuổi lúc bấy giờ, đúng là một điều mơ ước đối với anh thanh niên nghèo khó 19 tuổi.
Con đường đến kép độc
Đi hát ai mà không mong đóng vai chánh để được nổi tiếng, để được nhiều tiền. Thế nhưng, trên sân khấu cải lương không chỉ có một mình anh kép chánh, mà còn cần có một ê kíp với đầy đủ thành phần bao gồm đủ loại vai thì mới thành một vỡ tuồng trọn vẹn được. Và có lẽ như tổ nghiệp đã nhìn thấy ở Diệp Lang tiềm năng đặc biệt đóng kép độc nên mới khiến xuôi khi Diệp Lang vừa được chọn đóng vai chánh thì ông đã bị bệnh và mất giọng.
Đi hát mà mất giọng thì kể như rồi. Nhưng không, Diệp Lang đã khéo léo tập trung vào diễn xuất. Số là Diệp Lang đã nghe lời khuyên của đồng nghiệp chuyển sang đóng kép độc. Làm kép độc thường là vai phụ, lương ít hơn. Thế nhưng, có một điều cần nhấn mạnh rằng, đào kép chánh ăn khách nhờ đẹp, nhờ ca hay, chứ còn diễn xuất thì chưa chắc đã hơn diễn viên phụ.
Nói như vậy để thấy rằng, để đóng kép độc thành công, đòi hỏi người diễn viên phải có tài năng diễn xuất thực sự. Có lẽ vì thế mà Diệp Lang đã ra sức khổ luyện, cùng với sự chỉ bảo tận tình của các bậc tiền bối như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu… Thế mạnh của Diệp Lang đến giờ phút này chính là tài diễn xuất thượng thừa của ông.
Vai kép độc ghi dấu ấn đầu tiên của Diệp Lang là ở đoàn Kim Chưởng, vai Thống Tướng Bát Lộ Kỳ trong vỡ Hai Chiều Ly Biệt. Bấy giờ, đoàn Kim Chưởng là một đại bang, bà bầu Kim Chưởng lại nổi tiếng khó tính với nghề, vì thế kịch bản của đoàn luôn có chọn lọc, có đạo diễn dàn dựng đàng hoàng, với dàn nghệ sĩ tài năng tên tuổi, có đủ những người phụ trách có năng lực về âm thanh, ánh sáng, cảnh trí... Ở đây, Diệp Lang được dịp trau dồi tác phong chuyên môn.
Số phận đã đưa anh kép chánh Diệp Lang vào vai kép độc. Rồi ở đoàn Kim Chưởng, số phận lại đưa anh kép trẻ Diệp Lang vào vai lão. Và vai độc và vai lão là hai loại vai mà Diệp Lang thành công nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông. Số là ở đoàn Kim Chưởng, ông được giao vai một ông lão 70 tuổi bất hạnh trong vỡ Người Anh Khác Mẹ. Vai diễn đã giúp Diệp Lang đoạt Giải Thanh Tâm năm 1960 và Bằng danh dự Giải Thanh Tâm năm 1964. Giải Thanh Tâm được xem là giải thưởng danh giá nhất của cải lương Nam Bộ tính đến hiện tại.
Đỉnh cao sự nghiệp
Sự nghiệp Diệp Lang đang đầy hứa hẹn, thì cũng tại đoàn Kim Chưởng, ông bị bắt quân dịch vào năm 1965. Thế là từ đó, suốt 10 năm trời, 1965-1975, Diệp Lang phải xa sân khấu. Giai đoạn sau 1975, sự nghiệp cải lương của Diệp Lang mới thật sự đạt tới đỉnh cao. Dấu ấn của Diệp Lang được thể hiện ở đoàn Sài Gòn 2, đoàn 2-84, trong nhiều vai trò từ diễn viên, chỉ đạo nghệ thuật đến trưởng đoàn.
Giai đoạn này, Diệp Lang đã để đời với các vai: Hội Đồng Dư (Tiếng Hò Sông Hậu), Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt), Hải Lâm cha của Tô Châu (Áo Cưới Trước Cổng Chùa), Ông Tư (Lời Ru Của Biển)… Và cũng chính giai đoạn này ông đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo thế hệ cải lương tiếp nối với những tên tuổi lớn như Tuấn Thanh và Châu Thanh. Để ghi nhận những cống hiến của Diệp Lang, nhà nước Việt Nam đã phong tặng cho ông danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và sau đó là Nghệ sĩ Nhân dân.
Đệ nhất “kép độc mùi”
Có thể nói, đến hiện tại, Diệp Lang được xếp vào hàng các kép độc hay nhất của sân khấu cải lương. Trước Diệp Lang, sân khấu cải lương đã có những tay kép độc cự phách như Văn Ngà, Hoàng Giang hoặc Trường Xuân. Thế nhưng, Diệp Lang đã tạo được những vai kép độc để đời mang dấu ấn riêng, những vai diễn mà kể từ khi được Diệp Lang thể hiện, đến nay vẫn chưa thấy có ai diễn đạt đến trình độ như vậy. Thế thì ắt hẳn Diệp Lang phải có cái hay riêng so với những kép độc tiền bối. Cái riêng ở đây có thể nói rằng: Diệp Lang là người thể hiện các vai “kép độc mùi” hay nhất.
Kép độc là người đóng các vai ác. Nếu bàn về vai ác, thì ở đây ta thấy có một vai ác theo kiểu: lúc đầu thì ác nhưng về sau bị quả báo và hối hận ăn năn; hoặc dã là kép độc tuy luôn hung dữ và ác độc, nhưng đâu đó vẫn thấy họ cũng đang sống trong nghịch cảnh. Loại vai này có thể tạm gọi là “kép độc mùi”’. Để đóng thành công “kép độc mùi”, thì ngoài tài năng diễn xuất ra, diễn viên còn cần có một giọng ca hay. Kép độc ca hay không phải là có giọng ca mùi như mấy anh kép chánh, mà ca hay ở đây là ca phải thể hiện được tâm trạng nhân vật, phải làm sao thể hiện được độ mùi khi cần thiết để làm người xem bỗng thấy chạnh lòng mà có chút cảm thông với số phận nhân vật. Diệp Lang là người có đủ tài năng và giọng ca mùi như vậy để thể hiện đặc sắc vai kép độc mùi. Các vai kép độc mùi để đời của Diệp Lang có thể kể đến: Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt) và Phê (Khi Người Điên Biết Yêu).
Vai Ông Hương Cả trong vỡ Tô Ánh Nguyệt do chính Diệp Lang làm đạo diễn là một vai rất khó đóng. Đây là một kép phản diện, nhưng không phải lả người độc ác, mà chỉ là một nhà Nho quá bảo thủ, quá độc tài với vợ con. Ông Cả tỏ ra hung dữ và khắc khe với mẹ con Nguyệt, suy cho cùng là cũng vì ông muốn hành xử đúng theo những gì bảo thủ nhất của Nho Giáo. Tức là đúng với cái câu mà khi gặp ba của Minh ông đã nói: “Xin lỗi ông, tôi thủ cựu bài tân”, tức là “tôi giữ cái cũ và bài bác cái mới”. Trong khi đó thì ba của Minh lại nói: “Xin lỗi ông, tôi đả cựu nghinh tân”, tức là “tôi đuổi cái cũ đi mà rước cái mới vào”. Ông Cả cha của Nguyệt và cha của Minh thể hiện hai quan điểm cực đoan của một xã hội đang lúc giao thời lúc bấy giờ: người thì quá bài ngoại còn người thì quá vọng ngoại. Và kết quả là cả hai đều phải trả giá cho sự cực đoan đó.
Về phần Ông Cả, ta thấy rằng, sau cảnh ông khắc khe với vợ con khiến khán giả ghét cay ghét đắng ở màn trước, thì khi ông tìm đến thăm Nguyệt, là một cảnh đầy xúc động. Khi ấy, sau khi Nguyệt đã trốn nhà ra đi và sinh con trong nghèo khổ, Ông Cả cha Nguyệt đã tìm đến nơi Nguyệt ở để cho cô hay là mẹ cô đang bệnh nặng. Chứng kiến cảnh con gái phải sống trong khổ cực, trong khi vợ thì đang hấp hối, lại vừa lo sợ nếu Nguyệt mang con về quê thì danh giá gia đình sẽ bị hủy hoại, tất cả đã khiến Ông Cả từ người ác độc trở thành người hết sức khổ sở. Cảnh này, Diệp Lang đã thật sự đã khiến khán giả từ căm ghét ở màn trước trở nên bất chợt cảm thông ở màn sau. Có thể nói rằng, tới giờ phút này, chưa thấy ai diễn qua Diệp Lang trong vai diễn đó.
Đến với vai Hội Đồng Thăng trong vỡ Đời Cô Lựu, ta thấy đây là vai số một của Diệp Lang. Hội Đồng Thăng là một cường hào địa phương hết sức hiểm độc. Ông đã dùng mưu đẩy anh tá điền Võ Minh Thành vào tù rồi ở nhà dụ dỗ vợ của anh ta là cô Lựu. Suốt mười mấy năm dài, dù chiếm được thân xác Cô Lựu, nhưng Hội Đồng Thăng vẫn không thể nào chiếm được con tim của cô bởi lẽ cô luôn u sầu thương nhớ người chồng cũ. Thế là, Hội Đồng Thăng trả thù bằng cách hành hạ Cô Lựu từ việc kiểm soát gắt gao tiền bạc đến những lời lẽ cay đắng nặng nề.
Màn Hội Đồng Thăng sai Cô Lựu vào trong lấy cây ba-toong là màn hay nhất. Diệp Lang đã diễn xuất thượng thừa ở màn này. Khi mắng Cô Lựu, Hội Đồng Thăng nói: “Đứng lên, làm gì uể oải”, “Đồ lì, lì lợm”. Diệp Lang gằn giọng từng tiếng, đến khán giả ngồi dưới cũng cảm thấy tâm lý nặng nề. Rồi đến khi Hội Đồng Thăng-Diệp Lang thốt lên: “Tôi hông thích ở trong cái nhà này, tối ngày hông ai nói với ai tiếng nào, tối ngủ quay mặt vô vách. Làm sao tôi chịu nổi? Tôi là con người mà, con người…”. Vì lúc này Hội Đồng Thăng say rượu nên mới để lộ tâm sự như vậy. Hội Đồng Thăng-Diệp Lang vừa nói vừa gằn giọng, vừa vỗ tay vào ngực mình với vẽ uất ức. Đến đây, người xem chợt giật mình nhận ra rằng: Ồ, thì ra ông hội đồng ác độc kia cũng có nỗi khổ. Và thế là, người xem cũng cảm thấy xót xa cho tình cảnh của ông dù rằng đó là quả báo mà ông phải nhận. Ở đây, cái độc và cái mùi đã được Diệp Lang thể hiện xuất sắc, đến mức mà đến hiện tại, chưa thấy có ai thế vai này được.
Ca trong diễn, diễn trong ca
Giọng ca và hơi của Diệp Lang không được phong phú. Thế nhưng, không phải gì thế mà ông ca không hay. Điểm mạnh nhất của Diệp Lang là ông biết diễn xuất bằng cả giọng ca, ông đưa giọng ca vào đúng với tâm trạng nhân vật, đúng với động tác biểu diễn. Nói cách khác là Diệp Lang đã đạt đến trình độ “ca trong diễn, diễn trong ca”, ca diễn phụ trợ lẫn nhau để thể hiện tính cách nhân vật.
Bàn về bộ nhịp, Diệp Lang có bộ nhịp thượng thừa. Ông ca sắp chữ trong lòng bản. Do làn hơi không dài, nên ông chọn cách sắp chữ qua những câu ngắn. Tuy nhiên, nghe Diệp Lang ca, người nghe không thể nào không thán phục cách sắp chữ và nhịp nhàng rất chắc của ông. Và đặt biệt hơn hết là ông ca rất đúng nhân vật, dữ ra dữ, mùi ra mùi, vui ra vui mà buồn ra buồn.
Minh chứng rõ nhất có lẽ là vai Phê trong vỡ Khi Người Điên Biết Yêu. Khán giả đã có dịp xem vai này trong chương trình Những Cảnh Chim Không Mỏi dành cho nghệ sĩ Diệp Lang sau khi ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, cách nay độ 10 năm. Nhân vật tên Phê, do yêu người em gái nuôi của mình, đã giết hại cha nuôi và vu oan cho người yêu của em gái. Sau đó, lại nói xấu người yêu của em gái để cho cô em gái phải thổ huyết chết.
Năm tháng trôi qua, Phê lâm vào cảnh sống nghèo khổ, thân thể xác xơ, lương tâm dằn dặt. Ngày cuối cùng ở nơi trần thế là ngày Phê tìm trở lại mảnh đất xưa của cha nuôi mình. Nơi ấy đã mọc lên một ngôi chùa. Phê vào chùa đối đáp với hòa thượng và phát hiện ra vị hòa thượng kia chính là người yêu của em gái bị mình vu oan năm xưa. Phê mới thổ lộ hết nỗi lòng và trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay và sự tha thứ của hòa thượng.
Diệp Lang đã trích lại màn cuối của vỡ tuồng trên. Màn này, nhân vật Phê vừa phải diễn xuất bằng các câu thoại, vừa bằng các đoạn ca. Diệp Lang đã xuất thần, khi nói thì giọng chất chứa đầy tâm sự, khi ca thì ca rất mùi. Nghe Diệp Lang thoại ở đoạn này, người xem không thể không thừa nhận rằng, nếu không phải là bậc thượng thừa trong diễn xuất thì không thể nào diễn xuất qua lời thoại xuất thần đến như vậy. Nên nhớ rằng, nói về diễn xuất cải lương, thì diễn xuất qua các câu thoại là một động tác rất khó, đòi hỏi trình độ và khả năng diễn xuất rất cao của người nghệ sĩ.
Còn khi nghe Diệp Lang ca ba câu vọng cổ trong đoạn này, khán giả không khỏi giật mình nhận ra rằng, Diệp Lang không chỉ diễn xuất thượng thừa, mà ca cũng quá hay, nhịp nhàng quá chắc, cách ca quá điêu luyện, cách sắp chữ quá thần sầu. Người xem khi ấy không còn thấy trước mặt mình là một kẻ ác nữa, mà là một người bị lương tâm dằn dặt, một số phận đáng thương. Có thể nói rằng, với vai Phê, Diệp Lang đã thể hiện xuất sắc tài năng “ca trong diễn, diễn trong ca”, một điều mà không có nhiều nghệ sĩ cải lương đạt được.
Ông già Nam Bộ
Nhắc đến Diệp Lang không thể nào không nhắc đến các vai ông già Nam Bộ. Bắt đầu vào vai lão ở tuổi đôi mươi, Diệp Lang đã để lại nhiều vai lão ấn tượng. Có thể kể đến vai Ông Tư trong Lời Ru Của Biển, Hải Lâm trong Áo Cưới Trước Cổng Chùa, hay như vai một lão nông Đồng Tháp trong vỡ Người Giữ Mộ. Rồi các vai đã kể trên cũng là vai lão: Ông Hương Cả, Hội Đồng Thăng, hay như vai được nhiều bà con Nam Bộ yêu thích là vai Hội Đồng Dư trong vỡ Tiếng Hò Sông Hậu.
Điều đáng chú ý là, tất cả các vai đó đều là “ông già Nam Bộ” cả. Và Diệp Lang đã thể hiện rất thành công. Có thể nói rằng, nếu nói Sơn Nam là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Miền Nam, thì Diệp Lang là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực cải lương. Có lẽ do cách diễn xuất tự nhiên, gần gũi với cuộc sống, nên các vai Ông già Nam Bộ của Diệp Lang đã rất thành công và dễ dàng được sự chấp nhận của bà con Nam Bộ.
Tóm lại, dù là vai ác hay vai lão, thì có một điều cần nhấn mạnh, đó là: Diệp Lang đã để đời các vai diễn nhờ vào tài “ca trong diễn, diễn trong ca”, nhờ vào lối diễn tự nhiên, chân phương, “diễn như không diễn”. Như đã nói, kép độc thì nặng về diễn xuất, và thường các nghệ sĩ đóng kép độc ca vọng cổ không mùi, trái hẳn với mấy anh kép chánh bắt buộc phải ca vọng cổ cho hay cho mùi. Do mất giọng ca, nên Diệp Lang đã đổi hướng sang kép độc, nhưng cái dấu ấn của Diệp lang là “kép độc mùi”. Có thể nói rằng, Diệp Lang là kép độc mùi số một của sân khấu cải lương Nam Bộ nhờ vào sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn.
Diệp Lang rất tâm đắc lời dạy của nghệ sĩ lão thành Năm Châu là: “Đã ra sân khấu thì phải diễn, nhưng đừng diễn”. Ra sân khấu thì phải diễn xuất chứ, vì đó là tuồng hát không phải cuộc đời, thế nhưng cái khó là người nghệ sĩ phải diễn xuất chân thật như thế nào để cho người xem không còn nhận ra đó là đang diễn mà là sự thật cuộc đời. Tức là diễn xuất phải tự nhiên, phải chân thật, phải làm sao cho cuộc đời sân khấu và sân khấu cuộc đời hòa quyện vào nhau. Và Diệp Lang đã đạt được trình độ diễn xuất đó.
Phong cách diễn xuất của Diệp Lang là một bài học quý cho thế hệ cải lương hiện tại, vì rõ ràng là, một trong những nguyên nhân chính khiến cải lương hiện tại mất dần sự hấp dẫn, đó là có không ít nghệ sĩ có lối diễn xuất xa rời thực tế.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130720-diep-lang-bac-thay-cua-truong-phai-dien-xuat-tu-nhien

maandag 17 juni 2013

Vọng Cổ Hài : Thiếu cả người viết lẫn người ca

Thứ bảy 15 Tháng Sáu 2013
Vọng Cổ Hài : Thiếu cả người viết lẫn người ca
Hài cải lương Văn Hường (DR)
Hài cải lương Văn Hường (DR)
Lê Phước
Trong làng vọng cổ, không chỉ có những bài ca mùi với những chuyện tình lâm ly bi đát làm rơi nước mắt, mà người mộ điệu có khi cười ra nước mắt với những bài vọng cổ vui nhộn thường được gọi là “Vọng cổ hài”. Một vở cải lương dài mà cứ khóc than hoài thì cũng không được. Bên cạnh cái mùi, cải lương cũng cần cái hài.
Gần 100 năm hình thành và phát triển, vọng cổ mùi đã biết đến rất nhiều giọng ca đặc sắc như Út Trà Ôn, Thanh Hương, Út Bạch Lan, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Cảnh, Tấn Tài, Thành Được, Minh Vương…Thế nhưng vọng cổ hài thì chỉ vỏn vẹn có Hề Minh, Văn Hường và Hề Sa là thật sự khẳng định được tài năng trong lĩnh vực ca vọng cổ. Sau ba giọng ca hài đặc sắc này, theo thời gian vọng cổ hài dần bị mai một.
Hề cải lương và hề ca vọng cổ
Trước tiên cần phân biệt giữa Hề cải lương và Hề ca vọng cổ. Trên sân khấu cải lương, các đào kép chánh thường là những đào kép mùi, thủ những vai bất hạnh bi thương để lấy nước mắt và sự cảm thông của khán giả. Thế nhưng, xem một vở cải lương mấy tiếng đồng hồ nếu mà cứ cảnh khóc than hoài thì cũng không được. Bởi vậy, bên cạnh cái mùi, sân khấu cải lương cần có cái hài.
Trách nhiệm của các vai hài là làm sôi động sân khấu để phá tan đi cái ngột ngạt của những tình tiết lâm ly bi đát, nhằm mang lại tiếng cười cho khán giả. Những cây hài nổi danh của thể loại này có thể kể đến: Quái Kiệt Ba Vân, Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Cũi, Hề Tư Rọm, Hề Kim Quang, Hề Văn Hường, Hề Minh, Hề Quới, Hề Sa, Hề Vui, Hề Văn Chung.
Sau đó có thể kể đến Trường Xuân và Giang Châu. Thật ra thì Trường Xuân xưa kia chuyên trị vai kép độc, còn Giang Châu thì là kép mùi, nhưng cả hai khi tham gia vở cải lương Ngao Sò Óc Hến của soạn giả Nguyễn Thành Châu trong vai Bác Ngao và Trùm Sò, cái tài hài hước của họ đã được khẳng định. Sau đó, hài cải lương có thể kể đến Phú Quý, Duy Phương, Thanh Nam, Tấn Beo, Bảo Chung…
Thể loại hài vừa kể trên là hài cải lương, tức tham gia ca diễn trong một vở cải lương. Vào thời vàng son của cải lương, tiếng tăm và tiền cát sê của một số anh hài cải lương không thua kém gì đào kép chánh. Cũng có khi khán giả mua vé đến xem một đoàn hát không phải vì yêu mến cặp đào kép chánh mà là vì ái mộ anh hài của đoàn. Hài thể loại này phải biết diễn xuất cải lương, phải biết ca các bài bản cải lương, tức cũng là một diễn viên cải lương thực thụ nhưng chuyên trị các vai gây cười. Vai trò của họ rất quan trọng: Nếu anh kép chánh mang lại sự cảm thông và làm rơi nước khán giả, thì anh kép hài có nhiệm vụ làm cho khán giả lấy lại sự cân bằng cảm xúc, được dịp vui cười.
Vọng cổ là bài ca vua của sân khấu cải lương. Không chỉ vậy, ở các sân chơi đàn ca tài tử, vọng cổ luôn là bài ca chủ đạo. Về phần khán giả, khi đánh giá phần ca của nghệ sĩ cải lương, đa phần đều để ý đến cách vô vọng cổ có được ngọt không, giọng ca có mùi không. Thậm chí mấy ông bà bầu xưa kia khi muốn nhận một ai đó vào làm nghệ sĩ cho đoàn mình, thì việc thử giọng đều nhắm vào bài vọng cổ. Bởi thế, các nghệ sĩ thành danh của làng sân khấu cải lương Nam Bộ, tuyệt đại đa số đều ca vọng cổ rất hay và rất mùi.
Nếu sân khấu cải lương cần có những vai hài, thì bài vọng cổ cũng cần có những giọng ca hài. Làm hề cải lương thì tập trung vào diễn, còn ca chỉ là động tác hỗ trợ cho vai diễn mà thôi. Đối với ca vọng cổ hài, anh hài tập trung vào động tác ca là chính. Tức là, trên sân khấu cải lương, một anh hài cải lương có giọng không hay và nhịp không chắc cũng không sao, cái quan trọng là anh ta diễn xuất trọn vai để lấy tiếng cười của khán giả.
Còn trong ca vọng cổ hài, thì động tác chính của người nghệ sĩ hài là ca, còn động tác chính của người mộ điệu là thưởng thức bằng cách nghe, bởi thế anh hài ca cổ đòi hỏi phải có bản lĩnh ca vọng cổ thật sự. Đòi hỏi này cũng giống như đối với những giọng ca vọng cổ mùi thực thụ, nhưng cái khác là ở đây người nghệ sĩ hài ca những bài vọng cổ hài. Nói như vậy thì hề ca cổ phải có giọng tốt và nhịp nhàng vững chắc, cùng với kỹ thuật ca và phong cách ca tạo được dấu ấn riêng.
Ba tay cự phách trong làng vọng cổ hài
Những nghệ sĩ hài đã khẳng định tên tuổi trong làng vọng cổ hài có thể nhắc đến là Hề Minh, Văn Hường và Hề Sa. Trong ba cây hài nói trên, Hề Minh là bậc tiền bối. Tên thật của Hề Minh là Nguyễn Văn Minh. Vào khoảng năm 1955, Nguyễn Văn Minh được nhận vào đoàn cải lương Kim Thoa của ông bầu Nguyễn Huỳnh Phước và được đặt cho nghệ danh Hề Minh. Sự nghiệp Hề Minh bắt đầu từ đó.
Hề Minh có khả năng vừa diễn xuất tốt vai hài trong các vỡ cải lương, vừa ca vọng cổ hài rất hay. Hề Minh có giọng trầm, chân phương, và hơi không dài. Bởi vậy anh ca như nói, rất chân phương, rất gần gũi với bà con nông dân vùng sông nước Cửu Long. Bộ nhịp của Hề Minh rất chắc, anh ca như làm xiếc trên dây đờn.
Đặc trưng của bản vọng cổ hài là thường có rất nhiều chữ, vì thế người ca phải ca chạy chữ thật nhanh để cho kịp nhịp. Mà ca chạy chữ làm sao để người nghe vẫn nghe được rõ ràng lời ca để có thể hiểu được lời văn và nội dung bài ca. Vì làn hơi không dài nên Hề Minh không chọn cách luyến láy, mà anh có cách sắp chữ thần sầu phù hợp với giọng ca và làn hơi của anh.
Đặc trưng lớn nhất của Hề Minh là anh ca rải đều chữ, ca như nói, người nghe nếu không để ý sẽ không biết anh ca gần tới song lang cuối câu chưa, nhưng Hề Minh ca bình bình rồi xuống song lang cuối câu lúc nào cũng thật ngọt thật hay. Hề Minh nổi tiếng nhất với các bài vọng cổ: Tôi Mến Làng Tôi, Bức Thư Tình, Mèo Lại Hoàn Mèo…
Thế nhưng, phải chờ đến Văn Hường thì vọng cổ hài mới có thể nói là thật sự làm mưa làm gió trên thị trường cổ nhạc. Văn Hường tên thật là Nguyễn Văn Hường, sinh năm 1934 tại Thủ Đức, Sài Gòn. Tài năng của anh được phát hiện vào năm 1960 tại quán Lệ Liễu ở Sài Gòn. Số là một hôm, ông bầu Bảy Cao của đoàn Hoa Sen-một đoàn hát đình đám lúc bấy giờ ở Sài Gòn, đến giải trí tại quán Lệ Liễu, và phát hiện ra chất hài trong giọng ca Văn Hường, nên đã lập tức đề nghị ký giao kèo với anh.
Thế là Văn Hường về hát cho đoàn Hoa Sen. Thật ra lúc đầu Văn Hường chuyên ca vọng cổ mùi. Về đoàn Hoa Sen anh cũng ước được leo lên hàng kép chánh. Thế nhưng, ông bầu Bảy Cao đã đề nghị anh tập trung vào ca diễn hài. Và trong vở tuồng đầu tiên, Văn Hường đóng cặp với Diệu Hiền trong vai cặp ở đợ và nữ tỳ. Đêm diễn thành công ngoài mong đợi, Văn Hường đã bắt đầu khẳng định tên tuổi của mình trên làng hài cải lương.
Thế nhưng, lợi thế của Văn Hường không phải là diễn, mà là ca. Văn Hường lúc đầu ái mộ Hề Minh vì ca vọng cổ hài trước Văn Hường thì có thể nói chỉ có Hề Minh. Văn Hường cũng rất thích giọng ca của bậc tiền bối Tám Thưa với lối ca “ơ..ơ..” rất Tài Tử Nam Bộ. Thế là Văn Hường nghiền ngẫm cách sắp chữ của Hề Minh để tạo cho mình một lối sắp chữ không kém phần thượng thừa đối với người đi trước. Đặc biệt, Văn Hường đã thay cái “ơ..ơ…” của Tám Thưa thành “ự…ự” rất riêng, rất Văn Hường. Và cái lối ca “ự…ự’’ đó đã trở thành thương hiệu riêng của Văn Hường, làm say đắm không biết bao nhiều con tim người mộ điệu.
Đi sâu vào kỹ thuật ca vọng cổ của Văn Hường, ta thấy anh có giọng đối lập với giọng ca của Hề Minh: Hề Minh có giọng trầm còn Văn Hường có giọng trong trẻo và cao vút. Hề Minh thì hơi không dài chứ Văn Hường thì có hơi dồi dào mặc sức tung hoành luyến láy. Đặc biệt hơn hết bộ nhịp của Văn Hường thuộc hàng thượng thừa. Nhờ có bộ nhịp thượng thừa, Văn Hường mặc sức tung hoành trên dây đờn. Có thể nói rằng, anh thuộc hàng “sư phụ” của kỹ thuật “làm xiếc trên dây đờn”.
Như đã nói bên trên, các bài vọng cổ hài thường có rất nhiều chữ, nghệ sĩ hài ca phải chạy chữ cho kịp nhịp. Về vấn đề này, Văn Hường ca chạy chữ thuộc hàng sư phụ. Có nhiều bài chữ nhiều lắm, nhưng anh ca rất rõ ràng, rất cảm xúc và về song lang chính xác “như để” vậy.
Soạn giả chấp cánh cho Văn Hường là “ông vua” Viễn Châu. Thử làm một thống kê nhỏ ta sẽ thấy rằng hầu hết các bài vọng cổ hài nối tiếng nhất của soạn giả Viễn Châu đều được viết theo kiểu “đo ni đóng giày” cho Văn Hường. Vào năm 1960, Viễn Châu cũng đã phát hiện ra giọng ca Văn Hường và giới thiệu cho hãng dĩa thu âm với bài vọng cổ hài đầu tiên là Đêm Tân Hôn. Rồi sau đó là trên một trăm bài vọng cổ dành cho Văn Hường: Tư Ếch Đi Hội Chợ, Tư Ếch Đại Chiến Văn Hường, Lá Sớ Táo Quân, Vợ Tôi Tôi Sợ, Tề Thiên Đại Thánh, Tào Tháo Cháy Râu…Nhiều lắm, không thể nào kể hết được.
Ta thấy rằng, trong đời nghệ sĩ, một nghệ sĩ tạo dấu ấn trong vài bài vọng cổ đã là quý, còn đối với Văn Hường, anh đã thật sự thành công trong quá nhiều bài vọng cổ hài. Những bài vọng cổ hài của Viễn Châu đã đưa Văn Hường đạt được vương vị “Vua Ca Vọng Cổ Hài”, bên cạnh “Vua Viết Lời Vọng Cổ” Viễn Châu và “Vua Ca Vọng Cổ” Út Trà Ôn.
Thủ Đức đã sinh ra Văn Hường vào năm 1934, thì vào năm 1941 lại tặng thêm cho làng vọng cổ hài một giọng ca hài điêu luyện khác, đó là Hề Sa. Từ nhỏ, Hề Sa đã mê vọng ca Văn Hường qua sóng phát thanh. Cảm thấy giọng ca của mình rất giống Văn Hường, nên Hề Sa luôn tập ca theo thần tượng.
Và quả thật, Hề Sa có giọng cao và trong như Văn Hường. Hề Sa đã kế tục Văn Hường lối vô vọng cổ theo kiểu “ự..ự” rất đặc sắc. Anh cũng có một bộ nhịp thượng thừa và một lối sắp chữ thuộc hàng cao thủ. Năm 16 tuổi, Nguyễn Văn Sa bắt đầu cuốn gói theo gánh hát. Năm 21 tuổi anh đầu quân cho đoàn Thủ Đô, rồi sau đó là đoàn Kim Chung, Thanh Nga…Và cái tên Hề Sa bắt đầu trở nên lẫy lừng. Có thể nói rằng, sau Văn Hường thì Hề Sa kế tục xứng đáng người đi trước trong lĩnh vực vọng cổ hài dù rằng sự nghiệp của anh không lừng lẩy bằng “sư phụ” Văn Hường.
Đến hiện tại, trong khi Hề Minh đã về với tổ nghiệp vào năm 1985 ở cái tuổi 58, Văn Hường do tuổi cao không còn hát nữa, thì Hề Sa vẫn đi biểu diễn thường xuyên. Hề Sa nổi tiếng với các bài Pháp Sư Giải Nghệ, Trời Sinh Voi Sinh Cỏ, Tôi Đi Lính…
Đặc trưng của bài vọng cổ hài
Viễn Châu được mệnh danh là “Ông vua viết lời vọng cổ” với hơn 2000 bài vọng cổ. Ông là soạn giả “đo ni đóng giày” thành công nhất bởi chính bài ca của ông đã chấp cánh cho hầu hết các tên tuổi hàng đầu của thế hệ nghệ sĩ vàng: Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Phượng Liên, Thành Được, Tấn Tài, Minh Cảnh, Thanh Sang, Minh Vương…
Còn trong làng vọng cổ hài thì Viễn Châu cũng đã đo ni đóng giày thành công cho giọng ca Văn Hường. Và nếu Văn Hường là “Vua Ca Vọng Cổ Hài”, thì Viễn Châu phải là “Vua Viết Lời Vọng Cổ Hài”. Ông viết riêng cho Văn Hường trên 100 bài vọng cổ hài. Chưa kể là các bài ông viết cho Hề Minh và Hề Sa ca như Tôi Mến Làng Tôi hay Pháp Sư Giải Nghệ.
Bên cạnh Viễn Châu, còn có một số soạn giả vọng cổ hài ăn khách khác là Quy Sắc, Loan Thảo …Ta thấy rằng, chẳng những nghệ sĩ ca vọng cổ hài đã hiếm, mà soạn giả viết vọng cổ hài thành công cũng không nhiều.
Nhìn vào các bài vọng cổ hài đã được khán giả chấp nhận, ta thấy có mấy đặc điểm sau :
- Nội dung bài hát thường là châm biếm thói hư tật xấu hay những hủ tục trong xã hội. Nó đưa được đời sống thường nhật lên sân khấu, để người nghe cảm nhận được điều châm biếm trong bài hát cũng thật sự tồn tại đâu đó, hoặc dã là tồn tại ở chính bản thân người nghe. Để từ đó, mỗi người tự ý thức mà sửa chữa lỗi lầm bản thân hay giúp người khác sửa chữa, nhằm làm cho con người được hoàn thiện hơn, xã hội được tốt đẹp hơn, đúng với tinh thần chung của cải lương Nam Bộ.
- Sự châm biếm phải thật nhẹ nhàng và tế nhị. Lời văn phải được chọn lựa kỹ càng, phải dí dỏm và phải được đặt đúng nơi đúng chỗ.
- Nghệ sĩ hài biểu diễn phải thật sự có năng lực ca vọng cổ, tức phải có giọng ca, phải có bộ nhịp cho vững để có thế tung hoành trong bài hát một cách dí dỏm nhằm gây cười cho khán giả, phải có sự tập luyện bài bản và kiên trì để có được một lối ca điêu luyện.
Vọng cổ hài hiện tại : thiếu người viết lẫn người ca
Nhìn vào hiện tại, vọng cổ hài thiếu nghiêm trọng, thiếu người ca lẫn người viết. Soạn giả Viễn Châu thì tuổi già sức yếu không thể cầm bút được nữa, những bài vọng cổ của ông nói chung và vọng cổ hài nói riêng được hát đi hát lại mãi.
Gần đây, trong chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Hề Sa phải ca lại bài Văn Hường Đi Suzuki của Viễn Châu. Để giới thiệu cho bài ca này, người dẫn chương trình khi ấy giới thiệu rằng, đó là bài mà Viễn Châu viết từ cảm nhận hiện tượng tai nạn giao thông trong hiện tại. Cách giới thiệu này có phần không tôn trọng khán giả vì ai mê vọng cổ hài mà không biết rằng Văn Hường đã ca thu đĩa bài này mấy chục năm trước rồi.
Thế nhưng, ở đây muốn nhấn mạnh rằng, trong hiện tại cuộc sống có quá nhiều việc cần lên án, cần châm biếm, thế mà không hiểu tại sao lại không hề thấy một bài vọng cổ hài có chất lượng nào được ra đời?!
Đó là về phần soạn giả, còn phần của nghệ sĩ ca vọng cổ hài thì sao? Ta thấy rằng, sau Hề Minh thì có Văn Hưòng, và Văn Hường đã làm được cái câu “sóng sau dồn sóng trước”.
Sau Văn Hường thì có Hề Sa. Dù tự nhận là bản sao của Văn Hường, nhưng rõ ràng Hề Sa đã tạo được cho mình một phong cách riêng, một giọng ca riêng. Người nghe dễ dàng phân biệt được giọng ca Hề Sa với Văn Hường. Dù không vượt được “thầy”, nhưng Hề Sa cũng đã kế tục được vọng cổ hài một cách xứng đáng.
Sau Hề Sa thì cũng có một số giọng ca hài đáng chú ý như Giang Châu hay Hề Thanh Nam. Thế nhưng, hai người này gắn bó với cải lương nhiều hơn, tức là chỉ tập trung đóng hài trong các vỡ cải lương chứ chưa tách hẳn ra gia nhập vào sân chơi vọng cổ hài độc lập với cải lương như trường hợp của Hề Minh, Văn Hường hay Hề Sa.
Sau những người này, thì thế hệ hiện tại ta thấy có rất nhiều hài, nhưng hầu hết là hài cho các tiểu phẩm hài theo lối kịch, còn trong cải lương thì quả thật hiện tại không thấy có danh hài nào có thể ca diễn bài bản theo lối cải lương cho các vỡ cải lương. Hài cải lương đã thiếu, hài vọng cổ còn thiếu hơn, thiếu đến mức nghiêm trọng. Trong quá nhiều danh hài hiện tại, rõ ràng là không thấy ai có khả năng kế tục được vọng cổ hài.
Cần nhắc lại rằng, vọng cổ hài từ thuở Văn Hường đã thật sự trở nên độc lập với cải lương và với vọng cổ mùi. Tức là, nó đã trở thành một lĩnh vực có thể một mình thu hút khán giả, có được lượng khán giả riêng. Trong hiện tại, văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và cải lương nói riêng đang gặp nhiều khó khăn do phải chia khán giả với quá nhiều loại hình giải trí ngoại nhập khác.
Mọi người dù thích cải lương nhưng thật sự khó sắp xếp được thời gian để ngồi xem, thậm chí là nghe trọn vỡ tuồng dài đến mấy tiếng đồng hồ. Trong bối cảnh đó, vọng cổ thật sự trở thành một cứu cánh quan trọng cho nghệ thuật cải lương, bởi một bài vọng cổ 4 câu thì ca độ chừng 6 phút, tức tương đương với một bài tân nhạc. Các nghệ sĩ cải lương khi chạy sô ở các chương trình văn nghệ tổng hợp cũng thường chỉ ca vọng cổ mà thôi.
Nhưng vấn đề là, vọng cổ thì thường buồn bã bi ai, mà có một bộ phận người thì sau những bộn bề của cuộc sống, khi rảnh rang họ muốn thư giãn thần kinh bằng những cái gì vui nhộn, tạo được tiếng cười. Bởi vậy, bên cạnh vọng cổ mùi, cần phát triển vọng cổ hài trong hiện tại, vừa để góp phần gìn giữ vọng cổ-cải lương, vừa để góp phần làm cuộc sống bớt căng thẳng, vừa có thể thu hút được bộ phận giới trẻ yêu thích sự sôi động và vui nhộn. Thế nhưng, nhìn đi nhìn lại, như đã nói bên trên, vọng cổ hài trong hiện tại đang thiếu nghiêm trọng cả về người viết lẫn người ca ?

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130615-vong-co-hai-thieu-nguoi-viet-lan-nguoi-ca

zondag 19 mei 2013

Hà Mỹ Liên : Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ

Thứ bảy 18 Tháng Năm 2013
Hà Mỹ Liên : Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ
Hà Mỹ Liên biểu diễn tại Toulouse mùa xuân năm 2013 (DR)
Hà Mỹ Liên biểu diễn tại Toulouse mùa xuân năm 2013 (DR)
Lê Phước
Trong làng sân khấu cải lương Nam Bộ, có không ít trường hợp nhiều người cùng một gia đình đi hát cải lương, nhưng có ít trường hợp tất cả những người hát cải lương cùng một gia đình thật sự khẳng định được tài năng. Tiêu biểu cho trường hợp số ít đó là ba anh em nghệ sĩ Thanh Điền-Hà Mỹ Liên-Hà Mỹ Xuân.
Đây là ba nghệ sĩ « có tâm và có tầm » trong nghệ thuật ca diễn. So với anh trai và em gái mình thì nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Liên ít được các phương tiện truyền thông nhắc đến. RFI Việt Ngữ hôm nay xin bàn đôi điều về nữ nghệ sĩ một thời vàng son này, một người mà dù sống ở đâu và làm gì cũng không bao giờ quên mình là « nghệ sĩ cải lương ».
Một thời vàng son …
Nghệ sĩ Hà Mỹ Liên tên thật là Nguyễn Thị Thu Hà, sinh ngày 04/12/1948 tại Long Xuyên, An Giang. Trong gia đình, Thanh Điền thứ Sáu, Hà Mỹ Liên thứ Bảy và Hà Mỹ Xuân thứ Tám (theo cách gọi của người Nam Bộ). Năm 12 tuổi, cô bé Thu Hà cùng anh Sáu mình bắt đầu cuộc đời gạo chợ nước sông.
Đoàn hát đầu tiên trong sự nghiệp của hai anh em là đoàn Kim Hoàn-Như Mai. Tại đoàn này, Thu Hà được đặt nghệ danh là Thu Hà còn anh trai được đặt tên là Ngọc Chiếu-tức nghệ sĩ Thanh Điền sau này. Vở tuồng đầu tiên mà hai anh em tham gia là vỡ Phạm Công Cúc Hoa. Và một điều trùng hợp thú vị là trong vở tuồng này hai anh em Hà Mỹ Liên lại vào vai hai anh em Nghi Xuân-Tấn Lực con của Phạm Công và Cúc Hoa.
Một thời gian sau, Thu Hà về đầu quân cho đoàn Bạch Vân, rồi sau đó về đoàn Kim Chung vào khoảng những năm 1962-1963. Tại đoàn Kim Chung, Thu Hà bắt đầu mang nghệ danh Hà Mỹ Liên. Cũng ở Kim Chung, Hà Mỹ Liên bắt đầu vào các vai đào trẻ trong những vở Chiêu Quân Cống Hồ, Ba Con Nhền Nhện, Thương Về Quê Mẹ. Lúc đó, đào trẻ của Kim Chung có Hà Mỹ Liên, Lệ Thủy, Mộng Tuyền và Kim Nga. Được biết, Hà Mỹ Liên và Lệ Thủy ở ngoài đời là đôi bạn chí thân, hai người từng chia vai trong vở Thương Về Quê Mẹ trên sân khấu Kim Chung.
Ở Kim Chung được khoảng 2 năm, Hà Mỹ Liên về đoàn Thủ Đô 2 và bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh các nam nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ như Dũng Thanh Lâm, Minh Đức, Minh Phụng… Sau đó Hà Mỹ Liên đầu quân cho Trăng Mùa Thu đóng cặp với Hoài Trúc Phương.
Như vậy, bắt đầu bước chân theo hát vào năm 12 tuổi, đến năm chưa đầy 15 tuổi, cô bé Thu Hà của miền quê An Giang ngày nào đã trở thành đào chánh. Những năm 1960 là giai đoạn « trăm hoa đua nở » của sân khấu cải lương Nam Bộ với việc các đoàn hát thi nhau ra đời và mỗi đoàn hát đều có những nghệ sĩ riêng để tạo được lượng khán giả riêng của mình, đào kép chánh của mỗi đoàn hát phải thật sự có tài năng để có thể thu hút được khán giả. Và dĩ nhiên, Hà Mỹ Liên phải có « chân tài thực học » mới có thể được chọn làm đào chánh trong cái bối cảnh « trăm hoa đua nở » ấy.
Con tằm lặng lẽ nhả tơ
Năm 1965, Hà Mỹ Liên lập gia đình với một người Pháp làm việc tại Việt Nam. Vì nhiều lý do khác nhau, cô đã phải rời xa sàn diễn. Tuy vậy, trong những nỗ lực tối đa của bản thân, cô đã cố níu kéo cái sợi dây ràng buộc với cải lương bằng cách lập đoàn hát Sao Ngàn Phương, rồi sau đó cùng với người em gái là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân lập đoàn Xuân Liên Hoa.
Đến năm 1976, Hà Mỹ Liên theo chồng rời Việt Nam đến định cư tại Pháp. Rồi vào năm 1978, anh em nghệ sĩ cải lương tại Pháp đã liên lạc được với cô và từ đó cô bắt đầu trở lại sàn diễn. Gần đây, khi trao đổi với cô về giai đoạn này, Hà Mỹ Liên tâm sự là khi ấy cô « nhớ nghề không chịu được » nên đã cố gắng hết sức để trở lại với cải lương.
Trên đất Pháp, nghệ sĩ cải lương đi hát chủ yếu là để thỏa lòng mong nhớ cải lương và để mang lại một chút hơi ấm quê hương cho bà con xa xứ, chứ đâu có được những sân khấu chuyên nghiệp dành cho cải lương như cái thuở vàng son của sân khấu cải lương. Thế mà, Hà Mỹ Liên đã tham gia hát cải lương một cách không mệt mỏi.
Cô đã tham gia nhiều vở tuồng như Chiều Về Trên Sông Lạnh, Nước mắt Người Đi, Thuyền Ra Cửa Biển, Biên Giới Mọt Chiều Mưa, Huyền Trân Công Chúa, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Đi Biển Một Mình, Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng, Bông Hồng Cài Áo, Ông Cò Quận 9, Mạnh Lệ Quân, Máu Nhuộm Sân Chùa, Tây Thi Gái Nước Việt, Khi Hoa Anh Đào Nở… Với các nghệ sĩ thuộc hàng gạo cội như Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Phương Thanh, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hương Lan, Chí Tâm, Phượng Mai, Tài Lương…và dĩ nhiên và còn với người em gái thân thương của cô là nữ nghệ sĩ tài danh Hà Mỹ Xuân.
Có một điều đáng trân trọng ở Hà Mỹ Liên là cô không bao giờ kén vai. Cô mê cải lương nên được giao vai nào cô cũng nhận mà không câu nâu nệ vai lớn hay vai nhỏ. Và đáng chú ý là cô nhận vai nhưng không phải nhận cho có mà là nhận để hát rất nghiêm túc. Cô đóng đủ các vai từ chánh đến phụ, từ đào lẳng đến đào thương, từ đào võ đến vai tiểu thơ đài các, từ vai hài quậy tung sân khấu đến những bà mẹ thân phận đau thương lấy nước mắt khán giả … Và cứ thế, mấy chục năm nay trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên vẫn cứ đóng cải lương một cách « không kèn không trống », với một tấm lòng yêu cải lương ngày một mãnh liệt, cứ như một con tằm cứ miệt mài lặng lẽ nhả tơ.
Sân khấu nhỏ, tình cảm lớn
Trên đất Pháp gần 40 năm nay, cải lương tuyệt đối không phải là cái nghề kiếm sống của Hà Mỹ Liên. Để tìm kiếm cuộc mưu sinh, cô đã phải làm nhiều việc khác, từ kinh doanh nhà hàng, làm MC, đóng hài kịch, ca tân nhạc…Thế nhưng, khi nói về mình, Hà Mỹ Liên bao giờ cũng khẳng định rằng cô là nghệ sĩ cải lương. Cô khẳng định « chắt nịch » như thể như là cái nghề hát cải lương đã là máu, là hơi thở, là cái không bao giờ cô thiếu được. Thế mới biết Hà Mỹ Liên tự hào về cái nghiệp cải lương đến dường nào.
Gần đây có dịp thấy chị em Hà Mỹ Liên-Hà Mỹ Xuân tập dợt chuẩn bị cho buổi Lễ Phật Đản tại một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Được biết, sân khấu cho buổi trình diễn là một sân khấu « dã chiến » ngoài trời do điều kiện vật chất của nơi biểu diễn còn thiếu thốn. Thế nhưng, khi theo dõi quá trình tập dợt của chị em Hà Mỹ Liên thì chắc có lẽ ai cũng nghĩ rằng hai cô đang chuẩn bị cho một sân khấu đại bang hay một chương trình thi cải lương quy mô nào đó.
Trong buổi Lễ Phật Đản nói trên, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân sẽ tham gian một trích đoạn trong vở Quan Âm Thị Kính, trong đó Hà Mỹ Liên sẽ thủ hai vai : mẹ chồng nàng Thị Kính và vai Thị Mầu. Trích đoạn tuy không dài, nhưng có khá nhiều tình tiết cùng với lời văn rất khó nhớ, đòi hỏi người nghệ sĩ phải bỏ nhiều công sức để học tuồng. Ở cái tuổi trên 60, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dĩ nhiên không dễ dàng gì để có thể học thuộc một kiểu tuồng như vậy. Thế nhưng, hai cô đã không ngại tuổi tác và đã cố gắng đến mức đáng nể trong việc học tuồng.
Chưa hết, chỉ một trích đoạn ngắn như vậy, thật lòng mà nói, với tuổi nghề của hai cô, thì chỉ cần học tuồng sơ sơ rồi có người nhắc tuồng là hát được ngay. Ấy thế mà, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân đã bất chấp tuổi tác để bỏ công bỏ sức cùng đến tập với anh em nghệ sĩ liên tục hàng tháng trời. Mà mỗi lần đến tập thì hai cô phải vượt 70 cây số tính cả đi lẫn về để có thể đến nơi tập.
Trên sân khấu khi tập tuồng, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dường như quên đó là sân khấu tập. Hai cô không hề ỷ vào thâm niên nghề nghiệp để hát qua loa, mà hai cô tỉ mỉ từng nét diễn, từng lời thoại, từng cách nhả chữ, từng cách lấy hơi. Mỗi khi ca « chinh dây » một chút là hai cô yêu cầu được ca lại ngay.
Hiện tại, ngay cả nghệ sĩ trẻ trong nước, những người sống bằng nghề hát cải lương, mà khi tập tuồng cũng hiếm thấy có ai tập cho nghiêm túc đến mức như vậy. Thế mà, đối với chị em Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân, đây là đi hát cho chùa, mà hát cho chùa thì làm công đức là chủ yếu, thế mà hai cô lại phải bỏ nhiều công sức đến như vậy. Điều đó chỉ có thể lý giải bằng một niềm đam mê không bờ bến đối với cái nghiệp cải lương.
Thần nữ Hà Mỹ Liên ngày ấy
Bàn về nghệ thuật ca diễn của Hà Mỹ Liên, ta thấy rằng cô có một bộ nhịp thuộc hàng thượng thừa. Một điểm đáng chú ý là có những bài bản lâu quá rồi cô không có dịp ca, thế mà khi tập tuồng, nhạc sĩ chỉ cần đàn cho cô nghe qua là lập tức cô bắt vào ca ăn song lang « cốp cốp ». Điều đó cho thấy các bài bản cải lương hoặc là đã thấm vào máu của cô hoặc là lúc nào cũng được cô nhớ thương da diết.
Hà Mỹ Liên tâm sự rằng, thế mạnh của cô là diễn xuất, thế nhưng nghe cô ca thì mới thấy được cô không chỉ giỏi diễn mà ca cũng thuộc hàng điêu luyện. Trước đây, giọng ca Hà Mỹ Liên khỏe lắm. Cô có giọng rất cao, và ca rất mùi. Bộ nhịp của cô thì khỏi phải chê, cô ca rất chắc nhịp. Cô đặc biệt ca hay các bài bản lẻ, và tôi đặt biệt thích nghe cô ca bài Phú Lục, nghe mà sướng tai.
Nói về bản vọng cổ, Hà Mỹ Liên ca vọng cổ không sắp chữ theo khuôn, cô có lối ca rải đều chữ, người nghe không biết là cô đã đi tới đâu, đôi khi sợ cô rớt nhịp, thế mà cô về cuối câu vọng cổ hồi nào mà người nghe cũng không hay, khi chợt nhận ra cô về cuối câu thì nhịp nhàng lại đâu vào đó, cứ đúng song lang như đặt sẳn vậy. Phải chắc nhịp và điêu luyện lắm thì người nghệ sĩ mới dám ca theo lối này.
Nói về diễn xuất, Hà Mỹ Liên diễn theo lối tự nhiên, không màu mè kiểu vẽ, có sao diễn vậy. Bởi thế, cô đi vào nhận vật rất tự nhiên. Được biết khi mới vào nghề, cô nổi tiếng với các vai đào võ. Hồi ấy, cô từng lừng danh với vai Thần Nữ trong vỡ tuồng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, đến mức mà đoàn Trăng Mùa Thu đăng bảng quảng cáo trước rạp Hưng Đạo ở Sài Gòn là « Thần Nữ Hà Mỹ Liên » bên cạnh « Kiều Nữ Bích Sơn ».
Trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên thành công với các vai người mẹ bất hạnh trong Bông Hồng Cài Áo, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng của Biển. Cô diễn các vai này cũng theo lối tự nhiên, nhẹ nhàng và thiên về thể hiện nội tâm, một lối diễn xuất rất có chiều sâu như của Thanh Nga hay Ngọc Giàu vậy.
Năm ngoái đuợc dịp xem cô diễn vai bà mẹ trong Tấm Lòng Của Biển với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tại một sân khấu dựng tạm ngoài trời tại một buổi cơm kiến thiết của một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Thường thì khi hát cải lương ở những sân khấu như vậy, nghệ sĩ rất khó lấy được nước mắt khán giả bởi mọi người bị chi phối bởi nhiều thứ khác. Ấy thế mà, hôm ấy, không ít khán giả đã phải bỏ đũa hướng mắt về sân khấu và để cho những giọt nước mắt lăn dài. Thế mới biết, nếu người nghệ sĩ ca diễn hết lòng thì khán giả cũng đáp lại bằng cách thưởng thức hết lòng vậy.
Để tìm hiểu thêm về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thuở vàng son của sân khấu cải lương, RFI Việt Ngữ trao đổi với nghệ sĩ Lệ Thủy tại Việt Nam-người từng chia sân khấu với Hà Mỹ Liên hồi những năm 1960 tại đoàn Kim Chung. Sau đây là tâm tình của Lệ Thủy về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên :
« Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên vừa là bạn đồng nghiệp vừa là đôi bạn thân. Hai đứa có cùng tuổi. Hồi về đoàn Kim Chung thì cũng còn nhỏ chừng 15-16 tuổi, nên rất thân thiết. Sau giờ tập tuồng hay giờ diễn thì thường rủ nhau đi chợ Sài Gòn chơi, đi mua sắm, đi xem phim…Lúc về đoàn Kim Chung, Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên hát chung một vai trong vỡ tuồng Thương Về Quê Mẹ, Hà Mỹ Liên đóng màn đầu còn Lệ Thủy đóng màn sau.
Rất tiếc là Hà Mỹ Liên do có gia đình và phải đi xa nên không hát nhiều như Lệ Thủy. Nhưng phải nói về nghệ thuật thì Hà Mỹ Liên diễn đào võ rất hay, rất duyên dáng trên sân khấu. Gia đình Hà Mỹ Liên toàn là nghệ sĩ, như anh Thanh Điền hay Hà Mỹ Xuân cũng đều là những tay diễn rất hay. Lệ Thủy thấy rằng, Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất duyên dáng trên sân khấu, đẹp và diễn hay. Tiếc là một thời gian dài không đi hát, nên bà con như muốn quên Hà Mỹ Liên, chứ thật ra Hà Mỹ Liên cũng là một nhân tài đó ».
Cùng sống và hoạt động nghệ thuật trong mấy mươi năm qua trên đất Pháp với Hà Mỹ Liên là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân. Sau đây là đôi điều nhận xét của Hà Mỹ Xuân về người chị và người đồng nghiệp Hà Mỹ Liên của mình :
« Nói về nghề, thì chị Hà Mỹ Liên cũng có tầm cỡ lắm. Hồi trước chị Liên ca hay lắm, bây giờ thì ca không còn như hồi xưa nữa, nhưng về diễn xuất thì như dân trong nghề hay nói là chị Liên là người rất « rộng xài », vì chị có thể diễn được nhiều loại vai, từ đào mùi, đào đào độc, đào lẳng…Loại vai nào chị diễn cũng trọn vẹn. Chị Liên diễn xuất rất có chiều sâu. Chị Liên ca rất chắc nhịp. Nói về ca quăng bắt nhịp nhàng thì chị Liên hơn Hà Mỹ Xuân rất nhiều. Thêm vào đó, chị Liên đạt rất cao về độ tự nhiên trên sân khấu. Chị Lệ Thủy và các chị nghệ sĩ lớn cùng thời, thì chị Liên có tầm cỡ như các chị em lúc đó.
Về đóng góp của Hà Mỹ Liên trên đất Pháp, phải nói là chị Liên đóng góp rất nhiều, nhiều hơn Hà Mỹ Xuân. Chị Liên có chồng sớm nên việc hát bị giáng đoạn. Nhưng sau khi sang Pháp chị đã hát trở lại và chị đóng góp cho cải lương trên đất Pháp rất nhiều.  Hà Mỹ Xuân còn nhớ, anh Thanh Điền và chị Hà Mỹ Liên đi theo hát trước, sau đó mới tới Hà Mỹ Xuân. Và chính chị Liên đã đặt nghệ danh cho Hà Mỹ Xuân ».
Ai ơi đừng có phụ nghề
Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất nghiêm túc và yêu nghề. Khi có dịp trò chuyện với cô, thì lúc nào cũng vậy, một niềm sung sướng luôn hiện rõ trong đôi mắt của cô mỗi khi cô kể về những tháng ngày gạo chợ nước sông ở cái thời vàng son của sân khấu cải lương. Cô không ngại xa xôi hay vất vã để được hát cải lương như trường hợp tập tuồng vừa kể bên trên.
Trong đôi lần đi hát vất vã nhưng thù lao thì chẳng bao nhiêu, có người trong nhóm diễn phàn nàn và tỏ ra chán nghề, thì lập tức Hà Mỹ Liên không ngại mất lòng mà nói ngay : «Bây ơi đừng có phụ nghề ». Một câu nói ngắn như thế nhưng tưởng chừng không còn có gì có thể cho thấy rõ ràng hơn tấm lòng tha thiết đối với cải lương của nghệ sĩ Hà Mỹ Liên.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130518-ha-my-lien-kiep-tam-lang-le-nha-to

maandag 29 april 2013

Các “dượng đào” trong làng cải lương

Các “dượng đào” trong làng cải lương

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2013-04-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

thanh-nga-dong-lan-305.jpg
Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và người chồng Phạm Duy Lân.
Photo courtesy of EVA.VN



Trong làng sân khấu có những từ ngữ để gọi cho từng nghiệp vụ chuyên môn mà ai đó rơi đúng vào, thì y như rằng trong một sớm một chiều sẽ mang danh ngay.
Những ngôn từ hầu như bất di bất dịch, hễ nói ra là người ta hiểu ngay người đó thuộc thành phần nào trong làng cải lương như: Đào thương, đào lẳng, đào mụ, đào con, kép mùi, kép độc, kép lão, hề, thầy đờn (tức nhạc sĩ), thầy tuồng (tức soạn giả), công nhân, dàn cảnh, và có cả... dượng đào.
Trong buổi nói chuyện này, tôi nói riêng về dượng đào, cũng là một thành phần trong cải lương mà từ lâu nay ít ai để ý đến, do bởi dượng đào chỉ ở hậu trường sau bức màn nhung, nhưng lại thường hay gây sóng gió cho đoàn hát, xưa nay phần nhiều là vậy.

Ngoài giới

Nếu như có những cuộc hôn nhơn của người trong giới với nhau thì ngôn từ để gọi người chồng không có gì thay đổi. Thí dụ như Út Bạch Lan kết hôn với Thành Được thì thiên hạ vẫn gọi Thành Được là kép mùi; đào Thanh Nguyệt lấy chồng là soạn giả Mộc Linh, hoặc đào Kiều Oanh kết hôn với soạn giả Yên Lang thì người ta vẫn gọi 2 chàng này là soạn giả như thường. Còn như bầu gánh lấy vợ đào hát như trường hợp bầu Hoài Nhân của đoàn Sao Ngàn Phương có vợ là đào Kiều Hoa, thì người đời vẫn gọi Hoài Nhân là ông bầu, chứ không gọi thêm danh từ nào khác. Tóm lại các cô đào mà lấy chồng người trong giới là chuyện thường tình, chẳng có gì lạ, và danh từ để gọi người chồng vẫn giữ nguyên như nghiệp vụ của các chàng ta.
Thế nhưng, các đào hát mà lấy chồng không phải người trong giới thì đức lang quân của nàng được phong chức “dượng đào” ngay liền để gia nhập làng cải lương. Đó là quy luật bất thành văn, chạy trời không khỏi nắng, các dượng đào nhà ta dù muốn dù không cũng phải lãnh chức. (Vấn đề nầy chỉ ngầm hiểu mà thôi, nhưng ai cũng biết).
Một khi được phong chức rồi thì dượng đào mặc nhiên là thành viên của gánh hát mà đào ta đang cộng tác. Dù rằng chẳng làm lợi ích gì cho đoàn hát, cho nghệ thuật nhưng đoàn hát đi đâu thì chàng đi theo đó, chẳng một ai thắc mắc gì cả, chỉ có cái là không được trả lương. Người ta nói có lẽ do vấn đề không được trả lương này mà dượng đào Trọng Viễn bị đào Ngọc Loan Anh cho ra rìa luôn chăng?
Thiên hạ nói “cưới đào hát là cầm chắc sự đau khổ trong tay,” và đó cũng là ý kiến hay thành kiến của nhiều người đã trải đời khá nhiều. Vậy mà cũng có người trong giới ký giả đã “cả gan” cưới đào hát, để rồi sau đó khổ tâm không ít như trường hợp Trọng Viễn cưới cô đào hát Ngọc Loan Anh, mà một dạo đã là đề tài bàn tán cho người trong giới.
Năm 1965 đoàn Hoa Thủy Liên hát ở Sài Gòn, cô đào chánh trẻ Ngọc Loan Anh có nhan sắc và hình vóc của cô đào đại ban, nổi danh nhờ báo chí thời đó đăng ảnh đề cập đến khá nhiều. Và người ta cũng biết người lăng xê cho cô mạnh nhứt là ký giả kịch trường Trọng Viễn (em của nhà báo Việt Định Phương), do đó mà Ngọc Loan Anh đã phải lòng anh chàng ký giả này. Thế nhưng, mối tình của họ hình như bị người cha nuôi ngăn cản, nên có một lần đoàn Hoa Thủy Tiên dừng bước giang hồ lưu diễn ở Sa Đéc, thì đào trẻ Ngọc Loan Anh cắt tóc gởi cho chàng (cắt ngắn thôi chớ không phải cạo trọc như ni cô), xong cô vào ngôi chùa ở thị trấn ấy. Nhưng rồi, nàng còn ở tuổi vị thành niên, nhà chùa không nhận vì không có cha mẹ thuận ưng cho tu hành nên cô trở về với đoàn hát.
Nàng đã có gởi thơ cho chàng rằng: “Em yêu anh mãi. Năm ngoái ở Sa Giang vì phiền cha mẹ nuôi ngăn cản, em đã cắt tóc vào chùa...”
Nàng nặng tình đến thế, tưởng đâu sẽ lâu dài, nhưng chẳng bao lâu thì có chuyện. Sau vụ đó vài tháng thì gia đình đào Ngọc loan Anh chấp thuận cho cô thành hôn với Trọng Viễn. Việc đầu tiên là... tiền, chàng ta lo chạy tiền, có người nói có lẽ chàng ta bán đất của ông cụ để lại ở Rạch Giá?

Cuốn gói theo đào

Đám cưới rỡ ràng, hai họ dự đám khá đông. Chàng ký giả kịch trường Trọng Viễn đang làm việc cho tờ báo Tia Sáng, nhưng khi cưới được cô đào Ngọc Loan Anh thì chàng ta nghỉ làm báo, mà cuốn gói theo nàng để rày đây mai đó, gạo chợ nước sông. Vất vả như thế nhưng dượng đào nhà ta cũng vui vẻ chấp nhận, ráng đi theo để canh chừng, vì e rằng sẽ bị anh kép nào đó cuỗm mất cô vợ trẻ đẹp mới cưới của mình.
Những người trong đoàn Hoa Thủy Tiên kể lại rằng, hằng đêm đào Ngọc Loan Anh diễn ngoài sân khấu, thì dượng đào Trọng Viễn luôn ngồi phía sau cánh gà nhìn ra đã tỏ vẻ khó chịu, bực bội, nhứt là những lúc đào ta mùi mẫn với chàng kép chánh. Vì vậy cho nên có những lúc tấm màn nhung vừa buông xuống vãn hát là vợ chồng hục hặc một lúc mới yên.
Nhưng sự việc trên chỉ một phần nhỏ thôi, mà vấn đề chính là trong khi mọi người trong đoàn hát ai cũng có lương đêm, chỉ một Trọng Viễn là không có. Không còn lãnh tiền ở nhà báo, mà tiền gánh hát cũng không thì lấy chi đây để sống chứ? Bởi vậy suốt mấy tháng đi theo đoàn chàng ta phải sống nhờ tiền lương của vợ, một gánh nặng cho đào ta.
Khi đoàn Hoa Thủy Tiên lưu diễn vùng Cao Nguyên, từ Dakto dọn xuống Kontum thì Ngọc Loan Anh lại phát cơn điên loạn, kêu khóc thảm thiết và gọi đích danh chồng là Trọng Viễn, đuổi anh này hãy về Sài Gòn tự do lấy vợ để cho cô ta thong thả hát xướng.
Trọng Viễn nghĩ rằng trong việc này có người chia rẽ vợ chồng anh. Và anh cả quyết rằng ông cha nuôi của Ngọc Loan Anh đã dùng bùa ngải làm cho vợ anh điên loạn, nên chi anh đã tống cho cha vợ nuôi mấy loi rồi thu xếp đồ đạc ra phi trường bay ngay về Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn chàng ký giả Trọng Viễn buồn khổ, không đến hậu trường các rạp hát như mọi khi, cũng không đến nhà báo Tia Sáng mà anh ta cộng tác. Rồi đến một ngày nọ không lâu lắm, người ta thấy anh chàng xuất hiện ở Ngã Tư Quốc Tế với thân hình tiều tụy, mặt mày ủ rũ, đầu cổ tóc tai bù xù... Gặp người quen hỏi cũng không buồn trả lời.
Có lẽ để dứt luôn với quá khứ hay sao, mà thời gian sau đó đào Ngọc Loan Anh đổi tên là Trang Đài lên truyền hình, đóng kịch, đóng phim, ca tân nhạc v.v... Nàng đã dứt khoát hẳn với Trọng Viễn. Thế là xong, coi như mất chức dượng đào.

Ăn theo

Dượng đào cũng đặc biệt được hưởng quyền lợi của nghệ sĩ, như trường hợp chồng của cô đào Trang Kim Nga. Thời kỳ trước 1975 trong phái đoàn nghệ sĩ xuất ngoại nọ, có cái tên nam nghệ sĩ Huỳnh Xuân Thưởng, người trong giới không rõ đó là kép nào nên xôn xao lên dữ dội.
Giữa lúc mọi người đang đánh cá với nhau tưng bừng thì lão soạn giả Điêu Huyễn cho biết: Nó là thằng Thưởng, chồng già khú của nàng Trang Kim Nga đó. Chẳng là nó trước đây khoái cải lương lắm, nên mới vung tiền ra mà cưới đào hát để nó được là dượng đào. Rồi lấy hơi đào, nó tự xưng là nghệ sĩ tháp tùng đi Tây chơi đó mà.
Nhờ lãnh chức dượng đào mà tên chàng ta được nằm trong danh sách phái đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi Âu Châu vào đầu thập niên 1970.
Và sau đây một dượng đào nữa, đó là dượng đào Đổng Lân chồng nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
Mối tình của Thanh Nga với Đại Úy Mẫn khoảng hơn một năm thì tan vỡ, Thanh Nga như một chiếc lá trong cơn bão lốc của tình trường, dư luận được dịp đồn đãi lung tung, gán cho nàng đủ các nhân vật, từ ngài đại sứ cho đến cậu công tử con nhà buôn hột xoàn danh tiếng nọ...
Thời gian sau Thanh Nga lại xuất hiện chung với ông Luật Sư Phạm Duy Lân, nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin, mà người ta gọi là Đổng Lân.
Ông Đổng Lân cưng Thanh Nga hết cỡ, nàng đi đóng phim ở đâu cũng có chàng theo bên cạnh, tay che dù, tay quạt mát, thật hạnh phúc vô cùng, thấy nàng ngồi nắng là ông chịu không nổi. Song phải có nắng như vậy thì mới đủ ánh sáng quay phim...
Ông phàn nàn:
“Điện ảnh của mình còn thiếu phương tiện quá, không có một dàn đèn nào đủ dùng để quay phim ngoài trời...”
Thế rồi ông cầm dù che nắng cho Thanh Nga, và khi nào bắt đầu quay, đạo diễn hô “cho đèn nhé” thì ông mới kéo nghiêng dù qua một bên nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa, để đủ sức sáng thu hình vào ống kính. Tiếng đạo diễn vừa hô “cắt” là ông đã che ngay dù như cũ cho Thanh Nga khỏi bị “nắng ăn, vừa sợ nàng đen mà vừa ngại nàng sổ mũi, nhức đầu lại nhõng nhẽo...
Lúc tạm nghĩ, Thanh Nga và ông Lân vào nơi có bóng mát tâm sự nhau, ông Lân cầm quạt và... quạt lia.
Rồi ông vui miệng kể chuyện cho anh em nghe về những ngày ông cùng Thanh Nga ra Huế, nàng đóng phim “Nắng Chiều” cho hãng Lido. Ông nói, "“Nắng chiều” là phim màu, nhưng cũng trông vào ánh sáng mặt trời như những phim khác. Thành thử có hôm Nga và tôi cùng với đoàn quay phim tới địa điểm ngồi chơi, xơi nước, tán dóc thả đàn rồi lại vui vẻ... đi về, vì không có nắng.”
Mỗi ngày, ông Lân lái chiếc xe hơi hiệu Honda xinh xắn chở người đẹp Thanh Nga đi chỗ này, chỗ nọ, Thanh Nga tươi cười nói chuyện vui vẻ ríu rít như chim...
Tùy theo vị thế của cô đào mà các dượng đào cũng được ăn theo, như trường hợp dượng đào Đổng Lân nhờ Vương Hậu Thanh Nga lừng danh tên tuổi mà Đổng Lân cũng nổi tiếng hơn tất cả các người cùng cảnh ngộ.
Dượng đào Đổng Lân luôn bám sát Thanh Nga như hình với bóng, riết rồi người ta không còn phân biệt ông là người trong hay ngoài giới, mà điển hình là trong một cuộc bầu bán ở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc, Sài Gòn, dượng đào Đổng Lân cũng được bầu vào một chức vụ trong ban chấp hành.