Posts tonen met het label Hà Mỹ Xuân. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Hà Mỹ Xuân. Alle posts tonen

zondag 19 mei 2013

Hà Mỹ Liên : Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ

Thứ bảy 18 Tháng Năm 2013
Hà Mỹ Liên : Kiếp tằm lặng lẽ nhả tơ
Hà Mỹ Liên biểu diễn tại Toulouse mùa xuân năm 2013 (DR)
Hà Mỹ Liên biểu diễn tại Toulouse mùa xuân năm 2013 (DR)
Lê Phước
Trong làng sân khấu cải lương Nam Bộ, có không ít trường hợp nhiều người cùng một gia đình đi hát cải lương, nhưng có ít trường hợp tất cả những người hát cải lương cùng một gia đình thật sự khẳng định được tài năng. Tiêu biểu cho trường hợp số ít đó là ba anh em nghệ sĩ Thanh Điền-Hà Mỹ Liên-Hà Mỹ Xuân.
Đây là ba nghệ sĩ « có tâm và có tầm » trong nghệ thuật ca diễn. So với anh trai và em gái mình thì nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Liên ít được các phương tiện truyền thông nhắc đến. RFI Việt Ngữ hôm nay xin bàn đôi điều về nữ nghệ sĩ một thời vàng son này, một người mà dù sống ở đâu và làm gì cũng không bao giờ quên mình là « nghệ sĩ cải lương ».
Một thời vàng son …
Nghệ sĩ Hà Mỹ Liên tên thật là Nguyễn Thị Thu Hà, sinh ngày 04/12/1948 tại Long Xuyên, An Giang. Trong gia đình, Thanh Điền thứ Sáu, Hà Mỹ Liên thứ Bảy và Hà Mỹ Xuân thứ Tám (theo cách gọi của người Nam Bộ). Năm 12 tuổi, cô bé Thu Hà cùng anh Sáu mình bắt đầu cuộc đời gạo chợ nước sông.
Đoàn hát đầu tiên trong sự nghiệp của hai anh em là đoàn Kim Hoàn-Như Mai. Tại đoàn này, Thu Hà được đặt nghệ danh là Thu Hà còn anh trai được đặt tên là Ngọc Chiếu-tức nghệ sĩ Thanh Điền sau này. Vở tuồng đầu tiên mà hai anh em tham gia là vỡ Phạm Công Cúc Hoa. Và một điều trùng hợp thú vị là trong vở tuồng này hai anh em Hà Mỹ Liên lại vào vai hai anh em Nghi Xuân-Tấn Lực con của Phạm Công và Cúc Hoa.
Một thời gian sau, Thu Hà về đầu quân cho đoàn Bạch Vân, rồi sau đó về đoàn Kim Chung vào khoảng những năm 1962-1963. Tại đoàn Kim Chung, Thu Hà bắt đầu mang nghệ danh Hà Mỹ Liên. Cũng ở Kim Chung, Hà Mỹ Liên bắt đầu vào các vai đào trẻ trong những vở Chiêu Quân Cống Hồ, Ba Con Nhền Nhện, Thương Về Quê Mẹ. Lúc đó, đào trẻ của Kim Chung có Hà Mỹ Liên, Lệ Thủy, Mộng Tuyền và Kim Nga. Được biết, Hà Mỹ Liên và Lệ Thủy ở ngoài đời là đôi bạn chí thân, hai người từng chia vai trong vở Thương Về Quê Mẹ trên sân khấu Kim Chung.
Ở Kim Chung được khoảng 2 năm, Hà Mỹ Liên về đoàn Thủ Đô 2 và bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh các nam nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ như Dũng Thanh Lâm, Minh Đức, Minh Phụng… Sau đó Hà Mỹ Liên đầu quân cho Trăng Mùa Thu đóng cặp với Hoài Trúc Phương.
Như vậy, bắt đầu bước chân theo hát vào năm 12 tuổi, đến năm chưa đầy 15 tuổi, cô bé Thu Hà của miền quê An Giang ngày nào đã trở thành đào chánh. Những năm 1960 là giai đoạn « trăm hoa đua nở » của sân khấu cải lương Nam Bộ với việc các đoàn hát thi nhau ra đời và mỗi đoàn hát đều có những nghệ sĩ riêng để tạo được lượng khán giả riêng của mình, đào kép chánh của mỗi đoàn hát phải thật sự có tài năng để có thể thu hút được khán giả. Và dĩ nhiên, Hà Mỹ Liên phải có « chân tài thực học » mới có thể được chọn làm đào chánh trong cái bối cảnh « trăm hoa đua nở » ấy.
Con tằm lặng lẽ nhả tơ
Năm 1965, Hà Mỹ Liên lập gia đình với một người Pháp làm việc tại Việt Nam. Vì nhiều lý do khác nhau, cô đã phải rời xa sàn diễn. Tuy vậy, trong những nỗ lực tối đa của bản thân, cô đã cố níu kéo cái sợi dây ràng buộc với cải lương bằng cách lập đoàn hát Sao Ngàn Phương, rồi sau đó cùng với người em gái là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân lập đoàn Xuân Liên Hoa.
Đến năm 1976, Hà Mỹ Liên theo chồng rời Việt Nam đến định cư tại Pháp. Rồi vào năm 1978, anh em nghệ sĩ cải lương tại Pháp đã liên lạc được với cô và từ đó cô bắt đầu trở lại sàn diễn. Gần đây, khi trao đổi với cô về giai đoạn này, Hà Mỹ Liên tâm sự là khi ấy cô « nhớ nghề không chịu được » nên đã cố gắng hết sức để trở lại với cải lương.
Trên đất Pháp, nghệ sĩ cải lương đi hát chủ yếu là để thỏa lòng mong nhớ cải lương và để mang lại một chút hơi ấm quê hương cho bà con xa xứ, chứ đâu có được những sân khấu chuyên nghiệp dành cho cải lương như cái thuở vàng son của sân khấu cải lương. Thế mà, Hà Mỹ Liên đã tham gia hát cải lương một cách không mệt mỏi.
Cô đã tham gia nhiều vở tuồng như Chiều Về Trên Sông Lạnh, Nước mắt Người Đi, Thuyền Ra Cửa Biển, Biên Giới Mọt Chiều Mưa, Huyền Trân Công Chúa, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Đi Biển Một Mình, Tấm Lòng Của Biển, Con Gái Chị Hằng, Bông Hồng Cài Áo, Ông Cò Quận 9, Mạnh Lệ Quân, Máu Nhuộm Sân Chùa, Tây Thi Gái Nước Việt, Khi Hoa Anh Đào Nở… Với các nghệ sĩ thuộc hàng gạo cội như Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Phương Thanh, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hương Lan, Chí Tâm, Phượng Mai, Tài Lương…và dĩ nhiên và còn với người em gái thân thương của cô là nữ nghệ sĩ tài danh Hà Mỹ Xuân.
Có một điều đáng trân trọng ở Hà Mỹ Liên là cô không bao giờ kén vai. Cô mê cải lương nên được giao vai nào cô cũng nhận mà không câu nâu nệ vai lớn hay vai nhỏ. Và đáng chú ý là cô nhận vai nhưng không phải nhận cho có mà là nhận để hát rất nghiêm túc. Cô đóng đủ các vai từ chánh đến phụ, từ đào lẳng đến đào thương, từ đào võ đến vai tiểu thơ đài các, từ vai hài quậy tung sân khấu đến những bà mẹ thân phận đau thương lấy nước mắt khán giả … Và cứ thế, mấy chục năm nay trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên vẫn cứ đóng cải lương một cách « không kèn không trống », với một tấm lòng yêu cải lương ngày một mãnh liệt, cứ như một con tằm cứ miệt mài lặng lẽ nhả tơ.
Sân khấu nhỏ, tình cảm lớn
Trên đất Pháp gần 40 năm nay, cải lương tuyệt đối không phải là cái nghề kiếm sống của Hà Mỹ Liên. Để tìm kiếm cuộc mưu sinh, cô đã phải làm nhiều việc khác, từ kinh doanh nhà hàng, làm MC, đóng hài kịch, ca tân nhạc…Thế nhưng, khi nói về mình, Hà Mỹ Liên bao giờ cũng khẳng định rằng cô là nghệ sĩ cải lương. Cô khẳng định « chắt nịch » như thể như là cái nghề hát cải lương đã là máu, là hơi thở, là cái không bao giờ cô thiếu được. Thế mới biết Hà Mỹ Liên tự hào về cái nghiệp cải lương đến dường nào.
Gần đây có dịp thấy chị em Hà Mỹ Liên-Hà Mỹ Xuân tập dợt chuẩn bị cho buổi Lễ Phật Đản tại một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Được biết, sân khấu cho buổi trình diễn là một sân khấu « dã chiến » ngoài trời do điều kiện vật chất của nơi biểu diễn còn thiếu thốn. Thế nhưng, khi theo dõi quá trình tập dợt của chị em Hà Mỹ Liên thì chắc có lẽ ai cũng nghĩ rằng hai cô đang chuẩn bị cho một sân khấu đại bang hay một chương trình thi cải lương quy mô nào đó.
Trong buổi Lễ Phật Đản nói trên, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân sẽ tham gian một trích đoạn trong vở Quan Âm Thị Kính, trong đó Hà Mỹ Liên sẽ thủ hai vai : mẹ chồng nàng Thị Kính và vai Thị Mầu. Trích đoạn tuy không dài, nhưng có khá nhiều tình tiết cùng với lời văn rất khó nhớ, đòi hỏi người nghệ sĩ phải bỏ nhiều công sức để học tuồng. Ở cái tuổi trên 60, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dĩ nhiên không dễ dàng gì để có thể học thuộc một kiểu tuồng như vậy. Thế nhưng, hai cô đã không ngại tuổi tác và đã cố gắng đến mức đáng nể trong việc học tuồng.
Chưa hết, chỉ một trích đoạn ngắn như vậy, thật lòng mà nói, với tuổi nghề của hai cô, thì chỉ cần học tuồng sơ sơ rồi có người nhắc tuồng là hát được ngay. Ấy thế mà, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân đã bất chấp tuổi tác để bỏ công bỏ sức cùng đến tập với anh em nghệ sĩ liên tục hàng tháng trời. Mà mỗi lần đến tập thì hai cô phải vượt 70 cây số tính cả đi lẫn về để có thể đến nơi tập.
Trên sân khấu khi tập tuồng, Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân dường như quên đó là sân khấu tập. Hai cô không hề ỷ vào thâm niên nghề nghiệp để hát qua loa, mà hai cô tỉ mỉ từng nét diễn, từng lời thoại, từng cách nhả chữ, từng cách lấy hơi. Mỗi khi ca « chinh dây » một chút là hai cô yêu cầu được ca lại ngay.
Hiện tại, ngay cả nghệ sĩ trẻ trong nước, những người sống bằng nghề hát cải lương, mà khi tập tuồng cũng hiếm thấy có ai tập cho nghiêm túc đến mức như vậy. Thế mà, đối với chị em Hà Mỹ Liên và Hà Mỹ Xuân, đây là đi hát cho chùa, mà hát cho chùa thì làm công đức là chủ yếu, thế mà hai cô lại phải bỏ nhiều công sức đến như vậy. Điều đó chỉ có thể lý giải bằng một niềm đam mê không bờ bến đối với cái nghiệp cải lương.
Thần nữ Hà Mỹ Liên ngày ấy
Bàn về nghệ thuật ca diễn của Hà Mỹ Liên, ta thấy rằng cô có một bộ nhịp thuộc hàng thượng thừa. Một điểm đáng chú ý là có những bài bản lâu quá rồi cô không có dịp ca, thế mà khi tập tuồng, nhạc sĩ chỉ cần đàn cho cô nghe qua là lập tức cô bắt vào ca ăn song lang « cốp cốp ». Điều đó cho thấy các bài bản cải lương hoặc là đã thấm vào máu của cô hoặc là lúc nào cũng được cô nhớ thương da diết.
Hà Mỹ Liên tâm sự rằng, thế mạnh của cô là diễn xuất, thế nhưng nghe cô ca thì mới thấy được cô không chỉ giỏi diễn mà ca cũng thuộc hàng điêu luyện. Trước đây, giọng ca Hà Mỹ Liên khỏe lắm. Cô có giọng rất cao, và ca rất mùi. Bộ nhịp của cô thì khỏi phải chê, cô ca rất chắc nhịp. Cô đặc biệt ca hay các bài bản lẻ, và tôi đặt biệt thích nghe cô ca bài Phú Lục, nghe mà sướng tai.
Nói về bản vọng cổ, Hà Mỹ Liên ca vọng cổ không sắp chữ theo khuôn, cô có lối ca rải đều chữ, người nghe không biết là cô đã đi tới đâu, đôi khi sợ cô rớt nhịp, thế mà cô về cuối câu vọng cổ hồi nào mà người nghe cũng không hay, khi chợt nhận ra cô về cuối câu thì nhịp nhàng lại đâu vào đó, cứ đúng song lang như đặt sẳn vậy. Phải chắc nhịp và điêu luyện lắm thì người nghệ sĩ mới dám ca theo lối này.
Nói về diễn xuất, Hà Mỹ Liên diễn theo lối tự nhiên, không màu mè kiểu vẽ, có sao diễn vậy. Bởi thế, cô đi vào nhận vật rất tự nhiên. Được biết khi mới vào nghề, cô nổi tiếng với các vai đào võ. Hồi ấy, cô từng lừng danh với vai Thần Nữ trong vỡ tuồng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, đến mức mà đoàn Trăng Mùa Thu đăng bảng quảng cáo trước rạp Hưng Đạo ở Sài Gòn là « Thần Nữ Hà Mỹ Liên » bên cạnh « Kiều Nữ Bích Sơn ».
Trên đất Pháp, Hà Mỹ Liên thành công với các vai người mẹ bất hạnh trong Bông Hồng Cài Áo, Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng của Biển. Cô diễn các vai này cũng theo lối tự nhiên, nhẹ nhàng và thiên về thể hiện nội tâm, một lối diễn xuất rất có chiều sâu như của Thanh Nga hay Ngọc Giàu vậy.
Năm ngoái đuợc dịp xem cô diễn vai bà mẹ trong Tấm Lòng Của Biển với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tại một sân khấu dựng tạm ngoài trời tại một buổi cơm kiến thiết của một ngôi chùa ở ngoại ô Paris. Thường thì khi hát cải lương ở những sân khấu như vậy, nghệ sĩ rất khó lấy được nước mắt khán giả bởi mọi người bị chi phối bởi nhiều thứ khác. Ấy thế mà, hôm ấy, không ít khán giả đã phải bỏ đũa hướng mắt về sân khấu và để cho những giọt nước mắt lăn dài. Thế mới biết, nếu người nghệ sĩ ca diễn hết lòng thì khán giả cũng đáp lại bằng cách thưởng thức hết lòng vậy.
Để tìm hiểu thêm về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thuở vàng son của sân khấu cải lương, RFI Việt Ngữ trao đổi với nghệ sĩ Lệ Thủy tại Việt Nam-người từng chia sân khấu với Hà Mỹ Liên hồi những năm 1960 tại đoàn Kim Chung. Sau đây là tâm tình của Lệ Thủy về nghệ sĩ Hà Mỹ Liên :
« Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên vừa là bạn đồng nghiệp vừa là đôi bạn thân. Hai đứa có cùng tuổi. Hồi về đoàn Kim Chung thì cũng còn nhỏ chừng 15-16 tuổi, nên rất thân thiết. Sau giờ tập tuồng hay giờ diễn thì thường rủ nhau đi chợ Sài Gòn chơi, đi mua sắm, đi xem phim…Lúc về đoàn Kim Chung, Lệ Thủy và Hà Mỹ Liên hát chung một vai trong vỡ tuồng Thương Về Quê Mẹ, Hà Mỹ Liên đóng màn đầu còn Lệ Thủy đóng màn sau.
Rất tiếc là Hà Mỹ Liên do có gia đình và phải đi xa nên không hát nhiều như Lệ Thủy. Nhưng phải nói về nghệ thuật thì Hà Mỹ Liên diễn đào võ rất hay, rất duyên dáng trên sân khấu. Gia đình Hà Mỹ Liên toàn là nghệ sĩ, như anh Thanh Điền hay Hà Mỹ Xuân cũng đều là những tay diễn rất hay. Lệ Thủy thấy rằng, Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất duyên dáng trên sân khấu, đẹp và diễn hay. Tiếc là một thời gian dài không đi hát, nên bà con như muốn quên Hà Mỹ Liên, chứ thật ra Hà Mỹ Liên cũng là một nhân tài đó ».
Cùng sống và hoạt động nghệ thuật trong mấy mươi năm qua trên đất Pháp với Hà Mỹ Liên là nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân. Sau đây là đôi điều nhận xét của Hà Mỹ Xuân về người chị và người đồng nghiệp Hà Mỹ Liên của mình :
« Nói về nghề, thì chị Hà Mỹ Liên cũng có tầm cỡ lắm. Hồi trước chị Liên ca hay lắm, bây giờ thì ca không còn như hồi xưa nữa, nhưng về diễn xuất thì như dân trong nghề hay nói là chị Liên là người rất « rộng xài », vì chị có thể diễn được nhiều loại vai, từ đào mùi, đào đào độc, đào lẳng…Loại vai nào chị diễn cũng trọn vẹn. Chị Liên diễn xuất rất có chiều sâu. Chị Liên ca rất chắc nhịp. Nói về ca quăng bắt nhịp nhàng thì chị Liên hơn Hà Mỹ Xuân rất nhiều. Thêm vào đó, chị Liên đạt rất cao về độ tự nhiên trên sân khấu. Chị Lệ Thủy và các chị nghệ sĩ lớn cùng thời, thì chị Liên có tầm cỡ như các chị em lúc đó.
Về đóng góp của Hà Mỹ Liên trên đất Pháp, phải nói là chị Liên đóng góp rất nhiều, nhiều hơn Hà Mỹ Xuân. Chị Liên có chồng sớm nên việc hát bị giáng đoạn. Nhưng sau khi sang Pháp chị đã hát trở lại và chị đóng góp cho cải lương trên đất Pháp rất nhiều.  Hà Mỹ Xuân còn nhớ, anh Thanh Điền và chị Hà Mỹ Liên đi theo hát trước, sau đó mới tới Hà Mỹ Xuân. Và chính chị Liên đã đặt nghệ danh cho Hà Mỹ Xuân ».
Ai ơi đừng có phụ nghề
Hà Mỹ Liên là một nghệ sĩ rất nghiêm túc và yêu nghề. Khi có dịp trò chuyện với cô, thì lúc nào cũng vậy, một niềm sung sướng luôn hiện rõ trong đôi mắt của cô mỗi khi cô kể về những tháng ngày gạo chợ nước sông ở cái thời vàng son của sân khấu cải lương. Cô không ngại xa xôi hay vất vã để được hát cải lương như trường hợp tập tuồng vừa kể bên trên.
Trong đôi lần đi hát vất vã nhưng thù lao thì chẳng bao nhiêu, có người trong nhóm diễn phàn nàn và tỏ ra chán nghề, thì lập tức Hà Mỹ Liên không ngại mất lòng mà nói ngay : «Bây ơi đừng có phụ nghề ». Một câu nói ngắn như thế nhưng tưởng chừng không còn có gì có thể cho thấy rõ ràng hơn tấm lòng tha thiết đối với cải lương của nghệ sĩ Hà Mỹ Liên.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130518-ha-my-lien-kiep-tam-lang-le-nha-to

maandag 29 oktober 2012

Hà Mỹ Xuân : Cải lương đã thấm vào huyết quản

Thứ bảy 27 Tháng Mười 2012
Hà Mỹ Xuân : Cải lương đã thấm vào huyết quản
Hà Mỹ Xuân trong vai thái hậu Dương Vân Nga (T), Tết 2012-trụ sở UNESCO Paris
Hà Mỹ Xuân trong vai thái hậu Dương Vân Nga (T), Tết 2012-trụ sở UNESCO Paris
RFI/Lê Phước
Lê Phước
Một nghệ sĩ sống bằng nghề hát cải lương tận tụy với cải lương đã là đáng quí, nhưng có những nghệ sĩ phải làm nghề khác để sinh nhai nhưng lại hết lòng hết dạ với cải lương, thì điều đó thật sự còn đáng quí biết dường nào. Và trong thực tế, những trường hợp như vậy rất hạn hữu.
Trong cái số lượng rất hạn hữu đó đầu tiên phải kể đến nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân, một nghệ sĩ tài danh vang bóng một thời hồi những thập niên 1960, 1970, có nhiều đóng góp cho sân khấu cải lương sau 1975, và dù đã hơn 20 năm sống nơi đất khách, nghệ thuật cải lương vẫn luôn chảy trong huyết quản của cô.
Một thời vang bóng
Nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân tên thật là Nguyễn Thị Tiết Xuân, sinh ngày 10/10/1950 tại Long Xuyên, An Giang. Hà Mỹ Xuân bắt đầu đi hát từ năm 13 tuổi dưới sự dìu dắt của người anh ruột là nghệ sĩ Thanh Điền và người chị ruột là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên. Nghệ danh Hà Mỹ Xuân là do Hà Mỹ Liên đặt. Ngoài anh chị của mình, Hà Mỹ Xuân còn được may mắn thọ giáo với những bậc thầy của giới cải lương: cô được nghệ sĩ Diệu Hiền dạy ca và nghệ sĩ Ba Vân dạy diễn xuất.
Năm 15 tuổi, Hà Mỹ Xuân bắt đầu đóng đào chánh bên cạnh vị tiền bối của mình là nghệ sĩ Minh Cảnh trong vở Công Chúa Rừng Xanh tại đoàn Kim Chung, một đoàn hát lớn mà hầu hết nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ đều ước mơ được về hát. Hà Mỹ Xuân đã hát cho nhiều đoàn như Kim Chung, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu…
Năm 1972, Hà Mỹ Xuân cùng với anh chị mình là nghệ sĩ Thanh Điền và nghệ sĩ Hà Mỹ Liên thành lập đoàn hát Xuân Liên Hoa, qui tụ nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng lúc bấy giờ: Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Hà Bửu Tân, Giang Châu…
Kiếp tầm nhả tơ
Sau năm 1975, trước làn sóng quốc hữu hóa các đoàn hát, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục theo nghiệp cải lương ở nhiều đoàn khác nhau đi lưu diễn khắp nơi như đoàn Long Giang (Long Xuyên), đoàn Long An, đoàn Vũng Tàu Côn Đảo, đoàn Sài Gòn 2, đoàn Sài Gòn 3, đoàn Tiền Giang, đoàn Thanh Nga…. Đặc biệt ở đoàn Tiền Giang, Hà Mỹ Xuân đã có nhiều đóng góp quan trọng, nhất là một nghệ sĩ lớn có danh vọng như Hà Mỹ Xuân mà chấp nhận về làm quản lí và nghệ sĩ biểu diễn cho một đoàn hát tỉnh lẽ thì quả thật là một sự hy sinh đáng ghi nhận.
Đóng góp của Hà Mỹ Xuân cho nghệ thuật cải lương sau 1975 đã được ghi nhận bằng những giải thưởng lớn: huy chương vàng toàn quốc năm 1985 với vai Nguyễn Thị Hạnh trong tuồng Đất và Hoa của soạn giả Minh Khoa, huy chương vàng khu vực Vũng Tàu-Côn Đảo năm 1986 với vai Thứ Phi Phi Yến trong vở tuồng cùng tên của soạn giả Nhất Tâm, huy chương vàng khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 1987 với vai vợ chàng họa sĩ mù trong Đôi Mắt Tình yêu của soạn giả Lưu Quang Vũ.
Năm 1988, Hà Mỹ Xuân sang định cư tại Pháp. Nơi đất khách quê người, cô không còn có thể sống bằng nghề hát cải lương, nhưng niềm đam mê cải lương trong cô vẫn luôn cháy bỏng. Trên đất khách, Hà Mỹ Xuân vẫn tiếp tục hát mỗi khi có cơ hội, hát không phải để kiếm tiền mà để thỏa cái lòng thương nhớ cải lương, để góp phần “đem chuông đi đánh xứ người”. Báo chí Pháp và Đức đã từng có bài ghi nhận về những đóng góp của cô cho nghệ thuật cải lương.
Thanh Nga - Hà Mỹ Xuân : Đôi bạn diễn xưa nay hiếm
Hà Mỹ Xuân rất tâm đắt cách diễn và giọng ca của Nữ Hoàng Sân Khấu Thanh Nga, nên mỗi khi nói về Thanh Nga cô nói với một sự say sưa bất tận. Hà Mỹ Xuân từng có một thời đứng chung sân khấu với nghệ sĩ Thanh Nga : Hà Mỹ Xuân là đào nhì còn Thanh Nga là đào chánh. Thường thì trong nghệ thuật cải lương người ta hay nói về “đôi bạn diễn” hay “đóng cặp” thì người ta nghĩ ngay đến đôi đào kép chánh, tức một nam một nữ. Thế nhưng, Thanh Nga và Hà Mỹ Xuân trong vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh đã góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc chọn lựa “đôi bạn diễn” đào chánh và đào nhì trong một vở cải lương.
Trên thực tế, việc chọn đào nhất và đào nhì cũng rất quan trọng. Nói về các vai đào trong một vở tuồng thì đây là hai cô đào xuất hiện nhiều nhất, ca diễn nhiều nhất, có khi đóng vai là người thân của nhau, có lúc lại là kẻ thù của nhau. Thế nhưng người thân hay kẻ thù gì thì cũng phải diễn sau cho “khớp”, phải biết nương nhau, tung hứng cho đúng lúc đúng nơi để góp phần giúp nhau thành công trong vai diễn. Trong lô gích đó thì đôi bạn diễn Thanh Nga-Hà Mỹ Xuân có thể được xem là “đôi bạn diễn” xưa nay hiếm.
Trong tuồng cổ trang lịch sử Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc và Hà Mỹ Xuân trong vai Trưng Nhị. Thanh Nga có giọng ca trầm buồn còn Hà Mỹ Xuân thì có giọng cao, mạnh mẽ, cả hai lại có cách diễn chững chạc, khai thác triệt để nội tâm nhân vật, vì thế sự khác biệt trong giọng ca đã giúp hai giọng ca này bổ sung cho nhau, sự tương đồng trong cách diễn đã giúp đôi bạn diễn này tung hứng một cách đúng lúc, đúng nơi, có tiết độ và rất ăn ý. Nếu Thanh Nga để đời với vai Trưng Trắc thì Hà Mỹ Xuân cũng làm khó cho thế hệ sau với vai Trưng Nhị, bởi sau cô, đến hiện tại chưa thấy có ai thủ vai Trưng Nhị đạt được như cô, cũng chưa thấy có đôi bạn diễn Trưng Trắc-Trưng Nhị nào được như đôi bạn diễn Thanh Nga-Hà Mỹ Xuân.
Lớp hay nhất trong Tiếng Trống Mê Linh của Thanh Nga-Hà Mỹ Xuân là lớp Tào Uyên được cử làm sứ giả đến thăm dò thực hư của quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong buổi tiếp, Trưng Trắc đã dụng kế ly gián Tào Uyên với thái thú Tô Định, và thả Tào Uyên về để giúp bà thực hiện mưu kế đó. Thế nhưng, Trưng Nhị chưa hiểu được cơ mưu, cứ ngỡ rằng chị mình đã nhân từ với kẻ thù mà quên đi mối hận nước non và mối thù bắt giữ Thi Sách, nên Trưng Nhị đã lớn tiếng trách chị mình.
Giọng ca của Hà Mỹ Xuân mạnh mẽ, lối diễn xuất chững chạc, điệu bộ thể hiện sự oai phong rất điêu luyện, nên rất thích hợp với vai nữ tướng. Thêm vào đó, Hà Mỹ Xuân có cách diễn xuất khai thác triệt để nội tâm, nên lời trách cứ của Trưng Nhị-Hà Mỹ Xuân thật sự rất bi hùng, rất oai phong và cũng rất tình cảm. Tiếp theo đó, Trưng Trắc-Thanh Nga đã nhẹ nhàng khuyên em mình, và cả hai người ca ba câu vọng cổ. Cách diễn tương đồng, cách ca bổ trợ cho nhau đã thể hiện xuất thần tính cách của nhân vật và điều mà tác giả cần gửi gấm, đúng như lời của cụ Đô Trinh nhận xét sau đó: “Thật không thấy tình chị em nào thắm thiết như thế”. Đôi bạn diễn Thanh Nga-Hà Mỹ Xuân đã làm cho lớp tuồng vốn rất nhỏ bé này trở nên to lớn, tạo thành một trong những điểm nhấn của vở diễn.
Chưa hết, lớp Trưng Trắc đánh trống tiến quân sau khi đã tế sống chồng cũng là một lớp diễn để đời. Trưng Trắc-Thanh Nga đánh ba tiếng trống ra quân với một sự cố gắng tối đa của lý trí, với một niềm đau khổ tột cùng, nhưng trước nghĩa lớn của dân tộc nên đành phải hy sinh tình nhà. Thanh Nga đã xuất sắc trong cách diễn khi đánh ba tiếng trống này. Mỗi khi dùi của Trưng Trắc-Thanh Nga chạm vào mặt trống thì người xem cũng tan lòng nát dạ.
Bên cạnh Thanh Nga, Hà Mỹ Xuân cũng không kém phần xuất thần. Khi Trưng Trắc-Thanh Nga cầm dùi chuẩn bị đích thân đánh trống tiến quân, Trưng Nhị-Hà Mỹ Xuân nắm tay chị nói: “Xin chị để cho em nổi trống tấn công”. Trưng Nhị-Hà Mỹ Xuân nói trong nghẹn ngào, thể hiện được sự cố gắng tối đa của lý trí, cố vượt qua tình nhà vì nợ nước. Nếu mối tình nhà của Trưng Trắc lúc này chỉ là khóc thương chồng, thì mối tình nhà của Trưng Nhị lại nhân đôi, tức vừa khóc thương cho anh rể, vừa khóc thương cho hoàn cảnh của chị mình. Giọng nói của Trưng Nhị-Hà Mỹ Xuân khi ấy bên cạnh nỗi đau thương còn cho khán giả cảm nhận được một niềm uất hận tột cùng, uất hận kẻ thù đã gây cảnh nước mất nhà tan. Chỉ mấy từ đơn giản như trên, nhưng thật sự Trưng Nhị-Hà Mỹ Xuân đã thể hiện được sự thượng thừa trong diễn xuất.
Cải lương đã hòa trong huyết quản
Năm 1978, nghệ sĩ Thanh Nga qua đời, Hà Mỹ Xuân được xem là người thế Thanh Nga thành công nhất trong các vai diễn Trưng Trắc (Tiếng Trống Mê Linh), Quỳnh Nga (Bên Cầu Dệt Lụa), Thái Hậu Dương Vân Nga (Vở tuồng cùng tên).
Hồi tết năm 2012, trong chương trình mừng xuân của người Việt Nam tại Pháp tổ chức ở trụ sở Tổ chức UNESCO tại Paris, Hà Mỹ Xuân đã tái hiện lại vai Thái Hậu Dương Vân Nga và vai Quỳnh Nga với sự góp mặt của nghệ sĩ Lý Kim Thành. Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga, người xem không khỏi giật mình về tính chuyên nghiệp của cô, nhịp nhàng điêu luyện, động tác chuẩn mực.
Xem Hà Mỹ Xuân diễn Thái Hậu Dương Vân Nga ta chợt nhận ra rằng những động tác của bà Thái Hậu Dương Vân Nga-Hà Mỹ Xuân trên sân khấu dư một chút cũng mất hay mà thiếu một chút cũng không được. Nhất là lớp thoại trên sân khấu khi trên tay cầm tấm long bào. Đoạn này vị thái hậu nói gần như là độc thoại với một số vị quan muốn làm hòa với giặc.
Đây là một đoạn rất khó diễn bởi là đoạn cao trào nên khán giả tập trung chú ý từng cử chỉ của bà thái hậu để xem bà quyết định thế nào cho vận mệnh non sông, mà cụ thể là xem bà thái hậu có quyết định giao nạp long bào cho giặc Tống hay không. Phải làm sao thể hiện được sự thuyết phục tuyệt đối trong lời nói đối với các quan, mà muốn thuyết phục thì trước tiên bản thân vị thái hậu phải thể hiện một sự quyết tâm cao độ, một ý chí sắt đá trước đe dọa của cường địch. Hà Mỹ Xuân đã thỏa mãn hoàn toàn những yêu cầu đó với lối diễn xuất chuẩn mực, với giọng nói mạnh mẽ âm vang đầy tâm trạng, Nếu không phải một nghệ sĩ bậc thầy thì không thể đạt nổi trình độ diễn xuất đó.
Vai Quỳnh Nga cũng vậy, ngược lại hoàn toàn với vai một bà thái hậu uy nghi, Hà Mỹ Xuân ngay sau đó vào vai một nàng Quỳnh Nga dịu dàng, chịu thương chịu khó nuôi tầm dệt lụa lo cho Trần Minh ăn học. Với lớp diễn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên kinh ứng thí, Hà Mỹ Xuân đã thật sự làm sống lại cái không khí chuyên nghiệp đỉnh cao của nghệ thuật cải lương.
Hà Mỹ Xuân đã xa quê hương trên 20 năm, đã sống trong văn hóa Tây trên 20 năm, thế mà lại không hề xuống phong độ trong cách diễn xuất, trong sự điêu luyện về lối ca, thì quả thật là một điều đáng quí. Điều đó chỉ có hai cách giải thích. Thứ nhất đó là vì cải lương đã trở thành máu, thành hơi thở của Hà Mỹ Xuân nên dù ở trong môi trường nào, khi cần hát là cô hát được ngay, mà hát một cách rất điêu luyện.
Cách giải thích thứ hai liên quan đến sự rèn luyện của người nghệ sĩ. Người xưa thường nói “Văn ôn võ luyện”, đối với nghệ sĩ cải lương câu nói này có giá trị hơn ai hết. Là một nghệ sĩ, để ca điêu luyện, để diễn cho hay, thì đòi hỏi phải trau dồi không ngừng, phải tập luyện hằng ngày, làm sao cho sự ca và sự diễn trở thành như quán tính tự nhiên, thì khi diễn trên sân khấu mới hay được.
Như giọng ca chẳng hạn, nếu nghệ sĩ không ca hát, không luyện hơi thường xuyên hằng ngày thì giọng ca sẽ nhanh chóng bị xuống và lối ca sẽ nhanh chóng không còn điêu luyện nữa. Theo cách lý luận đó, thì ta có thể khẳng định rằng, Hà Mỹ Xuân giữ được phong độ ca diễn như vậy là nhờ sự tự trau dồi thường xuyên, nói cách khác là trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến cải lương.
Hà Mỹ Xuân đến Pháp trên 20 năm và từ ấy đến nay cải lương không còn là nghề kiếm sống của cô, mà cô phải làm nhiều nghề khác, còn cải lương thì thỉnh thoảng dịp lễ tết mới hát đôi ba trích đoạn. Nếu cải lương là nghề kiếm sống mà nghệ sĩ không ngừng trau dồi thì đã là quí, còn ở đây đối với nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân cải lương tuyệt đối không phải là nghề để kiếm sống mà cô còn đặt toàn tâm toàn ý cho cải lương thì thật là cao quí lắm thay!
Một nghệ sĩ “khó tính
Ở Pháp, Hà Mỹ Xuân nổi tiếng là một nghệ sĩ khó tính. Khó tính ở đây không phải là cô đòi hỏi cát sê cao hay yêu cầu này nọ bởi như đã nói cô không kiếm sống bằng cải lương từ hơn 20 năm nay, mà thật ra cô rất khó tính trong việc ca diễn và khâu tổ chức. Cô yêu cải lương nên cô biết trân trọng cải lương. Hà Mỹ Xuân không thích biến cải lương trở thành một vật mua vui tầm thường, nên chỗ nào tổ chức có vẻ xô bồ là cô từ chối không hát.
Còn trong ca diễn, đã bước lên sân khấu thì dù là sân khấu lớn hay nhỏ, Hà Mỹ Xân cũng ca diễn hết mình, ca diễn một cách chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trong một buổi cơm xã hội gần đây của một ngôi chùa Việt Nam ở ngoại ô Paris, Hà Mỹ Xuân có tham gia trong chương trình văn nghệ phục vụ thực khách đến ủng hộ chùa. Hà Mỹ Xuân cùng chị mình là nghệ sĩ Hà Mỹ Liên và nghệ sĩ Lý Kim Thành diễn trích đoạn tuồng Bông hồng Cài Áo. Sân khấu thì nhỏ, thực khách thì đông nên có đôi khi mọi người say sưa nói chuyện mặc cho nghệ sĩ ca hát trên sân khấu, tạo ra cảnh người nói chuyện phía dưới người ca hát phía trên, chẳng ai quan tâm để ý đến ai.
Trong tiết mục của mình, sau phần giới thiệu của người dẫn chương trình, trước khi xuất hiện trên sân khấu, Hà Mỹ Xuân đã cầm micro nói từ hậu trường: “Xin quí khán giả giữ yên lặng, tập trung theo dõi trích đoạn vì lời thoại rất hay”. Không phải Hà Mỹ Xuân quan trọng hóa lớp diễn của mình mà là cô muốn hễ có kẻ hát thì phải có người thưởng thức, tức là khán giả và nghệ sĩ phải tôn trọng lẫn nhau, đấy mới là thái đội làm nghệ thuật nghiêm túc. Bằng chứng cho sự nghiêm túc của Hà Mỹ Xuân là khi bước ra sân khấu, cô đã ca diễn hết mình, như thể cô đang hát trước hội đồng giám khảo trong một cuộc thi tranh huy chương vàng vậy.
Bông tai nhỏ - tình cảm lớn
Như đã đề cập bên trên, hồi tết rồi, Hà Mỹ Xuân có tham gia biểu diễn cho bà con Việt Kiều tại Pháp trong chương trình chào xuân tổ chức tại trụ sở UNESCO ở Paris. Trong trích đoạn Thái Hậu Dương Vân Nga, nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân mặc bộ y phục thái hậu mà cô diễn vai này sau khi Thanh Nga mất hồi những năm 1980. Khi sang Pháp cô đã mang theo nhiều y phục cải lương, trong đó có bộ y phục này.
Trong hậu trường, mọi người đang hóa trang cho vai diễn của mình, bỗng nhiên tôi thấy Hà Mỹ Xuân tìm một vật gì đó, mà trông dáng vẻ của cô tôi đoán rằng đó là một vật rất quí giá và quan trọng lắm. Khi hỏi ra tôi mới biết rằng cô đang tìm một chiếc bông tai của bộ y phục thái hậu Dương Vân Nga nói trên. Bộ y phục tuổi đời đã trên dưới 30 năm, đã sờn, đôi bông tai cũng đã cũ lắm rồi. Với khả năng hiện tại Hà Mỹ Xuân có thể đặt làm lại những bộ khác sặc sỡ hơn, lộng lẫy hơn, đắt tiền hơn. Thế nhưng, cô vẫn tiếc một chiếc bông tai cũ kĩ vì nó gắn liền với một thời làm nghệ thuật sôi nổi của cô. Thế mới biết Hà Mỹ Xuân yêu cải lương và nhớ cải lương đến dường nào.
Thời đại ngày nay, cải lương đang lúc khó khăn, mà nghệ sĩ cải lương thì cũng có người sống bằng cải lương nhưng không biết quí trọng cải lương, không yêu cải lương hết mình, luôn mang bệnh ngôi sao, làm nghệ thuật không nghiêm túc, diễn xuất thì ngày càng hời hợt. Trong bối cảnh đó, câu chuyện chiếc bông tai nói trên quả thật là lời nhắc nhở quí giá, bởi vì nếu chính nghệ sĩ cải lương mà cũng không trân trọng cải lương thì làm sao cải lương không xuống dốc cho được.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20121027-ha-my-xuan-cai-luong-da-tham-vao-huyet-quan