Posts tonen met het label Sài Gòn. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Sài Gòn. Alle posts tonen

dinsdag 5 november 2019

Phố ‘chợ đêm Mã Lai’ giữa lòng Sài Gòn

Phố ‘chợ đêm Mã Lai’ giữa lòng Sài Gòn

Trần Tiến Dũng/Người Việt

Người phụ nữ bán cà phê dạo cũng khăn trùm đầu y như ở Malaysia, Indonesia, Brunei,… ở khu chợ đêm. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Vào những năm đầu sau biến cố 1975, người Sài Gòn và các tỉnh miền Tây thường thấy những người đàn ông dân tộc Chăm đến khắp các chợ quê bán dược liệu và các loại thuốc nam bào chế khác. Bây giờ không còn thấy cảnh mời mua thuốc của các ông mặt toàn đồ trắng đến từ các làng Chăm vùng Nam Trung Bộ hay Châu Đốc, An Giang nữa.
Ngày nay dường như họ có cả một khu phố đêm để ‘trong vai” người Mã Lai (Malaysia), người cùng tôn giáo Islam, bán hàng cho các du khách Mã Lai và các tiểu thương đến từ các quốc gia Đông Nam Á có dân theo đạo Islam.
Đến phố đêm Mã Lai ở đường Nguyễn An Ninh, Quận 1, người Việt khó phân biệt đâu là người Thái Lan, người Nam Dương (Indonesia), người Mã Lai và người Chăm vì phụ nữ Islam với khăn trùm đầu, đàn ông đội mũ trắng để râu như nhau, có khác chăng là các xe hàng bán trái cây nhiệt đới với vài món ăn khác là người Việt. Nhưng lạ thay, tất cả đều rao hàng bằng tiếng Mã Lai hay các ngôn ngữ khác, vậy nên người Sài Gòn gọi cho gọn mà cũng nhằm phân biệt với phố Tây Phạm Ngũ Lão đây là “phố Mã Lai.”
Các phụ nữ Hồi Giáo Đông Nam Á, cùng mua khăn đúng giá tiền Mã Lai. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Phố chợ đêm Mã Lai từ cửa Tây chợ Bến Thành đến đường Trương Định nằm gọn trong lòng đường Nguyễn An Ninh, với hàng chục cửa hàng và chiếu hàng trên lòng đường.
Khoảng 10 năm trước, thông qua sự kết nối tôn giáo-văn hóa từ các nguồn khách du lịch và tiểu thương người Chăm ở các tỉnh phía Nam mà hình thành phố chợ đêm của du khách và cộng đồng cùng tôn giáo Islam này.
Khách Việt đi chợ đêm Mã Lai khó mà hỏi quê quán ai đó buôn bán ở đây, dù có nghe họ nói bằng tiếng Việt. Nhưng rồi cũng may khi gặp một người phụ nữ đứng tuổi, bà tên là Sophia, người Chăm, gốc từ Châu Đốc, An Giang lên Sài Gòn sinh sống từ thời trước 1975.
Trước kia, mọi người sống tập trung quanh bờ kênh Thị Nghè, khi khu này bị giải tỏa thì họ sống tập trung ở quận Bình Thạnh, một số khác sống quận 6, quận 8, Phú Nhuận…
Một tiệm uống tóc luôn đông khách phụ nữ Mã Lai đến làm đẹp. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Nghe bà kể, chúng tôi nhớ lại khi đến ăn cơm cà ri dê ở đền thờ Hồi Giáo trên đường Nguyễn Trãi, gần chợ Xã Tây, thấy toàn là phụ nữ trùm khăn, lúc đó chúng tôi ngỡ tất cả là du khách Mã Lai chớ đâu biết là trong số họ có cả người Chăm-Hồi Giáo Sài Gòn.
Phố chợ Đêm Mã Lai vào buổi cuối tuần tấp nập người mua kẻ bán đến khuya. Với gần 100 cửa hàng, gian hàng, du khách muốn mua thứ gì cũng có; từ trang phục truyền thống Hijab, những bộ váy kurung baju, đến đồ ăn, thức uống, đồ lưu niệm. Loại tiền thanh toán là đô la Mỹ, tiền Việt nhưng phổ biến nhất là tiền ringgit Malaysia (MYR).
Không có gì ngạc nhiên khi người bà con người Chăm tính tiền Mã Lai, nói tiếng Mã Lai và thông thạo cả trong trường hợp dịch thông qua tiếng Anh và vài ngôn ngữ khác. Điều lạ với khách đi chợ người Việt nhất là phụ nữ, chuyện các cửa hàng bán khăn trùm đầu luôn là hàng bán chạy nhất ở phố đêm này.
Khi tìm hiểu thì khám phá thêm nét văn hóa của người phụ nữ Hồi Giáo, Được một người phụ nữ Chăm đang đi dạo chợ cho biết: “Chúng tôi chỉ không trùm đầu khi tắm rửa, đi ngủ hoặc bỏ khăn nếu có sự đồng ý của chồng hay cha.”
Tiệm phở nấu đúng thực phẩm Halal của người đạo Islam. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Nhưng thú vị nhất là cảnh các người phụ nữ Hồi Giáo đa quốc tịch với khăn trùm đầu… ngồi ăn một quán phở có bảng hiệu là Halal Amin – Phở Muslim. Tất nhiên món phở này đã được bảo đảm đúng loại thực phẩm Halal mà người theo đạo Islam ăn, kể cả các món nấu theo khẩu vị Mã Lai như cơm nấu với nước cốt dừa, cơm ăn với khô cá mặn hay các món ăn vặt khác đều có dán dấu hiệu Halal.
Người Sài Gòn mỗi khi đến phố chợ đêm này đều như được đi du lịch Mã Lai, Nam Dương hay Brunei. Nếu những con đường ở quận 5 hay quận 6 vẫn còn cho thấy bản sắc các phố Tàu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn,” hay ở đâu đó sâu bên trong những con hẻm trên đường Lê Thánh Tôn là con phố Nhật Bản với các nhà hàng nối cạnh nhau treo đèn lồng, bảng hiệu như bên xứ Hoa Anh Đào, hoặc đã quá quen với con phố Tây Bùi Viện náo nhiệt suốt đêm, thì bây giờ có thêm phố chợ đêm Mã Lai đang nổi lên với bản sắc độc đáo của cộng đồng các dân tộc theo đạo Islam của cả Đông Nam Châu Á. (Trần Tiến Dũng)
https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/pho-cho-dem-ma-lai-giua-long-sai-gon/

woensdag 16 oktober 2019

Sài Gòn: Cả triệu công nhân ‘sống kham khổ, thiếu hạnh phúc’

Sài Gòn: Cả triệu công nhân ‘sống kham khổ, thiếu hạnh phúc’


Thu nhập của công nhân ở Sài Gòn phần lớn chi cho tiền ăn và thuê nhà. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ngoài việc làm nhiều nhưng thu nhập ít, hàng triệu công nhân ở các tỉnh đang sống và làm việc tại Sài Gòn còn chịu sức ép từ sự khác biệt về văn hóa, thiếu thốn tình cảm, điều kiện sinh hoạt bí bách…
Ngày 10 Tháng Mười, 2019, tại hội thảo “Chất Lượng Cuộc Sống Của Công Nhân ở Sài Gòn Hiện Nay” do Viện Nghiên Cứu Phát Triển Sài Gòn tổ chức, Thạc Sĩ Lê Văn Thành, nguyên trưởng “Phòng Nghiên Cứu Văn Hóa Xã Hội, Viện Nghiên Cứu Phát Triển,” cho biết có khoảng 1 triệu 400 ngàn công nhân ở các tỉnh đang sống và làm việc tại Sài Gòn “có chất lượng cuộc sống khá thấp, chỗ ở chật chội, thu nhập không cao dù đã tăng ca nhiều, thiếu các hoạt động sinh hoạt giải trí.”
Hai vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Thoa (43 tuổi, quê Quảng Nam), làm công nhân may của một công ty Đài Loan (quận 12) đã 23 năm. Hơn hai thập niên làm công nhân ở Sài Gòn “cày” mỗi ngày từ sáng đến tận 9 giờ tối, tài sản lớn nhất vợ chồng bà có được là… hai đứa con khá ngoan.
Nói với báo Pháp Luật TP.HCM ngày 11 Tháng Mười, bà Thoa cho biết: “Ngay cả lương hưu chúng tôi cũng sẽ không có, bởi mỗi lần nghỉ việc hoặc cần mua những thứ thiết yếu như xe gắn máy, tủ lạnh, chúng tôi đã phải rút khoản bảo hiểm xã hội một lần để xài.”
Hết năm nay, vợ chồng bà dự định sẽ về quê vì cuộc sống tạm bợ ở Sài Gòn quá mệt mỏi lại không có gì chắc chắn trong tương lai.
Theo Thạc Sĩ Tô Thị Thùy Trang, cảnh sống bấp bênh như gia đình bà Kim Thoa là tiêu biểu cho hàng trăm ngàn gia đình công nhân có con cái đang sống ở Sài Gòn. Tuy nhiên xem ra hoàn cảnh như bà Thoa “vẫn còn khá,” bởi có nhiều gia đình còn khó khăn hơn do thiếu nợ vì thu nhập quá ít.
Những khu nhà trọ rẻ tiền của công nhân ở Sài Gòn thường tạm bợ, chật chội. (Hình: An Ninh Thế Giới)
Vợ chồng chị Lê Thị Kim Huyền (34 tuổi, quê Trà Vinh), đang làm việc tại Khu Công Nghiệp Tân Bình, cùng con gái sống trong phòng trọ chín mét vuông với giá thuê chỉ gần hai triệu đồng ($86)/tháng, trong khi lương vợ chồng chị cộng lại chỉ khoảng hơn tám triệu đồng ($344). Mỗi lần lãnh lương, chị Huyền phải đi trả nợ tiền học phí cho con, tiền vay sinh hoạt trước đó và thế là trắng tay.
Cũng theo bà Thùy Trang, thời gian làm việc mỗi ngày của công nhân quá dài, thường bắt đầu từ 7 giờ sáng và làm tăng ca đến tối. Họ không có thời gian lẫn tiền bạc cho các hoạt động văn hóa tinh thần. Ngủ là ưu tiên hàng đầu khi có chút thời gian rảnh. Thú vui của công nhân là nằm dài ở nhà trọ xem tivi.
Riêng nam công nhân, nhậu nhẹt trở thành loại hình giải trí nhiều hệ lụy. Cuộc sống tinh thần thiếu thốn khiến họ dễ bị dẫn dụ đến tệ nạn xã hội, dễ bị kích động, lôi kéo, tụ tập…
Tan ca trở về nhà trọ, nhiều công nhân chỉ ăn uống qua loa để đi ngủ, còn khi ở công ty thì họ ăn uống ra sao?
Ông Nguyễn Đại Ngọc, phó trưởng Phòng Quản Lý Ngộ Độc Thực Phẩm, Ban Quản Lý An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Sài Gòn, cho biết nhiều công ty “chưa bảo đảm chất lượng bữa ăn trong ca làm việc cho công nhân. Hơn 90% suất ăn có giá chỉ từ 15,000- 20,000 đồng ($0.64 – $0.86), thậm chí có nơi cho ăn dưới 15,000 đồng ($0.64).”
Tại hội thảo, Thạc Sĩ Nguyễn Thị Minh Châu, Viện Khoa Học Xã Hội Vùng Nam bộ, cho biết thêm do lương thấp, nhiều gia đình công nhân không đủ lo cho con ăn học ở Sài Gòn, đành phải gởi về quê cho ông bà chăm sóc, để rồi có lúc con cái xa cách luôn cha mẹ.
“Vợ chồng em làm công nhân ở Sài Gòn đã 10 năm. Khi em về thăm nhà, con không nhận ra em. Bà nội đưa con lên Sài Gòn thăm mẹ, con cũng không theo mẹ, mẹ cũng bận không có thời gian cho con,” chị Huỳnh Thị Chi (35 tuổi, quê Bạc Liêu), công nhân may tại Công Ty FDI buồn bả nói.
Chưa hết, nhiều gia đình công nhân đã bất hòa, không hạnh phúc, đổ vỡ bởi nữ công nhân không có thời gian chăm sóc gia đình. Thậm chí, nhiều nữ công nhân khi được phỏng vấn cho biết họ không dám kết hôn vì cuộc sống luôn thiếu hụt, tù túng, bế tắc. (Tr.N)
https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/sai-gon-ca-trieu-cong-nhan-song-kham-kho-thieu-hanh-phuc/
Vấn đề chính vẫn là chính quyền phải làm sao đem các nhà mày lớn nhỏ ra xa đến từng địa phương trong cả nước để người công nhan có điều kiện làm việc và sinh sống thoải mái hơn tại địa phương họ cư ngụ ...Từ đó cũng giúp giải quyết các vấn để về nhân mãn, vệ sinh ô nhiễm môi trường và an ninh trật tự công cộng xã hội được bảo đảm v.v...do sự tài tình điều hành của mọi cấp trong chính quyền. Để dân chúng tập trung sống dồn vào một vài khu vực có nhà máy, hãng xưởng hoạt động trong thành phố thì chắc chắn môi trường sống ở đó sẽ bị ô nhiễm, hỗn loạn, mất trật tự cũng như cuộc sống của công nhân xa nhà chắc chắn bị khó khăn kinh tế chị phối và ảnh hưởng tinh thần xáo trộn gây mất mát tình cảm của gia đình, con cái, họ hàng v.v...vậy. Một chế độ độc tài, hủ lậu, thất nhân tâm với các lãnh đạo và cán bộ mọi ngành lớn nhỏ đều tham lam, ích kỷ, thối nát và chủ tâm phục vụ quyền lợi băng đảng chính trị thì đất nước không thể khá lên được đồng thời khiến dân chúng luôn sống trong lầm than, khổ cực và mất hoàn toàn niềm tin vào chính sách cũng như đường lối chỉ huy của nhà cầm quyền tệ hại vậy.

maandag 29 juli 2019

Hơn hai thế kỷ nhộn nhịp Chợ Lớn - Sài Gòn

Hơn hai thế kỷ nhộn nhịp Chợ Lớn - Sài Gòn

Hơn hai thế kỷ nhộn nhịp Chợ Lớn - Sài Gòn
 
Ông khói của một xưởng xay xát gạo được xây bên bờ rạch Chợ Lớn trong những năm 1910. Ảnh trích từ http://www.space-in-asia.net/arroyo-chinois/Nadal

    Chợ Lớn - quận 5 được coi là huyết mạnh của Sài Gòn, là nơi cung cấp hàng hóa, nhu yếu phẩm hàng ngày của người dân. Chợ An Đông, chợ Kim Biên, chợ Bình Tây, chợ vải Soái Kình Lâm, thương xá Đại Quanh Minh, phố thuốc bắc Hải Thượng Lãn Ông… nổi tiếng không chỉ ở Sài Gòn mà khắp vùng châu thổ Cửu Long đều biết đến.

    Từ đồ gia dụng, tạp hóa đến thiết bị điện tử hay vải vóc, quần áo, tất cả đều có thể tìm được trong khu Chợ Lớn sầm uất, tấp nập. Được người Hoa thành lập vào thế kỷ XVIII, hiện Chợ Lớn vẫn chủ yếu là nơi sinh sống, kinh doanh của người gốc Hoa và là một điểm du lịch không thể bỏ qua khi tới Sài Gòn.
    Trước khi sáp nhập với Sài Gòn vào năm 1931, Chợ Lớn là một đô thị riêng biệt, tự quản về mặt hành chính và tài chính. Ngay năm 1859, sau khi đã bình định được Gia Định (tên gọi Sài Gòn xưa), người Pháp đã từng bước mở đường nối liên hai khu đô thị, mở thêm tuyến tầu điện và cuối cùng là quy hoạch hai bên bờ rạch Chợ Lớn. Tên gọi chung « Sài Gòn-Chợ Lớn » được rút ngắn thành Sài Gòn vào năm 1956.
    Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu người Pháp Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon (Ecole normale supérieure de Lyon), cho rằng không thể tách rời lịch sử Chợ Lớn với sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Kỳ.
    « Đây là một đô thị có lịch sử khá lâu đời, vào khoảng thế kỷ XVIII. Người ta cho rằng Chợ Lớn có thể được hình thành khoảng năm 1779. Vào thời kỳ đó, tình hình ở Việt Nam bị xáo trộn khá nhiều. Có nhiều cuộc nổi dậy ở khu vực mà sau này trở thành Nam Kỳ (Cochinchine), trong đó phải kể tới cuộc khởi nghĩa Tây Sơn chống các chúa Nguyễn. Cũng chính vào thời kỳ đó, người Trung Quốc lập nghiệp và sinh sống ở Biên Hòa buộc phải tháo chạy và lánh loạn ở một thị trấn cách không xa Sài Gòn. Và từ đó, họ hình thành một khu dân cư đầu tiên, sau này được gọi là Chợ Lớn ».
    Làn sóng người Hoa đầu tiên, gồm khoảng 3.000 người trung thành với triều đình nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ năm 1644 (do hai tướng người Hoa, Dương Ngạn Địch (Yang Yandi) và Trần Thượng Xuyên (Chen Shangchuan) dẫn đầu), chạy xuống miền nam Việt Nam vào năm 1679 và phục vụ chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền). Chúa Hiền để họ xuống lập cư ở vùng đất hoang vu, lúc đó vẫn thuộc vào vương quốc Champa, để gây ảnh hưởng. Người Hoa đã lập nên nhiều thị trấn, như Biên Hòa, và phát triển các nghề nông nghiệp và trồng lúa. Đợt di cư thứ hai của người Hoa đến Nam Kỳ diễn ra trong cuộc nổi dậy Thái Bình (1851-1864) ở Trung Quốc.
    Nguồn gốc tên gọi Chợ Lớn
    Theo ông Laurent Gédéon, rất khó truy tìm được gốc tích tên gọi Chợ Lớn, được đặt cho thị trấn nhỏ hình thành bên bờ rạch Bến Nghé nhờ một số người Hoa chạy khỏi Mỹ Tho vì bị quân Tây Sơn trấn áp do giúp chúa Nguyễn :
    « Trước khi được gọi là Chợ Lớn, khu vực sinh sống của người Hoa có thể có một tên gọi cổ hơn nhưng chưa có đủ tài liệu chứng minh, đó là Tignan (phát âm theo tiếng Quảng Đông là Taingon). Nếu tôi nhớ không nhầm thì đó là tên gọi của loại cây bông gòn, nhưng tên gọi này cũng chưa được các nhà nghiên cứu kiểm chứng. Họ giả định rằng có thể cách phát âm « Taingon » sau này được đặt cho khu vực người Hoa sinh sống. Còn tên gọi « Chợ Lớn » dường như là cách gọi của người Việt dành cho khu vực đó và có liên quan đến hoạt động thương mại của người Trung Quốc ».
    Thực vậy, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, cụm từ « Sài Gòn » vẫn là tên gọi dành cho khu người Hoa. Còn Bến Nghé (lấy tên từ rạch Bến Nghé) là tên gọi của Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chỉ bắt đầu từ năm 1860, Sài Gòn và Chợ Lớn, tên gọi chính thức của hai đô thị, bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu lưu trữ Pháp.
    Rạch Bến Nghé, nhánh sông Sài Gòn nối hai đô thị, cũng được đổi tên nhiều lần dưới thời Pháp thuộc, như arroyo de l’Avalanche (tạm dịch : rạch lở) và arroyo chinois (rạch người Hoa). Tên gọi rạch người Hoa thường được người Pháp sử dụng vì con rạch này nối đô thị của người Việt với thị trấn của người Hoa, cách đó 5 km.
    Chợ Lớn : Từ khu sình lầy thành trung tâm thương mại
    Sau khi nhà Nguyễn được thành lập, người Hoa di cư từ Mỹ Tho ở lại khu vực sình lầy toàn cây gòn, gần Bến Nghé. Họ đồng sức biến khu đất hoang vu thành nơi định cư lâu dài với những cây cầu gỗ nối hai bờ rạch Bến Nghé, gia cố bờ kè bằng đá, lập bến bãi cho tầu hàng, mở rộng và đào thêm những con rạch mới… Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận xét :
    « Sự chuyển hóa này liên quan đến cách tự tổ chức của người Hoa. Họ có xu hướng quây quần với nhau, thường là do quan hệ họ hàng, nhưng nói chung, họ rất đoàn kết. Cần phải biết là điều bảo đảm cho việc người Hoa có thể tiếp tục tồn tại được trong vùng là họ phải phát triển được quan hệ hợp tác, trao đổi với người dân địa phương. Đây có lẽ là lý do chính để họ chú tâm đến phát triển hoạt động kinh tế, giúp họ trở thành những nhân tố có sức hút tích cực đối với người dân địa phương.
    Chính khả năng tự tổ chức và làm việc tập thể chắc chắn đã góp phần vào việc họ đã thích ứng được với môi trường, được cho là khó sống, vì đó là vùng đầm lầy và cần phải xây dựng, rồi quy hoạch thì mới biến thành vùng sinh sống được.
    Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cuộc sống địa phương khá phức tạp và chắc chắn là người Hoa, cũng như những cộng đồng người Việt khác sinh sống ở đó, phải đối mặt với rất nhiều căn bệnh mãn tính liên quan đến độ ẩm, côn trùng và khí hậu ».
    Năm 1820, trục giao thương của Cam Bốt thông qua Chợ Lớn và Mỹ Tho được hoàn thành và ngay từ năm 1830, người Hoa ở Chợ Lớn xuất khẩu hàng năm 12.000 thùng tô-nô gạo, 2.200 thùng sợi bông, 400 thùng đường, 20 thùng sáp ong… ngoài ra còn phải kể đến hải sâm, ngà voi, các loại cây thuốc…
    « Giai đoạn thực dân Pháp là thời kỳ rất thuận lợi đối với người Hoa vì khi đến Nam Kỳ, người Pháp đã chú ý đến cộng đồng này. Chính quyền Pháp cũng nhanh chóng hiểu rằng họ sẽ có lợi khi hợp tác với người Hoa, một mặt nhờ vào cách tổ chức xã hội rất chặt chẽ của người Hoa, mặt khác là nhờ vào việc họ duy trì được mối tiếp xúc liên tục và tích cực về mặt kinh tế với người dân Việt ở địa phương.
    Vì thế, người Pháp để cho khu Chợ Lớn tự quản lý. Cộng đồng người Hoa tổ chức thành các phường hội, có nghĩa là những nhóm người có cùng nguyên quán hoặc thổ ngữ. Họ thay nhau quản lý về tất cả những vấn đề liên quan đến tài sản tập thể như bệnh viện, nghĩa trang, trường học... Còn chính quyền thuộc địa quản lý tất cả những vấn đề về kinh tế, luật pháp, thuế khóa trong quan hệ trực tiếp với các đại diện của cộng đồng người Hoa ».
    Nhờ được tự quản, khu Chợ Lớn ngày càng phát triển về kinh tế cũng như dân số. Rất nhiều người từ Trung Quốc sang gia nhập cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn. Khu đô thị được mở rộng, nhiều cửa hàng lớn mọc lên dọc phố Quảng Châu (rue de Canton), những kho hàng rộng hơn được dựng bên bờ kè Gia Long và xuất hiện nhiều xưởng đóng tầu, xưởng công nghiệp nhỏ. Chợ Lớn có đến 8 xưởng xay xát gạo ở bên bờ phía nam sông Lò Gốm (nay là kênh Tân Hóa-Lò Gốm).
    Sài Gòn - Chợ Lớn xưa và nay qua hình ảnh
    Rất nhiều hình ảnh, bản đồ về Chợ Lớn nói riêng và Sài Gòn nói chung được tập trung trong kho lưu trữ Dấu ấn kiến trúc Pháp ở Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh trên trang http://virtual-saigon.net/. Theo nhà nghiên cứu người Pháp Laurent Gédéon, người phụ trách phần Saigon-Cholon, au fil de l’eau (Sài Gòn - Chợ Lớn, theo dòng nước), chương trình do Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), trường Sư phạm Lyon, phát triển năm 2013, trong khuôn khổ năm Việt Nam tại Pháp.
    « Đây là một website tương tác kỹ thuật số, chương trình bao trọn thành phố Sài Gòn. Trong chương trình này, công việc của tôi chủ yếu tập trung vào khu vực Chợ Lớn. Mục đích là tập hợp tối đa dữ liệu về khu vực này, chủ yếu gồm hình ảnh, bản đồ, các bài viết về Chợ Lớn… để các nhà nghiên cứu, những người quan tâm đến lịch sử hình thành thành phố có thể truy cập tham khảo.
    Liên quan đến Chợ Lớn, tôi đã thiết kế một số chương trình khám phá qua hình ảnh, có nghĩa là những phần giới thiệu bằng hình ảnh được sắp xếp theo chủ đề liên quan đến thành phố. Ví dụ tôi lập hành trình khám phá con kênh Tàu Hủ-Bến Nghé chảy ngang Sài Gòn và nối Chợ Lớn với Sài Gòn để cho thấy con kênh này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển hoạt động kinh tế của Chợ Lớn, cũng như mối liên hệ được hình thành giữa Chợ Lớn và thành phố Sài Gòn ».
    Ngoài những hình ảnh, bản đồ trích từ lưu trữ, « hành trình khám phá thị giác » vẫn tiếp tục được bổ sung để phác lại quá trình đô thị hóa của Sài Gòn-Chợ Lớn từ thời thuộc địa đến nay. Các nhà nghiên cứu mong muốn có được một cơ sở dữ liệu thường xuyên được cập nhật với những thông tin mang tính thời sự gắn liền với sự phát triển của khu vực Chợ Lớn và thành phố Hồ Chí Minh.
    ***
    Địa chỉ để truy cập thông tin về lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn :
    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20190722-hon-hai-the-ky-nhon-nhip-cho-lon-sai-gon

    Cùng chủ đề
    • TẠP CHÍ VĂN HÓA

      Nhà thờ Đức Bà, đặc trưng kiến trúc Pháp giữa lòng Sài Gòn
    • TẠP CHÍ XÃ HỘI

      « President Hotel » tại Sài Gòn : Một thời để nhớ…
    • VIỆT NAM - TP. HỒ CHÍ MINH

      Thành phố Hồ Chí Minh : Đô thị hoá và thách thức
    Các lưu trữ
    1. 1
    2. 2
    3. 3
    4. ...
    5. trang sau >
    6. trang cuối >
    7.