donderdag 9 april 2015

Cậu bé mồ côi gặp lại cha đẻ sau 30 năm chiến dịch không vận rời Việt Nam 4-1975

Thứ ba, 7/4/2015 | 17:08 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ ba, 7/4/2015 | 17:08 GMT+7

Cậu bé mồ côi gặp lại cha đẻ sau 30 năm chiến dịch không vận

Suốt 30 năm kể từ ngày đến Canada trong chiến dịch không vận trẻ em năm 1975, Thanh Campbell vẫn tưởng rằng mình là trẻ mồ côi, cho đến khi một người đàn ông tự nhận là cha anh xuất hiện. 
Some of the roughly 55 Vietnamese children who landed in Toronto after being airlifted out of South Vietnam in April 1975. Volunteer Jane Casey, right, who accompanied the children on their journey, said: They almost looked to be shell-shocked.
Một vài trong 55 trẻ em Việt Nam đến Toronto, Canada, tháng 4/1975. Tình nguyện viên Jane Casey, người đồng hành cùng các em trong chuyến đi cho hay "chúng có vẻ như rất hoảng sợ". Ảnh: The Star
Một buổi chiều gần đây, Thanh Campbell, 41 tuổi, chào đón mọi người đến chi nhánh của Thư viện Công cộng Hamilton và bật laptop để trình chiếu câu chuyện của anh lên màn hình. Thanh thường xuyên có các buổi giáo dục cộng đồng như thế.
Căn phòng trở nên nhỏ bé hơn khi Thanh mời mọi người giới thiệu về bản thân họ, sau đó bảo họ phát âm tên của anh: "Won Thanh Campbell Soup". Cảnh tượng chẳng khác gì khi còn bé, lúc anh giới thiệu tên mình trước những người bạn cùng lớp đang tròn xoe mắt.
Trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1975, chính phủ Mỹ tiến hành chiến dịch không vận để đưa khoảng 3.000 trẻ em rời khỏi Sài Gòn. Họ tập hợp các em được cho là trẻ mồ côi, mất cha mẹ do chiến tranh hoặc con của quân nhân Mỹ, rồi đưa đến các nước khắp thế giới, trong đó có Canada. 
Vài tuần sau đó, một đơn kiện đã được nộp lên tòa án Mỹ, thay mặt cho những em có cha mẹ còn sống. Dù vụ kiện bị bác bỏ vì thiếu bằng chứng, nó vẫn khiến giới chức Mỹ rà soát lại các hồ sơ. Họ phát hiện ra 233 trong số 1.667 em được đưa sang Mỹ không có đủ giấy tờ.
Giới chức ở bang Ontario, Canada, nơi Thanh sinh sống, cũng khẳng định rằng những trẻ em được đưa đến đây hoàn toàn là trẻ mồ côi. Thực tế, Thanh không nằm trong số đó. 
thanh-8980-1428390642.jpg
Thanh Campbell và bức ảnh năm 1975, khi anh là trẻ mồ côi mang số 32 trên chuyến bay sang Canada. Ảnh: The Star
Tháng 4/1975, anh được mục sư William Campbell và vợ là Maureen, ở thành phố Cambridge, bang Ontario, nhận nuôi. Ông William, người vừa qua đời tháng trước, luôn tự hào về 6 đứa con của mình, trong đó có một nửa là con nuôi.
Thanh kể với mọi người rằng anh chưa bao giờ cảm thấy mình là người châu Á. Khi gia đình đến thăm khu người Hoa, anh muốn về nhà. Khi một gia đình người Việt Nam đến Cambridge sinh sống, mẹ đưa anh đến nhà họ nhưng anh cũng không thích học tiếng Việt. Thanh "quá Canada".
Mọi thứ sẽ như thế cho đến khi Thanh có một buổi nói chuyện ở nhà thờ năm 2004, nơi anh gặp Trent Kilner, một trong những trẻ em của chiến dịch không vận năm 1975. Hai người đàn ông và một số con nuôi khác đã tổ chức cuộc họp mặt vào năm 2006, rồi tìm ra 42 người trong số những trẻ em trên chuyến bay đến Toronto năm xưa.
Họ chia sẻ những câu chuyện về cuộc đời mình với báo chí và chuyện của Thanh cũng được đăng tải ở Việt Nam. Ông Nguyen Minh Thanh đọc được nó trong một bữa sáng tháng 7/2006. Ban đầu, ông chỉ nghĩ đó là một câu chuyện hay rồi quên luôn. Tuy nhiên, đến nửa đêm, ông bật dậy. Người đàn ông trong bài báo có tên giống với đứa con trai mà ông thất lạc năm 1975.
Ngay sau đó, Thanh Campbell nhận được một email từ người tự nhận là anh trai của anh.
"Thanh Campbell thân mến!", lá thư bắt đầu. "Gia đình tôi có một người tên Nguyen Ngoc Minh Thanh giống anh. Chúng tôi thất lạc cậu ấy từ năm 1975. Cậu ấy rời khỏi Việt Nam theo dự án không vận trẻ em. Đến bây giờ, 30 năm sau, cha tôi vẫn luôn đi tìm tung tích con trai. Cha tôi rất vui khi đọc được bài viết trên báo Tuổi trẻ. Chờ tin anh, Nguyen Ngoc Minh Thao".
Thanh không chắc anh nên làm gì. Anh nghĩ về ba cậu con trai của mình. Nếu một trong số chúng mất tích, anh cũng muốn biết chúng ở đâu.
Tháng 4/1975, cha của Thanh là một quan chức cấp cao trong quân đội Việt Nam Cộng hòa.  Thanh được chăm sóc trong trại trẻ mồ côi liên kết với trường nội trú.
Khi cuộc chiến giải phóng miền Nam Việt Nam đang đi vào giai đoạn ác liệt, đó là một nơi an toàn. Cha anh vẫn đến thăm con vào dịp cuối tuần cho đến khi binh lính đi khắp các làng để tập hợp trẻ mồ côi đưa sang Mỹ. Hai người anh trai của Thanh đã bất lực đứng nhìn chiếc jeep chở em mình ra đi.
Sau khi chiến tranh kết thúc, cha anh quay lại để tìm con nhưng Thanh đã không còn ở đó.
Thanh Campbell, cha nuôi William Campbell và cha đẻ gặp nhau tại TP. Hồ Chí Minh năm 2009. Ảnh: The Star
Thanh Campbell, cha nuôi William Campbell và cha đẻ gặp nhau tại TP. Hồ Chí Minh năm 2009. Ảnh: The Star
Trong cuộc điện thoại đầu tiên với con trai thông qua một phiên dịch, ông Thanh vô cùng phấn khởi. Ông muốn nói với Thanh ba điều, đó là anh chưa bao giờ bị bỏ rơi, cha mẹ yêu anh và họ đã đi tìm anh suốt 30 năm.
"Điều đó ngay lập tức chạm đến trái tim của một đứa trẻ mồ côi", Thanh nói.
Năm 2009, khi Thanh quay lại Việt Nam, cha nuôi của anh cũng hào hứng đi cùng. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, đứa con trai thất lạc bấy lâu ôm chầm lấy người cha Việt đã sinh ra và từng nuôi nấng mình.
"Mọi người đã khóc khi thấy cảnh đó", Thanh kể. "Tôi không khóc, tôi chỉ tự hỏi sao chuyện này lại có thể xảy ra. Tôi đã không đi tìm họ. Nếu cha mẹ (nuôi) thay đổi tên tôi, chắc sẽ không có cuộc gặp này".
Trong cuốn sách "Trẻ mồ côi số 32", Thanh mô tả về cuộc gặp với một "phụ nữ già dễ thương" ở Việt Nam, người chỉ vào mũi của bà, cười và chỉ lại vào mũi của anh. Đó là dì của Thanh, người nhận ra "chiếc mũi gia đình" trên báo khi nhìn thấy ảnh anh.
Trước khi rời Việt Nam, hai người anh trai đã hẹn Thanh ra một quán cafe và nói lời xin lỗi.
"Tôi nói 'các anh lúc đó mới chỉ 4 tuổi và 6 tuổi. Các anh có thể làm gì chứ? Các anh sẽ chạy đến đá vào chân họ à?".
Anh Ngọc (Theo The Star)


160
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/cau-be-mo-coi-gap-lai-cha-de-sau-30-nam-chien-dich-khong-van-3178280.html

Chủ nhật, 5/4/2015 | 07:36 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Chủ nhật, 5/4/2015 | 07:36 GMT+7

Chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam sang Mỹ 40 năm trước

Ngày 3/4/1975, khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam đi đến hồi kết, Tổng thống Mỹ Gerald Ford tuyên bố phải đưa tất cả trẻ em Việt được xác định làm con nuôi rời khỏi Sài Gòn bằng máy bay ngay lập tức.
Quyết định của chính quyền Mỹ đã thay đổi cuộc đời của hàng nghìn trẻ em Việt Nam. Những trẻ em có tên trong danh sách di tản được Mỹ cho là những trẻ mồ côi cha mẹ vì chiến tranh, bị khuyết tật bẩm sinh hoặc có cha là quân nhân Mỹ.
Chỉ huy hải quân Mỹ John S. McCain thăm trại trẻ mồ côi Holt ở Sài Gòn ngày 30/10/1974. Đây là nơi nuôi dưỡng nhiều trẻ em có cha là quân nhân Mỹ.  
Các tình nguyện viên Mỹ đưa trẻ em mồ côi lên xe buýt ở Sài Gòn ngày 11/4/1975. Sau đó, một máy bay không quân Mỹ chở các em sang nước này làm con nuôi cho các gia đình.

Những đứa trẻ rời khỏi quê hương trong "Chiến dịch Không vận trẻ em" năm 1975 bao gồm trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi cho đến vài tuổi.  
Trẻ sơ sinh được đánh số và đặt trong các hộp lớn có chằng dây để đảm bảo an toàn. 
Những em lớn hơn được cho ngồi trên ghế máy bay, chèn gối và thắt dây an toàn. Ít nhất 4 phi cơ vận tải lớn đã tham gia vào "Chiến dịch Không vận trẻ em".
Các xơ và nhân viên xã hội tại sân bay Tân Sơn Nhất. Vào ngày 4/4, một chiếc máy bay C-5 gặp nạn ngay sau khi cất cánh, làm 78 trẻ em và 46 người lớn thiệt mạng.
Những đứa trẻ trên chuyến bay đầu tiên rời khỏi Sài Gòn nhìn ra bên ngoài qua cửa sổ của máy bay DC 8 thuộc hãng hàng không World Airways.
Ước tính 3.000 trẻ em, trong đó có 150 em sống sót sau vụ tai nạn máy bay C-5, đã rời khỏi miền Nam Việt Nam từ ngày 2 đến 29/4/1975.
Đệ nhất Phu nhân Mỹ Betty Ford chào đón một trong những em bé được tình nguyện viên y tế đưa lên xe buýt quân đội, tại sân bay San Francisco ngày 5/4. Khi đó, một máy bay của hãng Pan Am Airlines chở 325 trẻ mồ côi từ Việt Nam vừa hạ cánh.
Loan Shillinger, ở San Francisco, trong chuyến quay về Sài Gòn, nay đã là TP Hồ Chí Minh, vào tháng 6/1996. Shillinger là một trong những đứa trẻ Mỹ đưa ra khỏi Việt Nam suốt những ngày cuối của cuộc chiến tranh. Cô đưa vòng tay đánh số sơ sinh, cùng tên và địa chỉ của trại trẻ cũ để hỏi thăm thông tin từ các xơ.
Nhiều đứa trẻ như Shillinger đến một đất nước xa lạ từ khi mới lọt lòng. Hàng thập kỷ sau, họ mới có thể quay lại Việt Nam với khao khát tìm ra gốc gác và những người ruột thịt của mình. Chính điều này khiến chiến dịch không vận trở thành chủ đề gây tranh cãi.
Vào ngày 3/4/2000, 25 năm sau chiến dịch không vận, một đoàn có 38 người, bao gồm 15 trẻ mồ côi và ba người sống sót trong vụ tai nạn máy bay C-5, trở lại thăm nơi họ chào đời. Nhiều người trong số họ đã chịu đựng những thiệt thòi khi phải lớn lên ở nơi không phải là đất mẹ, trong một xã hội khác biệt với mình. 
Jeff Thanh Gahr, một trong 57 trẻ em rời Việt Nam ngày 2/4/1975, tại cuộc họp báo công bố chuyến trở về quê hương của họ năm 2005. Ông giới thiệu tấm chăn được làm từ áo quần mà những đứa bé này từng mặc cách đó 30 năm khi lên máy bay sang Mỹ.
Cô gái mồ côi Lyly Kara Koenig, một thành viên của đoàn, rơi nước mắt khi thăm một trại trẻ và được mẹ nuôi an ủi.
Kara Mai Delahunt và cha nuôi của cô, dân biểu William Delahunt, chụp ảnh tại văn phòng của ông ở tòa quốc hội Mỹ. Kara nằm trong khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam mà Mỹ đưa sang nước này năm 1975.
Số còn lại được các gia đình ở châu Âu, Australia và Canada nhận nuôi. Trung tâm trẻ em quốc tế Holt, đơn vị sơ tán hơn 400 em, đang lên kế hoạch tổ chức một buổi họp mặt nữa vào tháng 11 tới ở thủ đô Washington, Mỹ.

Anh Ngọc (Ảnh: Washington Times)

http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/chien-dich-khong-van-tre-em-vie-t-nam-sang-my-40-nam-truoc-3177620.html

Thứ năm, 9/4/2015 | 09:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ năm, 9/4/2015 | 09:00 GMT+7

Hành trình tìm mẹ của nhà báo gốc Việt sau cuộc không vận trẻ em

"Giây phút này trả lời câu hỏi lớn nhất của đời tôi, và đặt ra hàng nghìn câu hỏi mới", Catherine Turner, một em bé trong chiến dịch không vận Babylift, nay trở thành nữ nhà báo người Australia, nói về khoảnh khắc gặp mẹ ruột sau 30 năm xa cách.
Chiến dịch Không vận Trẻ em (Babylift) là một trong những sự kiện được quan tâm lớn của chiến tranh Việt Nam, có ảnh hưởng lâu dài trong nhiều năm. Thế giới có thể sẽ không chứng kiến điều tương tự một lần nữa. 
Cuối cuộc chiến tranh năm 1975, Mỹ đưa khoảng 3.000 trẻ em Việt Nam ra khỏi Sài Gòn để làm con nuôi ở các nước phương Tây. Nhà báo Catherine Turner thuộc kênh truyền hình Al-Jazeera nằm trong những đứa trẻ đó. Cô thực hiện một phim tài liệu "Rất gần mà rất xa" (So Close, So Far Away),  kể về cuộc đời mình từ khi được đưa lên máy bay ngày 5/4/1975, đến lúc trưởng thành và trở về Việt Nam tìm được mẹ đẻ.
Trong phim, Turner nói về ký ức của một đứa thiếu niên gốc Á lớn lên trong một gia đình Australia da trắng, về những tác động tâm lý của chiến dịch Baby Lift, qua con mắt của người trong cuộc.
Nữ nhà báo sinh năm 1974 tại Việt Nam với cái tên Huỳnh Thị Cẩm Tú, sang Australia khi mới 5 tháng tuổi trong chiến dịch không vận và được cha mẹ nuôi đặt tên mới là Catherine Turner. 
Thời niên thiếu, dù được gia đình nhận nuôi yêu thương, cô vẫn trải qua những khó khăn khi là người châu Á trong cộng đồng gốc Âu ở thị trấn nhỏ bang New South Wales. Khi xem lại những bức ảnh hồi bé, cô nhớ lại hình ảnh lạc lõng giữa các bạn da trắng ở trường, trong các bữa tiệc. Cath Turner lần giở những trang nhật ký cô bắt đầu viết khi 12 tuổi, trong đó đề cập đến những lời lẽ châm chọc của các bạn ở trường. 
"Thật bất công, cứ như thể thế giới chỉ có mỗi Australia, và ai đó không sinh ra là người da trắng bị coi như một kẻ lập dị. Mình nhìn chăm chú những cô gái xung quanh và thấy họ xinh đẹp làm sao. Chúa ơi, mình muốn đánh đổi tất cả để thành người Da Trắng, Da Trắng, Da Trắng", Cath đọc những dòng nhật ký cô ghi lại khi còn đi học.
Cath cho biết cuốn nhật ký gợi cho cô nhớ đến quãng thời gian cô căm ghét bản thân, chán ghét màu da nâu, đôi mắt đen Á đông của mình đến nhường nào. 
Trong hành trình giữa ba nước Mỹ, Australia, Việt Nam, Cath gặp những người tham gia chiến dịch Babylift, như giám đốc trại trẻ mồ côi nơi cô ở tại Sài Gòn và Frank Snepp, lãnh đạo phân tích tình báo thuộc Cục Tình báo Trung ương Mỹ, làm việc tại Đại sứ quán ở Sài Gòn.
Trong cuộc phỏng vấn, ông Snepp tiết lộ sự thật gây sốc khiến nhà báo bật khóc, "không biết phải tức giận hay đau khổ" khi ông này nói rằng chiến dịch không vận trẻ em là một cách để chính phủ Mỹ khi đó đạt mục đích chính trị. Tháng 4/1975, khi chiến dịch bắt đầu, nó nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng Mỹ, nhưng sau đó những hoài nghi và chỉ trích bắt đầu nổi lên, và vẫn là chủ đề gây tranh cãi.
Tìm về nguồn cội
Cũng trong chương trình, Cath kể về cuộc đoàn tụ xúc động với mẹ ruột sau một thời gian tìm kiếm. Mong mỏi tìm câu trả lời về nguồn cội, ở tuổi 27, cô lần đầu về Việt Nam để tìm mẹ vào năm 2001. Tuy Cath có giấy khai sinh và đã đến đồn công an, hỏi han nhiều người, chuyến đi ba tuần không mang lại kết quả. 
Khoảng một năm sau, Cath về Việt Nam cùng cha mẹ nuôi người Australia trong một chuyến du lịch, không ngờ chuyến thăm lại là dịp cô đoàn tụ với người mẹ ruột. Một người bạn phiên dịch đã giúp cô tìm mẹ nhờ tên, ngày sinh, số chứng minh thư bà để lại khi đưa con vào trại trẻ mồ côi, cũng như tên và ngày sinh của Huỳnh Thị Cẩm Tú. Và khoảnh khắc Cath chờ đợi suốt 30 năm đã diễn ra. Khi đó, cô cùng cha mẹ nuôi ngồi chờ mẹ ruột đến nhận tại đồn công an. 

Cath là kết quả của một mối tình dang dở. Do sức khỏe yếu và không đủ khả năng kinh tế, mẹ cô gửi con vào trại trẻ mồ côi và đồng ý cho cô làm con nuôi nếu có người đủ điều kiện tài chính nhận. Ngày 1/5/1975, bà quay lại trại trẻ để tìm con nhưng nơi này đã trở thành đống hoang tàn, đổ nát. Người phụ nữ đau buồn, tưởng Cath đã chết mà không hay biết cô đã rời Việt Nam tới Australia trong chiến dịch Không vận Trẻ em. 
Trong phim tài liệu, nhà báo kênh Aljazeera còn gặp gỡ Mỹ Hưng, người cũng được đưa tới Australia trong chiến dịch không vận, và phỏng vấn một bà mẹ hối hận vì đã gửi con vào trại trẻ mồ côi, để cho con đi làm con nuôi.
"Càng nói chuyện với nhiều người, chúng tôi càng nhận ra chiến dịch Babylift thực sự có những ảnh hưởng tầng tầng lớp lớp và sâu rộng đến mức nào", Cath Turner viết khi giới thiệu về bộ phim tài liệu.
Cô cho rằng không có giải pháp hay hồi kết nào ngay trước mắt với hầu hết những người chịu ảnh hưởng. "Những giấy tờ và văn bản còn lại rất ít, cộng với làn khói mù của chiến tranh khiến việc tìm ra câu trả lời nhiều người đang mong muốn là điều bất khả thi", cô cho biết.
Hàng nghìn trẻ em trong chiến dịch không vận không có cách nào để tìm được dòng dõi hay danh tính thực sự của mình. Một số không muốn biết, trong khi số khác tìm cách "điền vào chỗ trống" trong tuyệt vọng.
Giống như Cath, nhiều trẻ em trong chiến dịch Baby Lift đã tìm lại được cha mẹ ruột của mình và có những cuộc đoàn tụ cảm động. Nhưng vẫn còn hàng nghìn cha mẹ người Việt không biết điều gì đã xảy ra với con trai, con gái họ. Họ có thể sẽ không bao giờ biết. Họ chỉ hy vọng con cái họ vẫn sống và hạnh phúc. Và mơ về một ngày đoàn tụ.
Trọng Giáp (theo Al-Jazeera)

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/hanh-trinh-tim-me-cua-nha-bao-goc-viet-sau-cuoc-khong-van-tre-em-3179076.html

Thứ ba, 7/4/2015 | 08:45 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ ba, 7/4/2015 | 08:45 GMT+7

Những đứa trẻ đi tìm cha mẹ 40 năm sau chiến dịch không vận

40 năm trước, Chantal Doecke nằm trong một hộp giày đặt trên máy bay rời Sài Gòn. Đến bây giờ, khi đã làm mẹ, cô vẫn không biết người đã sinh ra mình là ai. 
Chantal Doecke thuở bé. Ảnh: ABC
Chantal Doecke thuở bé. Ảnh: ABC
Chantal nằm trong số gần 300 trẻ em Việt Nam có mặt trên chuyến bay rời Sài Gòn sang Australia ngày 5/4/1975.
"Tôi được đặt trong một chiếc hộp đựng giày, giống như hầu hết những đứa trẻ khác", Doecke nói. "Rõ ràng đó là một lựa chọn dễ dàng và an toàn". 
Được một đôi vợ chồng ở Australia nhận nuôi, Chantal cho hay cô chưa bao giờ suy nghĩ gì nhiều về gốc gác của mình, cho đến khi cô làm mẹ.
"Tôi đứng trước gương và ôm con bé, tôi nhìn con bé và nhìn mình. Tôi nghĩ 'ồ, nó trông giống mình làm sao' ", Chantal kể. "Nhưng sau đó tôi tự hỏi thế mình giống ai. Điều đó bắt đầu khiến tôi bối rối".
Chantal đã đi tìm bố mẹ đẻ của mình nhiều năm nay nhưng không thành. 
"Thậm chí đến nay, tôi đã 40 tuổi rồi và vẫn không ngừng cố gắng để thay đổi ngoại hình của mình", cô nói. "Không phải tôi xấu hổ là người Việt Nam hay trông tôi khác biệt với mọi người, tôi chỉ nghĩ đó là cá tính của mình".
aus2-9144-1428370684.jpg
Chantal Doecke sẽ quay lại Việt Nam tháng này. Ảnh: ABC
Trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1975, Chiến dịch Không vận trẻ em của Mỹ đã đưa khoảng 3.000 trẻ em rời khỏi Sài Gòn. Các em được đưa đi từ các trại trẻ và bệnh viện, đến các nước trên khắp thế giới. Khoảng 300 em được các gia đình ở Australia nhận nuôi.
Tháng này, Chantal dự định quay lại TP. Hồ Chí Minh để tham dự một cuộc họp mặt với những đứa trẻ đồng cảnh ngộ 40 năm trước. Nhiều người trong số đó từ lâu đã đi tìm gốc gác của mình. Một số người đã cung cấp mẫu ADN để nhờ giúp đỡ.
Sue Yen Byland, ở thành phố Perth, Australia, cũng đã tìm kiếm bố mẹ ruột suốt 9 năm. Cô nói mẹ mình là người Việt, còn cha cô có thể là một cựu binh Mỹ.
"Tôi cảm thấy mình đã nỗ lực hết sức để người sinh ra tôi biết rằng tôi đang tìm bà ấy", Byland nói. Cô cũng sẽ tham dự buổi họp mặt sắp tới ở TP.Hồ Chí Minh.
Không phải ai cũng may mắn như Tricia Houston, một phụ nữ Mỹ. Qua mẫu DNA, cô biết rằng cha mẹ đẻ mình đều là người Việt Nam.
Cô tìm thấy cha khi đọc được một câu chuyện trên Facebook. Một người đàn ông cho hay ông đã tìm kiếm con gái suốt 38 năm. 
"Người đàn ông đó trông thực sự rất buồn và có vẻ như ông ấy đã đi tìm con suốt cả cuộc đời mình", Houston nói. 
my-4432-1428370684.jpg
Tricia Houston. Ảnh: ABC 
Kết quả xét nghiệm ADN đã kết nối hai cha con. Houston dự định về Việt Nam tháng này để gặp cha lần đầu tiên.
"Tôi hy vọng câu chuyện này sẽ tiếp thêm nguồn hy vọng cho mọi người rằng họ vẫn có thể tìm lại được gia đình ruột thịt của mình", cô nói. 
Tại Mỹ, một cơ sở dữ liệu ADN có thể giúp nhiều người con nuôi tìm thấy cha mẹ ruột. Hàng nghìn người cũng đã tìm thấy bà con thân thích. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu ADN này không có ở Australia.
Anh Ngọc

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/nhung-dua-tre-di-tim-cha-me-40-nam-sau-chien-dich-khong-van-3178522.html

Thứ hai, 6/4/2015 | 18:52 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ hai, 6/4/2015 | 18:52 GMT+7

Ký ức về thảm kịch máy bay không vận trẻ em Việt Nam 40 năm trước

Khi chiếc máy bay vận tải C-5 Galaxy đâm vào một con đê và lao xuống đồng lúa ở Sài Gòn 40 năm trước, cơ phó Tilford Harp cùng hai đồng nghiệp đã nghĩ rằng tất cả sẽ chết. 
c5-2857-1428310479.jpg
Chiếc máy bay C-5 vỡ thành 4 mảnh trên cánh đồng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Peter Alanl Loyd
Ông Harp, đại úy Keith Malone và cơ trưởng, đại úy Dennis Traynor, là những người ngồi trên khoang lái của chiếc C-5 chở hơn 300 người rời khỏi Sài Gòn ngày 4/4/1975.
Tháng 4/1974, khi quân đội của miền bắc Việt Nam đang áp sát Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã ra lệnh cho máy bay của Bộ Chỉ huy Không vận Quân sự đến một trong những sân bay cuối cùng ở Sài Gòn để di tản công dân và những người Việt thân Mỹ.
Trong số đó có hàng nghìn trẻ được cho là trẻ mồ côi Việt Nam hoặc con lai, từ sơ sinh cho đến vài tuổi. Các em rời đất nước trên những chuyến bay thuộc "Chiến dịch Không vận Trẻ em".
Tại Việt Nam, chiến dịch diễn ra từ ngày 4/4 đến 26/4, sử dụng 24 máy bay của quân đội Mỹ cùng một số phi cơ được các tổ chức từ thiện tư nhân thuê chở. Gần 3.000 trẻ em rời quê hương trong đợt không vận này.
Chiều 4/4, chiếc C-5 mang số hiệu 68-0218 mà ông Harp làm cơ phó thực hiện chuyến không vận đầu tiên trong chiến dịch. Ông Harp, người đã có kinh nghiệm 1.200 giờ bay, mô tả căn cứ không quân Tân Sơn Nhất lúc đó hỗn loạn, khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ. 
Chiếc C-5 hạ cánh vào khoảng 15h, dỡ hàng hóa quân sự xuống và sẵn sàng để chở trẻ em, cũng như đón đội ngũ y tế từ căn cứ không quân Clark ở Philippines đến hỗ trợ các em nhỏ.
Phi hành đoàn và các nhân viên y tế tạo đứng thành hàng dài, đưa từng em qua cửa, lên cầu thang và vào bên trong khoang binh sĩ. 
"Các thanh kê tay đã được tháo bỏ nên chúng tôi có thể đặt hai em trên một ghế, 6 em một hàng. Chúng tôi đã cố gắng để đưa gần hết các em nhỏ lên tầng trên và các em lớn tuổi hơn ở tầng dưới", y tá chuyến bay Regina Aune kể lại trong một cuộc phỏng vấn sau đó.
Máy bay cất cánh với 229 trẻ em và 85 nhân viên y tế cùng tổ bay. Hầu hết trẻ em ở trong khoang binh sĩ, phần còn lại phải ngồi dưới khoang hàng hóa. 
Malone, một phi công vừa hoàn thành khóa huấn luyện lái C-5, được chỉ định tham gia chuyến bay để có cơ hội làm quen nhiều hơn với hoạt động của phi cơ. Vì thế, ông ngồi giữa Harp và Traynor.
"Điều đó đã cứu mạng tôi, nếu không, tôi sẽ ngồi dưới khoang hàng hóa", Malone nói.
Thảm họa
c5-b-1509-1428310479.jpg
Hiện trường tan hoang của vụ tai nạn. Ảnh: Peter Alanl Loyd
Hơn 12 phút sau khi cất cánh, thảm họa ập đến khi ba ổ khóa giữ thang máy bay lại không được khóa, khiến nó trở nên lỏng lẻo. Điều này đã khiến cửa áp suất bị bung khỏi chiếc C-5 ở độ cao hơn 7.000 m.
Dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự cố là "một tiếng nổ lớn và buồng lái mờ đi", ông Malone kể. Mọi thứ trở nên tồi tệ hơn khi cửa áp suất va đập vào thân máy bay, phá vỡ nhiều bộ phận quan trọng. Khoang hàng hóa báo cáo rằng "cả phần sau của máy bay đã bị rời ra" và các dây cáp bị đứt lủng lẳng như mỳ Ý". 
"Chúng tôi chỉ có thể điều khiển máy bay được một phần", ông Harp nói.
Khi đó họ đang ở phía trên Vũng Tàu. Traynor vật lộn để đưa máy bay quay đầu trở lại Sài Gòn và hạ độ cao từ từ trong khi Harp thu thập thông tin về tình trạng của C-5. Tuy nhiên, máy bay đã lao xuống nhanh chóng. Sau đó, họ cố gắng đưa máy bay lên cao và điều khiển được phi cơ quay đầu về Tân Sơn Nhất.
Tuy nhiên, các phi công nhận ra là họ không thể chạm tới đường băng và cố gắng hạ cánh xuống một cánh đồng. Máy bay lao vào một đầm lầy cách đường băng hơn 3 km, rồi đâm vào đê, bật ngược lại lên không trung và băng qua sông Sài Gòn.
Cuối cùng, nó đâm xuống mặt đất, trượt dài hơn 300 m, trước khi dừng lại ở một cánh đồng lúa và vỡ thành 4 mảnh: đuôi, khoang bay, khoang binh sĩ và cánh. 
"Chúng tôi mất toàn bộ điện. Khoang bay rất rất tối vì bùn bao phủ kính chắn gió và chúng tôi có thể cảm thấy mình đang trượt đi", ông Harp kể. 
Ông không nhận ra buồng lái đã bị lộn ngược cho đến khi mở dây an toàn và ngã ra ngoài. Những người sống sót trong khoang thoát ra ngoài qua cửa sổ phía phi công. 
Malone nhìn sang bên phải và chẳng thấy gì nhiều ngoại trừ xác máy bay đang bốc cháy. Ông đi quanh mũi chiếc C-5 và ngạc nhiên khi phát hiện ra khoang binh sĩ vẫn còn nguyên vẹn. Các phi công sau đó nhanh chóng giải cứu những người sống sót rải rác trong đống đổ nát.
Các y tá như bà Aune, người bị gãy chân, loạng choạng bước ra từ khoang binh sĩ và bắt đầu bế những đứa trẻ giao cho họ. Aune trao tay những em bé cho đến khi bà gần như ngã khuỵu xuống. Y tá Harriet Goffinett, một tay không cử động được vì gãy xương, bế các em nhỏ trên hông.
c5-c-1216-1428310479.jpg
Những đứa trẻ may mắn sống sót trong tai nạn. Ảnh: Peter Alanl Loyd
Trực thăng cứu hộ có mặt sau đó 5 phút. Bất chấp những nỗ lực của phi hành đoàn, 138 người, trong đó 76 trẻ em Việt Nam (có tài liệu nói 78 hoặc 79), đã thiệt mạng. 176 người trong đó có 150 trẻ em mồ côi, may mắn sống sót.
Sau vụ tai nạn, Không quân Mỹ vẫn tiếp tục chiến dịch không vận. Tổ bay và các nhân viên y tế được ca ngợi là những anh hùng vì vừa cứu máy bay vừa cứu các nạn nhân.
Trong nhiều năm sau đó, C-5 bị hạn chế chở khách ở khoang hàng hóa. Các vị trí điều khiển chuyến bay và các đường ống thủy lực được thay đổi. 
Cả Harp và Malone sau đó cũng trở lại công việc của mình. Malone nghỉ hưu năm 1993 ở cấp trung tá. Harp nghỉ hưu khi đang là phó chỉ huy của một máy bay chở dầu KC-135. 
Anh Ngọc

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/ky-uc-ve-tham-kich-may-bay-khong-van-tre-em-viet-nam-40-nam-truoc-3178283.html

Mộ 76 em bé thiệt mạng trong chiến dịch không vận trẻ em 40 năm trước

Trong nước 15:10 - 6/4

Trước khi cuộc chiến kết thúc, người Mỹ tiến hành chiến dịch Babylift, đưa hơn 3.000 trẻ em ở các trại mồ côi tại miền nam Việt Nam ra nước ngoài. Chuyến bay đầu tiên trong chiến dịch này rơi, khiến ít nhất 154 người trong đó có 76 trẻ nhỏ thiệt mạng. Nơi yên nghỉ của các trẻ này nằm trong khuôn viên của một nhà thờ ở thành phố Pattaya, Thái Lan

http://video.vnexpress.net/trong-nuoc/mo-76-em-be-thiet-mang-trong-chien-dich-khong-van-tre-em-40-nam-truoc-3178265.html


Geen opmerkingen:

Een reactie posten