Posts tonen met het label Úc-Việt Nam. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Úc-Việt Nam. Alle posts tonen

donderdag 19 maart 2015

Úc-Việt Nam phản đối việc đơn phương thay đổi nguyên trạng Biển Đông

Việt NamBiển ĐôngÚcChủ quyềnNguyễn Tấn DũngTranh chấpTrung Quốc

Úc-Việt Nam phản đối việc đơn phương thay đổi nguyên trạng Biển Đông

mediaCông trình bồi đắp bãi ngầm Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) của Trung Quốc đang hoàn thiện. Nguồn : China Topix
Đúng như dự kiến, hồ sơ Biển Đông đã được hai lãnh đạo Úc và Việt Nam thảo luận nhân chuyến công du nước Úc của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, kết thúc vào hôm nay, 18/03/2015. Phát biểu sau cuộc họp thượng đỉnh tại Canberra, Thủ tướng Úc Tony Abbott và đồng nhiệm Việt Nam đã công khai kêu gọi các bên tranh chấp ở Biển Đông tự kiềm chế, đồng thời tránh những hành vi làm thay đổi nguyên trạng, gây bất ổn định trong vùng.
Theo nguồn tin từ Thông tấn xã Việt Nam, nhân cuộc hội đàm tại thủ đô Úc, Thủ tướng Việt Nam và đồng nhiệm Úc đều đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhu cầu bảo đảm « hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông cũng như giải quyết các tranh chấp trên biển dựa trên luật pháp quốc tế ».
Hai nước cũng kêu gọi tất cả các bên tự kiềm chế để không làm cho tình hình khu vực căng thẳng thêm lên, nhất là tránh « việc cưỡng ép hoặc sử dụng vũ lực để đơn phương thay đổi nguyên trạng ».
Hãng tin Mỹ AP đã trích tuyên bố của Thủ tướng Úc theo đó ông Abbott xác nhận rằng ông và đồng nhiệm Việt Nam « đều ủng hộ quyền tự do lưu thông trên không và trên biển ở vùng Biển Đông… đều rất lấy làm tiếc về mọi hành động đơn phương thay đổi nguyên trạng… đều cho rằng tranh chấp phải được giải quyết một cách hòa bình, trong tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế ».
Dù Trung Quốc không bị nêu đích danh, nhưng vấn đề « thay đổi nguyên trạng » được hai Thủ tướng Úc và Việt Nam nêu bật, rõ ràng nhắm vào các hành động cải tạo, bồi đắp và xây dựng mà Bắc Kinh đang cấp tốc tiến hành trên bảy bãi ngầm hay rạn san hô mà Trung Quốc chiếm đóng tại vùng quần đảo Trường Sa.
Dù không bị vạch mặt chỉ tên, nhưng Bắc Kinh đã lập tức bác bỏ tuyên bố của Úc. Trong cuộc họp báo thường kỳ tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã tuyên bố : « Chúng tôi hy vọng rằng các nước bên ngoài khu vực duy trì quan điểm trung lập, đặc biệt là trên vấn đề chủ quyền. »
Trở lại với quan hệ song phương Việt-Úc, nhân chuyến công du của Thủ tướng Việt Nam, hai bên đã ký kết Tuyên bố về việc Tăng cường Quan hệ Đối tác Toàn diện Úc-Việt Nam, một văn kiện được cho là tạo nền tảng tiến tới việc thiết lập quan hệ chiến lược giữa hai nước.
Bên cạnh đó, có 4 văn kiện hợp tác cũng được ký kết : Thỏa thuận về Chương trình Lao động Kỳ nghỉ ; Thỏa thuận về phòng chống nạn buôn người ; Bản Ghi nhớ về hợp tác khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh ; và Bản Ghi nhớ về hợp tác giúp đỡ Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.
Sau chuyến công du nước Úc, Thủ tướng Việt Nam lên đường thăm New Zealand trong hai ngày.

http://vi.rfi.fr/20150318-vn-uc//

dinsdag 16 juli 2013

Úc lo ngại làn sóng thuyền nhân Việt Nam

Úc lo ngại làn sóng thuyền nhân VN


Cập nhật: 14:56 GMT - thứ hai, 15 tháng 7, 2013

Tình trạng người Việt Nam vượt biên ra nước ngoài vẫn diễn ra thường xuyên ở thời điểm hiện tại
Vừa có thêm một tàu chở người Việt đến Úc trong bối cảnh Úc lo ngại số thuyền nhân Việt Nam sẽ tăng lên kỷ lục.
84 người Việt xin tị nạn có mặt trên một con tàu bị phát hiện hôm 12/7 khi nó cách thị trấn Broome, miền tây Úc khoảng 51 cây số.
Đến tối hôm 14/7, họ bị giới chức biên phòng chở đi bằng xe, đi suốt 220 cây số đến trung tâm giam giữ Curtin ở thị trấn Derby.
Hồi tháng Tư, một con tàu chở 72 người Việt xin ti nạn cũng bị chặn ở địa điểm này.
Giới chức Úc nói tính cả số người vừa bị giữ mới nhất, trong năm nay đã có 759 người Việt đến Úc bằng tàu.
Đây là con số lớn nhất kể từ năm 1994, khi có 796 người Việt đi tàu đến Úc.
Nếu tiếp tục xu hướng này, có thể số người Việt vượt biên đến Úc trong năm nay sẽ đạt mức kỷ lục, vượt qua con số 868 người đến Úc năm 1977, hai năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Số người Việt vượt biên đến Úc đang ngày một tăng, khi năm 2010 chỉ có 31 người, và năm 2011 có 101 người Việt vượt biên đến Úc.
Nó diễn ra trong bối cảnh người nhập cư trở thành vấn đề chính trị lớn tại Úc.
Ngoại trưởng Úc Bob Carr vừa bày tỏ lo ngại số lượng người xin tị nạn ở Úc sẽ tăng gấp đôi.
Hiện tại ước tính mỗi năm khoảng 40,000 người xin tị nạn ở Úc, nhưng ông Bob Carr nói nó có thể “dễ dàng tăng gấp đôi”.
Tuần này, Thủ tướng Úc Kevin Rudd đang ở Papua New Guinea để bàn về thương mại và tị nạn.
Úc có một trung tâm thanh lọc người tị nạn ở đảo Manus của Papua New Guinea, và nó vừa bị Liên Hiệp Quốc phê phán.
Chính phủ Úc nói việc đặt các trại này ở Nauru và Papua New Guinea là nhằm ngăn không để người tị nạn có hành trình nguy hiểm vượt biển đến Úc.
Nhiều con tàu đã bị chìm hoặc được giải cứu trong lúc tìm đường đến Úc.
Nhưng nhiều người nói chính sách của Úc là vô nhân đạo, không bảo vệ người tị nạn bị giữ trên đảo.


Thêm về tin này

zaterdag 11 mei 2013

Úc bắt 37 người nhập lậu ma túy từ Việt Nam

Úc bắt 37 người nhập lậu ma túy từ Việt Nam Friday, May 10, 2013 1:00:31 PM







SYDNEY, Aus. 10-5 (NV) .-
Cảnh sát ở miền nam nước Úc vừa mở một chiến dịch đồng loạt tại nhiều địa điểm đã bắt giữ ít nhất 37 người liên quan đến buôn lậu ma túy từ Việt Nam.
Ma túy được kẻ buôn lậu cất giấu giữa hai lớp giấy xung quanh thùng carton bị bắt ở phi trường Tân Sơn Nhất ngày 24/2/2013. (Hình: Hải Quan Online)

Đây là một trong những vụ bắt giữ nhiều người nhất từ trước đến nay liên quan buôn lậu ma túy khi cảnh sát đã sử dụng tới 270 cảnh sát viên để lục soát 86 căn nhà ở khu vực thị xã Adelaide liên tiếp hai ngày qua.

Họ cho hay tổ chức tinh vi này hoạt động có mạng lưới ở các tiểu bang phía nam gồm cả bang Victoria và New South Wales. Cuộc lục soát đã giúp cảnh sát tịch thu được một số lượng ma túy tương đương với 30,000 gói bán trên phố gồm ba loại là heroin, cocaine và methamphetamine.
Nếu kể từ đầu năm đến nay, Cảnh sát Úc đã bắt giữ tổng cộng 55 người liên quan đến buôn lậu ma túy.

“Chúng tôi đã  có thể đưa một số người ra khỏi hoạt động buôn bán bất hợp pháp cả từ cấp cao của tổ chức đến những người cầm đầu, tổ chức nhập cảng lậu cũng như những kẻ trung gian, đầu mối cho những kẻ bán ma túy trên đường phố.” Một viên chức Cảnh sát Úc cho biết.

Ngày 24/2/2013, Quan thuế ở phi trường Tân Sơn Nhất, Việt Nam, đã khám phá thấy 3 kg heroin giấu giữa hai lớp giấy của một thùng carton đựng quần áo mang về Úc của một người tên Trần Minh Đạt, 42 tuổi. Ông này đáp máy bay từ Sài Gòn về Sydney, Úc. Tất cả được chứa trong 12 túi nylon và được ép mỏng, quấn băng keo màu vàng, phủ lớp cà phê bên ngoài. 

Nước Úc không còn hình phạt tử hình nhưng tại Việt Nam, buôn lậu từ 600 gram heroin trở lên có thể bị kết án tử hình. Dù vậy, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy những vụ buôn lậu ma túy số lượng lớn bắt giữ từ phi trường đến các vùng biên giới phía bắc.

Năm ngoái, chỉ trong Tháng Tư, hải quan Tân Sơn Nhất đã bắt giữ 5 vụ buôn lậu ma túy tổng cộng hơn 21 kg. (TN)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=166133&zoneid=433#.UY5BkPnCTL8

zondag 21 april 2013

Úc làm được gì cho nhân quyền VN?

Úc làm được gì cho nhân quyền VN?



Cập nhật: 12:41 GMT - thứ năm, 2 tháng 8, 2012

Ngoại trưởng Úc Bob Carr bắt tay Chủ tịch Trương Tấn Sang ở Hà Nội hồi tháng Ba 2012
Ngoại trưởng Úc Bob Carr bắt tay Chủ tịch Trương Tấn Sang ở Hà Nội hồi tháng Ba 2012
Việt Nam từ sớm đã hằn in trong tâm khảm người Úc. Đầu tiên, có một cộng đồng người Việt lớn và được quý trọng ở Úc, và họ thường xuyên thông báo cho người Úc về những gì xảy ra ở Việt Nam.
Hồi tháng Sáu, họ đệ trình thỉnh nguyện thư lên Quốc hội Úc, kêu gọi chính phủ giúp chấm dứt vi phạm nhân quyền ở Việt Nam.
Thứ hai, Việt Nam là một phần lịch sử nước Úc và một phần văn hóa hiện nay. Người Úc còn nhớ sự dính líu đến Chiến tranh Việt Nam và người tị nạn Việt Nam đặt chân lên bờ biển nước họ sau 1975. Người Úc chứng kiến trẻ em tị nạn đi học trường Úc, chơi thể thao Úc và trở thành người Úc thành đạt.
Thứ ba, Việt Nam và Úc cùng chung một khu vực. Úc xem Việt Nam là một trong những người bạn và láng giềng của mình. Năm 2009, hai nước ký Hiệp định Đối tác Toàn diện với mục đích tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, chính trị.
Người Úc biết những tin tức về vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Câu hỏi là một nước có sức mạnh hạng trung như Úc có thể làm gì trước những vi phạm này.
Trung Quốc mới là đối tác thương mại chính của Việt Nam. Úc không thể lấy tôn trọng nhân quyền ra làm điều kiện thương mại. Không phải là một đại cường, Úc không thế gây ảnh hưởng bằng “cà rốt và cây gậy” như Hoa Kỳ. Và nhiều người cũng nghi ngờ những phương cách này có đem lại thay đổi hành vi nội tại mà phải xảy ra trước khi một quốc gia thay đổi vĩnh viễn cách nhìn về nhân quyền.
Vì thế Úc, như nhiều nước khác, tiến hành Đối thoại Nhân quyền Song phương với Việt Nam từ 10 năm trước.
Thật khó nói các cuộc đối thoại đã đạt được gì. Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc không thể chỉ ra bất kỳ kết quả cụ thể nào có được nhờ Đối thoại. Không có tiêu chuẩn hay chỉ số đo lường thành công. Không có mục tiêu cụ thể nào đặt ra trước mỗi Đối thoại. Trong 10 năm, chỉ có bốn nghị sĩ Úc tham dự. Từ phía Việt Nam, chưa có một đại biểu Quốc hội nào tham gia Đối thoại.
Chính phủ Úc hiện đang tiến hành cuộc rà soát công khai về tính hiệu quả của các cuộc Đối thoại. Các văn bản do các tổ chức phi chính phủ nộp lên bày tỏ lo ngại Đối thoại đã được xem là Mục đích, chứ không phải Phương tiện. Họ kêu gọi chính phủ bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm, bằng cách để công chúng đánh giá tiến bộ và có sự tham gia nhiều hơn của Quốc hội.
Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc thừa nhận “đánh giá tác động trực tiếp của đối thoại đối với diễn biến tích cực ở các nước đối tác là điều khó”. Nhưng Bộ này vẫn tin rằng “trao đổi thông tin” và “nâng cao nhận thức” qua Đối thoại là có giá trị. Họ nói việc Việt Nam đồng ‎ ý tham gia đối thoại đã là diễn biến tích cực.
Điều tối đa có thể nói về các cuộc Đối thoại có lẽ là chúng khiến người Úc cảm thấy đỡ bất lực về những gì có thể làm để giúp người dân Việt Nam.
Tổ chức đa phương
Nếu song phương trong lĩnh vực nhân quyền là quá trình chậm chạp và không rõ ràng, phải chăng hy vọng là ở các tổ chức nhân quyền đa phương như Liên Hiệp Quốc (LHQ)?
Các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc có tác động hạn chế đến nhân quyền các nước
Nhưng sau hơn 60 năm với những cố gắng của LHQ, ta biết không đủ khi chỉ buộc các nước ký vào hiệp định quốc tế.
Không có cơ chế hiệu quả để thực thi các hiệp định nhân quyền. Các vi phạm được báo lên cho nhiều ủy ban LHQ, hay Hội đồng Nhân quyền, hay Đại Hội đồng. Các cơ quan này có thể bày tỏ “lo ngại sâu sắc” về hành vi của một nước và kêu gọi chính phủ cải tổ.
Nhưng các cơ quan LHQ không thể làm nhiều hơn. Khi xảy ra vi phạm nhân quyền đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, Hội đồng Bảo an có thể thông qua can thiệp quân sự như Libya năm 2011. Nhưng chính trị trong Hội đồng thường cản trở phản ứng hiệu quả ngay cả khi xảy ra vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất. Hội đồng Bảo an đã không hành động trong trường hợp Rwanda 1994 hay Nam Tư 1995.
Xấu hổ?
Có người hy vọng các nước vi phạm nhân quyền có thể “bị xấu hổ” mà phải thay đổi hành vi, khi họ bị nêu tên ở diễn đàn quốc tế.
Nhưng không có nhiều bằng chứng là điều này xảy ra. Các nước tự xem mình là thành viên đàng hoàng trong cộng đồng quốc tế, như Úc, thường phản đối khi phần còn lại của thế giới phán xét công việc nội bộ. Ví dụ, Úc từng bị LHQ chỉ trích vì các vấn đề liên quan người thiểu số. Cựu Thủ tướng Úc John Howard đã nói các vấn đề nhân quyền Úc nên để người Úc giải quyết.
Nếu các nước “đàng hoàng” còn không bị làm xấu hổ, hy vọng càng ít hơn cho các nước khác. Các chính phủ tồi tệ nhất thường mất nhiều nhất nếu thay đổi. Họ thường chẳng xấu hổ gì. Đôi khi vấn đề này được gọi là “nghịch lý bạo chúa”: các biện pháp quốc tế nhằm bảo vệ nhân quyền lại ít hiệu nghiệm nhất trước các chính phủ xấu xa.
"Đối thoại song phương, nơi các danh sách bí mật được chuyền qua tay những giới chức cấp thấp, và kết quả không bao giờ được nói rõ ràng, có lẽ không phải là cách hay nhất cho một nước hạng trung đạt được các mục tiêu nhân quyền."
Một số học giả nói cam kết trong hiệp định quốc tế giúp các nhà hoạt động xã hội dân sự và tổ chức phi chính phủ vận động cho cải cách. Các hiệp định giúp dễ dàng hơn để buộc các chính phủ chịu trách nhiệm trước các vi phạm. Có lẽ điều này có thể xảy ra ở một nước mà xã hội dân sự năng động được phép tồn tại, có truyền thông tự do và chính phủ chịu trách nhiệm với dân qua phòng bỏ phiếu. Nói cách khác, ở trong một nền dân chủ tự do. Nhưng lập luận này vô lý khi áp dụng cho một nước có chính phủ đàn áp.
Các học giả khác lại nói luật nhân quyền quốc tế là công cụ quan trọng để biến các nước thành quốc gia tôn trọng nhân quyền. Họ nói các trừng phạt nhiều năm với Nam Phi, và sự lên án thường xuyên của LHQ, đã dần dần chuyển hóa đầu óc của người da trắng ở Nam Phi. Nhưng chế độ apartheid cũng tồn tại được gần nửa thế kỷ. Và trong thời gian nó tồn tại, nhiều người da trắng Nam Phi bỏ qua sự lên án của các nước như Úc và Mỹ.
Úc nhận thức được các hạn chế của các định chế nhân quyền tại châu Á – Thái Bình Dương. Úc cũng biết các diễn đàn nhân quyền của LHQ gặp khó khăn, tốn thời gian và phức tạp về chính trị. Vì thế Úc tiếp tục tiến hành Đối thoại với Việt Nam. Họ cảm thấy hài long vì “làm được điều gì đó” – ngay cả nếu không thấy có kết quả.
Có lẽ đó là sai lầm. Đóng góp lớn nhất của LHQ có lẽ là đó là diễn đàn nơi tên những người “vô danh” có thể được xướng lên, là nơi những quốc gia không có nhiều tiền hay vũ khí vẫn có thể đứng lên nhắc nhở rằng những người trong tù không cô đơn. Vẫn có chút sức mạnh trong đó.
Một quốc gia như Úc có thể dùng sức mạnh này khi hành động chung với các quốc gia tôn trọng nhân quyền khác. Khi đó Úc nói được tiếng nói mạnh nhất cho những người bị vi phạm nhân quyền. Khi đó sức mạnh đạo đức của Úc mới lớn nhất.
Đối thoại song phương, nơi các danh sách bí mật được chuyền qua tay những giới chức cấp thấp, và kết quả không bao giờ được nói rõ ràng, có lẽ không phải là cách hay nhất cho một nước hạng trung đạt được các mục tiêu nhân quyền.
Catherine Renshaw đang làm luận án tiến sĩ về luật nhân quyền quốc tế ở Trung tâm Luật Quốc tế Sydney của Đại học Sydney. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.


Thêm về tin này