dinsdag 8 mei 2012

Làng nghề tiêu biểu quanh Hà Nội (kỳ 1)

May 04, 2012


Pao Lâm (sưu tầm)



Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đang đóng vai trò như chiếc nôi gìn giữ những nét văn hóa lâu đời của người Việt và phát triển những sản phẩm độc đáo riêng có của địa phương.



Làng nghề gốm sứ Bát Tràng


Chở sản phẩm gốm Bát Tràng đi bán. (Hình: Frederic Brown/AFP/Getty Images)



Từ Hà Nội, có thể theo đường thủy từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Ðen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua cầu Chương Dương rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống làng Bát Tràng.

Có nhiều giả thuyết về sự ra đời của làng gốm Bát Tràng, trong đó có một giả thuyết đáng được quan tâm là làng gốm Bát Tràng được hình thành từ thời hậu Lê, từ sự liên kết chặt chẽ giữa 5 dòng họ làm gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát như Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng.

Từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (năm 1010), nơi đây trở thành trung tâm chính trị của nước Ðại Việt. Một số thợ gốm Bồ Bát cũng đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Ðất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng, được triều đình chọn là nơi cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh lúc bấy giờ.

Có lẽ vì vậy mà tên gọi Bát Tràng đã đi sâu vào tâm thức của người Việt, mỗi khi nhắc về các sản phẩm từ đất nung. Trong ca dao cổ vẫn còn câu:



“Ước gì anh lấy được nàng

Ðể anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.”



Ðể làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn đất, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò,” nghĩa là đất làm gốm phải được nén chặt, để đảm bảo độ rắn chắc cho sản phẩm. Kế đó là kỹ thuật tạo lớp men phủ (men trắng, men lam, men nâu, men xanh rêu, men rạn). Cuối cùng là kỹ thuật nung lò để có được sản phẩm hoàn chỉnh.

Người thợ gốm Bát Tràng quan niệm sản phẩm gốm không khác nào một cơ thể sống, có sự kết hợp hài hòa của Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và trong đó còn mang cả yếu tố tinh thần, sự sáng tạo của con người. Tất cả hòa vào nhau để tạo nên một loại sản phẩm gốm đặc biệt, hài hòa về bố cục, màu sắc thanh nhã cùng với sự tinh tế đã làm nên một sản phẩm gốm Bát Tràng độc đáo, lưu truyền qua bao thế hệ.

Ðể có sức sống đầy xuân sắc hôm nay, người Bát Tràng ngoài cái tinh, cái nhạy còn tiềm ẩn một tình yêu da diết với nghề gốm cổ truyền. Bằng lòng yêu nghề và sự miệt mài lao động, tìm tòi sáng tạo, nghệ nhân của làng đã tìm ra bí quyết men mờ, rạn của gốm cổ Việt để phục chế các nước men gốm sứ Bát Tràng xưa. Những thành quả lao động sáng tạo của lớp nghệ nhân già cùng sức trẻ của Bát Tràng đã làm nên một thế giới đa dạng, sống động lấp lánh sắc màu từ nắm đất quê hương.



Làng gốm Phù Lãng


Sản phẩm nghệ thuật của gốm Phù Lãng. (Hình: Ciao Travel cung cấp)



Người Phù Lãng làm nên gốm nhưng chính những mảnh gốm thô sơ, mộc mạc cũng làm nên tên tuổi cho ngôi làng nhỏ ven sông Cầu: Gốm Phù Lãng.

Các cụ cao niên ở Phù Lãng kể rằng: Nghề gốm trên đất Phù Lãng đã có cả nghìn năm nay. Chuyện rằng ông tổ nghề có tên là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ Trung Quốc. Trong dịp này, ông học được nghề làm gốm và truyền dạy cho người trong nước.

Khác với những sản phẩm gốm lấy chất liệu từ “xương” đất sét xanh của Thổ Hà, sét trắng của Bát Tràng, gốm Phù Lãng được tạo nên từ “xương” đất đỏ hồng lấy từ vùng Thống Vát, Cung Khiêm (Bắc Giang). Nếu làng gốm Bát Tràng nổi tiếng với những sản phẩm men sứ như tách, chén, bình, với nhiều màu sắc đa dạng, tinh túy và sang trọng thì các sản phẩm của gốm Phù Lãng mang những sắc thái riêng biệt của những sản phẩm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu... mà người ta quen gọi chung là men da lươn với các sản phẩm trang trí trong nhà như tranh gốm hoặc ngoài vườn bình, chậu hoa được những trang trí những họa tiết theo hình khối đa dạng, phong phú được thực hiện bởi hai phương pháp cơ bản là tạo hình trên bàn xoay và in trên khuôn gỗ hoặc khuôn đất nung rồi dán ghép lại.

Nét đặc trưng nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng kỹ thuật đắp nổi theo hình thức chạm bong hay còn gọi là chạm kép, mang màu men tự nhiên, bền, đẹp, lạ mắt. Dáng gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa và mang đậm nét của điêu khắc tạo hình.

Thăm làng gốm Phù Lãng, những mảnh sành, mảnh gốm hiện hữu ở mọi nơi; gốm trong xưởng, ngoài sân, ngoài vườn và trên cả bờ dậu, bờ mương, màu da lươn của gốm hòa quyện với màu rêu phong của mái ngói trong những ngôi nhà cổ kính tạo nên một thứ hồn quê đậm đà. Mỗi góc vườn, dậu phơi, bờ rào là một hình ảnh mộc mạc như gìn giữ trong lòng cả một câu chuyện dài về quá khứ của xứ sở Kinh Bắc hôm qua, ẩn mình trong cái hồn của làng gốm Phù Lãng hôm nay.



Làng lụa Vạn Phúc


Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Henry Paulson (giữa) khoe một túi nhỏ vừa mua ở một cửa hàng lụa tại Hà Nội năm 2006. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)



Tỉnh Hà Ðông, từ thuở xưa kia đã làm nghề dệt lụa, vì thế nơi đây được xem như quê lụa, mà nổi tiếng nhất vẫn là lụa của làng Vạn Phúc, nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Ðông, Hà Nội.

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa với cây đa, giếng nước, sân đình và những phiên chợ chiều dưới gốc đa trước đình. Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống.

Làng lụa Vạn Phúc có tiếng từ thời Lý, được dùng để tiến vua và theo khách buôn sang phương Tây, Trung Quốc, Nhật, Triều Tiên qua con đường giao thương tại các cửa biển Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội An (Quảng Nam-Ðà Nẵng). Ban đầu, lụa Vạn Phúc chỉ để phục vụ tầng lớp trung lưu trở lên, đến cuối thế kỷ 19, nhà Nguyễn khuyến khích dùng hàng nội, các nghệ nhân làng Vạn Phúc nhanh chóng sưu tầm, học hỏi, cải tiến để “bình dân hóa” các mặt hàng gấm, vóc nhằm phục vụ nhu cầu của các tầng lớp người dân.

Trải qua bao thăng trầm đổi thay, làng Vạn Phúc vẫn giữ được nguyên vẹn những giá trị cổ truyền trên từng vân lụa, thớ vải. Nét đặc biệt của lụa Vạn Phúc nói chung và lụa hàng vân nói riêng là ấm áp vào mùa Ðông và mát mẻ vào mùa Hè, mặc lên người thấy mềm mại và nhẹ nhàng. Hoa văn trang trí trên vải lụa tuy rất đa dạng với các mẫu như Song Hạc, mẫu Thọ Ðỉnh, mẫu Tứ Quý, nhưng luôn tuân theo những thủ pháp nghệ thuật truyền thống như trang trí đối xứng, đường nét không rườm rà, phức tạp mà phóng khoáng, dứt khoát.

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông.”

(Còn tiếp)


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=148270&zoneid=268

Geen opmerkingen:

Een reactie posten