Posts tonen met het label thách thức. Alle posts tonen
Posts tonen met het label thách thức. Alle posts tonen

donderdag 30 januari 2014

Công nghệ quân sự : Trung Quốc, thách thức ngày càng lớn đối với Mỹ

Thứ tư 29 Tháng Giêng 2014

Công nghệ quân sự : Trung Quốc, thách thức ngày càng lớn đối với Mỹ

Chiến đấu tàng hình J-20, bay thử lần đầu tiên vào tháng 01/2011 là biểu tượng của đà hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc.
Chiến đấu tàng hình J-20, bay thử lần đầu tiên vào tháng 01/2011 là biểu tượng của đà hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc.
REUTERS/Kyodo

Thanh Phương
Một quan chức cao cấp bộ Quốc phòng Mỹ ngày 28/01/2014 báo động : Trung Quốc đang đặt ra thách thức ngày càng lớn đối với Hoa Kỳ về mặt công nghệ quân sự, trong khi những cắt giảm ngân sách quốc phòng đang cản trở nỗ lực của Mỹ nhằm duy trì vị trí hàng đầu trong lĩnh vực này.


Tuyên bố với các nghị sĩ Mỹ, ông Frank Kendall, Thứ trưởng Quốc phòng đặc trách mua sắm vũ khí, cho rằng Hoa Kỳ đang gặp phải nhiều thách thức từ việc Trung Quốc không ngừng tăng chi tiêu quốc phòng để phát triển các loại vũ khí tối tân, trong khi đó ngân sách quân sự của Mỹ lại đi theo hướng ngược lại.
Ông Kendall báo động là Hoa Kỳ có thể mất vị thế thượng phong nếu không đáp ứng được những thay đổi về bối cảnh chiến lược. Ông dẫn chứng việc Trung Quốc đang đầu tư rất nhiều vào tên lửa diệt hạm, máy bay tàng hình, thiết bị siêu thanh và các vũ khí công nghệ cao cấp khác. Ông Kendall cho biết thêm Washington lo ngại về việc Trung Quốc xuất khẩu các loại vũ khí mới hơn ra nước ngoài.
Theo hãng tin AFP, các nghị sĩ và chuyên gia quốc phòng Mỹ cho biết là Trung Quốc đang tiến những bước dài trong việc hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là trong lĩnh vực các loại vũ khí « chống tiếp cận », như hệ thống gây nhiễu điện tử và tên lửa. Các loại vũ khí này có thể hạn chế tầm hoạt động của các của chiến đấu cơ và hàng không mẫu hạm của Mỹ.
Vào tuần trước, đô đốc Samuel Locklear, tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, cũng đã báo động là vị thế thượng phong của Hoa Kỳ đang suy giảm, do các nước khác đang gia tăng đầu tư vào các vũ khí tối tân.
tags: Châu Á - Công nghệ - Hoa Kỳ - Quân sự - Quốc tế - Trung Quốc - Vũ khí
 
http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140129-cong-nghe-quan-su-trung-quoc-thach-thuc-ngay-cang-lon-doi-voi-my

dinsdag 26 november 2013

Vùng nhận dạng phòng không do Trung Quốc khiến Nguy cơ xung đột gia tăng ở biển Hoa Đông

Thứ tư, 27/11/2013 14:18 GMT+7

Nguy cơ xung đột gia tăng ở biển Hoa Đông

Việc Bắc Kinh thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông khiến mối quan hệ Nhật - Trung ngày càng căng thẳng, với nguy cơ xung đột vũ trang và sự tham gia quân sự từ Mỹ.

adiz-5879-1385456491.jpg
Vùng nhận dạng phòng không do Trung Quốc (đường nét liền màu đỏ) và vùng tương tự của Nhật Bản (đường nét liền màu xanh). Ảnh đồ họa: EIA/CDM
Trung Quốc hôm 23/11 tuyên bố thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông, bao trùm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư mà nước này đang tranh chấp với Nhật Bản. Động thái này của Bắc Kinh được cho là nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền tại quần đảo tranh chấp mà Tokyo đang kiểm soát trên thực tế. Việc này vấp phải phản ứng mạnh của Nhật và Mỹ.
Chính sách chủ quyền ngày càng cứng rắn của Trung Quốc và quyết tâm của Nhật Bản khiến khả năng xung đột quân sự giữa hai nước gia tăng, mà "dây dẫn nổ" rất có thể chỉ là bởi một vụ việc va chạm ngoài ý muốn.
"Kịch bản xung đột trên hoàn toàn có thể diễn ra, bởi đã hội tụ đủ các yếu tố cần thiết", ông Jonathan Marcus, phóng viên thời sự của BBC, bình luận. 
Vào tháng 3/2012, số lần Nhật Bản điều động chiến đấu cơ nhằm ngăn chặn máy bay của Trung Quốc xâm nhập vào không phận vùng tranh chấp đạt mức kỷ lục. Hai nước liên tục tiến hành diễn tập quân sự với nội dung phòng vệ biển đảo từ xa.
Lực lượng tuần duyên Nhật Bản cho biết, tần suất tàu Trung Quốc tiến vào lãnh hải hoặc khu vực tiếp giáp của họ đạt mức 20-24 lần mỗi ngày vào giữa năm nay.
Việc Bắc Kinh thiết lập ADIZ có thể khiến quan hệ song phương vốn đã căng thẳng, càng thêm phần bất ổn với nguy cơ xung đột vũ trang cục bộ cao, mà hệ quả là sự can thiệp quân sự của Mỹ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel nhấn mạnh, quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, mà Nhật Bản và Trung Quốc đang tranh chấp, nằm trong hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật. Điều này đồng nghĩa với việc Washington sẽ bảo vệ đồng minh của mình nếu khu vực này bị tấn công.
Lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa trong những năm gần đây, nhưng quân đội nước này vẫn có thể rơi vào thế bất lợi trong một cuộc xung đột cục bộ với Nhật Bản, vốn được trang bị tiên tiến hơn.
"Câu hỏi cần đặt ra không phải là tương quan lực lượng Nhật - Trung cách biệt ra sao, mà là đôi bên cần làm gì để phòng tránh và quản lý nguy cơ xung đột", ông Marcus nói.
Xung đột Mỹ - Trung là mối lo chính
060417-N-0490C-005-IKE-8358-1385453659.g
Mỹ có khả năng điều tàu sân bay đến biển Hoa Đông một khi xung đột Trung - Nhật leo thang. Ảnh: US Navy
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ hồi đầu tháng này tổ chức một chương trình mô phỏng khả năng xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Nhật Bản, nhằm mục đích đánh giá phản ứng của Mỹ trong tình huống này.
Kết quả cho thấy, Mỹ ban đầu rất e dè trước quyết định nên hay không nên điều động quân đội can thiệp vào mâu thuẫn càng lúc càng căng thẳng giữa Bắc Kinh và Tokyo. Tuy nhiên, một khi Trung Quốc khởi động hệ thống tên lửa chống hạm tầm xa và điều quân đội đến khu vực quần đảo tranh chấp, Washington có thể sẽ điều hai đội tàu sân bay đến biển Hoa Đông.
Mặc dù chương trình trên của CSIS chỉ mang tính mô phỏng, chuyên gia chiến lược Robert Haddick cho rằng viễn cảnh trên hoàn toàn có thể diễn ra trong thực tế, và "trong quá khứ lực lượng tàu chiến sân bay của Mỹ luôn là quân át chủ bài để chấm dứt tình trạng xung đột leo thang, bởi lực lượng này gần  như không có đối thủ".
Tuy nhiên, quân đội Trung Quốc trong những năm gần đây đã không ngừng nâng cao khả năng chống xâm nhập, trang bị hệ thống tên lửa chống hạm tầm xa nhằm đối phó với các hàng không mẫu hạm của Mỹ.
"Việc điều động một hoặc hai tàu sân bay trong tương lai không những không thể dẹp yên xung đột, thậm chí lại càng khuyến khích quân đội Trung Quốc tiến hành đánh trả", ông Haddick nhận định.
Mâu thuẫn không ngừng gia tăng giữa Bắc Kinh và Tokyo cũng chỉ là một khía cạnh trong quan hệ quốc tế phức tại khu vực Thái Bình Dương, bởi chính sự bất đồng trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc mới là yếu tố chính có thể dẫn đến tình trạng bất ổn trong khu vực.
Chiến lược quân sự tại châu Á-Thái Bình Dương của Washington được xây dựng bao gồm cả những tính toán về khả năng phát triển của quân đội Trung Quốc, trong khi đó chiến lược chống xâm nhập của Bắc Kinh nhằm mục tiêu cản trở khả năng can thiệp quân sự của Mỹ.  
"Đây chính là lý do khiến các chuyên gia lo sợ trước nguy cơ xung đột giữa Trung Quốc và Nhật Bản", Marcus kết luận.
Đức Dương (theo BBC)

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/nguy-co-xung-dot-gia-tang-o-bien-hoa-dong-2915501.html

Thứ ba, 26/11/2013




Tin tức / Hoa Kỳ

Mỹ điều máy bay thách thức vùng phòng không Trung Quốc

Các hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Hoa Đông mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư
Các hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Hoa Đông mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư
CỠ CHỮ- +
Mỹ cho biết đã cho 2 máy bay quân sự bay qua một khu vực tranh chấp ở Biển Hoa Đông mà không thông báo với Trung Quốc. Ðây là thách thức trực tiếp đầu tiên đối với nỗ lực thiết lập một khu vực thông báo phòng không của Bắc Kinh.

Giới chức Ngũ Giác Ðài hôm thứ Ba cho biết máy bay ném bom B-52 đã tham gia cuộc tập trận thường xuyên bên trên quần đảo tranh chấp hôm thứ Hai. Chưa có phản ứng tức thì từ phía Bắc Kinh.

Ðộng thái này theo sau những thông báo trước đó của Mỹ rằng máy bay quân sự của họ sẽ không xác định danh tính của mình theo các quy định mới của Trung Quốc.

Mỹ và Nhật Bản đã tuyên bố sẽ không công nhận vùng xác định phòng không mà trong đó Bắc Kinh muốn tất cả máy bay dân sự và quân sự phải xác định danh tính và chấp hành mệnh lệnh của Trung Quốc.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera hôm thứ Ba nói rằng Tokyo đang làm việc chặt chẽ với Washington và thực hiện mọi bước cần thiết để bảo vệ lãnh thổ Nhật Bản.

Mặc dù giới chức Mỹ và Nhật lên án động thái của Trung Quốc là khiêu khích, họ nhấn mạnh điều này sẽ không tác động đến cách thức hai nước làm việc trong khu vực.

Nhưng những quy định mới đang ảnh hưởng đến các chuyến bay thương mại của Nhật Bản. Một số hãng hàng không Nhật Bản cho biết họ giờ sẽ thông báo cho Trung Quốc khi máy bay của họ vào khu vực mới.

Việc thành lập khu vực mới này là sự kiện mới nhất trong một loạt những động thái làm gia tăng căng thẳng quanh các hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Hoa Đông mà Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư.

Từ mấy tháng nay Trung Quốc đã gửi máy bay và tàu tuần tra thường xuyên tới gần quần đảo vốn do Nhật Bản kiểm soát trên thực tế. Những hành động này làm dấy lên lo ngại vô tình xảy ra đụng độ.

Mỹ công nhận quyền kiểm soát Nhật Bản nhưng nói không có lập trường về chủ quyền "căn bản" của những đảo này. Tuy nhiên, Mỹ từng nói nhóm đảo nằm trong phạm vi hiệp ước phòng thủ chung mà theo đó Mỹ có bổn phận giúp đỡ Nhật Bản nếu nước này bị tấn công.


maandag 21 oktober 2013

Đồng bằng Sông Cửu Long đối mặt với nhiều thách thức

Đồng bằng Sông Cửu Long đối mặt với nhiều thách thức

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2013-10-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Vùng Khai Long, tỉnh Cà Mau trong khu vực hệ sinh thái rừng ngập mặn (với diện tích khoảng 230ha, thuộc ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển) đang bị sóng biển tàn phá từng ngày.
Vùng Khai Long, tỉnh Cà Mau trong khu vực hệ sinh thái rừng ngập mặn (với diện tích khoảng 230ha, thuộc ấp Khai Long, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển) đang bị sóng biển tàn phá từng ngày.
Source Đai Học An Giang (e-news)

Nghe bài này
Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, hiện đang đứng trước một số nguy cơ tác động đến khả năng cung cấp nguồn thủy sản, phù sa cho canh tác lúa, cây trồng …
Vậy những thách thức đó là gì? Dân chúng địa phương và cơ quan chức năng nhận biết những đổi thay ra sao và đang có những cách thức ứng phó thế nào?
Hai chuyên gia về Đồng bằng Sông Cửu Long, thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện và nghiên cứu sinh Lý văn Lợi, nhân dịp đến Bangkok dự buổi phát hành tập hai cuốn phim tài liệu Sông Mê kong, chủ đề Đồng Bằng Sông Cửu Long, dành cho biên tập viên Gia Minh cuộc nói chuyện về những đề tài vừa nêu.
Trước hết thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện nêu ra những thách thức mà khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam đang phải đối diện.
Ba mối đe dọa chính
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Đồng bằng Sông Cửu Long có mấy mối đe dọa. Mối đe dọa thứ nhất là biến đổi khí hậu liên quan đến nước biển dâng; thứ nữa là bản thân sự phát triển tại Đồng bằng Sông Cửu Long; thứ ba mối đe dọa đến từ thượng nguồn làm thủy điện. Trong ba mối đe dọa này thì tác động đến từ Sông Mê kong sẽ là nguy hiểm nhất vì theo tôi đánh giá những tác động đó sẽ là vĩnh viễn. Khi đã đắp đập xong rồi là vĩnh viễn, không thể sửa đổi lại được.
Còn những phát triển trong nội tại Đồng bằng Sông Cửu Long, mặc dù hiện nay có một số tác động từ những hoạt động chưa đúng, nhưng những hoạt động đó hoàn toàn có thể sửa đổi được như chuyện bao đê làm lúa vụ ba. Thực ra những đê bao này kích thước nhỏ và làm bằng đất, nên khi nhận ra tác động lớn hơn lợi ích thì việc sửa đổi hoàn toàn có thể làm được.
Còn biến đổi khí hậu và nước biển dâng thì theo dự báo nước biển dâng đến cuối thế kỷ này lên 100 centimet; có một tin xấu và một tin tốt. Tin xấu tức nước biển dâng là có thực vì đang dâng; biến đổi khí hậu cũng là chuyện có thật. Nhưng tin tốt là nước biển dâng hiện nay chỉ với tốc độ trung bình 3 milimet trong một năm. Tin nói đến cuối thế kỷ nước biển dâng lên 100 centimet không phải đến tháng sau, năm sau dâng lên như thế mà đó là một quá trình từ từ; tức chúng ta có đủ thời gian để thích nghi với nước biển dâng.
Mùa cấy lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Mùa cấy lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. AFP

Điểm mà tôi muốn nêu ra là trong ba thách thức như vừa nêu thì thách thức đến từ những hoạt động ở Sông Mê kong là nguy hiểm nhất bởi vì đó sẽ là những tác động vĩnh viễn và không thể sửa đổi được một khi mà đập đã đắp ngang sông rồi
thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện
Một điểm nữa kịch bản nước biển dâng dựa trên mô hình bằng máy tính, trong đó còn rất nhiều điều chưa chắc chắn, có thể tốc độ nước biển dâng tăng tốc lên và có thể không phải như vậy! Vì vấn đề nước biển dâng phải phụ thuộc rất nhiều kịch bản con ở trong ví dụ như kịch bản về mô hình phát triển của kinh tế thế giới đến cuối thế kỷ này như thế nào, phát triển theo kiểu toàn cầu hay phát triển theo kiểu khu vực, rồi kịch bản phát triển dân số thế giới như thế nào, rồi kịch bản phát triển kỹ thuật thế giới sẽ đi theo hướng kỹ thuật sạch hay không sạch… Như vậy sẽ tương ứng với mức phát thải mà chạy mô hình. Kiến thức của chúng ta về hệ khí hậu đâu phải hoàn chỉnh đâu. Cho nên việc nói nước biển dâng 100 centimet hay 98 centimet- điều đó có giá trị, nhưng chỉ giá trị ở chỗ cho mình biết khuynh hướng, chứ đừng tin dứt khoát phải là 98 hay 100 centimet.
Điểm mà tôi muốn nêu ra là trong ba thách thức như vừa nêu thì thách thức đến từ những hoạt động ở Sông Mê kong là nguy hiểm nhất bởi vì đó sẽ là những tác động vĩnh viễn và không thể sửa đổi được một khi mà đập đã đắp ngang sông rồi.
Gia Minh: Anh Lợi là người từng tiếp xúc với người dân thì anh thấy họ có nhận ra những thay đổi đối với sản xuất từ trước đến nay không?
Anh Lý Văn Lợi: Theo người dân tại Đồng bằng Sông Cửu Long, hiện đang có thay đổi. Họ không biết tác động do thủy điện vì chưa chắn dòng nên chưa thấy; nhưng chắc chắn họ biết khí hậu đang có sự thay đổi vì người làm lúa họ rất nhạy. Nếu năm nay mưa sớm hơn hay trễ hơn, lượng mưa kéo dài người ta đều biết. Vì thế người nông dân qua Hội  Nông dân kiến nghị lên trường Đại học Cần Thơ có những dự án làm thay đổi lịch thời vụ.
Trong quá trình làm cuốn phim, những người tôi tiếp xúc họ nhận được độ mặn, ví dụ mặn trên con sông có lúc xâm nhập mặn sâu hơn, có lúc ít hơn…
Theo người dân tại Đồng bằng Sông Cửu Long, hiện đang có thay đổi. Họ không biết tác động do thủy điện vì chưa chắn dòng nên chưa thấy; nhưng chắc chắn họ biết khí hậu đang có sự thay đổi vì người làm lúa họ rất nhạy. Nếu năm nay mưa sớm hơn hay trễ hơn, lượng mưa kéo dài người ta đều biết
Anh Lý Văn Lợi
Các nhà khoa học và biện pháp thích ứng
Gia Minh: Cơ quan chức năng và các nhà khoa học đã giúp cho người nông dân những gì để hạn chế những tác động do thay đổi như thế trong thời gian qua?
Hạn hán tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Hạn hán tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Anh Lý Văn Lợi: Sau khi phát hiện ra những tác động do các con đập trên thượng nguồn gây ra đối với Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có trên 80% làm nông nghiệp cần sử dụng nước ngọt mà nếu ở trên quản lý nguồn nước ngọt, ở dưới chịu rất nhiều; cho nên trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu. Như tiến sĩ Lê Anh Tuấn có hoạt động đánh giá tác động của những con đập thượng nguồn đến Đồng bằng Sông Cửu Long nhằm vận không người ta không xây đập nữa. Đối với hiện tượng biến đổi khí hậu hiện đang có nhiều hoạt động nghiên cứu để giúp người dân thích ứng, đơn cử như nghiên cứu giống lúa mới chịu mặn, chịu hạn; hay nghiên cứu lịch thời vụ cho phù hợp…
Gia Minh: Ngoài những công việc trước mắt như thế, những kịch bản đưa ra được giới khoa học tham gia ý kiến như thế nào?
Thạc sĩ Nguyễn Văn Thiện: Hiện nay phải khẳng định hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra là có thật và ảnh hưởng đến người dân. Các cơ quan Nhà nước đã nổ lực rất nhiều, kể cả những tổ chức phi chính phủ có những dự án giúp người dân nâng cao nhận thức nhằm tìm ra biện pháp thích ứng. Các nhà khoa học cũng có những nghiên cứu như nghiên cứu các giống chịu mặn, lịch canh tác…
Các cơ quan Nhà nước đã nổ lực rất nhiều, kể cả những tổ chức phi chính phủ có những dự án giúp người dân nâng cao nhận thức nhằm tìm ra biện pháp thích ứng. Các nhà khoa học cũng có những nghiên cứu như nghiên cứu các giống chịu mặn, lịch canh tác…
Thạc sĩ Nguyễn Văn Thiện
Nhưng một suy nghĩ chung của các nhà lãnh đạo và người dân tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long: bức tranh của Đồng bằng Sông Cửu Long rất phức tạp; tác động từ các nguồn rất phức tạp cho nên cách hay nhất là không áp dụng biện pháp nào đó theo kiểu ‘giật gân’ quá, ‘dục tốc, bất đạt’. Biến đổi khí hậu rất phức tạp và còn hàm chứa những điều không chắc chắn; và tác động từ những đập thủy điện ở thượng nguồn cũng thêm vào bức tranh đó những điều không chắc chắn nữa cho nên nếu chúng ta hành động gấp gáp việc gì đó, trong tương lai có thể sai lầm.
Lãnh đạo cũng như người dân tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long có suy nghĩ chung là nên dựa vào những thế mạnh của điều kiện tự nhiên Đồng bằng Sông Cửu Long, không nên tiến hành những cái can thiệp nào mang tính thay đổi căn bản điều kiện tự nhiên của Đồng bằng Sông Cửu Long. Điều nên nhớ nữa là người dân Đồng bằng Sông Cửu Long làm việc rất chăm chỉ và có khả năng thích nghi cao với những thay đổi. Lý do từ hồi cha ông đến đây mở đất nếu không có khả năng thích nghi cao thì không thể nào tồn tại trên đất này.
Khi nói về phương pháp thích ứng với những biến đổi trong tương lai thì có nhiều cách. Trong đó có những biện pháp công trình, có những biện pháp phi công trình.
Thích ứng còn là thích ứng theo, thay đổi theo chứ không phải kiên quyết chống lại, vì nếu kiên quyết chống lại từ từ sẽ mệt mỏi. Thay đổi theo, ví dụ chỗ đó có khả năng mặn, thì chuyển đổi hệ thống canh tác theo mặn. Tức không nên coi nước mặn chỉ là kẻ thù, có thể sau này chúng ta biến nó thành bạn, ví dụ nuôi tôm có thể lợi hơn
Thạc sĩ Nguyễn Văn Thiện
Nên nhớ một điểm nữa: thích ứng còn là thích ứng theo, thay đổi theo chứ không phải kiên quyết chống lại, vì nếu kiên quyết chống lại từ từ sẽ mệt mỏi. Thay đổi theo, ví dụ chỗ đó có khả năng mặn, thì chuyển đổi hệ thống canh tác theo mặn. Tức không nên coi nước mặn chỉ là kẻ thù, có thể sau này chúng ta biến nó thành bạn, ví dụ nuôi tôm có thể lợi hơn hồi còn nước ngọt làm lúa. Ý tôi muốn nói có nhiều cách thích ứng, chứ không phải kiên quyết xây thành trì kiên cố để chống lại. Ví dụ nếu làm đê biển chẳng hạn: tiền xây sẽ lớn và tác động môi trường cũng lớn nữa. Bản chất của bờ biển, trong giai đoạn 100 năm, thay đổi có những chỗ đi vào do sạt lở, có những chỗ đi ra do bồi, nếu là đê biển nhân tạo cố định là không đúng tự nhiên, và phương án này loại trừ áp dụng phương án khác; như thế trở thành một phương án cuối cùng và như vậy là hấp tấp.
Nên nhớ nền đất của Đồng bằng Sông Cửu Long do phù sa tạo nên, nó rất yếu, nếu xây dựng những công trình nặng sẽ bi lún, hư hỏng. Ngoài tiền xây, khoản duy tu bảo dưỡng, con cháu sau này phải bỏ ngân sách ra duy tu bảo dưỡng thường xuyên. Xây dựng đê biển khiến nước ngọt ra sát bờ biển, và một đê biển như thế tạo ra cảm giác an toàn giả, khi có thảm họa, đê biển không thể bảo vệ được gì mà lúc đó thiệt hại sẽ rất lớn. Biện pháp công trình xây đê còn có vấn đề: đê không để nước vào và cũng có chức năng không để nước ra, nước vào được rồi ở lại bên trong thì thiệt hại lớn hơn. Theo tôi nên có sự đa dạng các biện pháp, không nên tiến hành hấp tấp một phương pháp nào và loại trừ các phương pháp khác có thể gây ra những tác hại tiêu cực.
Gia Minh: Anh Lợi có thấy đóng góp gì của người dân vào những hướng như thế để thích ứng không?
Anh Lý Văn Lợi: Người dân qua thời gian họ biết ví dụ năm nay thất mùa, thì sang năm theo những thay đổi họ cũng phải thích ứng theo. Vấn đề hiện nay là kiến thức bản địa; ví dụ như lúa ma ( lúa nổi) lên theo lũ làm sao giữ được những giống lúa như thế.
Gia Minh: Cám ơn hai anh về cuộc nói chuyện vừa rồi.

donderdag 22 augustus 2013

Blogger Việt Nam thách thức chế độ độc đảng

Blogger VN thách thức chế độ độc đảng


Cập nhật: 10:25 GMT - thứ tư, 21 tháng 8, 2013

Sau những năm xung đột và khó khăn, Việt Nam dần nổi lên ở châu Á như nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhất. Nhưng những thay đổi xã hội và kinh tế hiện tại lại thách thức sự cai trị của nhà nước độc đảng, trong đó có sự phát triển sôi động của không gian blog. Chuyên gia về Việt Nam Jonathan London phân tích phản ứng của nhà nước với các blogger trong trường đấu chính trị đang thay đổi ở Việt Nam.
Hai thập niên trước, cứ 10,000 người Việt Nam mới có chưa đầy một cái điện thoại, một tỉ lệ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Ngày nay, ở đất nước 90 triệu dân, cứ mỗi 100 công dân thì lại đếm được tới 135 chiếc điện thoại.
Tỷ lệ tiếp cận Internet cũng đã cất cánh. Cứ ba người thì có hơn một người nối mạng so với tỉ lệ một trên 33 của một thập niên trước. Lịch sử rõ ràng đã tăng tốc ở Việt Nam, mang đến cả cơ hội và những rủi ro.
Tác động của internet đối với văn hóa chính trị của Việt Nam trở nên đột ngột và quan trọng. Cho tới gần đây, việc tiếp cận thông tin, tin tức, quan điểm không bị kiểm duyệt về Việt Nam vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quan chức có quyền.
Tình hình đã thay đổi sâu sắc. Có lẽ nổi bật nhất là việc viết blog về chính trị nay trở nên phổ biến ở Việt Nam, bất chấp những nỗ lực của nhà nước muốn nhổ rễ nó.
Hình thức viết blog chính trị ở Việt Nam cũng đa dạng.
Một số blogger có nguyện vọng thành nhà báo độc lập. Người khác lại tập trung vào các vụ scandal và đồn đoán, nhất là nếu chúng liên quan tới các đầu lĩnh chính trị của đất nước.
Những người khác quảng bá cho đối mới chính trị và cảnh ngộ của các tù nhân lương tâm đang dần tiều tụy trong nhà tù Việt Nam. Những người này được vô số blogger trên các trang mạng xã hội khác như Facebook tán thưởng và tham gia.
Khi họ bị bịt miệng, qua việc bắt bớ hay cách nào khác, lại có các blogger khác nhanh chóng thay thế và dồn dập cơn bão chỉ trích trên internet phản đối chiến thuật đàn áp của nhà nước.

Khát khao thay đổi

Lên tiếng về chính trị ở Việt Nam kèm theo nhiều rủi ro.
Trong năm qua, một số blogger đã chịu án tù dài theo luật hà khắc nhằm làm im tiếng các nhà bất đồng chính kiến và gieo sợ hãi trong dân chúng.
Điều kiện tù đày ở Việt Nam có thể khắc nghiệt. Trong tù, hành hạ thể xác và tinh thần – và cả chết sớm – là chuyện thường tình. Bên ngoài, phân biệt đối xử với người thân của họ cũng đã thành lệ.
Mời quý vị đến với Việt Nam của đầu thế kỷ 21, quốc gia chín mọng tiềm năng nhưng đang rạn nứt vì gánh nặng của một hệ thống chính trị không hiệu quả.
Một đất nước khao khát hiện đại nhưng chính nhà nước của nó lại thẳng tay trừng trị những kêu gọi thay đổi căn bản.
Các blogger của Việt Nam chỉ là một phần quan trọng của một chiến dịch chưa từng có, tuy vẫn chỉ tổ chức lỏng lẻo. Nó nhắm tới việc cổ động, thậm chí thuyết phục chính quyền độc đảng của Việt Nam thực hiện đổi mới chính trị một cách căn bản.
Bị miệt thị là “kẻ thù” và “thế lực thù địch” bởi những yếu tố bảo thủ trong chế độ, thường xuyên bị đe dọa, họ kiên quyết muốn thấy đất nước mình phát triển những thể chế xã hội càng đa nguyên, minh bạch và dân chủ.

Không còn giấu giếm

Chủ tịch Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Obama ở Nhà Trắng hồi tháng Bảy
Trong quá khứ, blogger của Việt Nam giấu mình dưới những cái tên giả trên mạng để tránh bị bắt và để bước một bước trước chính quyền.
Nhưng ngày càng có nhiều người Việt Nam lên mạng công khai để được lắng nghe. Họ vẫn tiến hành cẩn trọng nhưng với sự tự tin và quyết tâm.
Thực vậy, trong một thời gian ngắn, bất đồng chính kiến một cách công khai đã trở thành một đặc tính chắc chắn của xã hội Việt Nam. Văn hóa chính trị của đất nước này đã thay đổi trên những khía cạnh cơ bản.
Và công khai kêu gọi đổi mới cũng không chỉ dừng ở giới trẻ thạo công nghệ.
Đầu năm nay, 72 viên chức và nhà phân tích, còn làm việc và đã về hưu, công khai kêu gọi kết thúc chế độ độc đảng ở Việt Nam. Kiến nghị 72 là bước bạo dạn và tới nay đã có được 14.000 chữ ký, rất nhiều người trong số đó vẫn nằm trong bộ máy của đảng – nhà nước.
Mặc dù bị nhà nước bác bỏ, bản kiến nghị vẫn tự do lưu truyền trên mạng. Cuộc bàn luận công khai trên mạng đã là một bước ngoặt không tranh cãi được trong sự phát triển chính trị của đất nước.
Thế nhưng, những sự kiện trên không thể xảy ra nếu đã không có các thay đổi quan trọng trong chế độ.
Thực vậy, chính trị bên trong Đảng Cộng sản thường rất ảm đạm, thậm chí chán nản, nhưng đã trở thành thú vị, Nó thể hiện một mức độ bất trắc chưa từng thấy kể từ những năm 1940.
Chính trị bè phái mà đã kiềm giữ được trong quá khứ nay đã nhường chỗ cho một cuộc đấu tranh công khai, phản ánh cuộc khủng hoảng lãnh đạo.

Kinh tế trì trệ

Bản thân cuộc khủng hoảng này là sản phẩm của nhận thức rằng các nhóm lợi ích và sự kém cỏi trong đảng làm xói mòn tương lai của đất nước. Để hiểu được cuộc khủng hoảng này, người ta chỉ cần nhìn vào kinh tế.
Trong nhiều thập niên, Việt Nam là quốc gia nghèo nhất châu Á. Chiến tranh và cấm vận của Mỹ và Trung Quốc khiến đất nước này nhìn chung bị cô lập khỏi thương mại thế giới.
"Rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn."
Thế nhưng đổi mới thị trường cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990 làm bùng nổ tăng trưởng kinh tế. Lao động ở Việt Nam vẫn tương đối rẻ, cộng với việc gần với Trung Quốc và các thị trường Đông Á khác, và mối quan hệ ngày càng phát triển với châu Âu và châu Mỹ khiến đất nước này trở thành nam châm thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong giai đoạn này, Việt Nam đã cải thiện mức sống một cách đáng kể, dù không đồng đều.
Tuy nhiên trong 5 năm qua, quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam đã dần chậm lại do quản lý kinh tế sai lầm. Sai lầm quản lý là do các nhóm lợi ích mà sản phẩm chính của nó là trác táng và lãng phí.
Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn phát triển và sẽ tiếp tục phát triển ở tỉ lệ vừa phải, năng suất của nó khá yếu ớt. Những đổi mới được đề xướng từ thập niên 90 đã mất đi đà tiến.
Nhà nước thất bại trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản một cách đầy đủ, chẳng hạn như bế tắc trong cơ sở hạ tầng, nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng và minh bạch trong quản lý và điều tiết kinh tế.
Trong khi đó, quyền lực của nhà nước quá thường xuyên được những người đứng đầu sử dụng cho chính họ và đồng minh của họ. Đất nước trở nên bức bối.

Kiềm chế blog

Cho tới gần đây, câu trả lời thường lệ của chính quyền đối với các kêu gọi đổi mới là trấn áp. Điều này đã làm vấy tên tuổi của Việt Nam và làm yếu đi những nỗ lực tăng cường quan hệ với những quốc gia như Hoa Kỳ.
Không có dấu hiệu cho thấy các vụ đàn áp đang giảm đi. Nhưng nỗ lực công khai thuyết phục đổi mới cũng không giảm.
Nhưng liệu tình hình có đang đến lúc dầu sôi lửa bỏng?
Trong những tháng gần đây, chính quyền đã sử dụng Điều 258 bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định nhiều năm giam giữ đối với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” và xâm phạm “lợi ích nhà nước”.
Tháng trước, cảm thấy có cơ hội chính trị từ cuộc gặp giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, 103 blogger đã viết kiến nghị phản đối điều 258.
Chỉ vài ngày sau cuộc gặp, chính quyền Việt Nam ra Nghị định 72, sẽ có hiệu lực vào ngày 01/09.
Nghị định này có vẻ giới hạn chặt chẽ việc viết blog chính trị bằng cách cấm người dùng internet không được nhắc tới các “thông tin tổng hợp,” trích lại “thông tin từ các hãng thông tấn nhà nước hoặc các trang web,” hay “cung cấp thông tin chống Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc".
Nhưng mục tiêu chính xác mà nghị định nhắm tới và khả năng thi hành của nó vẫn không rõ ràng.

Tình hình khó đoán

Nhu cầu đọc tin qua internet ngày càng tăng
Chỉ vài tuần trước, một nhà hoạt động dũng cảm người Việt Nam kể lại cách cô trốn khỏi nhà từ 4:30 sáng để tránh bị công an giữ, để tham gia chiến dịch ủng hộ quyền chính trị.
Trong khi đó, hôm 13/08/2013, một nhóm nhỏ thanh niên Hà Nội, những người khá năng nổ về chính trị trên mạng, bị đàn áp bạo lực, điện thoại và máy tính xách tay của họ cũng bị tịch thu.
Cũng trong tuần đó, một nhân vật khá nổi trội của đảng Cộng sản thúc giục đồng đội trước kia của mình ra khỏi Đảng để cùng tham gia đảng Dân chủ - Xã hội mới chưa được thành lập.
Cuối tuần đó, trong một quyết định bất ngờ và kịch tính, nhà nước trên thực tế đã bỏ án tù nhiều năm đối với hai nhà hoạt động trẻ. Một người 21 tuổi, Phương Uyên, thậm chí còn được thả cho rời tòa, sau khi đã phê phán tòa án.
Những diễn biến như thế không bình thường ở Việt Nam. Nó cho thấy bộ máy nhà nước đang chịu áp lực khổng lồ và một khung cảnh chính trị mới thú vị và khó đoán trước đang đến.
Những thay đổi này nhắc tôi nhớ tới chính trị chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam gần một thế kỷ trước. Khi đó, những người Việt Nam yêu nước có địa vị khác nhau cùng họp lại để đấu tranh nhiều thập niên cho quyền tự quyết, nhiều tự do hơn và một nền kinh tế công bằng hơn.
Ngày nay, người Việt ở các tầng lớp khác nhau đang cùng đứng dậy cho rất nhiều lý tưởng tương tự. Nhưng họ phải giáp mặt với tầng lớp trên mà tính chính danh đã bị xói mòn vì đấu đá chính trị nội bộ, quản lý kinh tế sai lầm và các nhóm lợi ích.
Chính trị Việt Nam giờ dễ thay đổi. Liệu có xảy ra những thay đổi căn bản hay không thì chưa chắc chắn. Tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn.
Ở khắp các tầng lớp trong xã hội Việt Nam đang có khát khao thay đổi. Khát khao ấy không bắt nguồn từ các lực lượng thù địch mà từ những người Việt Nam khác nhau yêu đất nước của họ và muốn có tương lai tốt đẹp hơn càng sớm càng tốt.
Tác giả là giáo sư kinh tế chính trị so sánh, đang dạy ở Đại học Thành phố Hong Kong. Bấm Bản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên BBC News Online, trong một phần của Mùa Việt Nam trên truyền hình và trang web BBC tháng 8. Xem bài gần đây của ông trên BBC Tiếng Việt về 'Bấm cờ vàng'.


Thêm về tin này

maandag 19 augustus 2013

Làng nghề thay đổi và thách thức

Làng nghề thay đổi và thách thức

Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc dân tộc. Giờ đây, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa với thế giới, những làng nghề này cũng bắt đầu chuyển mình để thích nghi với nhịp sống mới đang dần dần xâm nhập vào cuộc sống của những người dân ở đây.
Việt Hà phóng viên RFA
2009-07-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Ngũ Hành Sơn có nghề tạc tượng đá
Ngũ Hành Sơn có nghề tạc tượng đá
Dolinh, RFA


Vậy những thay đổi nào đang diễn ra tại đây, và những thách thức nào mà các làng nghề đang phải đối mặt trong thời đổi mới? Việt Hà tìm hiểu và tường trình
Phát triển

Sự chuyển mình của Làng nghề

Theo thống kê của hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện Việt Nam có 2790 làng nghề, riêng ở Hà có 1,160 làng nghề. Rất nhiều trong số này đã có hàng trăm năm tuổi, có làng nghề đã 1,000 năm tuổi như làng nghề nổi tiếng Bát tràng.
Những làng nghề này giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ kinh tế hội nhập. Những thay đổi này vừa mang lại những điểm tích cực cho các làng nghề vừa mang lại những thách thức trong quá trình phát triển.

Theo thống kê của hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện Việt Nam có 2790 làng nghề, riêng ở Hà có 1,160 làng nghề. Rất nhiều trong số này đã có hàng trăm năm tuổi, có làng nghề đã 1,000 năm tuổi như làng nghề nổi tiếng Bát tràng.


Mở cửa, hội nhập, các làng nghề Việt Nam có cơ hội giới thiệu các sản phẩm của mình với khách nước ngoài. Đó là các sản phẩm truyền thống như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ. Đây chính là những mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước.
Điều này giúp tăng thu nhập cho các hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, đời sống kinh tế của người dân được cải thiện. Ông  Vũ Quốc Tuấn, chủ tịch hiệp hội làng nghề Việt Nam cho biết:
Vũ Quốc Tuấn: Bây giờ bình quân thu nhập nông thôn, những lao động có nghề tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ thì có thu nhập gấp 2 lần hoặc hơn 2 lần so với làng thuần nông.
Có tiền, người dân các làng nghề xây dựng lại nhà cửa khang trang hơn, và đóng góp để sửa sang đường xá, các công trình công cộng trong làng, khiến bộ mặt các làng nghề được đổi mới.

Mở cửa, hội nhập, các làng nghề Việt Nam có cơ hội giới thiệu các sản phẩm của mình với khách nước ngoài. Đó là các sản phẩm truyền thống như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ. Đây chính là những mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam trong nhiều năm qua,


Hội nhập cũng giúp các nghệ nhân, những người sản xuất ở các làng nghề Việt Nam được tiếp xúc với những kỹ thuật mới, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất, và bớt đi những vất vả cho họ trong quá trình sản xuất. Anh Tô Thanh Sơn, một nghệ nhân làm gốm tại làng Bát Tràng, Hà Nội, thành viên hội nghệ nhân thành phố cho biết:
Tô Thanh Sơn: những người làm lò hộp không làm được nữa, các lò thủ công, họ chuyển sang lò ga, hiện chúng tôi chuyển sang đốt lò ga tiết kiệm năng lượng, hiện có hơn 600 lò ga cả nhỏ lẫn lớn. Đỡ tốn nhiên liệu, thu hồi hàng hoá tỉ lệ cao hơn.
Thì đó là chương trình tiết kiệm năng lượng của thành phố hỗ trợ làng nghề.
Việc chuyển sang đốt lò ga như vậy cũng giúp làm giảm ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khoẻ cho người dân.

Các lò thủ công, họ chuyển sang lò ga, hiện chúng tôi chuyển sang đốt lò ga tiết kiệm năng lượng, hiện có hơn 600 lò ga cả nhỏ lẫn lớn. Đỡ tốn nhiên liệu, thu hồi hàng hoá tỉ lệ cao hơn.
Anh Tô Thanh Sơn


Hội nhập mà không mất bản sắc

Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức đầu tiên là việc duy trì bản sắc làng nghề, hội nhập mà không đánh mất bản sắc riêng.
Mặt trái của cơ chế thị trường là sự hội nhập một số những sản phẩm văn hoá không phù hợp với cuộc sống của nhưng người dân ở đây, ảnh hưởng đến đạo đức lối sống, thuần phong mỹ tục, các giá trị gia đình và làng xã.
Mặt khác nữa là quá trình đô thị hoá với quan điểm tấc đất tấc vàng. Ở một số nơi, người dân khi có tiền, xây nhà, bán đất rầm rộ cho những người từ địa phương khác đến. Sự phát triển này  không có quy hoạch từ chính quyền địa phương, đã làm xấu đi bộ mặt làng xã.

Tuy nhiên, cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức đầu tiên là việc duy trì bản sắc làng nghề, hội nhập mà không đánh mất bản sắc riêng.


Sự phát triển sản xuất tại các làng nghề cũng khiến môi trường bị ô nhiễm. Theo báo cáo hồi đầu năm nay của  Bộ Tài nguyên và Môi trường, thì các làng nghề ở Hà nội hàng ngày xả nước thải hoàn toàn chưa qua xử lý vào các con sông như sông  Nhuệ, sông Đáy khiến các con sông này trở nên ô nhiễm nghiêm trọng.
Ngoài ra còn những ô nhiễm khác trong làng nghề như ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nhiệt độ. Cũng theo báo cáo này thì tuổi thọ của người dân tại các làng nghề ô nhiễm giảm 10 tuổi so với tuổi thọ trung bình của cả nước.

Sự mai một của làng nghề

Có một số làng nghề ngày một mai một do sản phẩm của họ không dùng để xuất khẩu được, trong khi đó trong nước lại không có nhu cầu cao, hoặc những làng nghề sản xuất theo mùa vụ. Nhận xét về tình trạng này, anh Tô Thanh Sơn nói:

Hiện nay tình hình chung về hiệp hội làng nghề Việt nam thì 60% là có chiều hướng xu thoái nặng, nguyên nhân là có những nghề là mùa vụ chứ không truyền thống, ví dụ mùa mưa đan nón, cuối năm đi nặn tò he để bán cho du khách và cho các cháu.


Tô Thanh Sơn: Hiện nay tình hình chung về hiệp hội làng nghề Việt nam thì 60% là có chiều hướng xu thoái nặng, nguyên nhân là có những nghề là mùa vụ chứ không truyền thống, ví dụ mùa mưa đan nón, cuối năm đi nặn tò he để bán cho du khách và cho các cháu. Tức là họ vừa làm đồng rồi lại về nhà làm thêm.
Nói đến vấn đề mai một làng nghề truyền thống, không thể không nói đến hiện tượng các nghệ nhân đang dần lớn tuổi, trong khi các thanh niên trẻ giờ đây đang dời bỏ làng quê để ra thành phố kiếm tìm một cuộc sống mới hiện đại, với thu nhập cao hơn.
Ông Vũ Quốc Tuấn, chủ tịch hiệp hội làng nghề Việt Nam nói:
Vũ Quốc Tuấn: nghệ nhân thì đấy là một điều đáng lo vì nghệ nhân hầu hết là 70, 80 tuổi cả rồi, lâu nay mình ít quan tâm đến đời sống của họ.

Nói đến vấn đề mai một làng nghề truyền thống, không thể không nói đến hiện tượng các nghệ nhân đang dần lớn tuổi, trong khi các thanh niên trẻ giờ đây đang dời bỏ làng quê để ra thành phố kiếm tìm một cuộc sống mới hiện đại, với thu nhập cao hơn.

Có thực trạng là ở nông thôn Việt Nam bây giờ phần lớn là người đứng tuổi, trong làng nghề cũng vậy, có những làng nghề do tình hình kinh doanh không phát triển, thu nhập bị giảm sút nên thanh niên không mặn mà lắm với việc theo các nghề cũ ở các làng nghề, mà họ đi các nơi khác.
Hồi năm ngoái, bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được chính phủ giao xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam từ nay đến năm 2020 với một khoản đầu tư trên 11,000 tỷ đồng. Mục đích của dự án này là nhằm quy hoạch vùng nguyên liệu, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
Việt Nam hy vọng với việc thực hiện dự án này, những vấn đề lớn còn tồn tại ở các làng nghề sẽ được giải quyết, đồng thời giúp người làm nghề có thể sống ổn định và gìn giữ được những nét văn hoá độc đáo của làng nghề.


http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Changes-and-challenges-of-Vietnam-craftvillages-07202009163256.html

Việt Nam thiếu chế độ đãi ngộ xứng đáng cho nghệ nhân

Theo Unesco, nghệ nhân là các báu vật nhân văn sống. Ở Việt Nam, việc nhìn nhận, phong tặng danh hiệu cho các nghệ nhân cũng còn tương đối mới mẻ.
Việt Hà phóng viên RFA
2009-09-08
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này


Trong luật di sản văn hóa sửa đổi vừa được quốc hội thông qua năm nay, cũng có phần đề cập đến các nghệ nhân.  Nhà nước
Người thợ làng đá Non Nước
Người thợ làng đá Non Nước. Photo Dolinh RFA
thừa nhận những đóng góp to lớn của họ đối với đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế của đất nước. Trong thực tế, việc phong tặng nghệ nhân và chế độ đãi ngộ dành cho họ ra sao?

Nghệ nhân văn hóa phi vật thể và nghệ nhân mỹ nghệ

Luật di sản văn  hóa của Việt Nam ghi rõ nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ, và có công bảo vệ, phổ biến, truyền dạy di sản văn hóa. Nhưng trong thực tế việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân cũng như các chế độ đãi ngộ dành cho họ lại cho thấy nhiều vấn đề.
Luật di sản văn  hóa của Việt Nam ghi rõ nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ, và có công bảo vệ, phổ biến, truyền dạy di sản văn hóa.
Theo tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, phó cục trưởng cục di sản văn hóa, bộ văn hóa thể thao và du lịch, việc xét duyệt danh hiệu nghệ nhân có một số tiêu chí cơ bản. Một là phải có tài năng xuất sắc, thể hiện ở kiến thức mà nghệ nhân nắm giữ, như các bài bản hay trình độ kỹ thuật mà họ thể hiện. Hai là, phải có vai trò xứng đáng với cộng đồng, tức là họ phải có tài năng, nhưng phải có sự cống hiến, tham gia vào đới sống văn hóa cộng đồng.
Ở Việt Nam, có hai loại nghệ nhân. Một là các nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ. Hai là các nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể.
Đối với các nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, hay còn gọi là các nghệ nhân làng nghề thì danh hiệu nghệ nhân hoặc là do tự phong , hoặc là qua các cuộc thi do địa phương tổ chức. Anh Tô Thanh Sơn, một nghệ nhân gốm sứ ở làng Bát tràng kể về quy chế thi để được phong tặng danh hiệu này như sau:
Tô Thanh Sơn: phải qua thi trước hiệp hội gốm sứ, trước dân làng, giống như hội thi ở các làng khác như vật trâu, phải có các ban ngành quay phim chụp ảnh. Thành phố họ về, rồi các trường mỹ thuật, rồi các người trong ban nghệ nhân, các chú các anh là những người có uy tín trong các giới về chấm, quay phim, bình luận. Phải được thành phố công nhận, do đồng chí Chủ tịch, PHó Chủ tịch ký đấy là nghệ nhân.
Ở Việt Nam, có hai loại nghệ nhân. Một là các nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ. Hai là các nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể.
Theo anh Sơn cho biết thì các cuộc thi như vậy mới được làm thí điểm tại Hà nội vào năm 2003 và cứ định kỳ 2 năm 1 lần. Còn những nghệ nhân làng nghề từ trước năm 2003 thì là do các làng xã hoặc ban ngành nào đó tự phong cho nhau.
Anh Sơn cũng cho biết những cuộc thi để phong tặng danh hiệu như vậy mới chỉ làm thí điểm lần đầu tại Hà nội và vẫn chưa được tổ chức lại kể từ lần cuối vào năm 2006.
Việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân ở Việt Nam nhiều khi trùng lắp. Theo giáo sư Tô Ngọc Thanh, chủ tịch hội văn nghệ dân gian Việt nam thì sau khi hội khởi xướng việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian vào năm 2003 thì những đơn vị khác cũng đồng loạt bung ra các ‘nghệ nhân’.
Ví dụ liên minh các hợp tác xã Việt nam thì tổ chức trao tặng danh hiệu nghệ nhân bàn tay vàng. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thì ban tặng Nghệ nhân Hà nội. Rồi Bộ Văn hóa thể thao và du lịch thì có quy chế phong tặng nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú trong ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống.
Nhưng  mà bây giờ nghệ nhân nhân dân thì có được bảo hiểm y tế không, hàng thánh có được hưởng phụ cấp không, rồi họ được tôn vinh trong cộng đồng thế nào. Những chuyện như thế không cụ thể gì hết.
GS Tô Ngọc Thanh

Nhiều loại hình văn hóa và nghề truyền thống bị mai một

Thế nhưng việc phong tặng danh hiệu cao quý không đi cùng với việc được đãi ngộ tương ứng. Giáo sư Tô Ngọc Thanh giải thích:
Tô Ngọc Thanh: chúng ta cần phải cụ thể hóa, tức là định lượng hóa, các chủ trương. Ví dụ nhà nước đã có danh hiệu nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú, thế thì sử dụng hai cái danh hiệu như là nghệ sĩ, nhà giáo, và thầy thuốc là tốt rồi, nhưng  mà bây giờ nghệ nhân nhân dân thì có được bảo hiểm y tế không, hàng thánh có được hưởng phụ cấp không, rồi họ được tôn vinh trong cộng đồng thế nào. Những chuyện như thế không cụ thể gì hết.
Nghệ nhân Tô Thanh Sơn ở làng Bát tràng cho biết về những đãi ngộ mà một nghệ nhân như anh được hưởng như sau:
Tô Thanh Sơn: Hiện nay tôi là hội viên hội nghệ nhân thành phố Hà Nội, thì cũng được nhà nước đãi ngộ là trong những lần triển lãm thì được giảm giá, hỗ trợ tiền vận chuyển để đi xa triển lãm.
Thứ hai là hàng năm thì cũng có dịp đi thăm các làng nghề, học tập giao lưu với các làng nghề khác khoảng 2 hay 3 ngày. Hiện nay thì chẳng có gì ngoài mấy điều đó cả. Không có lương, bảo hiểm không.
Việc thiếu chế độ đãi ngộ xứng đáng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều loại hình văn hóa truyền thống, nghề truyền thống bị mai một.
Việc thiếu chế độ đãi ngộ xứng đáng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều loại hình văn hóa truyền thống, nghề truyền thống bị mai một.
Nhiều nghệ nhân không thể sống với nghề của mình. Đã có những nghệ nhân nhã nhạc cung đình Huế được Unesco tôn vinh phải chơi nhạc đám ma, đám hội để kiếm sống.
Còn thế hệ trẻ thì không muốn theo học nghề của cha ông vì sợ không kiếm sống được. Có những bộ môn văn hóa truyền thống như hát xoan, hát xẩm, vân vân không kiếm được học trò theo học.
Một số loại hình nghệ thuật truyền thống còn bị biến dạng do không có được sự đào tạo truyền nghề đúng cách từ các nghệ nhân thực sự. Còn ở các làng nghề truyền thống thì những người trẻ tuổi bỏ làng ra đi, và không muốn tiếp tục ở lại làng để học nghề, nối nghiệp của cha ông mình.
Nhiều nghệ nhân không thể sống với nghề của mình. Đã có những nghệ nhân nhã nhạc cung đình Huế được Unesco tôn vinh phải chơi nhạc đám ma, đám hội để kiếm sống.
Hồi giữa năm nay, quốc hội Việt Nam đã thông qua luật di sản văn hóa sửa đổi, trong đó Việt Nam đã công nhận danh hiệu nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú cho cả lĩnh vực văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, cho đến giờ, chế độ đãi ngộ dành cho họ vẫn chưa tương ứng.
Trong khi đó nói như giáo sư Tô Ngọc Thanh, chủ tịch hội văn nghệ dân gian thì các giá trị quý giá của văn hóa truyền thống Việt Nam đang nằm ở bờ vực mai một do các nghệ nhân ngày càng cao tuổi và qua đời dần dần. Có một số thể loại sẽ một đi không trở lại.