Posts tonen met het label Chế độ độc Đảng. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Chế độ độc Đảng. Alle posts tonen

donderdag 22 augustus 2013

Blogger Việt Nam thách thức chế độ độc đảng

Blogger VN thách thức chế độ độc đảng


Cập nhật: 10:25 GMT - thứ tư, 21 tháng 8, 2013

Sau những năm xung đột và khó khăn, Việt Nam dần nổi lên ở châu Á như nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhất. Nhưng những thay đổi xã hội và kinh tế hiện tại lại thách thức sự cai trị của nhà nước độc đảng, trong đó có sự phát triển sôi động của không gian blog. Chuyên gia về Việt Nam Jonathan London phân tích phản ứng của nhà nước với các blogger trong trường đấu chính trị đang thay đổi ở Việt Nam.
Hai thập niên trước, cứ 10,000 người Việt Nam mới có chưa đầy một cái điện thoại, một tỉ lệ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Ngày nay, ở đất nước 90 triệu dân, cứ mỗi 100 công dân thì lại đếm được tới 135 chiếc điện thoại.
Tỷ lệ tiếp cận Internet cũng đã cất cánh. Cứ ba người thì có hơn một người nối mạng so với tỉ lệ một trên 33 của một thập niên trước. Lịch sử rõ ràng đã tăng tốc ở Việt Nam, mang đến cả cơ hội và những rủi ro.
Tác động của internet đối với văn hóa chính trị của Việt Nam trở nên đột ngột và quan trọng. Cho tới gần đây, việc tiếp cận thông tin, tin tức, quan điểm không bị kiểm duyệt về Việt Nam vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quan chức có quyền.
Tình hình đã thay đổi sâu sắc. Có lẽ nổi bật nhất là việc viết blog về chính trị nay trở nên phổ biến ở Việt Nam, bất chấp những nỗ lực của nhà nước muốn nhổ rễ nó.
Hình thức viết blog chính trị ở Việt Nam cũng đa dạng.
Một số blogger có nguyện vọng thành nhà báo độc lập. Người khác lại tập trung vào các vụ scandal và đồn đoán, nhất là nếu chúng liên quan tới các đầu lĩnh chính trị của đất nước.
Những người khác quảng bá cho đối mới chính trị và cảnh ngộ của các tù nhân lương tâm đang dần tiều tụy trong nhà tù Việt Nam. Những người này được vô số blogger trên các trang mạng xã hội khác như Facebook tán thưởng và tham gia.
Khi họ bị bịt miệng, qua việc bắt bớ hay cách nào khác, lại có các blogger khác nhanh chóng thay thế và dồn dập cơn bão chỉ trích trên internet phản đối chiến thuật đàn áp của nhà nước.

Khát khao thay đổi

Lên tiếng về chính trị ở Việt Nam kèm theo nhiều rủi ro.
Trong năm qua, một số blogger đã chịu án tù dài theo luật hà khắc nhằm làm im tiếng các nhà bất đồng chính kiến và gieo sợ hãi trong dân chúng.
Điều kiện tù đày ở Việt Nam có thể khắc nghiệt. Trong tù, hành hạ thể xác và tinh thần – và cả chết sớm – là chuyện thường tình. Bên ngoài, phân biệt đối xử với người thân của họ cũng đã thành lệ.
Mời quý vị đến với Việt Nam của đầu thế kỷ 21, quốc gia chín mọng tiềm năng nhưng đang rạn nứt vì gánh nặng của một hệ thống chính trị không hiệu quả.
Một đất nước khao khát hiện đại nhưng chính nhà nước của nó lại thẳng tay trừng trị những kêu gọi thay đổi căn bản.
Các blogger của Việt Nam chỉ là một phần quan trọng của một chiến dịch chưa từng có, tuy vẫn chỉ tổ chức lỏng lẻo. Nó nhắm tới việc cổ động, thậm chí thuyết phục chính quyền độc đảng của Việt Nam thực hiện đổi mới chính trị một cách căn bản.
Bị miệt thị là “kẻ thù” và “thế lực thù địch” bởi những yếu tố bảo thủ trong chế độ, thường xuyên bị đe dọa, họ kiên quyết muốn thấy đất nước mình phát triển những thể chế xã hội càng đa nguyên, minh bạch và dân chủ.

Không còn giấu giếm

Chủ tịch Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Obama ở Nhà Trắng hồi tháng Bảy
Trong quá khứ, blogger của Việt Nam giấu mình dưới những cái tên giả trên mạng để tránh bị bắt và để bước một bước trước chính quyền.
Nhưng ngày càng có nhiều người Việt Nam lên mạng công khai để được lắng nghe. Họ vẫn tiến hành cẩn trọng nhưng với sự tự tin và quyết tâm.
Thực vậy, trong một thời gian ngắn, bất đồng chính kiến một cách công khai đã trở thành một đặc tính chắc chắn của xã hội Việt Nam. Văn hóa chính trị của đất nước này đã thay đổi trên những khía cạnh cơ bản.
Và công khai kêu gọi đổi mới cũng không chỉ dừng ở giới trẻ thạo công nghệ.
Đầu năm nay, 72 viên chức và nhà phân tích, còn làm việc và đã về hưu, công khai kêu gọi kết thúc chế độ độc đảng ở Việt Nam. Kiến nghị 72 là bước bạo dạn và tới nay đã có được 14.000 chữ ký, rất nhiều người trong số đó vẫn nằm trong bộ máy của đảng – nhà nước.
Mặc dù bị nhà nước bác bỏ, bản kiến nghị vẫn tự do lưu truyền trên mạng. Cuộc bàn luận công khai trên mạng đã là một bước ngoặt không tranh cãi được trong sự phát triển chính trị của đất nước.
Thế nhưng, những sự kiện trên không thể xảy ra nếu đã không có các thay đổi quan trọng trong chế độ.
Thực vậy, chính trị bên trong Đảng Cộng sản thường rất ảm đạm, thậm chí chán nản, nhưng đã trở thành thú vị, Nó thể hiện một mức độ bất trắc chưa từng thấy kể từ những năm 1940.
Chính trị bè phái mà đã kiềm giữ được trong quá khứ nay đã nhường chỗ cho một cuộc đấu tranh công khai, phản ánh cuộc khủng hoảng lãnh đạo.

Kinh tế trì trệ

Bản thân cuộc khủng hoảng này là sản phẩm của nhận thức rằng các nhóm lợi ích và sự kém cỏi trong đảng làm xói mòn tương lai của đất nước. Để hiểu được cuộc khủng hoảng này, người ta chỉ cần nhìn vào kinh tế.
Trong nhiều thập niên, Việt Nam là quốc gia nghèo nhất châu Á. Chiến tranh và cấm vận của Mỹ và Trung Quốc khiến đất nước này nhìn chung bị cô lập khỏi thương mại thế giới.
"Rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn."
Thế nhưng đổi mới thị trường cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990 làm bùng nổ tăng trưởng kinh tế. Lao động ở Việt Nam vẫn tương đối rẻ, cộng với việc gần với Trung Quốc và các thị trường Đông Á khác, và mối quan hệ ngày càng phát triển với châu Âu và châu Mỹ khiến đất nước này trở thành nam châm thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong giai đoạn này, Việt Nam đã cải thiện mức sống một cách đáng kể, dù không đồng đều.
Tuy nhiên trong 5 năm qua, quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam đã dần chậm lại do quản lý kinh tế sai lầm. Sai lầm quản lý là do các nhóm lợi ích mà sản phẩm chính của nó là trác táng và lãng phí.
Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn phát triển và sẽ tiếp tục phát triển ở tỉ lệ vừa phải, năng suất của nó khá yếu ớt. Những đổi mới được đề xướng từ thập niên 90 đã mất đi đà tiến.
Nhà nước thất bại trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản một cách đầy đủ, chẳng hạn như bế tắc trong cơ sở hạ tầng, nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng và minh bạch trong quản lý và điều tiết kinh tế.
Trong khi đó, quyền lực của nhà nước quá thường xuyên được những người đứng đầu sử dụng cho chính họ và đồng minh của họ. Đất nước trở nên bức bối.

Kiềm chế blog

Cho tới gần đây, câu trả lời thường lệ của chính quyền đối với các kêu gọi đổi mới là trấn áp. Điều này đã làm vấy tên tuổi của Việt Nam và làm yếu đi những nỗ lực tăng cường quan hệ với những quốc gia như Hoa Kỳ.
Không có dấu hiệu cho thấy các vụ đàn áp đang giảm đi. Nhưng nỗ lực công khai thuyết phục đổi mới cũng không giảm.
Nhưng liệu tình hình có đang đến lúc dầu sôi lửa bỏng?
Trong những tháng gần đây, chính quyền đã sử dụng Điều 258 bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định nhiều năm giam giữ đối với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” và xâm phạm “lợi ích nhà nước”.
Tháng trước, cảm thấy có cơ hội chính trị từ cuộc gặp giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, 103 blogger đã viết kiến nghị phản đối điều 258.
Chỉ vài ngày sau cuộc gặp, chính quyền Việt Nam ra Nghị định 72, sẽ có hiệu lực vào ngày 01/09.
Nghị định này có vẻ giới hạn chặt chẽ việc viết blog chính trị bằng cách cấm người dùng internet không được nhắc tới các “thông tin tổng hợp,” trích lại “thông tin từ các hãng thông tấn nhà nước hoặc các trang web,” hay “cung cấp thông tin chống Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc".
Nhưng mục tiêu chính xác mà nghị định nhắm tới và khả năng thi hành của nó vẫn không rõ ràng.

Tình hình khó đoán

Nhu cầu đọc tin qua internet ngày càng tăng
Chỉ vài tuần trước, một nhà hoạt động dũng cảm người Việt Nam kể lại cách cô trốn khỏi nhà từ 4:30 sáng để tránh bị công an giữ, để tham gia chiến dịch ủng hộ quyền chính trị.
Trong khi đó, hôm 13/08/2013, một nhóm nhỏ thanh niên Hà Nội, những người khá năng nổ về chính trị trên mạng, bị đàn áp bạo lực, điện thoại và máy tính xách tay của họ cũng bị tịch thu.
Cũng trong tuần đó, một nhân vật khá nổi trội của đảng Cộng sản thúc giục đồng đội trước kia của mình ra khỏi Đảng để cùng tham gia đảng Dân chủ - Xã hội mới chưa được thành lập.
Cuối tuần đó, trong một quyết định bất ngờ và kịch tính, nhà nước trên thực tế đã bỏ án tù nhiều năm đối với hai nhà hoạt động trẻ. Một người 21 tuổi, Phương Uyên, thậm chí còn được thả cho rời tòa, sau khi đã phê phán tòa án.
Những diễn biến như thế không bình thường ở Việt Nam. Nó cho thấy bộ máy nhà nước đang chịu áp lực khổng lồ và một khung cảnh chính trị mới thú vị và khó đoán trước đang đến.
Những thay đổi này nhắc tôi nhớ tới chính trị chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam gần một thế kỷ trước. Khi đó, những người Việt Nam yêu nước có địa vị khác nhau cùng họp lại để đấu tranh nhiều thập niên cho quyền tự quyết, nhiều tự do hơn và một nền kinh tế công bằng hơn.
Ngày nay, người Việt ở các tầng lớp khác nhau đang cùng đứng dậy cho rất nhiều lý tưởng tương tự. Nhưng họ phải giáp mặt với tầng lớp trên mà tính chính danh đã bị xói mòn vì đấu đá chính trị nội bộ, quản lý kinh tế sai lầm và các nhóm lợi ích.
Chính trị Việt Nam giờ dễ thay đổi. Liệu có xảy ra những thay đổi căn bản hay không thì chưa chắc chắn. Tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn.
Ở khắp các tầng lớp trong xã hội Việt Nam đang có khát khao thay đổi. Khát khao ấy không bắt nguồn từ các lực lượng thù địch mà từ những người Việt Nam khác nhau yêu đất nước của họ và muốn có tương lai tốt đẹp hơn càng sớm càng tốt.
Tác giả là giáo sư kinh tế chính trị so sánh, đang dạy ở Đại học Thành phố Hong Kong. Bấm Bản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên BBC News Online, trong một phần của Mùa Việt Nam trên truyền hình và trang web BBC tháng 8. Xem bài gần đây của ông trên BBC Tiếng Việt về 'Bấm cờ vàng'.


Thêm về tin này

maandag 29 juli 2013

Chế độ độc Đảng và Lê Duẩn

Tuesday, July 30, 2013


Chế độ độc Đảng và những Quái thai Lê Duẩn

QLB 
Lê Duẩn - một người mà người ta nói rằng Tội lỗi của ông ta đối với dân tộc chất cao như Núi. Nhưng dưới một chế độ độc Đảng đã cho phép ông ta bưng bít tất cả những mảng đen bản thỉu trong cuộc đời chính trị của ông ta.

Từ sự nướng quân của Tết Mậu thân năm 1968 khiến hàng triệu triệu sinh mạng người lính nằm xuống một cách ngớ ngẩn, vô lý để rồi sau đó cũng chính Lê Duẩn đã chỉ thị không được phép báo tử ngay cho gia đình liệt sĩ và buộc phải đổi lại năm mất khiến hàng trăm ngàn chiến sĩ đã chết dưới tay ông ta nhưng đến ngày giỗ của mình cũng 'KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG' 'cơm canh, rượu thịt' bởi người thân đâu biết được chính xác ngày mất để gọi hồn?


Có ở đâu ngoài cái chế độ độc Đảng với con quái thai như Lê Duẩn đã nghĩ ra cả những trò lừa dối đến cả xác chết cũng không được yên thân vậy?  Người ta nói đúng: Chẳng có gì mà chế độ độc Đảng của cộng sản không dám làm.

Rồi sau đó, cũng chính Lê Duẩn đã bắt những người lính phải mở lại con đường lên K9 do chính ông ta hạ lệnh lấp lại sau khi đưa Hồ Chí Minh lên đó giam lỏng, nay lại được chính Lê Duẩn 'đón' về Ba Đình để viết bài thơ uý lạo, lừa bịp toàn dân tộc che dấu tội lỗi tày dình nướng 'thịt người' của Lê Duẩn.

"Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến CHẮC còn thắng to
Vì Độc lập - Vì tự do
......."

Rồi Thái Nguyên. Lạng Sơn, Cao Bằng ... đã bị tàn phá, hàng trăm ngàn người dân mất nhà cửa, bị giết hại bởi giặc Tàu cũng chính bởi sự ngạo mạn và ngu xuẩn của Đảng trưởng Lê Duẩn khi dám đạp bàn tại Trung Nam Hải cao ngạo "Chúng tôi đã đánh thắng Mỹ, Mỹ chỉ là con Hổ giấy"!

Nhưng hậu quả tột đỉnh của Lê Duẩn chính là việc giải tán Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Chính tội lỗi này của Lê Duẩn đã gây mầm hoạ đến tận hôm nay cả dân tộc đang phải gánh chịu hậu quả, đang phải rên xiết dưới sự áp bức, thống trị, sự mục ruỗng, thối nát của chế độ độc Đảng đã chuyển hoá sang giai đoạn thối rữa, mục ruỗng bởi tham nhũng, bởi độc tài, phát xít. Đến hôm nay Đảng cộng sản Việt Nam không phải chỉ có mổ con quái thai Lê Duẩn mà nó đã hoành hành sản sinh ra hàng loạt quái thai như X, như Y.... Đó là hệ quả tất yếu của một chế độ độc Đảng...

Dù bưng bít nửa thế kỷ, nhưng cái gì của Lịch sử cũng sẽ trả về cho lịch sử. Ngày hôm nay chế độ độc Đảng tham nhũng tàn bạo với nhân dân, bóp nghẹt dân chủ, quỳ gối cầu vinh rồi cũng sẽ đến ngày nhân dân lôi ra ánh sáng. Cái ngày đó rồi sẽ đến cũng như chính Lê Duẩn có khi nào biết được rồi có một ngày 90 triệu người dân Việt Nam đã lôi ông ta từ dưới mồ lên để chịu tội cho những gì ông ta đã làm với cả dân tộc Việt Nam ta...

Muốn biết được một phần tội lỗi của Lê Duẩn, hãy đọc sách
Lê Duẩn và 'chiến tranh vì hòa bình'

Pierre Asselin
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Honolulu

Cập nhật: 08:11 GMT - thứ hai, 29 tháng 7, 2013

Vai trò của Lê Đức Thọ trong chính trị miền Bắc tương tự Henry Kissinger ở Mỹ?

Cuốn sách Hanoi's War (Cuộc chiến của Hà Nội) của Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng (tựa đề đầy đủ: Cuộc chiến của Hà Nội: một Biên khảo Sử học Quốc tế về Cuộc chiến tranh vì Hòa bình ở Việt Nam, NXB Đại học North Carolina, 2012) đưa ra bằng chứng và kiến giải tươi mới về các khía cạnh chính trị, ngoại giao và quân sự then chốt về cuộc chiến Việt Nam.

Nhờ tham khảo rất nhiều tài liệu tiếng Việt, bao gồm các nguồn sử liệu gốc thu thập từ Việt Nam, cuốn sách đã phân tích tư duy chiến lược của ban lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào giai đoạn thập niên trước và sau cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào năm 1965.

Một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của cuốn sách là số lượng chi tiết mà nó cung cấp về Đảng Lao động Việt Nam, cơ quan quyền lực của cộng sản kiểm soát miền Bắc. Tôi chưa được biết tới một nguồn tư liệu bằng tiếng Anh nào có thể l‎ý giải công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng cơ chế ra quyết định về chiến tranh của Hà Nội, tốt hơn là cuốn sách này.

Cuốn sách cũng đề cập các tranh cãi, cạnh tranh cừu thù trong nội bộ Đảng Lao Động, một giai đoạn từ trước tới nay vẫn còn yếu kém về tư liệu. Cuốn sách đặc biệt tỏ ra khéo léo trong việc trình bày các chia rẽ nội bộ Đảng sau khi ký kết hiệp định Geneva 1954 kết thúc chiến tranh Pháp-Việt Nam (1946-1954).
'Giải phóng' miền Nam

Một số đảng viên đảng Cộng sản, trong đó có nhiều người hoạt động ở miền Nam Việt Nam, lặng lẽ lên án quyết định của lãnh đạo cấp cao chấp nhận hiệp định và kêu gọi đình chỉ các chiến dịch quân sự và phân chia đất nước. Những đảng viên này cho rằng việc kết thúc chiến tranh sớm là hèn nhát, và họ nghĩ thật ngây thơ khi giả định rằng hai năm sau, sẽ có thống nhất đất nước trong hòa bình.

Khi rõ ràng là tổng tuyển cử sẽ không bao giờ thành hiện thực, ban lãnh đạo Đảng đã phải quyết định liệu (1) có chờ đợi các sự kiện ở miền Nam và tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc mà Đảng đã được thực hiện ngay sau khi ký kết hiệp định Geneva hoặc (2) theo đuổi "giải phóng" miền Nam bằng vũ lực vốn chịu nguy cơ khiêu chiến với Hoa Kỳ.
"Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ."

Thế tiến thoái lưỡng nan này phân chia giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và các thành viên quan trọng khác thành hai phe đối địch, gồm phe ủng hộ lựa chọn thứ nhất và phe còn lại hậu thuẫn phương án sau. Cuốn “Cuộc chiến của Hà Nội” không chỉ đề cập sự phân cực, chia rẽ mà còn đề cập cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực ở thủ đô Bắc Việt.

Mặc dù một số học giả từ lâu đã nhận ra điều này và trên thực tế trước đây đã đề cập vấn đề này trong các tác phẩm của mình, nhiều độc giả vẫn ngạc nhiên khi biết rằng ông Hồ Chí Minh đã không còn là nhân vật trung tâm ở Hà Nội vào thời điểm cuộc chiến với Hoa Kỳ nổ ra.

Ông Hồ đã luôn là khuôn mặt biểu tượng của cách mạng Việt Nam, một điều chắc chắn, thế nhưng các cá thể khác ít được biết đến hơn thì lại thực sự nắm quyền quyết định ở Bắc Việt vào năm 1965.

Nổi bật trong số này, như trình bày của tác giả, là Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động, và vị phó trung thành của ông, Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đầy quyền lực của Đảng.

Với sự hậu thuẫn từ ông Thọ, sử dụng các thủ đoạn lèo lái, lừa dối, và các chiến thuật, Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ. Ông Duẩn tạo lập một cấu trúc điều hành cho phép ông ta có thể độc chiếm quyền lực chính trị, trở thành một nhà độc tài, và đưa Bắc Việt tiến vào con đường đụng độ chiến tranh với Hoa Kỳ.

Tác giả sách đưa ra một so sánh thú vị - và hợp lý - giữa cặp Duẩn – Thọ với bộ đôi phía Mỹ. Giống như Tổng thống Mỹ Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, lèo lái hoạch định các chính sách đối ngoại quan trọng dưới bức màn bí mật, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cũng làm điều tương tự ở Bắc Việt.

Theo tác giả, bước đường "chiến tranh vì hòa bình" của Hà Nội đều do Lê Duẩn hoạch định. Sự thiếu niềm tin của ông vào ngoại giao, quyết tâm của ông dùng bạo lực để "giải phóng" miền Nam, và niềm tin vào chiến thắng tất yếu của một chiến lược cách mạng giải thích việc Hà Nội, trong thời gian dài, cứng rắn cự tuyệt đàm phán nghiêm túc với Washington mà lại tìm kiếm thắng lợi bằng các phương tiện quân sự.

'Niềm tin sai lầm'

"Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ."

Niềm tin sai lầm của Lê Duẩn, theo tác giả, ít nhất phải chịu phần nào trách nhiệm về "những thương vong lớn" cho người Việt Nam ở cả hai bên vĩ tuyến mười bảy trong cuộc chiến tranh. Đây là một điểm rất quan trọng. Đối với nhiều người Mỹ và cả các học giả Hoa Kỳ, lâu nay họ xem xét cuộc chiến Việt Nam với một con mắt phê phán cho rằng chính các quyết định của chính quyền Hoa Kỳ đã đẩy Hà Nội đi tới những bi kịch do xung đột. Cuộc chiến tranh đã được sách vở Mỹ mô tả với các cách thức khác nhau như "chiến tranh Lyndon Johnson" và "chiến tranh Việt Nam của Nixon ", điều cho thấy rằng người Việt Nam ít chủ động hơn nhiều trong cuộc chiến so với người Mỹ. Cuốn "Cuộc chiến của Hà Nộ"i đã khắc phục sự mất cân bằng trong nhận thức, ít nhất, cho thấy chính Hà Nội, mà không phải là Washington, đã dàn trận các trận đánh đẫm máu nhất của cuộc chiến tranh, bao gồm cả trận Tết Mậu Thân 1968 và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1972.

Như tất cả các chuyên khảo đầy tham vọng, tác giả cũng mắc một số lỗi và thiếu sót nhất định. Trong phần đầu của cuốn sách, tác giả viết rằng "bộ máy chiến tranh" của Hà Nội đã được "kích hoạt" vào cuối năm 1961. Bằng chứng hiện hữu cho thấy sự tiêu diệt quân lực của chính quyền Sài Gòn không trở thành mối ưu tiên chiến lược đối với Hà Nội cho đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IX vào cuối năm 1963.

Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới chỉ ra rằng trong khi phát động Chiến dịch Linebacker II, hay còn gọi là đợt "đánh bom Giáng sinh" vào Hà Nội và Hải Phòng, hồi tháng 12/1972, Nixon đã tìm cách chuyển thông điệp của ông nhằm đạt được "hòa bình trong danh dự" cho Hà Nội, mà không quan tâm đến phản ứng của Sài Gòn. Đó là, các vụ đánh bom vào tháng 12/1972 chỉ nhằm mục tiêu thuyết phục Hà Nội tiếp tục các cuộc đàm phán hòa bình bị đình chỉ và thừa nhận trên hai vấn đề còn lại để một thỏa thuận có thể được hoàn tất, nó không hề có ‎ý mong ông Thiệu tuân theo một giải pháp thương lượng.

Mặc dù có những thiếu sót nhỏ, cuốn ‘Cuộc chiến của Hà Nội’ là một công trình học thuật xuất sắc. Các sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam phải đọc cuốn sách này.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Phó Giáo sư sử học tại Hawaii Pacific University ở Honolulu, người có nhiều công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuốn "Một nền hòa Bình cay đắng: Washington, Hà Nội, và sự hình thành của Hiệp định Paris," "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội nghị Genève 1954: Một phê bình xét lại" trong Lịch sử Chiến tranh Lạnh...

BBC