Posts tonen met het label Hồ Tập Chương. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Hồ Tập Chương. Alle posts tonen

vrijdag 25 oktober 2013

Thật giả khi nghiên cứu Hồ Chí Minh (Vũ Thư Hiên)

Thật giả khi nghiên cứu Hồ Chí Minh


Cập nhật: 08:09 GMT - thứ tư, 25 tháng 9, 2013

Media Player

Nhà văn Vũ Thư Hiên, có thời gian ở gần lãnh tụ Hồ Chí Minh, bác bỏ lập luận rằng có một người Đài Loan đóng giả nhà cách mạng.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Nhà văn Vũ Thư Hiên, có thời gian ở gần lãnh tụ Hồ Chí Minh, bác bỏ lập luận rằng có một người Đài Loan đóng giả nhà cách mạng Việt Nam.
Cuộc đời của lãnh tụ lớn nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam được cho là vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được biết đến.
Một bộ phận dư luận người Việt hiện vẫn bàn luận về một cuốn sách của tác giả Đài Loan, Hồ Chí Minh sinh bình khảo, in năm 2008.
Trong sách này, tác giả Hồ Tuấn Hùng viết nhân vật Nguyễn Ái Quốc đã qua đời năm 1932 ở Liên Xô.
Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, một người Đài Loan, thay thế và lấy tên Hồ Chí Minh.
Nhưng từ Paris, nhà văn Vũ Thư Hiên, một nhà bất đồng chính kiến, nói lập luận trong sách là "tào lao".
Cha ông Hiên là Vũ Đình Huỳnh, thư ký của Hồ Chí Minh, và khi còn trẻ, ông Hiên có thời gian ở gần nhà lãnh tụ.
Ông Hiên nói lập luận của tác giả Đài Loan "không xứng đáng cho tiểu thuyết giả tưởng".

dinsdag 1 oktober 2013

Nhận định về mục đích của cuốn “Sinh bình Khảo” nói Hồ Chí Minh là người Ðài Loan

Nhận định về mục đích của “Sinh bình Khảo”
Nhóm Hành Khất (Danlambao) - “Thần tượng Cha già dân tộc vĩ đại” được Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, bằng những tư liệu, lập luận, và minh chứng, đã có khả năng “đồng hóa” một “Cha già dân tộc Việt Nam” trở thành một “Cha già dân tộc Việt-Tàu” mà cho đến nay, năm 2013, sau khoảng 5 năm cuốn sách “Sinh bình Khảo” được ấn hành, những nhà trí thức của Đảng không có thể viết nổi một cuốn sách phản lý luận - mặc dù họ luôn luôn cho rằng tư liệu của Đảng đầy kho lưu trữ. Thậm chí không có đến một bài viết vài trang để bày tỏ phản ứng về “niềm tự hào” của Đảng về “Cha già dân tộc” của mình. Tại sao???

*

“Sinh bình Khảo” của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, người Đài Loan, vào năm 2008 được lan rộng bên Trung Quốc, không riêng gì Đài Loan - một bán đảo nằm ở đông nam Trung cộng, chỉ thành lập đất nước từ tháng 12/1949 và cũng đang tham gia liên kết với Trung cộng vào việc chiếm hữu một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà họ cũng cho là thuộc quyền Đài Loan. Vấn đề đặt ra là “có phải chăng Trung Cộng có mục đích nào đó trong việc phát hành rộng rãi cuốn sách Sinh bình Khảo”?

Đối với một nước dưới chế độ độc tài Cộng sản, vấn đề ấn hành sách báo, dĩ nhiên, phải nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cầm quyền, nhất là những vấn đề liên quan đến chính trị. Sự kiện của “Sinh bình Khảo”, quả thật, không đơn giản chỉ là một nhận định về tiểu sử - mà lại là tiểu sử của người khai sinh Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh, một biểu tượng tuyệt đối “thần thánh” đối với những đảng viên Cộng sản Việt Nam, cũng như hầu hết người dân miền Bắc, một số không nhỏ những người dân miền Trung và Nam.

“Thần tượng Cha già dân tộc vĩ đại” đó được Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, bằng những tư liệu, lập luận, và minh chứng, đã có khả năng “đồng hóa” một “Cha già dân tộc Việt Nam” trở thành một “Cha già dân tộc Việt-Tàu” mà cho đến nay, năm 2013, sau khoảng 5 năm cuốn sách “Sinh bình Khảo” được ấn hành, những nhà trí thức của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không sao có thể viết nổi một cuốn sách phản lý luận của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng - mặc dù họ luôn luôn cho rằng tư liệu của Đảng đầy kho lưu trữ, ngay cả với bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” được tái bản và tăng thêm 3 tập vào tháng 5/2011. Thậm chí không có đến một bài viết vài trang để bày tỏ phản ứng về “niềm tự hào” của Đảng về “Cha già dân tộc” của mình. Tại sao???

Với tư liệu đầy ắp trong bộ sách 15 cuốn tiêu biểu nhất của Đảng không đủ để đưa ra một lý luận vững chắc đối lại “một cuốn sách chỉ khoảng 180 trang” sao? Đó là chưa nói đến hàng trăm cuốn sách khác của nhiều tác giả “sử gia” của Đảng mà tiêu biểu đương thời nhất là Dương Trung Quốc, cũng không thể phản luận sao? Và tại sao một tiểu sử của một người lại có nhiều... mờ ám đến như vậy? Ngay cả nhà tham khảo nghiên cứu Villiam J. Duiker, một học giả người Mỹ từng ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, đã bỏ 30 năm theo dấu tích tiểu sử “huyền thoại” đó, cũng phải cảm thán khi viết:“Ngồi trên tòa cao của đền thánh dành cho các anh hùng cách mạng, Hồ Chí Minh hẳn sẽ thích thú biết rằng, ít nhất qua cuốn tiểu sử này, cái dáng dấp huyền bí bao quanh ông vẫn còn nguyên vẹn.”

A. Huyền bí hay “bí mật”?

Tại sao phải là “huyền bí”? Hay nói đúng theo ngôn ngữ trung thực nhất, không cần phải a dua, ca tụng là “bí mật” . Nhưng tại sao phải “bí mật”? Và chẳng lẽ điều “bí mật” về tiểu sử của Hồ Chí Minh khiến cho ông ta “thích thú”, chỉ đơn giản là thế? Trong khi những lãnh tụ Cộng sản khác cũng được tô hồng, đánh bóng, thêm vào những huyền thoại thần kỳ khác, nhưng tại sao ít người quan tâm đến? Có phải chăng cái “bí mật” tiểu sử đó không thể viết ra trong sách tiểu sử Hồ Chí Minh vì nó có một ảnh hưởng kinh khủng về chính trị đối với chế độ Cộng sản Việt Nam? Có phải chăng chỉ riêng Hồ Chí Minh mới có sự kiện “bí mật” về tiểu sử mà không ai trên thế giới có?

Một câu trả lời chung là “Đúng vậy, những gì bên trong tấm màn sắt của chế độ Cộng sản đều được xem là ‘bí mật’.” Điều nầy cũng có nghĩa là tiểu sử thật của Hồ Chí Minh cũng là một “bí mật” cần phải được giấu kín, che đậy, sơn phết, ngụy trang sao cho phù hợp với nét “thần thánh hóa” mà đa số người Việt Nam dường như ưu thích vẽ dị đoan, huyễn hoặc như là một cách trốn tránh những sự thật khốn nạn trong một xã hội đã quá nhiều khốn khổ. Họ cần cái gì đó phải là “hiển thánh” gần gũi để nương tựa niềm tin, thì đó chính là “thần tượng vĩ đại” Hồ Chí Minh, có một không hai, nhưng lại “chẳng may” theo Nghị quyết của UNESCO vào tháng 5/1990 là không thực hiện việc vinh danh Hồ Chí Minh là danh nhân thế giới như trong bài viết UNESCO có vinh danh ông Hồ Chí Minh hay không? trên rfa.org vào năm 2008 (kèm theo những chứng từ của UNESCO trong Nghị quyết vào tháng 10 và tháng 11/1987). Tại sao một nhân vật “vĩ đại,” đầy “hiển thánh” đến thế, “ưu việt” trong chính trị, quân sự lẫn văn học mà UNESCO “dám” từ chối vinh danh là một trong những vĩ nhân thế giới? Có phải chăng vì cái quá... “bí mật” về tiểu sử của Hồ Chí Minh khiến cho Ủy ban UNESCO phải e dè, cân nhắc lại? Vì dĩ nhiên là không thể nào vinh danh một nhân vật “bí mật” cho thế giới “thấy rõ”.

Có phải chăng cái “bí mật” đó đã được Giáo sư Hồ Tuấn Hùng “bật mí”? Mạnh mẽ nhất là những lý luận, bằng chứng về tập thơ “Ngục trung Nhật ký” mà vị Giáo sư đó đưa ra là tác giả - mà Đảng Cộng sản Việt Nam từ bấy lâu nay ca tụng không tiết lời, và xem đó là di sản quí báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lại chính là Hồ Tập Chương, một người Tàu Hẹ, thuộc Hồ tộc ở Miêu Lật, Đồng La. Ngay cả Hiệp hội Hán văn Việt Nam gồm những vị Tiến sĩ nghiên cứu xuất sắc về Hán học cũng không sao giải nổi những khúc mắc của cách dùng chữ điêu luyện như Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đưa ra vài thí dụ trong sách. Điều nầy là một hiển nhiên cho thấy rằng tác giả không thể nào là một người Việt.

Mặc dù trong bài viết đôi dòng về 'Tác phẩm giả tưởng' về Hồ Chí Minh của Vũ Thư Hiên, một nhân vật từng bị tù cùng người cha mình là Vũ Đình Huỳnh - một thân cận thủy chung vời cụ Hồ - phải lánh nạn bên Pháp, đã lên tiếng khẳng định Hồ Chí Minh không thể nào là một người Tàu. Tuy nhiên, không có một bằng chứng trung thực nào ngoài lời nói đơn thuần của tác giả - mà Thái Doãn Hiểu cũng đồng tình trong bài viết Trần Dân Tiên thực là ai!?và cho là lời nói của Vũ Thư Hiên đáng tin cậy dù chỉ trong vài dòng ngắn gọn, không cần tư liệu chứng minh gì cả!? Tuy nhiên, khi nói đến lịch sử mà không có tư liệu gì để chứng hay lý luận mạnh mẽ thì e rằng đó là điều rất thiếu tin cậy, không cần biết nhân vật nào đã nói ra. Lời nói của Vũ Thư Hiên hay Thái Doãn Hiểu hay bất kỳ ai đó chỉ có thế! Ngoài ra, Vũ Thư Hiên hay Thái Doãn Hiểu không hề cho biết ý kiến ra sao qua bài viết vào tháng 8/1969 của một Y tá Trưởng Bắc Kinh, Vương Tinh Minh, được dịch lại trên trang qdnd.vn với tựa đề Ba lần Bác cười trước lúc đi xa vào năm 2010, kể lại câu chuyện Hồ Chí Minh trước khi nhắm mắt chỉ muốn nghe vài câu hát bằng tiếng Tàu. Tại sao câu hát lại bằng tiếng Tàu, mà không phải là “câu hò xứ Huế” hay “đôi làn quan họ” như trong bài nhạc “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của Trần Hoàn mô tả? Có phải đây là điều “bí mật” đang được giấu kín và phụ họa bởi những người trung thành với “Bác”? Để cuối cùng, một câu kết luận thường xuyên mà những người trung thành với chế độ Cộng sản hay nói là “sự nghiệp của Bác mới là đáng kể”. Có nghĩa là họ mặc nhiên dù Hồ Chí Minh là ai, đã từng làm gì, thậm chí phải chịu trách nhiệm cho hàng trăm ngàn sinh mạng phải hy sinh, hay bức tử, chỉ có “sự nghiệp của Bác mới là đáng kể”. 

B. “Sự nghiệp của Bác mới là đáng kể”

Ngược lại lịch sử, “sự nghiệp của Bác” bắt đầu với sự thỏa thuận cho Pháp trở lại Việt Nam với hy vọng chiếm giữ được phần đất miền Bắc và được Pháp nhìn nhận là một chính phủ chính thức riêng biệt, trong khi Pháp nghĩa rằng khả năng quân sự của họ có thể đương đầu với lực lượng Cộng sản non nớt miền Bắc nhưng họ quên rằng một lực lượng già nua kinh nghiệm và đông đảo nằm kề đó là Trung Cộng và khối Cộng sản Liên Xô đang lớn mạnh. Và từ đó, “sự nghiệp của Bác” gắn liền một cách khắng khít hơn với Trung Cộng. Đó “mới là đáng kể.”

đáng kể hơn nữa là đỉnh điểm của công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, như là một tuyên ngôn chấp nhận nhượng hai quần đảo lớn của Việt Nam để đổi lấy sự tăng viện trợ của Trung Cộng nhằm chiếm trọn miền Nam Việt Nam. Nhưng phải chờ đợi 10 năm sau, công cuộc “sự nghiệp của Bác” mới bước vào giai đoạn Tổng tấn công Tết Mậu Thân 68’ vào khắp vùng miền Nam Việt Nam, rồi tiếp theo sau 4 năm là cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh 72’. “Sự nghiệp của Bác” là từ những món nợ viện trợ của Cộng sản Quốc tế mà sau này với 16 tấn vàng của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu để lại cũng không đủ trang trải - mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn bị Cộng sản Việt Nam vu oan rầm rộ là người mang ra nước ngoài.

Tuy vậy, “sự nghiệp của Bác” không chỉ thế là chấm dứt! “Sự nghiệp của Bác” phải bao trùm trong thế giới Cộng sản! Bởi lẽ, “Bác” là một mật vụ Cộng sản Quốc tế, luôn luôn phải tuân thủ theo tinh thần Quốc tế Cộng sản mà hiện nay Trung Cộng là nước thay quyền Cộng sản Quốc tế cho Liên Xô trong khối của 5 nước Cộng sản còn lại. “Sự nghiệp của Bác” đã và đang sang trang kế tiếp để “quốc tế hóa” Việt Nam trở thành một lá chắn ngoại biên cho trường thành Trung Cộng.





C. Quốc tế hóa Việt Nam

Trước khi có cuộc lấn chiếm biển Đông, Trung Cộng đã tung ra bức công hàm 58’ của Phạm Văn Đồng như là một bằng chứng tuyên bố sự nhìn nhận hợp pháp vùng biển Đông thuộc về quyền kiểm soát của Trung Cộng và từ đó, họ xem bất kỳ ai đến gần vùng biển ước định đó như đã là sự xâm nhập bất hợp pháp vào Trung Cộng mà họ luôn luôn tự nhận là một phần của đất nước mình. Mặc dù những Đảng viên Cộng sản Việt Nam cố tìm cách an dân bằng biện luận buông xuôi chuyện đã rồi như là “vì do tình hình chiến tranh cấp bách lúc bấy giờ nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng mới ra công hàm đó...” nhưng luận điệu đó không đủ để chống chế đối với Trung Cộng mà còn mặc nhiên thừa nhận quyền kiểm soát của họ. Một sự thừa nhận trong tinh thần Cộng sản Quốc tế mà họ luôn luôn đưa ra để biện hộ cho những phần đất, phần biển dần dần không thuộc về Việt Nam.

Kinh nghiệm xương máu qua những trận chiến thất bại với tổ tiên người Việt Nam cho Trung Cộng biết rằng họ cần thay đổi sách lược hầu chiếm trọn Việt Nam bằng cách “quốc tế hóa” vùng đất đó. Kế hoạch được thực hiện theo từng bước biến chuyển của thời cuộc và mãi tiếp nối một cách kiên nhẫn và càng lúc càng ràng buột hơn một cách hợp pháp.

“Sinh bình Khảo” được tung ra vào lúc đó, không khác gì bước tiến chiếm biển Đông qua công hàm 58’ của Phạm Văn Đồng. Việc hợp thức hóa vị “Cha già dân tộc” trở thành người Tàu, không một kế hoạch nào tuyệt vời hơn nữa! Hiển nhiên là Trung Cộng có đủ chứng cứ tư liệu để đi đến bước cuối cùng nếu cần. Hiện tại, họ chỉ cần sự đồng thuận trong tư tưởng của đa số đảng viên Cộng sản Việt Nam mà trong số đó họ biết rằng có một số vẫn còn mang tính dân tộc. Một bản chất dân tộc mà đối với người Cộng sản chuyên chính là sự đối nghịch, không thể nào được phép tồn tại, ngoại trừ bản chất hướng về Hán tộc Trung Hoa. Điều nầy được nhìn thấy qua bài viết Ba lần Bác cười trước lúc đi xa vào năm 2010 trên trang qdnd.vn sau khi Giáo sư Hồ Tuấn Hùng cho ra cuốn sách “Sinh bình Khảo” bên Trung Cộng, như là một sự nhìn nhận gián tiếp Hồ Chí Minh là người Hẹ. Giáo sư Hồ Tuấn Hùng cũng ngấm ngầm kêu gọi sự “hòa hợp hòa giải” khi ông ta trích dẫn lời Võ Văn Kiệt, cũng như khi ông ta ghi lại lời của một phụ nữ Việt lầy chồng Đài Loan: “Hai nhà thành một nhà thân thiết, chẳng là rất tốt sao?” Đó chính là sự “hòa hợp hòa giải” trong chiều hướng rộng lớn hơn mà Giáo sư Hồ Tuấn Hùng muốn nhắn đến: “quốc tế hóa Việt Nam.”

D. Công cuộc vận động quần chúng

Ngoài những nỗ lực của các quan chức Cộng sản Việt Nam trong việc ca ngợi tinh thần “Hợp tác Hòa bình” của Trung Cộng -giống như tinh thần “Khối Thịnh vượng Chung Đại Đông Á” vào năm 1943 của Phát-xít Nhật - cũng như kêu gọi “lòng tri ơn sâu sắc” đối với người bạn Trung Quốc, một bước đầu trong công cuộc vận động quần chúng “thấu triệt tình nghĩa anh em Việt-Trung một nhà” là sứ mệnh của nhà sư quốc doanh Thích Chân Quang - tên tục là Vương Tấn Việt, cháu nội của Nguyễn Sinh Sắc, gọi Nguyễn Tất Thành là bác - qua bài giảng Biển Đông dậy sóng trên YouTube. Qua đó, nhà sư cho rằng người Việt Nam luôn luôn phải biết kính trọng người anh Trung Quốc và luôn luôn nên tỏ ra phải biết nhường nhịn đối với người anh của mình. Không những thế, nhà sư còn lên án danh tướng Lý Thường Kiệt khi sát phạt quân Tống tận đất Trung Hoa. Cũng như trước đây, lịch sử Việt Nam dành cho bậc tiểu học đã được sửa đổi để tránh tiếng xâm lược của những triều đại Trung Hoa.

E. Kết luận:

Từng bước của những sự kiện qua những chuyển biến đặc thù nhưng có những nét rất giống nhau, cho thấy rằng vận mệnh của Việt Nam chắc chắn sẽ bị “quốc tế hóa” theo ý muốn của Trung Cộng và công cuộc thần phục đầy kiên nhẫn nầy sẽ được đổi lại là những thế kỷ kéo dài vong bản. Hai chữ Việt Nam chỉ là hư danh mà trong đó sẽ không còn một chút nào là tinh thần dân tộc, hay niềm tự hào riêng biệt của nó. Điều mà những người Việt Nam khó lòng chấp nhận nhưng phải chấp nhận vì Đảng luôn luôn đúng, và thành phần hiểu biết sẽ bị tiêu diệt như Đảng đã và đang hành động. “Sinh bình Khảo” là tiếng chuông báo tử cuối cùng cho một số người còn đầy dân tộc tính.


 

dinsdag 24 september 2013

Từ cậu Ba Thành đến chú Ba Tàu

Từ cậu Ba Thành đến chú Ba Tàu
Lâm Văn Bé (Danlambao) - Từ khi Hồ Chí Minh sinh bình khảo được tung ra bằng Hán Văn năm 2008 và bản dịch Việt ngữ hồi đầu năm 2013, đảng CS hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Về việc HCM giả hay thật, chắc chắn có một số đảng viên cùng thời với HCM nhận biết được qua nhân dạng, nhất là chỉ cần căn cứ vào một yếu tố đơn giản là giọng nói Nghệ An của HCM, một chú ba Tàu không thế nào giả giọng được. Số đồng chí nầy đa số đã chết và nếu có ai đó may mắn còn sống sót và nhận biết được sự giả mạo nầy, có can đảm ghi lại sự giả mạo nầy thì lịch sử sẽ phải được viết lại khi những tài liệu nầy được tiết lộ và kiểm chứng. Đám hậu duệ của HCM đang ngự trị trong Bộ Chính trị hiện nay đa số không biết HCM và nếu có biết những chuyện bí ẩn lạ kỳ, thì vì quyền lợi và run sợ trước đàn anh Trung Quốc chắc chắn không ai dám hé môi. Việc im lặng của đảng Cộng Sản trong trạng huống như vậy có thể hiểu được. Nhưng sự im lặng trở nên có vấn đề khi bản dịch tiếng Việt của Thái Văn đã được phổ biến rộng rãi trên Internet từ nhiều tháng qua khiến dư luận có nhiều cách giải thích khác nhau...

*

Cậu Ba Nguyễn Tất Thành

Ngày 4 tháng 6 năm 1911 khi xuống tàu Amiral Latouche-Tréville tại bến Nhà Rồng Saigon để làm nghề phụ bếp, cậu thanh niên 21 tuổi tên Nguyễn Tất Thành, lấy tên trên tàu là Nguyễn Văn Ba muốn sang Pháp để tìm kế sinh nhai chớ chẳng phải đi tìm đường cứu nước như bọn công Sản Đệ Tam quốc tế và Cộng sản VN bịa đặt dựng lên hình tượng để tôn thờ. Không phải chỉ có Nguyễn Tất Thành mới đi tha phương cầu thực, mà trước đó, người cha của ông là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê (Qui Nhơn) vì tội giết người khi say rượu cũng đã lưu lạc vào Nam hành nghề bốc thuốc, được ông cử Hoành (cha của Lê Quang Uyển, thống đốc Ngân hàng thời VNCH) cưu mang cho đến khi mất năm 1929 ở vùng Cao Lãnh (mộ của Nguyễn Sinh Sắc sau này được CS trùng tu vĩ đại ở tỉnh Đồng Tháp).

Ngày 15 tháng 9 năm 1911, sau khi vừa đến nước Pháp, cậu Nguyễn Tất Thành đã gởi thơ cho Tổng Thống Pháp và Tổng Trưởng Bộ thuộc địa để xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale) nhưng Pháp từ chối vì Thành chưa học hết bậc Tiểu học và muốn vào học trường nầy phải được Toàn quyền tuyển chọn tại Đông Dương. Ngoài bức thư xin nhập học với lời lẽ như: "Tôi muốn trở thành người có ích cho nước Pháp...", Nguyễn Tất Thành còn gởi sau đó một bức thư cho Khâm sứ Pháp tại Huế nhờ chuyển 15 đồng bạc Đông Dương cho cha với "giọng điệu hạ mình đối với người Pháp" (Sophie Quinn-Judge, dịch giả Diên Vỹ & Hoài An, tr. 39) và nhờ người anh tên là Nguyễn Sinh Khâm đang làm việc vặt ở Tòa khâm sứ nhờ xin một lần nữa với Khâm sứ. 

Từ 1912 đến 1914, Nguyễn Văn Ba phiêu lưu trên những chuyến tàu viễn duyên với nghề phụ bếp và khuân vác trên tàu, khi thì dừng chân ở New York (1912) đi ở mướn, khi đến Boston làm bánh ngọt cho khách sạn Parker House. Từ 1914 đến 1919, trở lại tên Nguyễn Tất Thành, ông sống ở Luân Đôn, ban ngày làm phu hốt tuyết, ban đêm làm phụ bếp ở khách sạn Carlton. Khi trở lại Paris tháng 6 năm năm 1919, Nguyễn Tất Thành làm quen với các nhà tranh đấu nhân quyền là Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền trong nhóm Người Annam yêu nước (Association des Patriotes annamites). Thành được nhóm Yêu nước giao nhiệm vụ đến Versailles để trao Bản thình nguyện của dân tộc Annam (Revendications du peuple annamite). Lợi dụng dịp nầy, Nguyễn Tất Thành lấy tên của nhóm đổi tên của mình là Nguyễn Ái Quốc và từ đó cái tên nầy đã được sử dụng suốt 30 năm. Sau khi có Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành gia nhập, nhóm người Annam yêu nước đổi tên là nhóm Ngũ Long thì Phan Chu Trinh là người lãnh đạo tinh thần, Phan Văn Trường là người lãnh đạo đích thực, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh viết bài, Nguyễn Tất Thành cổ động bán báo, in truyền đơn.

LS Nguyễn Văn Chức kể lại lời nói của ông Nguyễn Thế Truyền: Năm 1960, cụ Nguyễn Thế Truyền ra tranh cử tổng thống tại miền Nam Việt Nam. Tôi có đi theo anh em báo chí đến nghe Cụ nói chuyện. 

Khi được hỏi về những tài liệu viết bằng tiếng Pháp tại Paris ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhất là bản Mémorandum gửi Hội Nghị Hòa Bình Versailles 1919, cụ Truyền nói: Nguyễn Tất Thành chưa học hết tiểu học Pháp. Lúc đó ở Paris, nhóm chúng tôi mướn anh ta đi phân phát những tài liệu đấu tranh bằng tiếng Pháp do chúng tôi viết. Anh ta đã nhận xằng mình là Nguyễn Le Patriot và nhận xằng mình là tác giả những tài liệu đó. (HCM, CXXXII).

Năm 1948, lợi dụng khi Nguyễn Thế Truyền bị đày ra Côn Đảo và các thành viên khác của nhóm đã chết, Nguyễn Ái Quốc đã gom tất cả các bài viết của nhóm để in thành "Hồ Chí Minh toàn tập" xem như tất cả bài viết của nhóm là bài viết của mình và 12 "toàn tập" nầy tái bản nhiều lần được xem như những tác phẩm vĩ đại mà sinh viên học sinh VN bao thế hệ phải đọc và học.

Chính với cái bản chất gian dối nầy mà Hồ Chí Minh là nhân vật duy nhất trên thế giới có đến 5 năm sinh khác nhau và 180 tên và biệt hiệu. Trang mạng Báo Điện Tử Đại Biểu Nhân Dân, trong bài "Tên gọi HCM có tự bao giờ" đã tự hào viết: "HCM đã dùng trên 180 bút danh, bí danh và mật danh khác nhau. Bí danh HCM xuất hiện từ năm 1940 dần trở thành chính danh luôn đi liền với tên nước VNDCCH". Trong số các bí danh trên, HCM đã sử dụng tên Trần Dân Tiên để viết tự truyện đánh bóng mình - Những chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịchvà dùng tên T. Lan (là Thái Lan, bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai) để viết Vừa đi vừa kể chuyện. Hai quyển sách nầy được xem như hai quyển thánh kinh, mà các nhà viết sử trong nước và ngoài nước thường dùng để viết về HCM.

Tiến sĩ Sophie Quinn-Judge trong Ho Chi Minh - The Missing Years 1919- 1949 đã nhận định là những tự truyện nầy gian trá, bịa đặt "tập hợp những khắc họa mờ ảo với những ngày tháng lộn xộn, thiếu hụt thông tin, xây dựng những huyền thoại về HCM chứ không phải là cuốn sách có giá trị lịch sử" (bản dịch, tr.20). Từ nhận định của học giả Sophie Quinn-Judge, chúng tôi nghĩ rằng người đọc các quyển tài liệu về HCM và đảng Cộng Sản VN viết bởi đa số các nhà nghiên cứu Tây Phương phải thật dè dặt vì những người nầy thường dựa vào tài liệu cấp hai cung cấp bởi tài liệu CS hay thiếu trung thực vì thiên Cộng hay ngây thơ trước những huyễn hoặc tài tình của CS. Chúng tôi cần nêu tên vài tác giả thuộc loại nầy: Jean Lacouture, Bernard Fall, Pierre Brocheux, Daniel Hémery, William J.Duiker...

Từ khi gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 cho đến tháng 3 năm 1946 trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cuộc đời Hồ Chí Minh chỉ là những năm tháng học tập, cải tạo tư tưởng dưới sự chỉ đạo của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Liên Sô và Trung Quốc. Với sự nhuộm đỏ chủ nghĩa Mác-Lê, Hồ Chí Minh đã đem về VN áp dụng những bài học sắt máu bạo tàn đã được nhồi nhét qua 25 năm trong các trung tâm huấn luyện. Bởi lẽ Staline là thần tượng của HCM mà Staline là người vô cùng tàn ác, đặc biệt rất thù ghét cha mẹ, do đó không lạ gì khi cầm quyền, HCM và đồng bọn đã tàn sát hơn 200.000 người trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất (theo Nguyễn Văn Canh. Nông dân Bắc Việt những năm 1945-1970 ; tr.202), tàn phá hệ thống đạo lý gia đình, triệt tiêu trí thức và gây ra cuộc chiến Nam - Bắc giết hại hàng triệu người.

Giải thích vì sao cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Văn Ba khi xuống tàu sang Pháp để tìm kế sinh nhai rồi lại theo Cộng Sản và khi cầm quyền thích được xưng tụng là "Bác Hồ", bà Thụy Khuê đã viết: "Phần lớn những người tham gia chống Pháp, từ Nho học đến Tây học, đều học giỏi, nổi tiếng, nhưng đã gạt bỏ văn bằng sang một bên để dấn thân. HCM là một trường hợp đặc biệt, dù con quan nhưng sớm bỏ học, trình độ quốc ngữ kém, tiếng Pháp sơ sài, ông đã sống cực khổ, làm bồi bếp suốt quãng đời thanh niên từ 1911 đến 1919 trước khi tới Pháp. Tại Pháp cũng chỉ có 2 năm ở nhà Phan Văn Trường là khá, sau này khi ra Compoint, một khu nghèo thợ thuyền sống rất cơ cực, có mặc cảm sâu xa đối với bạn đồng hành, trí thức. Đó là lý do khiến Nguyễn Tất Thành theo CS, mặc dù ông chưa biết lý thuyết CS như thế nào. Sau nầy, khi lên cầm quyền, việc đầu tiên ông bắt mọi người phải kính nể gọi ông bằng bác. Đối với trí thức, ông dành cho họ mọi sự nhục nhằn mà ông đã gánh chịu trong suốt cuộc đời thanh niên" (Thụy Khuê. Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, tr.501).

Mặc dù được CS lừa bịp tôn vinh là cha già dân tộc, không vợ không con để làm cách mạng, nhưng thực tế Hồ Chí Minh là người vô đạo đức. Hồ Chí Minh sống chung ít nhất với 7 người đàn bà, không kể những thiếu nữ hộ lý. Khi ở Paris, lúc Nguyễn Tất Thành làm nghề rửa ảnh, ông sống với một đảng viên đảng CS Pháp tên là Marie Brière (1921); lúc ở Quảng Châu với tên Lý Thụy, ông kết hôn với Tăng Tuyết Minh (1926); lúc ở Hongkong và Moscou (1930-33), ông sống với Nguyễn Thị Minh Khai (sau đó, năm 1935, Minh Khai kết hôn chính thức với Lê Hồng Phong). Ngoài ra lúc ở Moscou, ông cũng có liên hệ tình cảm với Vera Vasilieva, cán bộ Nga đặc trách tổ chức Cộng Sản Quốc Tế. Cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành đổi tên là Hồ Chí Minh về nước lần đầu tiên (1941) đóng ở Pắc Pó (Cao Bằng), ông sống với 2 nữ cán bộ trẻ là Đỗ Thị Lạc, có một đứa con gái, và Nùng Thị Ngác (sau ông cho đổi tên là Nùng Thị Trưng, cử làm chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Cao Bằng). Theo nhiều nguồn tin, Nông Đức Mạnh là con của HCM với bà Ngác. Năm 1955 khi về Hà Nội, ông sống chung với Nông Thị Xuân có một con trai là Nguyễn Tất Trung, rồi âm mưu với Bộ Trưởng Công An Trần Quốc Hoàn giết Nông thị Xuân vì bà Xuân đòi có đám cưới.

Blogger Huỳnh Tâm đã viết về đời sống tình dục của ông như sau: "...Ông là người say mê mỹ nữ. Mỗi lần si tình một mỹ nữ, ông sáng tạo một bút hiệu và danh sách bút hiệu cứ thế tăng dần. Danh sách nầy là để giúp ông tưởng nhớ lại mỗi hương vị ân ái động đào" (Bên trong xác ướp HCM. Anle20’s blog). Thì ra, số tên và bút hiệu của ông lên đến con số 180 không phải chỉ liên quan đến hoạt động chính trị mà còn liên quan đến đời sống tình dục của ông.

Chính vì đời sống tình dục và những cuộc tình của ông có nhiều "vấn đề" khiến ông trở nên yếu hèn trước các đồng chí, nhất là với Lê Duẩn, làm ngơ cho các đồng chí lộng hành.

Theo Bill Hayton, phóng viên BBC ở VN, tác giả quyển Viet Nam: Rising Dragon thì: quyền lực thực sự nằm trong tay Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng Cộng sản, một người theo chủ nghĩa Staline thật tàn bạo Lê Duẩn đã dùng lực lượng an ninh để kiểm soát hoạt động của các nhà lãnh đạo khác và thi hành chiến lược chiến tranh toàn diện chống lại Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Thắng lợi vào năm 1975 đã đưa ông Lê Duẩn nắm quyền nhưng với những hậu quả khủng khiếp. Trả thù và quản lý kinh tế yếu kém đã khiến đất nước bị cô lập và nghèo khó. Cái chết của ông vào năm 1986 đã mở đường cho một nước Việt Nam mở cửa. (BBC ngày 29/8/2013).

Chú Ba Tàu Hồ Tập Chương

Những tưởng "bác" được yên thân trong cái quan tài pha lê chờ ngày tan rữa, nào ngờ năm 2008, Hồ Tuấn Hùng, Giáo sư Đại học Đài Loan, trong quyển sách của ông tựa là Hồ Chí Minh sinh bình khảo đã công bố những tin tức "động trời". Theo ông Hùng, Nguyễn Ái Quốc đã chết năm 1932 ở Liên Sô vì bịnh lao phổi và cái xác nằm trong lăng Ba Đình là của một người Trung Quốc tên Hồ Tập Chương. Ông giải thích là sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, bà Vera Vasilieva người phụ trách bộ phận Việt Nam Quốc tế Cộng Sản đã đặt kế hoạch 5 năm cho Hồ Tập Chương, một người Tàu đến từ Đài Loan học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc thay thế Quốc tiếp tục công cuộc xây dựng đảng Cộng Sản Việt Nam và cầm quyền cho đến khi chết. Trong 342 trang sách, Hồ Tuấn Hùng đã chứng minh bằng nhiều dữ kiện để phân biệt hai giai đoạn của cuộc đời Hồ Chí Minh: 

Hồ Chí Minh thời kỳ 1890-1932 là Nguyễn Ái Quốc người Việt Nam 
Hồ Chí Minh thời kỳ 1933-1969 là Hồ Tập Chương người Đài Loan. 

Nói cách khác, Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh gồm 2 người nhân thân khác nhau: nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam tên Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan.

Ngoài tập tài liệu của Hồ tuấn Hùng, một bài viết khá dài ký tên Huỳnh Tâm phổ biến trên Internet (Anle20’s blog) trình bày một cách chi tiết những ngày cuối cùng của Hồ Chí Minh để hỗ trợ cho luận cứ HCM là một người Trung Quốc..

Theo Huỳnh Tâm, khi HCM trở bịnh nặng, trong tuần lễ cuối tháng 8/1969, Thủ Tướng Chu Ân Lai đã lần lượt gởi đến Hà Nội 4 phái đoàn y tế trong đó có nhiều danh y như Ngô Gia Bình (Wu Jiaping), Giám đốc Trung Quốc Học Viện Y khoa, để cứu chữa HCM. Ngoài ra, còn có một phái đoàn nhân viên tình báo để cướp xác HCM nếu cần hầu bảo vệ tông tích của HCM và một phái đoàn chuyên viên ướp xác. Đến khi HCM chết ngày 2 /9/1969, Trung Quốc gởi qua Hà Nội một phái đoàn hùng hậu chưa từng thấy để dự tang lễ gồm Thủ Tướng Chu Ân Lai, Phó TT Lý Tiên Niệm và nhiều ủy viên cao cấp trong Quân Ủy Trung Ương.

Bởi lẽ khi Hồ Chí Minh chết thì phi cơ Mỹ đang dội bom ác liệt Bắc Việt, xác Hồ Chí Minh phải được di chuyển nhiều lần và chôn sâu trong các hang động để tránh bom đạn, do đó khi lăng Ba Đình được xây xong năm 1975, cái xác nằm trong cái quan tài pha lê được đặt trong lăng không phải là cái xác của HCM đã bị chôn đi chôn lại.

Huỳnh Tâm đã viết: "Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo đảng CSVN biết rõ cái xác ướp nầy là ai, tuy nhiên họ phải tạo ra một biểu tượng nên họ phải trả giá cao. Họ sẵn sàng chi một ngân khoản lớn để bảo vệ uy tín của đảng cho dù người trong quan tài pha lê là một tên vô danh tình cờ được nằm vào đó để cho dân tộc VN tung hô muôn năm. Muốn bảo quản tốt, họ phải trả một chi phí vô cùng đắt giá, để rồi sau đó họ phải chống đỡ những khó khăn cùng lúc phải khéo lường gạt".

Nhận định về tập tài liệu của Hồ Tuấn Hùng

Bài viết nầy không có mục đích trình bày những luận cứ của tác giả Hồ Tuấn Hùng khẳng định Nguyễn Ái Quốc đã chết và Hồ Tập Chương đã đóng vai Hồ Chí Minh từ năm 1933 đến 1969, cũng như không lập lại những phản biện của một vài tác giả (thí dụ như của ông Phạm Đình Lân rất thuyết phục) về sự phi lý của xác quyết nầy. Bài viết muốn đặt vài giả thuyết về sự xuất hiện của tập tài liệu và sự im lặng đáng ngạc nhiên của đảng Cộng Sản Việt Nam từ lúc xuất hiện tập tài liệu cho đến nay. 

Thâm ý của tập tài liệu 

Hồ Tuấn Hùng và bác của ông là Hồ Tập Chương là những công dân của nước Đài Loan, hiểu theo nghĩa chính trị, nhưng là người Hán tộc (người Hakkan, tiếng Việt thường gọi là người Hẹ) hiểu theo nghĩa chủng tộc. Người Trung Quốc ở bất cứ nơi đâu, nói bất cứ ngôn ngữ nào, họ vẫn là người Trung Quốc, trung thành với Trung Quốc. Vào thời điểm người Việt trong nước và ngoài nước chống đối kịch liệt Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ lãnh hải và khai thác tài nguyên VN, quyển sách được tung ra là để nói lên một cách ngạo mạn cho dân VN biết rằng tứ 1933 đến 1969, người thành lập đảng CSVN, người lãnh tụ cai trị VN là một người Trung Quốc. 

Sự im lặng của đảng CSVN 

Từ khi quyển sách được tung ra bằng Hán Văn năm 2008 và bản dịch Việt ngữ hồi đầu năm 2013, đảng CS hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Về việc HCM giả hay thật, chắc chắn có một số đảng viên cùng thời với HCM nhận biết được qua nhân dạng, nhất là chỉ cần căn cứ vào một yếu tố đơn giản là giọng nói Nghệ An của HCM, một chú ba Tàu không thế nào giả giọng được. Số đồng chí nầy đa số đã chết và nếu có ai đó may mắn còn sống sót và nhận biết được sự giả mạo nầy, có can đảm ghi lại sự giả mạo nầy thì lịch sử sẽ phải được viết lại khi những tài liệu nầy được tiết lộ và kiểm chứng. Đám hậu duệ của HCM đang ngự trị trong bộ Chính trị hiện nay đa số không biết HCM và nếu có biết những chuyện bí ẩn lạ kỳ, thì vì quyền lợi và run sợ trước đàn anh Trung Quốc chắc chắn không ai dám hé môi. Việc im lặng của đảng Cộng Sản trong trạng huống như vậy có thể hiểu được. Nhưng sự im lặng trở nên có vấn đề khi bản dịch tiếng Việt của Thái Văn đã được phổ biến rộng rãi trên Internet từ nhiều tháng qua khiến dư luận có nhiều cách giải thích khác nhau.

Trước tiên là bức thơ ngày 25 tháng 8 năm 2013 của ông Phạm Quế Dương - Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan, phổ biến trên blog Danlambao ở trong nước, trang mạng có nhiều blogger bị CS xem là phản động. Sau khi tóm lược ý chính của tập tài liệu của Hồ Tuấn Hùng, ông Dương viết: 

"...Thời đại Internet hiện đại, nên sách được loan tải trên mạng rất rộng rãi. Nhiều người (đến trao đổi với tôi, hầu hết là những người từng trực tiếp tham gia kháng chiến, là bộ (đội, là cán bộ tuyên huấn... Một số người phản đối, cho cuốn sách là bịa đặt, đổi trắng, thay đen. Một số người thì bảo chuyện này cũng đã được nghe từ lâu và tin lời ông tác giả. Họ dẫn chứng: năm 1957, cụ Hồ Chí Minh về thăm quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mà không ra thắp hương mộ thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Năm 1945, khi bắt đầu làm Chủ tịch nước, bà chị là Nguyễn Thị Thanh ở quê ra thăm, cụ Hồ tránh mặt, không dám gặp, chỉ cử 2 cán bộ cao cấp tiếp. 

Bản thân tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự hào đã 45 năm là Lính Bác Hồ, Bộ đội Bác Hồ. Khi làm Tổng biên tập báo Phòng Không-Không Quân, ba lần được tiếp xúc với Chủ Tịch khi Chủ Tịch thăm Quân chủng và trận địa tên lửa, viết bài về Chủ Tịch. Nhiều lần về thăm quê Chủ Tịch và thắp hương lễ mộ cụ Hoàng Thị Loan, vào Sài Gòn đến Cảng Nhà Rồng thăm nơi "Bác Hồ đi tìm đường cứu nước", nhiều lần vào lăng viếng Bác.

Kính mong nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam cử giới khoa học lịch sử làm rõ sự thật vụ việc này. Nếu tác giả bịa đặt thì đưa ra tòa án quốc tế xét xử, làm rõ sự thật."

Ông Phạm Quế Dương năm nay 90 tuổi, đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được phong chức đại tá. Ông còn là nhà sử học, nguyên Tổng biện tập tạp chí Lịch sử Quân đội. Ông bị cầm tù, bị khai trừ ra khỏi đảng vì chống đường lối của đảng và đã được cơ quan Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman-Hammett dành cho các nhà tranh đấu nhân quyền. Sự lên tiếng của ông Phạm Quế Dương khiến dư luận đặt nhiều câu hỏi.

Như bức thơ ông viết, ông đã có tiếp xúc với ông Hồ 3 lần, như vậy ông có thể nghe ông Hồ nói giọng Nghệ An, nhận biết nhân dạng vì ông đã sống trong chế độ "bác" đến 45 năm, cớ sao ông còn nói trong thơ một cách ỡm ờ như có nghi vấn. Phải chăng Hồ Chí Minh thực sự là chú ba Tàu như tài liệu của Hồ Tấn Hùng, nhưng vì sợ nên ông không dám nói, hay Hồ Chí Minh thực sự là bác Hồ dân Nghệ An, mà vì ông muốn "quấy rầy" nhà nước nên chẳng những ông không xác nhận mà còn nói bóng gió tạo hoài nghi trong dân chúng bởi lẽ hôm nay ông là kẻ thù của chế độ. Ông Phạm Quế Dương là một trong những người đương thời với Hồ Chí Minh còn sống và đủ tư cách để xác nhận hay phủ nhận luận cứ của Hồ Tấn Hùng. Chờ xem màn kịch nầy.

Về phía người dân, người giàu thì bận lo chuyện bốc hốt, người nghèo thì bận lo bửa đói bửa no, họ không cần biết "Hồ Tàu Khựa" hay "Hồ xứ Nghệ" bởi Hồ nào thì cũng là hồ ly tinh. Đối với người dân, Trung Quốc là kẻ thù và chính phủ cũng giống như kẽ thù, do đó người dân đặt câu hỏi phải chăng chính phủ đã tung ra bản dịch tiếng Việt mà không cần phải lên tiếng là để ngầm thông báo cho dân chúng biết sự ngạo mạn hung hăng của Trung Quốc và phải chăng, trước phản ứng chống đối của người dân với chánh phủ càng lúc càng nhiều, chính phủ muốn cho người dân chửi rủa "bác» Hồ, không cần biết là Hồ Tàu hay Hồ Việt để cho đảng và chính phủ yên tâm tiếp tục công trình tham nhũng. Đếm bạc sướng hơn chửi bác, đó là sách lược mới của đảng.

Kết luận

Kể chuyện cậu Ba Nguyễn Tất Thành và chú Ba Hồ Tập Chương, chúng tôi muốn nêu lên một thảm kịch của nước Việt Nam đã không may có một Hồ Chí Minh ít học, thiếu tài, kém đức đã làm cho đất nước VN trở nên điêu linh lại còn dắt đến VN một chú Ba Tàu thô bạo. Cậu Ba Nguyễn Tất Thành đã chết nhưng Việt Nam hôm nay lại nổi lên thêm nhiều cậu Ba khác trong bộ Chính trị mà cậu Ba nguy hiểm nhất, tham nhũng nhất đã và đang hợp tác với chú Ba Tàu để đưa đất nước đến chỗ diệt vong là cậu Ba Dũng.


 

dinsdag 10 september 2013

“Bác Hồ” ám ảnh

“Bác Hồ” ám ảnh
Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) trong thế kỷ 20 đã gây cho dân tộc Việt Nam quá nhiều hệ lụy. Vậy chúng ta thử tìm hiểu những yếu tố cốt lõi nào mà HCM đã ám ảnh đến dân tộc và non nước Việt Nam.

I- Bối cảnh lịch sử thời cận đại

Kể từ năm 1945 vừa sau Đệ nhị thế chiến, trước áp lực của quốc tế đòi hỏi chính quyền Pháp chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương. Hồ Chí Minh nhân đấy lập ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), nhưng chưa được bất cứ quốc gia nào công nhận. Cuối năm 1946, cuộc đàm phán giữa Pháp và Việt Minh thất bại. Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại, tỏ ý muốn thành lập một nước Việt Nam độc lập. Thấy vậy, các lực lượng: Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, Đại Việt Quốc dân đảng, đạo Hòa Hảo và Cao Đài; đã liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất; để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về độc lập cho Việt Nam.

Ngày 7-12-1947, tại cuộc họp trên tàu chiến của Pháp ở Vịnh Hạ Long; Bảo Đại và Pháp ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long, đã đồng thuận lập Quốc gia Việt Nam (QGVN) trên cơ sở độc lập và thống nhất một nước Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. 

Ngày 5-6-1948, Bảo Đại lại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long lần 2, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Tháng 1-1949, Bảo Đại yêu cầu Nam Kỳ thuộc về QGVN, được Pháp đồng ý. Ngày 8-3-1949, Tổng thống Pháp là Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysé xác nhận nền độc lập của VN, chính thức thành lập QGVN trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia trên thế giới đã công nhận Quốc gia Việt Nam. Ngày 4-6-1954, Thủ tướng Pháp là Joseph Laniel và Thủ tướng QGVN là Nguyễn Phúc Bửu Lộc ký hiệp ước thỏa thuận QGVN không còn trong Liên hiệp Pháp nữa, Pháp công nhận QGVN được độc lập hoàn toàn. Đất nước Việt Nam đang gầy dựng lại nền độc lập cho nước nhà. 

Trong khi ấy Hồ Chí Minh lại đem học thuyết của Karl Marx và Friedrich Engels để thực thi chế độ cộng sản tại Việt Nam là một sai lầm nghiêm trọng. Vì chế độ cộng sản của Marx-Lenin gây cảnh bần cùng hóa nhân dân với đầm đìa nước mắt và máu, như việc “Cải Cách Ruộng Đất” đã đấu tố 123.266 người bị chụp mũ là địa chủ và phú nông, mà họ thực tế là trung nông hay bị vu khống, đã bị Việt Minh sát hại tại chỗ hay giam cầm chết lần chết mòn!. Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của các văn nghệ sĩ và một số vị trí thức ở miền Bắc Việt Nam, khởi xướng từ đầu năm 1955 và đến tháng 6 năm 1958 thì bị Việt Minh dập tắt. Trong đấy có bài “Nhất định thắng” của Trần Dần, đã tả cảnh sống xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng những câu thơ thâm thúy:

Tôi bước đi
không thấy phố 
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa 
trên màu cờ đỏ

Sau đó, tác giả bài thơ này bị quy tội chống phá chế độ?!.

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, số người theo Việt Minh (VM) từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60.000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam từ 5,000 đến 10.000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ. Trong khi đấy, số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam khoảng 1 triệu người. 

Tại miền Nam chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ra đời từ ngày 23-10-1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính phủ của ông thành lập nước VNCH tại miền Nam, đồng thời giải tán chính thể QGVN. Việt Minh lại ngấm ngầm rồi hùng hổ gây nội chiến tại miền Nam Việt Nam.

Từ năm 1954 đến năm 1975, người hai miền Nam-Bắc đều là “Đồng bào”, nhưng lại tương tàn khốc liệt. Quân đội VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân Bắc Việt bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân: Việt Nam bị chết khoảng 3.000.000 người và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng số quân đội các bên, kể cả quân Mỹ giúp miền Nam; quân Tàu giúp miền Bắc... và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người. Riêng người Việt bị chết khoảng 4.350.000 người (250.000+1.100.000+3.000.000). 

Thưa Đồng bào, giả sử CSVN chiếm miền Nam, rồi đem cả nước Việt hiến dâng cho kẻ thù truyền kiếp (Tàu) thì đau đớn quá! Vì tại Hội nghị Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, tại thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ở nước Tàu, giữa các giới chức cao cấp Việt và Tàu, thỏa thuận rất bí mật (đã bật mí) có nhiều nguồn tin (như wikileaks) nước Việt Nam sẽ là tỉnh Quảng Nam của Tàu vào khoảng năm 2020, tuy nhiên cần kiểm chứng thêm?! Hơn nữa, dân tôi nghe nói rằng: Năm 1975, trong khi quân Bắc Việt đang đánh chiếm miền Nam Việt Nam, do Tổng bí thư Lê Duẫn chủ động, lại tuyên bố: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc"?!.

II- “Bác Hồ” là Hồ Tập Chương hay Nguyễn Ái Quốc? 

Trong cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, là người đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan. Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01-11-2008, mã số của sách: ISBN: 9789866820779. Hồ Tuấn Hùng sinh năm 1949, tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, là cháu ruột Hồ Tập Chương. Tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” dày 342 trang, khổ 15 x 21 cm, bìa cứng, in chữ nổi. Đã được Thái Văn dịch ra Việt ngữ vào tháng Giêng năm 2013. 

THIÊN I đã viết về ‘Hài kịch tráo rồng đổi phượng’ có đoạn ghi: “Nguyễn Ái Quốc nhiều năm đã mắc chứng lao phổi, tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát Hương Cảng bắt, được chuyển đến bệnh xá nhà giam điều trị, đầu năm 1932 mất tích, đến khoảng giữa tháng 7 và tháng 8 thì các báo đưa tin chết vì bệnh lao phổi. Cũng thời gian này các báo Hương Cảng, Anh Quốc, Pháp Quốc và Nga Xô đều viết, sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hương Cảng, không rõ lý do mất tích, sau đó bị bệnh qua đời”; như vậy sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, Cộng sản Quốc tế tráo Hồ Tập Chương thành Hồ Chí Minh?!. Mời bà con xem một bài thơ trong số 134 bài thơ “Nhật ký trong tù” từ năm 1942 đến năm 1943 của HCM, với những từ ngữ, câu văn hoặc phương ngôn thuộc ngữ hệ Khách Gia đã được tác giả chuyển hóa một cách nhuần nhuyễn sang từ ngữ Trung văn, chứng tỏ HCM rất am hiểu văn hóa Hán, lại thông thạo nhiều ngôn ngữ, từ cú khoáng đạt, ý tứ trôi chảy. 

Bài 8, trang 145: Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng 
Chiếu trước “lung” môn môn vị khai 
“Lung” lý hiện thời hoàn hắc ám
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

Nam Trân - Xuân Thủy dịch: Buổi sớm

Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc, 
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt, 
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi. 

Xin lưu ý là Nguyễn Ái Quốc biết về Trung văn chưa được thông hiểu sâu sắc, chứ từ ngữ địa phương ở Khách Gia thì làm sao biết được, như từ ngữ trong bài thơ này đã dùng chữ: “Lung”, tiếng Khách (Hẹ) chỉ nhà giam, phòng giam. Người Khách Gia ở Miêu Lật khi vào nhà giam gọi là “nhập lung”, ra khỏi nhà lao gọi là “xuất lung”, giam trong nhà lao gọi là “quan lung”. Trong khi ấy, những từ với ý nghĩa trên nếu ở Trung văn lại gọi là “nhập ngục”, “xuất ngục”, hầu như không ai dùng chữ “lung”. Trong “Nhật ký trong tù”, từ “lung” được hiểu là “nhà giam”, “nhà ngục” hoặc “nhà tù”. Chữ “Lung” đã được sử dụng trong hơn 10 bài thơ trong số 134 bài thơ.

III- Nỗi buồn xuất xứ của “Cờ Đỏ Sao Vàng”

Lá “Cờ Đỏ Sao Vàng” của đảng CSVN dùng từ năm 1945 lại giống như lá cờ của tỉnh Phúc Kiến của Tàu đã dùng vào năm 1933. Tỉnh Phúc Kiến là một tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Thế mà, một số người Việt lại tôn thờ và coi là lá cờ của dân tộc thì đó là một sai lầm rất lớn. Đáng tiếc, có rất nhiều người là đảng viên của đảng CSVN đã không dám nhìn thẳng vào sự thật phũ phàng này, hay chưa biết cờ đỏ sao vàng chính là cờ làm chư hầu?!. Dân tôi băn khoăn, nếu lá cờ này do Hồ Tập Chương đã lấy từ cờ của tỉnh Phúc Kiến để làm quốc kỳ nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là một âm mưu Hán hóa, xin khỏi bàn. Còn nếu đích thật là Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc còn sống với tên HCM lại cố dùng “Cờ Đỏ Sao Vàng” là HCM đã manh nha làm chư hầu cho ngoại bang từ năm 1945!. Nên năm 1958, HCM đã đồng lõa với thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Tàu cộng, dâng hiến biển Đông của ta cho Tàu là không có gì lạ?!

IV- Cảm nghĩ về “lăng bác” hay đưa di ảnh vào chùa miếu

Nếu ai chịu khó bỏ tiền mua vé vào xem “lăng bác” thì thấy: “Thi hài Hồ Chí Minh đặt trong hòm kính, qua lớp kính trong suốt, thi hài để nằm ngửa trong bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân vẫn bị mang đôi dép cao su”. Dân tôi nghĩ tất cả các nước trên thế giới, chỉ có sở thú mới bán vé cho người ta vào xem thú vật, chứ người đã mất thì “nghĩa tử là nghĩa tận”, dù người ấy là Hồ Tập Chương trá hình để thực hiện ý đồ Hán hóa, hay Nguyễn Ái Quốc đã “bán nước cầu vinh” cũng không nên nhẫn tâm hành hạ xác người chết như vậy. Dân tôi mong mỏi quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức tai to mặt lớn trong chính quyền VN hiện nay, sớm hồi tâm nghĩ lại cho thi hài này được chôn cất như thường dân, đừng tiếp tục hành hạ trông tội nghiệp! Hơn nữa, về phong thủy: Những bức tranh có màu sắc tối tăm, nặng nề nếu nhìn hằng ngày sẽ khiến cho người xem hoảng loạn tinh thần. Treo hình ảnh, chân dung người đã quá cố; có thể tạo cảm giác thương nhớ, rầu rĩ cho mọi người thân, huống hồ gì là thi thể của một người đã chết mà lại để nằm chình ình với mục đích bán vé lấy tiền?!

Dân tôi còn nghe nói rằng di ảnh của HCM đem vào chùa hay nhà thờ để thờ cúng, nếu tấm di ảnh này được để phía sau (hay dưới chân) bàn thờ Phật hay thờ Chúa, thì đây là điều tốt, vì biết đâu linh hồn HCM nghe kinh kệ lâu ngày sẽ ăn năn hối cải, mà từ đấy tội lỗi được tiêu trừ dần và hy vọng HCM sẽ được đi đầu thai thành kiếp khác?! Ngược lại, lưu ý các người đừng có lầm lẫn để di ảnh của HCM trước mặt (hay ngang hàng) với Đức Phật hay Đức Chúa, như vậy là hại HCM đấy, dù biết rằng Đức Phật từ bi, Đức Chúa bác ái, nhưng linh thần ở nơi đấy cũng khó tha thứ những kẻ đứng ngồi xấc xược, nhất là kẻ tội đồ dân tộc!

Dân tôi luôn trăn trở, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay xem HCM (dù thật hay giả) như cha già dân tộc, lập lăng hay thờ cúng nơi chùa miếu bằng cách cung kính, thì các ngài đã thật sự “nhận giặc làm cha” lầm lẫn quá rồi! Quê hương thật sự đen tối?!

Cuối cùng, dân tôi còn nghĩ rằng: Kẻ cướp khi muốn cướp tiền của hay chiếm đoạt ruộng vườn của lương dân hoặc gặp lúc nguy cần thoát thân thì có thể giết hại bất cứ ai, dù là: Quan lại, dân lành, nam nữ, già trẻ... nhưng kẻ cướp luôn tôn sùng, sợ sệt đại ca (thủ lĩnh) của hắn, dù đại ca của hắn là kẻ bất lương, vậy thì thủ lĩnh HCM dù thật hay giả vẫn là tội đồ của dân tộc, nếu quí ngài quyền thế trong đảng CSVN cũng như các quan chức lớn trong chính quyền VN hiện nay, còn khư khư tôn sùng HCM thì quí ngài giống đảng cướp lắm đấy! Nói đến quân cướp thì dân tôi lại không thể quên đảng cướp thường xuất hiện nhịp nhàng với công an hay đảng viên đảng CSVN, mỗi khi đàn áp Dân oan, như cưỡng chiếm ruộng vườn của lương dân ở Dương Nội Hà Đông, Văn Giang Hưng Yên, hay của Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng... Dù sự thật là vậy, dân tôi cũng chưa tin hẳn Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cướp là một, mong quí ngài đừng phối hợp với bọn cướp hay cho công an làm đảng cướp để hại dân lương thiện nữa, vì như vậy toàn dân sẽ biết đảng CSVN là đảng cướp thật rồi đấy?! 

Nếu ai đã sống ở Sài Gòn trước năm 1975 vào thời VNCH, đều biết rằng “Sài Gòn là hòn ngọc viễn Đông” và tại miền Nam Việt Nam tiến bộ và phồn vinh hơn các nước Thái Lan, Nam Hàn, Phi Luật Tân... thế mà các nước này nhờ không có “học tập Hồ Đồ”, như “Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ngày nào cũng ra rả với chính sách ngu dân của dộc đảng là: “học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ”?! Họ (Thái, Phi...) đã tiến bộ vượt qua cái nước “Xã hội chủ nghĩa” tới mấy mươi lần, là vì sao vậy?! Từ đấy, dân tôi xin thưa với toàn thể bà con có phải “Bác Hồ” đã và đang ám ảnh gây nên điêu đứng toàn dân tộc và non nước Việt Nam không?! Xin thưa thêm, nếu “Tổ quốc mình đang lâm nguy thật sự” thì xin hỏi đồng bào rằng: Chúng ta nên nghĩ gì và làm gì???!!!

Ngày 10-9-2013


 

maandag 9 september 2013

Hồ Chí Minh là Nguyễn ái Quốc hay Hồ Tập Chương người Ðài Loan ?

Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo"
Nhóm Hành Khất (Danlambao) - Giáo sư Hồ Tuấn Hùng là tác giả của cuốn "Sinh bình Khảo" ("Khảo cứu về Cuộc đời Hồ Chí Minh") được xuất bản vào năm 2008, vốn đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan. Ông sinh năm 1949 (có tài liệu nói là sinh năm 1948), tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, và từng dạy học hơn 30 năm, đồng thời còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. Ông ta đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu, đối chiếu nhiều tư liệu khác nhau để hoàn thành tác phẩm mà ông ta đã từng ôm ấp từ lâu mà nó cũng là nguyện vọng của gia tộc được trọng giao lại cho ông ta, nhất là lời trăn trối sau cùng của người cha của ông ta. 

Như Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đã bày tỏ trong phần mở đầu, nơi trang 11, như sau: "Nội dung cuốn sách nầy hoàn toàn bảo đảm tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người." Rất nhiều lần, từ phần "Thay lời tựa," suốt trong cuốn sách, đây đó, đến phần cuối cùng, tác giả luôn luôn khẳng định là: "Hồ Chí Minh sau năm 1933 chính là Hồ Tập Chương đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, tuyệt đối không phải là Nguyễn Ái Quốc." Và cũng như thế, rất nhiều lần ông ta hoàn toàn khẳng định là việc làm nầy của ông ta không phải vì mục đích tìm kiếm danh lợi mà chỉ muốn trả sự thật về cho lịch sử mặc dù nếu xét ra Hồ Chí Minh chính là bác ruột của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng.

A. Về thân thế Hồ Tập Chương:

Nơi trang 53, tác giả Hồ Tuấn Hùng cho biết về thân thế của nhân vật Hồ Tập Chương như sau:

- Sinh năm 1901 (Minh Trị năm thứ 34).

- Cha là Hồ Dần Lượng vốn là tú tài (sinh đồ), mở nhà dạy học kiêm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Dân địa phương phục tài xưng là "Thánh nhân" và mẹ là Lý Thị.

- Là người con thứ 7 trong số 10 anh chị em (người anh thứ 3 tên là Hồ Tập Phỉ, người em út là Hồ Tập Dưỡng).

- Tốt nghiệp Đại học Công nghiệp số 1 Đài Bắc vào năm 1921 trong thời Nhật chiếm đóng Đài Loan.

- Trong khoảng thời gian 1922--1928, ông ta trở về vùng Miêu Lật và mở xưởng nấu rượu và tiệm thuốc Bắc cùng người anh trưởng.

- Kết hôn vào năm 1926 với người địa phương tên là Lâm Quế.

- Có đứa con gái đầu lòng tên là Hồ Tố Mai vào năm 1928 và đứa con trai trưởng là Hồ Thự Quang vào năm 1930 (tính đến năm 2013 là 83 tuổi).

- Tham gia "Tổ chức Lao động Thái Bình Dương" của Cộng sản Quốc tế với bí danh là Hồ Quang vào năm 1929.

- Bị bắt ở Quảng Châu vào năm 1931 và được giải cứu.

- Từ năm 1932--1933, ông ta đến vùng núi Quảng Tây khai thác quặng mỏ và qua Xiêm La hoạt động và mất liên lạc với gia đình.

Và khoảng thời gian quan trọng là thời kỳ sau năm 1933 được tác giả cho biết như sau:

- Khoảng cuối năm 1938 (tháng 11 và 12) làm thông dịch cho quân đội Nhật.

- Khoảng đầu năm 1939, gia nhập Bát lộ Quân và từ đó không liên lạc gì với gia đình.

B. Nhận định sơ lược:

Cùng một mục đích "trả lại sự thật cho lịch sử," Ngô Trọc Lưu vốn là người từng được vinh danh là "Người cha của nền văn nghệ Đài Loan" vào năm 1946 (theo trang p51) cho xuất bản cuốn sách bằng tiếng Nhật với tựa đề "Hồ Chí Minh" được chuyển qua Trung văn là "Đứa con côi châu Á," từng nói: "Cần phải xem việc lẩn tránh sự thật chính là xuyên tạc lịch sử."

Nơi trang 51 cho biết thêm là "Trước đây, Ngô Trọc Lưu và Hồ Tập Chương rất quen biết nhau, sau nầy ông cùng với em trai Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, cháu rể Hồ Tập Chương là La Lộc Xuân có mối quan hệ rất thân mật." Ông ta cũng thừa nhận là:

"Hồ Chí Minh xuất thân là người thuộc sắc tộc Khách Gia (Hakka, người Việt gọi là Hẹ) tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan" (trang 05).

Qua hàng loạt những sự kiện lịch sử liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và Hồ Tập Chương, Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đưa ra nhiều bằng chứng và dẫn chứng hùng hồn cho kết quả thừa nhận của mình. Và qua đó, tập thơ "Ngục trung Nhật Ký" ("Nhật ký trong Tù") vốn gây nhiều tranh cãi về vấn đề ai là tác giả mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã từng tung ra rất nhiều sách để ca tụng tác giả Hồ Chí Minh, được Giáo sư chứng minh rất cụ thể qua từng ý nghĩa, cũng như nguồn gốc của chữ, cách chơi chữ của một người lão luyện về Hán tự mà một Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Tất Thành không tài nào có thể có được một kiến thức sâu rộng về Trung văn đến như thế vì không có đủ thời gian tu tập về chữ Hán trước đây hay nói đúng hơn là trình độ Hán văn của Nguyễn Tất Thành chỉ là sơ cấp. Mặc dù sau nầy, Nguyễn Tất Thành được Tăng Tuyết Minh, người vợ Quảng Châu đầu tiên của ông ta, dạy thêm về tiếng Quảng nhưng đó cũng chỉ là văn nói hơn là văn viết.

Tiếng Tàu đơn âm cũng như tiếng Việt, nên học nói rất dễ nhưng học viết lại là một vấn đề khác, mà học cách viết văn, thơ điêu luyện lại càng rắc rối hơn. Cái cách điêu luyện đó, chỉ có những người bản xứ mới hiểu thấu. Và đó là cách nhận định của Giáo sư với tư cách là người cùng địa phương của tác giả "Ngục trung Nhật ký."

Trong khi đó, một Hồ Chí Minh sau năm 1933 đã cố tình tung ra lai lịch "huyền thoại" hầu tự ca tụng và che lấp quá khứ của chính mình trong cuốn sách đầu tay là "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" của tác giả Trần Dân Tiên (cũng là Hồ Chí Minh) được xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc năm 1948 và tại Paris năm 1949, và tiếp theo là một cuốn sách khác với nội dung và mục đích như cuốn sách đầu tiên là cuốn "Vừa đi đường Vừa kể chuyện" của tác giả T.Lan (cũng là Hồ Chí Minh) được xuất bản lần đầu vào năm 1950 tại Trung Quốc và trên báo "Nhân dân" của Hà Nội vào năm 1961.

Mặc dù trên khía cạnh chính trị, dường như tác giả cũng có ít nhiều niềm tin vào những người Cộng sản, khi tin rằng Hồ Chí Minh có khuynh hướng dân tộc hơn là Cộng sản và tin tưởng vào những gì mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố về vấn đề "hòa hợp hòa giải" mà không hề đá động gì đến vấn đề cải tạo trừng phạt những quân nhân của Việt Nam Cộng hòa mà qua đó chính là chủ ý của chế độ Cộng sản. Dường như đó là cách mà tác giả cố tình bảo vệ, bào chữa cho Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) là một người yêu dân tộc, không hẳn là một tay mật vụ của Cộng sản Quốc tế sau nầy. Tác giả cũng quá ngây thơ khi nghĩ rằng, một tay mật vụ Cộng sản Quốc tế khi muốn quay về với dân tộc thì dễ dàng tuyên bố và thoát ra khỏi lưới mật vụ trừng phạt như trường hợp Hồ Chí Minh, trong khi mạng tình báo Trung cộng lúc nào cũng cận kề trong và ngoài nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

C. Nhận định chi tiết:

Nhằm bổ sung thêm tư liệu "Sinh bình Khảo" của tác giả hầu làm sáng tỏ vấn đề ai là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tập Chương, và Hồ Chí Minh; Qua những tài liệu dồi dào hôm nay, người ta có thể ngẫm nghĩ, tự hỏi, và so sánh để tìm ra một lý lẽ thích hợp nhất. Mặc dù nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm mọi cách giấu kín sự thật đến khi họ khó lòng có thể chối bỏ thì tìm cách bào chữa cho hành động của họ hoặc "im lặng" phớt lơ, xem như việc đã rồi (đó là cách mà họ hay sử dụng nhất). Và không những thế, họ xem đó là một thành công về tuyên truyền dù phải xem thường lịch sử, hay phải sửa đổi, thậm chí nếu cần thì xóa bỏ luôn phần đó.

I. Về thể hình:

Về vấn đề nhận diện thể chất của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương, tác giả có nhắc đến vấn đề vành tai trái có vết sẹo của Hồ Tập Chương mà người ta có thể dễ dàng nhận ra trong những bức hình của Hồ Chí Minh sau nầy:

                                       Hình 01                   Hình 02                     Hình 03 

Hình 01: Nguyễn Ái Quốc vào năm 1919 (theo ghi chú dưới hình).

Hình 02: Bức hình nầy theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng có nhiều nghi ngờ. Quả thật, nếu so với hình số 1, nó rất thiếu tự nhiên như là cái đầu được cắm vào (càm nhọn hơn, quay hàm chạy một đường thẳng --lộ hẳn bên ngoài vành khăn, đôi chân mày được tô đậm hơn, hàm răng lộ ra, hai vành mũi nhỏ lại, vần trán cũng bị thu hẹp)

Hình 03: Bức hình nầy theo Giáo sư chính là Hồ Tập Chương lúc còn trẻ. Từ bức hình số 02, vốn bị sữa lại sao cho khuôn mặt ốm đi, qua cách vẽ lại quay hàm, để sao cho có nét gần giống bức hình số 03 nầy. Tuy nhiên, nếu nhìn vành tai trái sẽ thấy sự khác biệt: hình số 03 có trái tai to hơn, và vành tai tròn, rộng hơn.

                                         Hình 04                  Hình 05                   Hình 06

Hình 04: Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tour, Pháp vào tháng 12/1920. Bức hình số 03, phần nhiều có nét như bức hình số 05, được xem như là Nguyễn Ái Quốc

Hình 05: Nguyễn Ái Quốc là đại biểu Bán đảo Đông Dương tại Đại hội Cộng sản Pháp ở Marseilles vào năm 1921

Hình 06: Dù được cho là hình của Nguyễn Ái Quốc vào năm 1921, nhưng xét ra không có nét của hai bức hình số 04 và 05 vì chân mày trái cong gãy về phía cuối, trong khi bên phải nhô cao hơn (tương tự hình số 03). Phần lớn có nét của hình số 01 là Hồ Tập Chương với cái miệng hơi nhọn nhưng không rộng quá so với hình số 04 và 05.

                                          Hình 07                     Hình 08                   Hình 09

Hình 07: (Sau đại hội ở Moscow, Nguyễn Ái Quốc (theo tác giả nhìn nhận) vào năm 1925, lúc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam). Tuy nhiên, nếu so sánh với bức hình số 08, cho thấy phần lớn có nét giống nhau, nhưng bức hình nầy dường như không có nét nào của người dân quê miền Bắc, vùng Nghệ Tỉnh. Dường như đây lại là một bức hình được chỉnh sữa từ bức hình số 08.

Hình 08: (Nguyễn Ái Quốc??? trong thời gian bị tù ở Hương Cảng được Luật sư Francis (Frank) Henry Loseby biện hộ và bảo vệ cho chuyến trốn thoát đến Moscow vào khoảng năm 1932). Bức hình nầy có nét chân mày trái cong gãy của bức hình số 06, và càm nhọn vì vậy khó chấp nhận là hình của Nguyễn Ái Quốc mà là hình của Hồ Tập Chương cũng bị bắt trong khoảng thời gian nầy.

Hình 09: (Nguyễn Ái Quốc vào năm 1930 trong nhà triển lãm ở Việt Nam. Bức ảnh truyền thần của của Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Nguyễn Ái Quốc). Cái miệng rộng ngang và nhất là cái mũi hơi to mang nét đặc trưng của người Nghệ Tỉnh hơn, cũng như chiếc càm khá rộng, có khả năng đúng là hình của Nguyễn Ái Quốc đang mang bệnh lao nặng làm gầy ốm khuôn mặt nhiều trong khoảng thời gian trước vào sau ngày lao tù.

                                        Hình 08b                       Hình 10                    Hình 11

Hình 08b: Bức hình trong nghi vấn nầy lại có nhiều nét giống với bức hình số 10 (tái xuất hiện trong một khoảng thời gian mất tích) và bức hình số 11 (lúc nầy tự xưng là Hồ Chí Minh). Từ chân mày trái cong gãy đến vành tai phải nhọn đầu trong khi vành tai phải cong tròn khác với bức hình số 09 ở trên.

Hình 10: Ảnh Hồ Chí Minh năm 1934 tại Mạc Tư Khoa trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker. (Theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, đây là Hồ Tập Chương). Như vậy, chứng minh ngược lại là bức hình số 08 cũng là Hồ Tập Chương.

Hình 11: Tấm ảnh Hồ Chí Minh nầy do Andred Roth chụp đăng trong "Tân Việt Nam" vào năm 1946 tại Việt Bắc. Và từ đây trở về sau, nhân vật chính trong đảng Cộng sản Việt Nam đã thay thế hoàn toàn một Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Tập Chương.

                                             Hình 11b                                      Hình 12

Hình 11b: Bức hình Hồ Tập Chương (tức Hồ Chí Minh) nầy có những nguồn tin khác cho là vào năm 1944 ở Việt Bắc (không phải là 1946).

Hình 12: Theo vi.wikipedia, bức hình Hồ Chí Minh nầy vào năm 1946, sau khi cướp lấy chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim.

                                                  Hình 13                                    Hình 14

Hình 13: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1954, trong thời kỳ thảm sát đẫm máu nhất của công cuộc Cải cách Ruộng đất và bắt đầu cuộc ly hương của những người dân miền Bắc vào Nam theo ký kết hiệp ước giữa hai miền.

Hình 14: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1957, trong thời kỳ chuẩn bị ráo riết những cuộc vận chuyển vũ khí do Liên Xô và Trung cộng cung cấp bằng những con tàu "không số" do Trung cộng chế biến, và bằng những đường rừng núi của "Đường mòn Hồ Chí Minh" để tiến hành cuộc xâm lược miền Nam Việt Nam lâu dài qua chiêu bài "thống nhất đất nước." Có lẽ, Hồ Tập Chương chỉ được huấn luyện để làm cách mạng Cộng sản hơn là có sự hiểu biết về làm cách nào phát triển đất nước, nên con đường phải đi là quyết chiếm cho bằng được miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Phân chia Genève 1954 để khỏa lấp nền kinh tế đang suy bại khủng khiếp sau công cuộc Cải cách Ruộng đất.

Hình 15

Hình 15: (Ghi chú trong bức hình: "Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm viện "Cải lão hoàn đồng" ở Rumani, tháng 8/1957"). Đây là bằng chứng cho thấy Hồ Tập Chương thường đi ngoại quốc để sửa chữa da mặt, tiêm thuốc căng da.

                                                 Hình 16                                    Hình 17

Hình 16 và 17: Trong cuộc phỏng vấn của một nữ phóng viên Pháp với Hồ Chí Minh vào tháng 6/1964, hai hình ành 16 và 17 có nét rất nhiều của một Hồ Tập Chương, đặc biệt là vành tai trái nhọn và vết cắt bên vành tai phải trên cao --mà lúc trước mật vụ Pháp có thể lầm tưởng giữa giữa Hồ Tập Chương và Nguyễn Ái Quốc vì lúc bắt Nguyễn Ái Quốc lại có giấy tờ của Hồ Tập Chương trong phòng-- mặc dù gương mặt bấy giờ dường như được tiêm thêm thuốc căng da làm cho no đầy hơn.

                                         Hình 18               Hình 19                       Hình 20

Hình 18: Bức hình tuyên truyền lãnh tụ Hồ Chí Minh vào khoảng tháng 9/1963 được tô vẽ thêm từ tóc, chân mày, râu, màu sắc v.v. để trở thành một nhãn hiệu cầu chứng cho đảng Cộng sản Việt Nam. (theo vi.wikipedia, là do nhiếp ảnh gia Lục Văn Tuấn (陸文駿) của "Quảng Đông họa báo")

Hình 19: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1966

Hình 20: Bức hình Hồ Tập Chương trong sân sau biệt thự Bắc Bộ Phủ vào năm 1969

II. Về bút tích: 

Điều trước tiên phải nhắc đến là lá thư xin được học trường Pháp vào năm 1911 của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian theo con tàu buôn Amiral Latouche-Tréville của Pháp làm việc lặt vặt trên đó để được ra nước ngoài.


Hình 01

Hình 01: Cho thấy nét chữ rất cứng và đều đặn, cũng như những chữ nét chữ hoa đầu câu chứng tỏ là một người tài hoa --mặc dù vẫn bị lỗi đôi chút về ngữ Pháp và văn phạm. Vấn đề đặt ra là đó có phải là nét chữ thực sự của Nguyễn Ái Quốc hay anh ta nhờ một ai đó có trình độ hơn trên tàu, viết dùm lá thư? Vì nên nhớ rằng, Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc sau nầy) trải qua không nhiều thời gian để làm quen, nắn nót những mẫu tự La-tinh mà từ lúc bắt đầu đi học là tiếng Hán từ năm 9 tuổi đến 14 tuổi dù chỉ là trong giai đoạn sơ cấp dù có được kèm thêm một ít tiếng Pháp trong những năm về sau trước khi chính thức được xin vào trường Quốc tự Giám, Huế, nhờ danh vị đỗ đạt của người cha, Nguyễn Sinh Sắc, nhưng Nguyễn Tất Thành chưa hẳn là một học sinh thực thụ vì chưa đủ trình độ Pháp ngữ.

Điều đáng chú ý nữa là chữ "Nguyễn" lại viết là "Nguyển" và chữ "quốc ngữ" viết là "quấc ngử"

Hình 02

Hình 02: Đây là bút tích của một thành viên Nguyễn Ái Quốc khác trong nhóm 5 người. Có người cho rằng, có thể là bút tích của Nguyễn An Ninh, người anh đỡ đầu của Nguyễn Tất Thành khi vừa đặt chân lên đất Pháp, cũng là người bị Cộng sản sát hại khi trở về Việt Nam sau nầy. Nhưng xét ra, trong nhóm chỉ có 2 người chưa làm quen nhiều với mẫu tự La-tinh là cụ Phan Chu Trinh và Nguyễn Tất Thành. Trong lối hành văn xưa, kiến thức về tình hình chính trị, và chữ "Nguyễn Ái Quấc" có thể là bút tích của cụ Phan nhiều hơn (ngày xưa chữ "quấc" dùng cho chữ "quốc" như chữ "quấc hồn" trong bài trên. Mặc dù nét chữ rất yếu, nhưng không sai chính tả của tiếng Việt.

                            Hình 03                                          Hình 04                                          Hình 01b

Hình 03: Bức thư ngắn vốn được gởi cho một người bạn nào đó trong nước Pháp - ám chỉ bằng chữ "đồng bào" - nhằm cảm ơn cho việc nhận được bộ sách Tây Du Ký vào năm 1922, chưa hẳn có khả năng là bút tích của Nguyễn Tất Thành vì chữ ký rất khác và có vẻ được dùng thường xuyên qua nét cong tự nhiên.

Hình 04: Có nhiều khả năng chính là bút tích của Nguyễn Tất Thành vào năm 1923 dưới bí danh là Nguyễn Ái Quốc, gởi thư đi để thanh toàn tiền ai đó đặt mua báo "Người cùng Khổ" ("Le Paria") mà anh ta đang hoạt động trong ban biên tập. Điều đáng chú ý là mẫu tự "d" (như trong chữ "du" tiếng Pháp) được viết theo kiểu Tây phương hơn là cách viết bình thường mà trong bức thư xin đi học không có dùng, và cách viết chữ hoa cũng khác biệt.

                                            Hình 05                                                                      Hình 06

Hình 05: Bức thư kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh vào năm 1946, cho thấy cách viết rất khác biệt cũng như cách dùng chữ Việt rất lạ như chữ "gi" hoặc "d" viết là "z" (thí dụ: "giờ" viết là "zờ"; "dân" viết là "zân"), chữ "ph" viết là "f" (thí dụ: "phải" viết là "fải") và đây đó có khá nhiều lỗi chính tả của tiếng Việt như thể là do một người không thuần túy là gốc Việt. Từ đó có thể hiểu, chính là bút tích của Hồ Tập Chương, một người quen dùng Hán tự, cũng như cách cầm bút khác biệt hơn khi dùng mẫu tự La-tinh nên nét viết yếu hơn nhiều như trường hợp của cụ Phan.

Hình 06: Bức thư ngắn nầy lại có nét viết cứng hơn nhiều, khác xa hình 05, vào năm 1948. Chữ ký cũng khác dù chỉ cách khoảng 2 năm. Mặc dù vẫn dùng cách viết lạ của hình 05 ("gi" viết là "z," v.v.), một vài nét khác biệt rõ hơn (như mẫu tự "v). Điều đáng chú ý là nét cuối của mẫu tự thường được kéo dài lên cao (như mẫu tự "n," "m" v.v.) mà trong hình 05 không có. Cho thấy là không phải cùng một người viết ra.

                                              Hình 07                                                                    Hình 08

Hình 07: Bút tích nầy được cho là của Hồ Chí Minh ghi lại cảm tưởng trong sổ vàng ở điện Kremli trong chuyến thăm Liên Xô vào năm 1955. Cho thấy có nhiều nét gần gũi với hình 05 và 08 hơn là hình 06. Không có những nét cuối đẩy lên cao. Trong phong cách là chủ tịch một nước ghi lại trong sổ vàng nước ngoài thì không bao giờ có chuyện cố tình viết dối (như trường hợp trong hình 05 hoặc 08) để bào chữa cho nét chữ yếu kém, thiếu đều đặn của mình. Điều nầy càng chứng tỏ rằng vì người viết không thuần là người Việt vốn quen sử dụng chữ Việt Nam. Có nghĩa là Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương.

Hình 08: Bức thư nầy vào năm 1964 là một chứng minh khác về thân thế Hồ Chí Minh khi nó được viết để cảm ơn kiều bào Lê Đình Cao trước khi trở về miền Bắc đã gởi đi 92 chiếc xe đạp để biếu nhà cầm quyền, cũng như chi phí để xây ngôi trường 4 lớp học.

                          Hình 09                                                                      Hình 10

Hình 09: Bút tích bằng Hán tự của Hồ Chí Minh có vẻ điêu luyện nhiều hơn so với bút tích Việt ngữ

Hình 10: Ngay cả khi đọc sách, Hồ Chí Minh cũng dùng Hán tự để ghi chú. Điều nầy có thể hiểu qua cách cầm bút "trên cao" để dễ dàng vẽ nét Hán tự hơn là dùng để gò nét viết tiếng Việt.

C. Về câu hát Trung Quốc:

Trong khoảng thời gian trở bệnh của Hồ Chí Minh vào năm 1969, một phần nào do ảnh hưởng của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 bị thiệt hại nhiều về quân số và vũ khí nhưng hoàn toàn thất bại nặng nề, sau nhiều lần qua Trung cộng để chạy chữa vẫn không bình phục. Phái đoàn Bác sĩ của Trung cộng được cử qua Hà Nội để giúp đỡ, nhưng đến sáng ngày 2/9/1969, Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng.

Theo bài viết "Ba lần Bác cười Trước lúc Đi xa" được đăng trên trang mạng qdnd.vn của nhà nước vào ngày 25/01/2010, do Nguyễn Hòa dịch lại từ bài viết của Vương Tinh Minh, là y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, thành viên Tổ bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho Bác Hồ, vào tháng 8/1969, trong đó có đoạn:

"Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo."

Tại sao Hồ Chí Minh là người Việt Nam lại muốn nghe "một câu hát Trung Quốc"? Điều nầy càng chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh thực chất hoàn toàn không phải là người có gốc Việt dù đã ở miền Bắc Việt Nam hoạt động rất lâu. Chỉ được giải thích một cách thỏa đáng trừ khi Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương.

Trong khi đó, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, một lần nữa, ra sức tuyên truyền, thêu dệt thêm câu chuyện tưởng tượng để gây xúc động những người dễ tin, những người từng được nhồi sọ về tư tưởng tôn sùng tuyệt đối nhằm khỏa lấp tất cả sự thật trước mắt, hiển hiện trước họ. Một thí dụ điển hình là bài viết "Tình yêu Bác Hồ dành cho những Khúc dân Ca" trên trang mạng lamdong.gov của Phạm Huỳnh Hoa (tự xưng là người sưu tầm, nhưng không biết ai là tác giả) kể lại một câu chuyện "xạo," không đúng như Vương Tinh Minh thuật lại. Và đồng hợp ca tuyên truyền "xạo" thêm là bài hát "Lời Bác dặn Trước lúc Đi xa" của Trần Hoàn bắt đầu bằng câu: "Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi. Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế" nhưng không có ai quanh đó, nên "Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ" mãi đến lần thứ ba "Ôi may sao, bỗng có em gái nhỏ, bước vào gần Bác." Chính bài hát nầy dựa trên là nội dung tuyên truyền "xạo" của bài viết nói trên trong mục đích tiếp tục đánh lừa công chúng Việt Nam cho đến nay.

Cũng như ngày Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) mất cũng từng được nhà cầm quyền Cộng sản miền Bắc lúc bấy giờ tuyên bố trước thế giới là ngày 3/09/1969 thay vì là ngày 2/09. Một thí dụ điển hình là trên trang mạng biography.com trong phần "Ho Chi-Minh" vẫn còn bị lầm lẫn khi ghi nhận ngày mất của ông ta là 3/09/1969: "He declared Vietnam’s independence in 1945 and became the first president of the republic in 1954. He died on September 3, 1969, in Hanoi, Vietnam." [Ông ta tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào năm 1945 và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nền Cộng hòa vào năm 1954. Ông ta mất vào ngày 3 tháng Chín năm 1969, ở Hà Nội, Việt Nam.]

Và nơi trang 171, về "Di chúc" của Hồ Chí Minh có đoạn: "... phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác..." Có phải chăng câu "các vị cách mạng đàn anh khác" là ẩn ý của Hồ Tập Chương muốn trở về cùng với mẫu quốc, Chủ tịch Mao, của ông ta? Mà đáng lý ra, một Hồ Chí Minh gốc Việt sẽ không nghĩ như thế, vì ông ta dù sao cũng không thể nào không biết đến tổ tiên, dòng họ của mình, là điều tối thiểu, hoặc dòng giống Việt Nam. Dù mang nặng tinh thần Cộng sản Quốc tế đến như thế nào, Hồ Tập Chương vẫn yêu mến dân tộc của riêng mình hơn. Đó là điều hiển nhiên mà một Hồ Chí Minh, hay bất kỳ nhân vật Cộng sản nào cũng thừa biết rằng không ai không yêu dân tộc mình hơn bằng chính giống nòi mình. Vì đó là cứu cánh của cuộc sống mình mà trong đó chứa đầy những thâm tình, thân thuộc.

D. Thay lời kết:

Người ta thường nghĩ rằng chỉ có người ngoại tộc mới ra tay tàn ác với người bản xứ. Điều nầy quả không sai. Và càng đúng hơn khi ý niệm đó được thúc đẩy mạnh bạo hơn bởi chủ thuyết Cộng sản: phân biệt giai cấp. Và mục đích phân biệt giai cấp là nhằm tiêu diệt hoàn toàn giai cấp có kiến thức nhưng bất phục Cộng sản. Mặc dù những người Cộng sản luôn hô hào thế giới đại đồng vô sản, vô giai cấp, nhưng ngược lại, họ luôn luôn gây sự phân biệt giai cấp tiềm tàn trong mọi lãnh vực nhằm mục đích thao túng quyền lực độc tài nắm giữ được tất cả mọi người.

Điều nầy được chứng minh qua nhân vật Hồ Chí Minh, một Hồ Tập Chương luôn đặt vấn đề dân tộc của riêng mình trên hết nên ông ta dấn thân mình thực hiện cho bằng được mục đích lợi ích lâu dài cho riêng dân tộc mình là Trung Quốc, mặc dù ông ta là người Đài Loan nhưng vẫn hướng lòng về một Trung Quốc Cộng sản hơn. Ông ta không những thảm sát không nương tay những người đồng chí thân thiết của Hồ Chủ tịch trong công cuộc Cải cách Ruộng đất, kéo dài chiến tranh Bắc-Nam Việt Nam mà không cần thương tiếc sinh linh. Tất cả không ngoài mục đích cuối cùng là dâng lên mẫu quốc một nước An Nam thuần phục và cũng là một nước có nhiều đại thù trong lịch sử với Trung quốc.

Hồ Tập Chương đã thực sự thành công trọn vẹn vai trò được giao phó bởi Trung cộng. Ông ta đáng là một vị anh hùng, chỉ đứng sau họ Mao, trong phần ghi công vinh danh. Và có lẽ, đã đến lúc Trung cộng cần phải tuyên bố công trạng của Hồ Chí Minh và cũng không nhất thiết trả về sự thật của lịch sử. Vì lịch sử có được chính là do mỗi người dân đương thời góp phần tạo nên trong cuộc sống hàng ngày dù là vô tình hay hữu ý. Những kẻ hèn nhát không dám nhìn sâu vào gương lịch sử là những kẻ luôn chối biến vai trò của mình để đùn lại cho kẻ khác, luôn luôn nói rằng: "Hãy để cho lịch sử phán xét. Việc nầy chẳng dính dáng đến tôi." Đây chính là một thái độ của kẻ "thất phu" dù là người có văn hóa cao. Vì theo như câu nói đó, vậy cái gì là lịch sử? Lịch sử dân tộc được tạo nên từ hòn đá, cây cỏ? Và hôm nay, người đang sống trong xã hội, sẽ không trở thành lịch sử? Lịch sử là một cái gì quái dị, cấm kỵ trong chế độ Cộng sản đến nỗi người đương thời nghe nói đến là phải chối bỏ ngay mình đang là một thành phần cũng tạo nên nó? Nói như trên, có nghĩa là tổ tiên của anh ta không có mặt trong lịch sử, và hôm nay anh ta cũng muốn biến mất luôn khỏi nó sau nầy!

Cũng như nơi trang 181, tác giả ghi lại lời nói của một du học sinh Việt Nam có trình độ đại học ở Đài Loan khi được hỏi cảm nghĩ thế nào về tin tức Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương: "... Còn chuyện Hồ Chí Minh là người Trung Quốc hay Đài Loan hãy để cho lịch sử phán xét. Đối với tuổi trẻ chúng tôi việc nầy không phải là quan trọng. Mong muốn của chúng tôi là đất nước phát triển, tiền đồ tươi sáng trong tương lai." Anh chàng đó chỉ thấy cái "tiền đồ" mà không nghĩ rằng cài "tiền đồ" tự nó cũng sẽ trở thành "lịch sử." Anh ta không dám nhìn nhận lịch sử giống như một người xây nhà không dám nện mạnh cho nền đất cứng hơn vì e ngại khoảnh đất đó sẽ bị lún xuống. Nhưng sau khi xây dựng căn nhà trên nền đất "mềm" đó, anh ta có bảo đảm được cái "tiền đồ" tươi sáng nào đó không? Hay bất chợt, nó sẽ chôn vùi chính anh ta trong lúc còn "mê ngủ" theo cái "tiền đồ" hắc ám đó. Hay nên nói thẳng hơn là anh ta cố gắng học để mong chiếm lấy một địa vị nào đó trong xã hội vì cái "tiền đồ tươi sáng của chính mình" hơn là mượn câu nói thuộc lòng là "xây dựng đất nước" mà chẳng cần biết nền móng vững chắc hay không. Anh ta chính là một kẻ thời cơ mà thời đại nào cũng không thiếu!

Cuối cùng, xin mượn câu viết của tác giả Hồ Tuấn Hùng để đúc kết: "Bỏ đi những phán xét của công chúng về ảnh hưởng của Hồ Chí Minh với nhân dân Việt Nam mới chính là cố chấp, làm tổn hại đến danh dự dân tộc và sự tôn nghiêm của ông ta."