Hồ Chí Minh với các bút danh Paul Thành, Hồ Quang và Trần Dân Tiên
25 tháng 11 2018
Bản quyền hình ảnhullstein bild Dtl.
Image caption Chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh và Tổng thống Indonesia, Sukarno
Sau nhiều năm có nhiều tranh luận, trang web dangcongsan.vn hồi năm 2015 đã có bài 'Sưu tầm tên gọi, bí danh và bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ' nói Trần Dân Tiên là một trong nhiều bút danh của Hồ Chí Minh.
Trước đây, các nguồn chính thống ở VN không nói rõ Trần Dân Tiên là ai mà lại viết được ra cuốn 'Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch'.
Bài báo cũng xác nhận thiếu tá Hồ Quang trong Bát Lộ Quân của Trung Quốc là một trong nhiều tên mà nhà cách mạng Việt Nam đã sử dụng chính thức khi hoạt động ở nước láng giềng cuối thập niên 1930.
Nhiều khiến một số bạn đọc có thể ngạc nhiên là ông Hồ Chí Minh từng dùng khác nhiều bút danh châu Âu như Jean Fort, Victor Lebon, Nilopsky, Albert de Pouvourville, Linov.
Ông cũng nhiều lần ký tên Pháp là Paul Tất Thành, Paul Thanh khi ở Pháp.
"Ngày 15 tháng 12 năm 1912, Nguyễn Tất Thành từ New York gửi thư cho khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của thân phụ là Nguyễn Sinh Huy. Lá thư ký tên Paul Tất Thành."
Ông còn có mật danh tiếng Anh do người Mỹ đặt cho là Lucius khi Hồ Chí Minh giúp nhóm OSS chống Nhật ở vùng biên giới Việt - Trung trong Thế Chiến 2.
Ông cũng dùng nhiều tên Trung Quốc mà nổi tiếng nhất là Hồ Quang, Trương Nhược Trừng, Vương Sơn Nhi, Vương Đạt Nhân, Lý Thụy, Tống Văn Sơ, Tống Thiệu Tổ.
Có vẻ như bí danh Hồ Quang gắn liền với giai đoạn ông ở trong quân đội và có quân hàm thiếu tá của lực lượng cộng sản Trung Quốc. Mikhail Borodin: Người sếp cũ của Hồ Chí Minh Đảng CS dựng tượng Hồ Chí Minh ở nước ngoài Bộ trưởng Anh từng thả Hồ Chí Minh Cuộc chiến ít biết của quân Anh ở Việt Nam
Đây cũng là quân hàm duy nhất được biết đến của Hồ Chí Minh.
Đoạn trong bài về hoạt động của thiếu tá Hồ Quang được trang dangcongsan viết như sau:
"Hồ Quang - Hoạt động ở Trung Quốc cuối năm 1938. Nhờ quan hệ Liên Sô và Trung Quốc nên Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc dễ dàng. Tại Lan Châu thủ phủ tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc mang phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang."
Bản quyền hình ảnhApic/RETIREDImage caption Hồ Chí Minh chơi billard Tuy nhiên, nguồn tư liệu này chưa ghi hết rằng sang năm 1940, ông Hồ Chí Minh vẫn tiếp dục bí danh Hồ Quang.
Trang ditichphuchutich.gov.vn hồi 2011 có bài của Đặng Quang Huy cho viết:
"Đầu năm 1940, Hồ Quang từ Quý Dương đi Trùng Khánh, đồng chí Chu Ân Lai đã tiếp Người và bố trí Người ở tại văn phòng Bát Lộ Quân tại thôn Hồng Nham (Cục Phương Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đặt tại đây).
Tháng 2/1940, được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Người đến Côn Minh, chắp liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Không lâu sau, Người đã gặp đồng chí Vũ Anh (lãnh đạo Ban Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương).
Đồng chí Vũ Anh đã đưa Người đến cơ quan bí mật của Đảng bộ Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương để gặp đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Hoàng Văn Hoan.
Sau mấy tháng Người công tác ở Ban Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Côn Minh, khoảng tháng 10/1940, Người lại qua Quý Dương (lần thứ tư) để trở về Quế Lâm và vẫn ở văn phòng Bát Lộ Quân Quế Lâm."
Như vậy, trong cả năm 1940, Hồ Chí Minh vẫn dùng bí danh Hồ Quang.
Nhiều bút danh khác nhau
Bài báo cũng cho rằng Hồ Chí Minh viết rất nhiều bài báo, dùng nhiều bút danh khác nhau để phục vụ cho công tác tuyên truyền cách mạng.
Ông cũng là tác giả nhiều sách và tư liệu về bản thân:
Năm 1949, ông ký T.T. dưới bài viết "Hồ Chủ Tịch và Văn Nghệ".
Năm 1959, ông ký bút danh Thu Giang trong bài "Bác Đến Thăm Côn Minh" trên báo Nhân Dân (12/04).
Năm 1960, ông dùng bút hiệu Tuyết Lan để viết bài "Ba Chai Rượu Sâm Banh" đăng trên báo Nhân Dân (27/04).
Cùng năm, dưới hình thức dịch lại bức thư của một công nhân tên là Jean Fort, ở Algeria, ông viết về tình cảm của một người bạn quốc tế đối với Nguyễn Ái Quốc thời ở Paris và sau này.
Cùng năm, ông dùng bút danh Trần Lam viết bài "Chuyện Giả Mà Có Thật" đăng trên báo Nhân Dân về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Thái Lan.
Năm 1961, ông ký T. Lan, viết "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện Một Mình", đăng nhiều lần trên báo Nhân Dân trong năm, và bài "Bác Ăn Tết Với Chúng Tôi" đăng trên Nhân Dân (14/02 năm 1961). Xem lại phỏng vấn TS Sophie Quinn-Judge về Hồ Chí Minh Phỏng vấn GS Hoàng Tranh về 12 năm Hồ Chí Minh ở Trung Quốc Xem thêm về chủ nghĩa Marx: Tượng Karl Marx TQ tặng Đức gây tranh cãi Tư tưởng Marx 'không phải là già cỗi' Sinh viên Hội Marxist ở Nam Kinh 'bị đánh'
Tại Anh ngày nay, ít người biết quân đội nước này từng được ủy nhiệm chiếm đóng Nam Việt Nam gần tám tháng liền, từ tháng 9/1945 đến tháng 5/1946.
Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem
Nguyễn Giang nói về giai đoạn quân Anh vào Sài Gòn và câu chuyện Lê Văn Tám
Bối cảnh quân Anh vào Nam Bộ tháng 9/1945 và những gì tiếp theo
Cuộc chiến nhỏ nhưng đã quốc tế hóa
Sách báo Việt Nam hiện nay cũng nói về đến cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ chứ không nhắc nhiều về vai trò của Anh.
Nhưng trên thực tế, Nam Bộ không chỉ là nơi duy nhất ở châu Á quân Anh còn độc lập tác chiến sau Thế Chiến 2, mà còn là cuộc chiến mang tính quốc tế vào giai đoạn bước ngoặt cho ba nước Đông Dương.
Voi VN lên tàu Ba Lan ra Bắc rồi đi đâu? Một số bản đồ của Rigobert Bonne 'Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước' 1945-46 Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm
Hơn hai vạn quân Anh gồm cả lính Punjab, Gurkha đã giúp hàng nghìn quân Pháp, vài trăm lính Nhật giành lại Sài Gòn và Nam Kỳ cho Pháp.
Trong các binh đoàn Pháp tái chiếm Đông Dương đã có không ít cựu binh Waffen SS khét tiếng của phát-xít, nay khoác áo lê-dương.
Phía Việt Minh cũng có vài trăm quân nhân Nhật bỏ sang trợ giúp, mà con số đông nhất là ở phía Nam.
Các tài liệu Anh cũng nói về vụ bắt được một "cố vấn Liên Xô" ở gần Sài Gòn ngày 25/10/1945. Bản quyền hình ảnhKeystone/Hulton Archive/Getty ImagesImage caption Ngày 27/12/1945 tại Sài Gòn, tướng Douglas Gracey (1894 - 1964) trao thanh kiếm danh dự cho nữ công dân Pháp Suzi Pinel, thành viên của Lực lượng Pháp tự do hoạt động bí mật chống Nhật ở Đông Dương trong Thế Chiến 2. Các Pháp kiều sau đó đã được hỗ trợ để đánh lại Việt Minh. Người này đến từ Liên Xô đến hay là một người cộng sản nói tiếng Nga từ hàng ngũ Pháp chạy sang phía Việt Minh? Câu chuyện này hẳn còn cần kiểm chứng.
Các tài liệu tiếng Anh chỉ nói sau khi tra khảo người này, quân Anh đã chuyển ông ta cho An ninh (Sûreté) của Pháp.
Vì sao chọn quân Anh?
Theo một tài liệu của T.O. Smith công bố ở Đại học East Anglia thì sau Hội nghị Potsdam tháng 7/1945, Tổng Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ, Tướng George C. Marshall đã yêu cầu Tư lệnh người Anh của Quân Đồng minh tại Đông Nam Á, Đô đốc Louis Mountbatten, tiếp quản khu vực phía Nam đường vĩ tuyến 16 chia đôi Đông Dương.
Lực lượng Anh nhân danh Đồng Minh sẽ chỉ làm nhiệm vụ giải phóng (liberation duties) để bàn giao lại cho Pháp Tự do của Tướng Charles de Gaulle.
Quân Anh không muốn dính líu sâu vào Đông Dương dù quan điểm chung của Bộ Ngoại giao là "một nước Pháp mạnh tại châu Âu sẽ giúp cho an ninh của Anh".
Bộ Tổng tham mưu (Joint Planning Staff) chỉ thị cho Tướng Douglas Gracey chỉ bảo vệ Sài Gòn và để các vùng xung quanh cho người Pháp tự lo và trợ giúp khi cần
Các tài liệu khác, như của sử gia David Marr ghi rõ các sỹ quan Anh và OSS của Mỹ đều không ưa thái độ của người Pháp.
Lực lượng Mỹ tại Trùng Khánh bên cạnh bộ tư lệnh của Trung Hoa Quốc Dân Đảng còn từ chối chuyển vũ khí cho quân Pháp - thực tế là các nhóm tàn quân chạy khỏi Đông Dương sau khi Nhật đảo chính sang miền Nam Trung Quốc - để họ quay lại tái chiếm Đông Dương. Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption Tướng Jean-Philippe Leclerc đã nêu quan điểm không thể thắng cuộc chiến với chủ nghĩa dân tộc tại Đông Dương. Ông tử nạn năm 1947 ở Bắc Phi
Chiến dịch Masterdom và Tướng Gracey
Xin nói một chút về binh nghiệp của Tướng Douglas Gracey, tư lệnh quân Anh tại Nam Bộ.
Sinh năm 1894 tại Ấn Độ trong gia đình quan chức thuộc địa, ông tốt nghiệp Trường võ bị Sandhurst.
Sau khi phục vụ tại Pháp trong Thế Chiến 1, ông về Ấn Độ làm tiểu đoàn trưởng gồm toàn xạ thủ sắc tộc Gurkha, người miền núi Himalayas.
Tham chiến ở Iraq và Syria, ông lên hàm đại tá và đến Thế Chiến 2 thì được điều sang Miến Điện để chặn quân Nhật đánh từ Đông Dương sang Ấn Độ thuộc Anh.
Khi nhận lệnh sang Đông Dương năm 1945, tướng Gracey đem vào binh đoàn Anh - Ấn và cả các đơn vị Gurkha quen thuộc dưới quyền. Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu Ngoại giao Pháp và những cơ hội bị bỏ lỡ của VN Sa Hoàng Nga bị ‘đày’ tới VN như thế nào?
Quân Anh - Ấn đến Sài Gòn ngày 13/9/1945 nhưng chiến dịch Masterdom hóa ra không hề đơn giản. Bản quyền hình ảnhKeystone-FranceImage caption Ngay sau khi quân Anh quay lại, kiều dân Pháp đã vũ trang và bắt các thanh niên Việt Nam trong lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ Đầu tiên là không ai công nhận ngay quân Anh ở vai trò 'ông chủ' mới.
Việt Minh và các nhóm vũ trang khác người Việt đã hoạt động mạnh, và quân Nhật từ chối không trao nộp vũ khí như thỏa thuận đầu hàng với Đồng Minh.
Các kiều dân Pháp thì tái vũ trang để cố thủ trong nhà, dinh thự của họ để chống lại các vụ tấn công nhỏ lẻ của Việt Minh và phe dân tộc chủ nghĩa người Việt.
Việc đầu tiên Tướng Gracey làm là ban bố thiết quân luật ở Sài Gòn và đưa quân ra phố, đẩy Việt Minh ra ngoại ô để người Pháp giành quyền quản trị đô thị.
Tướng Gracey cũng quyết định không tịch thu vũ khí của quân Nhật mà còn ra lệnh cho họ giúp quân Anh vãn hồi trật tự.
Nam Bộ Kháng chiến
Báo chí Việt Nam, như tạp chí Quốc phòng Toàn dân cũng mô tả ít nhiều tình trạng quan hệ giữa quân Anh và Việt Minh như sau:
"Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp dưới bóng quân Anh đã quay lại gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Trước tình hình đó, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ triệu tập cuộc họp...thông qua "Lời kêu gọi của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ".
"Tiêu biểu cho tinh thần 'độc lập hay là chết' là tiểu đội bảo vệ Cột cờ Thủ Ngữ. Sáng 23 tháng 9 năm 1945, khi một đại đội quân Anh định hạ lá cờ đỏ sao vàng xuống để kéo lá cờ tam tài lên, vì danh dự lá cờ Tổ quốc, chỉ với vũ khí thô sơ nhưng các chiến sĩ cảm tử của ta kiên quyết ngăn cản dù phải hy sinh đến người cuối cùng. Cảm phục trước khí tiết đó, viên chỉ huy người Anh đã cho đại đội xếp hàng, bồng súng chào hương hồn những người anh hùng của đối phương đã ngã xuống dưới chân cột cờ..."
Các tài liệu của Anh công nhận rằng người Việt Nam khi đó "không muốn đổi ách chiếm đóng của Nhật Bản để nhận lại ách đế quốc của người châu Âu". Bản quyền hình ảnhKeystone/Getty ImagesImage caption Quan chức và sỹ quan Anh duyệt binh tại Delhi năm 1946. Nam Bộ là chiến trường cuối cùng Anh tham gia tại châu Á sau Thế Chiến 2 và đến 1947, London trả lại độc lập cho Ấn Độ "Họ cũng không ủng hộ chủ nghĩa cộng sản mà chỉ muốn có độc lập dân tộc."
Việc Anh lưu dung quân Nhật đến nay vẫn gây tranh cãi.
Tương tự như ở Đông Dương, Anh đã dùng quân cảnh Nhật đàn áp nhóm kháng chiến Indonesia ở Bandung và Semarang, giết chết hàng nghìn người.
Liên tiếp giao tranh
Trước khi tướng Pháp Jacques-Philippe Leclerc, người hùng giải phóng Paris, dẫn đầu một đơn vị tới Sài Gòn nhưng phải nhờ quân Anh về phương tiện, vũ khí vào ngày 5/10/1945 thì quân Anh - Ấn đã có một số trận giao tranh với Việt Minh.
Có bốn đợt giao tranh đáng kể Anh - Việt trong năm 1945.
Đợt đầu tiên vào tháng 9 quân Việt Minh đánh vào sân bay Tân Sơn Nhứt do Anh quản trị, giết chết một lính Gurkha, phía Việt Minh có sáu người bị thiệt mạng.
Đợt thứ hai vào ngày 10/10/1945, toàn bộ một trung đội Ấn Độ do Anh chỉ huy bị giết khi tuần tra ở ngoại ô. Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAMImage caption Biểu tượng Toàn quốc Kháng chiến 1946 trong tranh tuyên truyền ở Việt Nam hiện nay Trận thứ ba nổ ra ngày 13/10/1945, khi quân Việt Minh tấn công ồ ạt vào các điểm do lính Ấn Độ (Punjab), một số quân Pháp và Nhật bảo vệ, cũng ở ngoại ô Sài Gòn. Thành phố lịch sử Saint Petersburg Ông bà Trịnh Văn Bô và căn nhà niềm tin Hiệp định Paris: 'Nam Bắc VN cùng vi phạm'?
Trong trận này, các nguồn của Anh nói có 500 quân Việt Minh bị giết.
Trong tháng 10/1945, các tài liệu Anh có ghi nhận những trận phản công của Việt Minh "đánh vào các cơ sở như nhà máy điện, nước, cầu cảng, sân bay trên toàn khu vực Sài Gòn - Gia Định trong đợt thứ ba bằng vũ khí nhỏ, lựu đạn, súng cối".
Các sử liệu Anh cũng viết "Việt Minh chuyển sang chiến thuật bao vây nhỏ" nhưng không nói rõ vây gì và ở đâu.
Đặc biệt, trong cuộc giao tranh lần ba này, "các nhóm quân Pháp mới đến đã được trao nhiệm vụ giải cứu cho các cuộc bao vây trong lúc quân Anh dùng cách tuần tra hung bạo (aggressive patrolling) để gây bất ngờ cho Việt Minh".
Quân Anh - Ấn có tới 20 nghìn quân, cộng thêm trên 2500 quân Pháp và một số tiểu đoàn của Nhật nên phe chiếm đóng đã áp đảo cả về số lượng và vũ khí.
Câu chuyện Lê Văn Tám
Các tài liệu Việt Nam nói đến các trận đánh ở cầu Mống và cầu Thị Nghè, và chuyện Lê Văn Tám xảy ra vào khoảng này, trong các ngày 17-18/10/1945.
Các nguồn nước ngoài và Việt Nam hiện vẫn viết khác nhau về sự kiện tạm coi là một vụ cháy, nổ ở kho xăng hoặc kho đạn do phía Việt Minh gây ra.
David Marr trong cuốn 'Vietnam: State, War, and Revolution (1945-1946)' xác nhận đúng là có một vụ phá được "các bể chứa dầu ở nhà máy xi măng Simon Pietri".
Về cây 'đuốc sống', David Marr viết nguyên văn 'A boy was said to have soaked himself in petrol and become a human torch", nhưng cho rằng đây là chuyện do sử gia Trần Huy Liệu tạo ra. Bản quyền hình ảnhM. McNeill/Getty ImagesImage caption Anh Quốc sử dụng nhiều binh đoàn Ấn Độ trong Thế Chiến 2 - hình minh họa Một số lời kể với báo chí cách mạng Việt Nam thì vẫn chưa xác định rõ được đây là vụ cháy "kho đạn", hay "kho xăng của Pháp", một số khác nói về "trạm xăng của công ty Shell".
Nhưng theo sử liệu Anh và sách của David Marr thì trận đánh sân bay Tân Sơn Nhứt xảy ra trong đợt tấn công đầu tiên của Việt Minh vào cuối tháng 9, chứ không phải ngày 17-18 tháng 10.
Điều chắc chắn là giao tranh giảm đi trong tháng 11 và 12 và các nhóm kháng chiến đã bị đẩy ra ngoài Sài Gòn trong năm 1945.
Vì thế, đến ngày Giáng Sinh năm đó, trung đoàn bộ binh 32 của Anh có thể bàn giao lại cho Sư đoàn Bộ binh 9 của Tướng Pháp Jean-Etienne Valluy để rời Đông Dương sang Borneo.
Nhưng sang đầu năm mới đã xảy ra trận đánh lớn cuối cùng của Việt Minh, và cũng giao tranh đáng kể nhất của quân Anh tại Việt Nam.
Ngày 3/01/1946, chừng 1000 du kích Việt Minh đã tấn công vào căn cứ ở Biên Hòa và 100 người bị đạn súng máy của quân Anh bắn chết.
Cuộc chiến bất đắc dĩ?
Cuộc chiếm đóng của quân Anh tại Sài Gòn dù mang danh Đồng Minh cũng khiến nước này phải tính toán đến mức độ dính líu thực tế vào một chiến trường không liên quan gì đến quyền lợi của London ở châu Á. Bản quyền hình ảnhAFPImage caption Sau khi tái chiếm Đông Dương, quân Pháp đã xây dựng cả các nhóm vũ trang sắc tộc thiểu số để chống cộng sản: Đô đốc Georges Thierry D'Argenlieu và Cao ủy Pháp tại Đông Dương Leon Pignon duyệt binh năm 1946 Trong chính phủ Anh cũng có hai phái có ý kiến khác nhau về vai trò của Anh tại Đông Dương.
Tổng tư lệnh Lord Alanbrooke, trả lời câu hỏi từ Thủ tướng Clement Attlee về tình hình quân đoàn Anh ở Sài Gòn đã gợi ý rằng chỉ nên duy trì sự dính líu vừa đủ, chờ quân Pháp quay lại rồi trao trả cho họ.
Nước Anh khi đó, theo T.O. Smith, đã quá kiệt quệ vì chiến tranh ở châu Âu nên không có sức đâu mà lo thêm một chiến trường ở Việt Nam.
Lord Alanbrooke giữ quan điểm rằng Anh không nên chi phí gì thêm cho sự dính líu vào Đông Dương.
Nhưng Bộ Ngoại giao, qua lời Trợ lý Thứ trưởng Oliver Harvey lại tin rằng Anh nên giúp Pháp tối đa ở Đông Dương để đổi lại sự ủng hộ của Pháp ở châu Âu.
Bộ Ngoại giao Anh muốn chuyển cả một số các đơn vị lính Anh từ chiến trường Đông Nam Á đang trên đường hồi hương sang Đông Dương.
Tuy thế, chính phủ Anh không muốn rắc rối với Hoa Kỳ nên chỉ giúp rất hạn chế khi Pháp đề nghị Anh giúp cho tàu chiến, xe vận tải để tái chiến Đông Dương.
Lý do là bản thân Anh cũng phải "vay mượn" xe cộ, tàu chiến, trọng pháo, phi cơ của Hoa Kỳ trong chương trình nổi tiếng "Lend-Lease".
Anh đã yêu cầu Pháp hỏi thẳng người Mỹ để xin phương tiện và có lúc chỉ cho Pháp "mượn" hai chiếc phi cơ Spitfire.
Một quyết định của Thủ tướng Attlee thể hiện rõ nhất cách suy nghĩ nước đôi của Anh về vai trò của Pháp tại Đông Dương.
Ông không chấp nhận để quân Anh chuyển đạn dược từ Singapore sang Đông Dương cho Pháp nhưng đồng ý cung cấp đạn cho Pháp tại châu Âu.
Sau đó, việc Paris tự đưa đạn tới chiến trường ở Việt Nam không còn là chuyện của Anh. Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption Việt Minh đã thắng trong cuộc chiến chống lại quân Pháp 1946-1954 'The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh? ‘Thiên sứ’, ‘bùa hộ mệnh’ của Hitler
Kết cục quốc gia hỗ trợ chính cho Pháp vẫn là Hoa Kỳ với cả các khoản chiến phí, tín dụng, quân trang, quân dụng.
Đây là sự thay đổi từ chính sách ủng hộ quyền tự quyết của các dân tộc bị trị Woodrow Wilson nêu ra sang hỗ trợ các cường quốc là đồng minh.
Đến tháng 5/1946, các đơn vị tác chiến Ấn Độ và Anh cuối cùng rút khỏi Đông Dương.
Chiến dịch Masterdom chấm dứt.
Tinh thần dân tộc trên toàn châu Á
Trong số 20 nghìn quân Anh Ấn vào Nam Việt Nam, chỉ có 40 người bị giết.
Số quân Nhật và Pháp mỗi bên cũng bị giết từng đó.
Phía Việt Minh dù có tinh thần cao nhưng vì trang bị quá lạc hậu và thiếu kinh nghiệm chiến đấu nên đã hy sinh chừng 2500 quân, theo các tài liệu tiếng Anh.
Ngày nay tìm ra một Lê Văn Tám cụ thể chắc là khó nhưng con số người trẻ hy sinh tại Nam Bộ với tinh thần quyết tử chống Pháp thì phải lên tới hàng trăm.
Tinh thần cảm tử vì độc lập của người Việt Nam hiện rõ trong báo cáo của các sỹ quan Anh gửi về nước.
Trong bài 'Resurrecting the French Empire: British Military Aid to Vietnam September 1945 - June 1947', T. O. Smith viết rằng cùng thời gian, chính phủ Anh biết rõ cả Ấn Độ, Ceylon, Malaya và Singapore đều có thiện chí với cuộc chiến vì độc lập ở Việt Nam nên đã lo sợ công nhân cảng Ấn Độ đình công để chống lại việc đưa hàng quân dụng sang Đông Dương.
Có phải vì chứng kiến tinh thần dân tộc của người Việt Nam sẵn sàng hy sinh bất chấp súng đạn tối tân hơn mà Anh Quốc thay đổi chính sách ở Ấn Độ?
Đây là điều chúng ta sẽ không bao giờ biết được nhưng sự thực là chỉ hơn một năm sau, Anh phải trả độc lập cho Ấn Độ. Hai vị tướng cuối thời thực dân
Cuộc chiến Nam Bộ cũng ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ của hai vị tướng 'cuối thời thực dân', Leclerc và Gracey.
Ngay từ khi đặt chân tới Sài Gòn, tướng Leclerc đã đề nghị phải đàm phán để tìm giải pháp chính trị, thay vì giao tranh.
Nhìn trước các vấn đề quốc tế, ông nói câu nổi tiếng: "Cuộc chiến chống cộng sản sẽ chỉ là vô dụng nếu không giải quyết được chủ nghĩa dân tộc". Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption Các ông Hồ Chí Minh (quay lưng), Leclerc (thứ nhì từ trái sang) và Jean Sainteny, ngày 24/03/1946 ở Vịnh Hạ Long. Đàm phán Pháp - Việt cuối cùng đã đổ vỡ và Việt Minh tuyên bố Tổng khởi nghĩa vào tháng 12 năm đó. Quan điểm của Tướng Leclerc không được chính giới ở Paris ủng hộ và ông đã từ chức.
Ông chết vì tai nạn phi cơ khi đi thị sát ở Bắc Phi năm 1947 và được truy phong hàm nguyên soái.
Còn tướng Douglas Gracey sau khi rời Sài Gòn đã quay về Ấn Độ và lên hàm Trung tướng.
Sau khi Ấn Độ và Pakistan tuyên bố độc lập khỏi Anh, ông vẫn ở lại và giữ chức Phó Tổng tư lệnh, rồi Tổng tư lệnh quân đội Pakistan.
Ở chức vụ này, ông bất tuân lệnh của Tổng thống Mohammad Ali Jinnah điều quân vào vùng tranh chấp Kashmir.
Năm 1951, ông nghỉ hưu và là người Âu cuối cùng làm chỉ huy quân lực một nước Hồi giáo vùng Nam Á.
Ông qua đời ở Surrey, phía Nam London năm 1964, khi chế độ thuộc địa của Anh tại châu Á chấm dứt.
Một năm trước, Malaya và Singapore tuyên bố tách khỏi Anh và đến 1965 thì Singapore cũng độc lập.
Vẫn T.O. Smith viết rằng cuộc chiến 'bất đắc dĩ' của Anh tại Nam Bộ cũng thể hiện sự xuống dốc của nước Anh về thực lực quân sự và nỗ lực vớt vát giành lại thuộc địa của Pháp khi cả hai nước này đều phải trông cậy vào Hoa Kỳ.
Với học thuyết Chiến tranh Lạnh của Tổng thống Truman đưa ra năm 1947, mọi vấn đề Đông Á chuyển hướng để Hoa Kỳ đóng vai trò chủ chốt, dần thay chân cho hai "cựu cường quốc Tây Âu" đã về chiều. Xem thêm về Lịch sử Việt Nam: Bộ trưởng Anh từng thả Hồ Chí Minh "Năm năm vàng son" của Việt Nam Cộng Hòa Đảng CS dựng tượng Hồ Chí Minh ở nước ngoài 30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH
Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption Sir (Ngài) Stafford Cripps, được biết đến nhiều nhất bởi sự ủng hộ của ông cho nền độc lập của Ấn Độ.
Trong các cuộc tranh luận về bầu cử Anh vào tháng 5 năm 2015, tôi thấy có một cái tên được nhắc đến là Sir Stafford Cripps. Ông là người trước cuộc bầu cử năm 1950 nêu ra vấn đề làm sao để chính phủ không bị tỏ ra là 'mua chuộc cử tri'.
Nhưng ở Việt Nam có lẽ không có nhiều người biết đây là vị luật sư cao cấp nhất của Anh, thành viên Viện Cơ Mật, hàm bộ trưởng, cũng chính là người đã quyết định thả Nguyễn Ái Quốc khỏi nhà tù ở Hong Kong.
Các tài liệu ở Việt Nam chủ yếu nhắc đến luật sư Anh Francis Loseby (1883-1967), người giúp Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi thuộc địa Anh khi đó mà không rơi vào tay Pháp.
Vợ và con gái ông Loseby năm 1960 có sang Hà Nội thăm Hồ Chí Minh.
Trong các tài liệu đã đăng ở Việt Nam, gồm bài của Lady Borton, người ta còn nhắc đến có một trạng sư Anh nữa, Francis Jenkin (1883 - 1936), đại diện cho bị cáo trong vụ Tống Văn Sơ - một tên gọi của Hồ Chí Minh. Vụ án này tên là Sung Man Cho Vs. The Superintendent of Prisons, được xử trước tòa Hong Kong.
Theo luật Anh, ông Loseby là 'solicitor' tức luật sư đại diện cho thân chủ, còn ông Jenkins là 'barrister', trạng sư đại diện cho vụ việc trước tòa.
Nhưng người quan trọng nhất chính là Sir Stafford Cripps, quan chức Anh đã quyết định thả người bắt ở Hong Kong năm 1931 khi mang tấm hộ chiếu cấp tại Singapore ghi tên Tống Văn Sơ, quốc tịch Trung Hoa. Nghĩ về Di chúc của Cụ Hồ Đoạn nào di chúc Hồ Chí Minh bị cắt?
Hai ông luật sư Anh lập luận rằng các hoạt động của Tống Văn Sơ tại Hong Kong không có gì phương hại cho quyền lợi của Anh Quốc, và đề nghị toà bác bỏ đề nghị của Pháp muốn Anh trao nộp đối tượng 'hoạt động lật đổ' cho họ.
Bản thân bị cáo cũng gây ấn tượng tốt trước các quan tòa Anh vì nói tiếng Anh lưu loát và nhấn mạnh ông là một nhà hoạt động dân tộc và vì thế mà bị đã bị chính quyền Pháp kết án ở An Nam.
Năm 1929, tòa án ở Vinh đã kết án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc và nếu bị giao cho Pháp, khả năng ông bị án chém là gần như chắc chắn.
Điều cần hỏi ngày nay là vì sao, khi vụ việc được chuyển lên đến Viện Cơ Mật tại Anh, Sir Richard Stafford Cripps (1889 -1952) ở cương vị quan chức pháp lý cao nhất của Đế quốc Anh khi đó đã có quyết định thuận lợi cho Tống Văn Sơ?
Tư tưởng thiên tả
Image caption Trung Hoa Dân quốc thời Tôn Trung Sơn là địa bàn hoạt động của nhiều nhà cách mạng châu Á Ở đây, tôi phải nói thêm về sự đa dạng và phức tạp của sinh hoạt chính trị, xã hội và tôn giáo của giới trí thức quý phái Anh Quốc để các bạn thấy động cơ của Sir Stafford Cripps trong quyết định cho thả Nguyễn Ái Quốc.
Sinh ra trong gia đình giàu có, ông Stafford Cripps học trường UCL (nay có khá nhiều sinh viên Việt Nam), ra làm trạng sư năm 1912 và tham gia bảo vệ nhiều vụ kiện cho Hội Hồng thập tự hồi Thế chiến 1, chủ yếu đại diện cho các bệnh nhân.
Nhưng ông cũng là luật sư được trả tiền cao nhất London và là một nhân vật sùng đạo.
Vừa tin theo các ý tưởng cải tạo xã hội kiểu Marxist, vừa vận động cho liên minh quốc tế các giáo hội Phúc Âm và Tin Lành nhằm cải tạo thế giới, ông cũng vào đảng Lao Động và là thành viên Hội Fabian, một nhóm cánh tả có ảnh hưởng trong giới trí thức Anh.
Khi được chính phủ phong vào chức 'Solicitor-General' tương đương với Trưởng Công tố Quốc gia ở các nước có thể chế cộng hòa như Hoa Kỳ, Pháp, ông cũng nhận tước hiệp sỹ và trở thành thành viên Viện Cơ Mật (Privy Council).
Đây là cơ quan tư vấn cho Hoàng gia mà ngày nay vẫn tồn tại, lo các việc liên quan đến hiến pháp như thay mặt Nữ Hoàng Anh phê chuẩn bản Hiến chương về đài BBC sau mỗi lần thông qua 10 năm một.
Nhưng vào thời còn Đế Chế Anh, Viện Cơ Mật còn là cấp tư pháp cao nhất xử các vụ phúc thẩm từ thuộc địa. 'Bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh' Hồ Chí Minh nghĩ gì về Khổng Tử?
Ở cương vị đó, Sir Stafford Cripps đã nhận hồ sơ vụ Tống Văn Sơ từ Hong Kong và ra quyết định thả người này, hẳn vì các cảm tình với hoạt động của phe chống thuộc địa bên châu Á.
Hiện ta chưa rõ việc tiền bạc trả cho luật sư trong vụ Tống Văn Sơ ra sao nhưng theo tác giả Sophie Quinn-Judge, Cứu Tế Đỏ (International Red Aid) một tổ chức thiên tả đã bố trí để luật sư Anh, Frank Loseby đại diện cho thân chủ này.
Sau khi Viện Cơ Mật Anh đồng ý thả tự do cho Tống Văn Sơ, vấn đề của phe thiên tả quốc tế và luật sư Anh ở Hong Kong là làm sao cho thân chủ thoát hiểm khỏi Hong Kong.
Họ không muốn ông chịu số phận của Hồ Tùng Mậu và một số nhân vật cách mạng Việt Nam trước đó, bị trục xuất khỏi Hong Kong đến Thượng Hải và bị người Pháp cũng có tô giới nên bắt lại và tống về nhà tù ở Đông Dương.
Chiến lược bào chữa của họ là dùng một luật Anh, Deportation Ordinance, để lập luận tìm giải pháp cho Tống Văn Sơ được tùy chọn điểm đến khi rời Hong Kong.
Một mặt, chính quyền Hong Kong muốn trao nộp nhanh chóng người họ cho là 'kẻ xách động nguy hiểm' cho chính quyền Pháp.
Mặt khác, hồ sơ của Anh tại Hong Kong coi vụ việc này 'không quan trọng' và quan chức Bộ Thuộc địa Anh còn ghi chú ủng hộ quan điểm bảo vệ các quyền dân sự của bị cáo.
Theo tác giả Sophie Quinn-Judge, một quan chức Anh là Walter Wallis còn lập luận rằng trao Tống Văn Sơ cho Pháp thì chẳng khác nào 'tống cổ một người ủng hộ Nga hoàng về Liên Xô'.
Trong vụ việc kéo dài tới tận năm 1933, cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc được luật sư Loseby giúp cải trang thành một thương nhân Trung Hoa và rời khỏi Hong Kong an toàn.
Người Anh với châu Á
Trong lần sang Hong Kong tháng Ba năm nay tôi có vào thăm Bảo tàng Tôn Trung Sơn và đọc thêm về giai đoạn các nhà cách mạng châu Á, gồm cả Hồ Chí Minh, được chính phủ Quốc dân Đảng hỗ trợ tại Nam Trung Quốc trong những năm 1920-1930.
Ở Trung Hoa hồi đó, ngoài các luật sư thiên tả ở Hong Kong, còn có những nhân vật người Anh khác có thể đã đóng vai trò ít ra là gián tiếp trong vụ Nguyễn Ái Quốc. Bản quyền hình ảnhGetty Images/BBC World ServiceImage caption Hồ Chí Minh sang Pháp cứu vãn hội đàm với chính phủ Georges Bidault năm 1946 nhưng không thành Ví dụ như đảng viên đảng Cộng sản Anh, George Hardy, người phụ trách Profintern tức cánh nghiệp đoàn của Quốc tế Cộng sản (Comintern).
Chính Văn phòng Viễn Đông tại Thượng Hải của Comintern và Profintern đã cung cấp ngân quỹ hàng năm cho các đảng phái, tổ chức của cộng sản Trung Quốc và Đông Dương hoạt động tại Nam Trung Hoa.
Nguyễn Ái Quốc đã 'thoát hiểm' trong bối cảnh đó nhưng ảnh hưởng của phe tả châu Âu vào chính trị toàn cầu còn kéo dài về sau.
Trong Thế Chiến 2, Thủ tướng Winston Churchill, lãnh đạo của Đảng Bảo thủ đã quyết định bổ nhiệm Sir Stafford Cripps làm đại sứ Vương Quốc Anh tại Moscow. Quốc tang Fidel Castro 'đáp lễ' quốc tang Hồ Chí Minh?
Điều thú vị về cách dụng nhân của Churchill là dù biết rõ Stafford Cripps 'thân cộng', ông coi đó lại càng hay vì đại sứ có thể nói chuyện dễ dàng với Stalin và duy trì mối quan hệ Đồng Minh chống Đức.
Năm 1942 ông Stafford Cripps về nước làm Chủ tịch khối nghị sỹ Hạ viện, được phong Bộ trưởng Quân khí chuyên lo chương trình đóng máy bay để gấp rút tăng cường cho không quân Hoàng gia Anh bị Luftwaffe tấn công.
Sau Thế Chiến, Stafford Cripps vẫn đóng vai trò quan trọng trong chính trường Anh và giữ chức Bộ trưởng Tài chính năm 1950.
Hôm 18/3/2015 nhắc lại câu nói của ông khi Bộ trưởng Tài chính đương nhiệm George Osborne tuyên bố trong luật ngân sách mới, những ai thu nhập dưới 11 nghìn bảng Anh một năm sẽ không phải đóng thuế thu nhập.
Phe đối lập coi đây là động tác 'mua phiếu' cho đảng Bảo thủ và nhắc lại phát biểu năm 1950 của Bộ trưởng Stafford Cripps yêu cầu Thủ tướng Clement Atlee không tuyên bố mở cuộc tổng tuyển cử trước khi ông công bố ngân sách quốc gia.
Ông Cripps muốn ngăn chặn tình trạng đảng của ông bị phê phán lợi dụng ngân sách có điều khoản tăng trợ cấp hoặc giảm thuế cho dân để mua chuộc cử tri.
Điều này cho thấy dù là người thiên tả, Sir Stafford Cripps có quan điểm ủng hộ quốc gia kháng chiến rõ ràng và cũng phân biệt việc đảng của ông với việc nước.
Ở Anh ngày nay, vụ án về Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong không phải là điều được được nói đến nhiều trong cuộc đời của Sir Stafford Cripps. Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption Anh Quốc cho ra mắt tượng Mahatma Gandhi tháng 3/2015 tại London Nổi tiếng hơn cả là sự ủng hộ của ông cho nền độc lập của Ấn Độ.
Gần đây, nhân lễ khai trương bức tượng Mahatma Gandhi ở London báo Anh (14/03) lại nhắc đến phát biểu đầy ngưỡng mộ của ông về Gandhi, người đòi thực dân Anh phải cuốn cờ về nước.
Sir Stafford Cripps nói:
"Không có người nào trong thời đại chúng ta cho thấy mạnh mẽ và thuyết phục hơn Gandhi về sức mạnh của tinh thần vượt lên trên các giá trị vật chất."
Nguyễn Ái Quốc đã không may mắn có được các đối thủ như vậy.
Vào giai đoạn Việt Nam đấu tranh đòi độc lập 1945-1946, tính cố chấp của chính giới Pháp gồm cả phái de Gaulle và phe Xã hội mà ông từng là đảng viên đã góp phần đẩy Hồ Chí Minh và Việt Minh về phía Mao với các hệ luỵ cho quốc gia nhiều thập niên về sau.
Dù sao đi nữa, giai đoạn ngắn ngủi có liên quan đến các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc với nước Anh cũng là điều đáng nhắc lại để ta biết rõ thêm về các nhân vật của một thời phức tạp về quyền lợi và tư tưởng ở đây mà Sir Stafford Cripps là một trong số đó. Bài đã đăng lần đầu trên trang BBC Tiếng Việt tháng 3/2015, trên giao diện cũ.
Hơn 20 điều nên biết về Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh
QLB Phan Châu Thành (Danlambao) -Mọi chứng cớ về Nguyễn Ái Quốc đều không thể dẫn tôi đến Hồ Chí Minh, và mọi chi tiết về HCM càng không thể đưa tôi về xứ Nghệ. Cuối cùng, có đến 16 bằng chứng chia nhau đi về hai hướng “bắc-nam” như thế (những điều khác biệt), dẫn dắt tôi đến nghi án mạng NAQ, và 4 nhóm bằng chứng rất “nhất quán” với nhau khiến tôi vẫn phải kết luận NAQ rất giống, thậm chí “có họ hàng” với HCM, hay ngược lại. Kèm theo tất cả sẽ có 20 bình luận, của tôi, cho 20 điều nên biết về NAQ và HCM...
*
Hồ Chí Minh: “Nguyễn Ái Quốc và tôi...”
Tháng giêng năm 1949, tạp chí “Sinh hoạt nội bộ” kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề “Đảng ta” do Hồ Chí Minh viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã đưa “Đảng ta” vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 547 như sau:
“Năm 1929 (chính xác là ngày 19 tháng giêng năm 1929), trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về...
Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu (chính xác là ngày 20 tháng giêng năm 1930), cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.
Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám. Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.
Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng. Thế là Đảng ta chân chính thành lập...” (Trần Thắng Lợi, tức Hồ chí Minh).
Chỉ một điều đó thôi cũng đủ thấy rõ Nguyễn Ái Quốc (NAQ) và Hồ Chí Minh (HCM) là hai người khác nhau. Nếu không, HCM là kẻ tâm thần nặng mới có thể nhầm “mình với mình” như vậy. Thế nhưng sau này, khi đã là chủ tịch đảng và chủ tịch nước, sau Đại hội đảng lần III năm 1960, thì HCM lại dùng bút danh T.Lan “vừa đi trên báo đảng Nhân Dân vừa kể lại”, năm 1961, chuyện mình chính là NAQ hay Nguyễn Tất Thành (NTT)... theo nội dung “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” của Trần Dân Tiên mà đến nay còn chưa rõ xuất xứ cuốn tiểu sách (không có bản thảo) và chưa rõ tác giả, nhưng in ở tận Thượng Hải năm 1949-1950...
Thế mới có chuyện, lắm chuyện rối mù, mờ ám, dù rất rõ ràng thế rồi về NAQ/NTT và HCM.
Những điều tôi viết trong bài này chỉ là gom lại hay liệt kê lại những điều mà trong và ngoài nước ai ai hiện nay cũng biết về Nguyễn Ái Quốc (NAQ/NTT, từ 1990 đến khoảng 1930-1932) và Hồ Chí Minh (HCM, từ khoảng 1930-1932 đến 1969), gồm 20 điều nên “ghi nhớ”, chia thành hai phần: 16 điều khác biệt rõ ràng và 4 điều giống nhau hoàn toàn.
Tại sao lại nên ghi nhớ mà không phải chỉ nên biết? Nên ghi nhớ để có chính kiến của riêng mình về điều đó, bởi vì đảng CSVN suốt 70 năm nay bằng mọi cách cấm dân Việt trong nước nhìn nhận và suy nghĩ độc lập về chúng (NAQ và HCM) để tự có kết luận của mỗi người về “chúng là ai?”, vì đảng muốn chứng minh “chúng tuy hai mà một”. Với bài này, tôi cũng không kết luận “chúng không phải một mà hai” thay cho bất kỳ ai, tôi mong mọi người tự làm điều đó. Nếu tôi có ý nào đó như kết luận thì chúng là của cá nhân tôi thôi, còn bài viết chỉ như danh mục 20 điều giống và khác nhau nên biết về NAQ và HCM cho những người quan tâm đến đề tài “nhạy cảm” với đảng và rất quan trọng với lịch sử dân tộc Việt, mà thôi.
Tại sao tôi nói là quan trọng? Bởi vì rớt cái “mặt mo” HCM khỏi NAQ thì HCM chính là giặc Tàu, đảng không còn lừa bịp được chính các đảng viên của mình được nữa, và hàng chục triệu kẻ “ăn” theo đảng. Chứ còn đại đa số dân Việt tự làm tự ăn và bị đảng cướp miếng ăn đất sống đã chả coi Hồ ra thứ gì nữa rồi, vì những gì y và đảng đã làm, dù y là ai. Đó là điều đầu tiên bạn và tôi nên biết về NAQ/HCM.
Nghiên cứu tiểu sử HCM hay điều tra nghi án mạng NAQ?
Cuộc nghiên cứu tiểu sử HCM với đa số sử gia chuyên và không chuyên, trong nước hay nước ngoài, đều đều húc phải quá nhiều những chi tiết quá mâu thuẫn nhau dẫn đến việc phải đề ra và điều tra hay che đậy nghi án mạng NAQ, hay nghi án “ve sầu lột xác” HCM - kẻ chỉ vào chục năm cuối đời (từ khoảng 1959 đến 1969) mới dám tự nhận mình là NAQ thời trước 1930. Và điều đó tùy thuộc vào quan điểm hay mục đích của mỗi người muốn tìm hiểu tiểu sử Hồ để làm gì: tìm hiểu sự thật lịch sử về Hồ bất kể nó là gì (các sử gia chân chính), hay để chứng minh những định đề đã được đảng công bố lâu nay về Hồ và đảng (những kẻ bồi bút của đảng)?
Cuộc phiêu lưu với lịch sử VN hiện đại của tôi là vì mục tiêu tìm hiểu sự thật lịch sử, dù tôi không phải một sử gia chuyên nghiệp, cũng vậy, cũng đã biến thành một cuộc điều tra nghi án mạng NAQ/HCM, từ nhiều năm nay. Mọi chứng cớ về NAQ đều không thể dẫn tôi đến HCM, và mọi chi tiết về HCM càng không thể đưa tôi về xứ Nghệ. Cuối cùng, có đến hơn một tá (16) nhóm/loại bằng chứng chia nhau đi về hai hướng “bắc-nam” như thế (những điều khác biệt), dẫn dắt tôi đến nghi án mạng NAQ, và 4 nhóm bằng chứng rất “nhất quán” với nhau khiến tôi vẫn phải kết luận NAQ rất giống, thậm chí “có họ hàng” với HCM, hay ngược lại. Kèm theo tất cả sẽ có 20 bình luận, của tôi, cho 20 điều nên biết về NAQ và HCM...
16 điều khác biệt rõ ràng giữa NAQ và HCM
Tôi chỉ xin điểm qua tóm tắt 16 nhóm/loại bằng chứng hay chi tiết tiểu sử cá nhân khác biệt nhau rõ ràng giữa NAQ và HCM, vì ai ai cũng biết rõ hay có thể tự kiểm tra chi tiết dễ dàng từ rất nhiều bài viết khảo cứu về NAQ/HCM trên mạng hoặc/và đã in thành sách, báo... của cả hai lề.
Thứ nhất, về năm sinh, NAQ/NTT tự khai và đảng công bố là sinh năm 1890 khi đi xin việc hay xin học với chính quyền Pháp năm 1912 và khi sang Moscow năm 1924, còn HCM khai khi xin dự Đại hội VII của QTCS ở Moscow vào tháng 8 năm 1935 là HCMsinh năm 1900, cách nhau đúng 10 năm.
Bình luận 1: Có vẻ giai đoạn đầu khi xuất hiện ở Moscow “lần thứ hai” từ tháng 6 năm 1934 (lần đầu với HCM), 18 tháng sau khi ra tù ở Hồng Kông (tháng 12/1932), HCM vẫn không biết gì nhiều về mình-NAQ trước đó ở Moscow đã làm gì.
Ví dụ, để dự Đại hội VII của QTCS3 tháng 5/1935 HCM đã khai: Tên Teng Man Huon, bí danh Lin, sinh 1900, quê quán Đông Dương, bị tù 2 năm và ra tù năm 1933, đã tham gia Quốc tế CS, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công đoàn..., và nhiều chi tiết sai hay mù mờ khác. Đã có Bí danh Lin để dùng rồi sao không khai tên thật/chính thức là Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành đi? Quê quán Đông Dương thì... chỉ có người ngoại quốc mới ghi về người Việt (hay Lào, Campuchia) như thế! Còn Tống Văn Sơ/HCM ra tù ở HK năm 1932 cơ mà, sao có thể ghi là 1933? Sao lại nói dối tổ chức mình tham gia QTCS, QTTN và QTCĐ, trong khi NAQ lúc đó chỉ duy nhất là thành viên của Quốc tế Nông dân (ủy viên đoàn chủ tịch) mà Tổng Thư ký là Domban (Balan)? Và NAQ được QTND/Domban cử đi Tàu phụ trách phong trào nông dân - làm việc với Quốc Dân đảng KMT của Tôn Trung Sơn (vì CSLX coi KMT và Trung hoa Dân quốc của Tôn là phong trào nông dân)... Tóm lại, HCM vừa xuất hiện đã với hàng loạt sai lệch trong tiểu sử rồi, không chỉ về năm sinh 1900 làm NAQ/NTT trẻ ra 10 tuổi.
Thực tế thì HCM còn không biết gì về NAQ và công khai phủ nhận (với nhiều người, ví dụ với giới báo chí ở Paris năm 1946) việc mình là NAQ dài dài từ 1934 đến tận khoảng 1958-1960, cho đến khi Hồ được Trần Dân Tiên giúp cung cấp tài liệu “về mình”...
Thứ hai, về hình tướng học (mặt mũi, tai mắt...)
Đây là mặt mũi NAQ/NTT năm 1921:
Và đây là HCM năm 1933:
Bình luận 2: Rất nhiều người nói về sự khác nhau về nhân tướng học (mặt mũi, tai mắt...) rồi, nên tôi bình luận nữa, vì đây là đề tài để “cãi chày cãi cối” của CSVN như bịa ra vụ bà Thanh (chị NTT) nhớ em đi câu cá bị sứt tai phải (cho nó giống HCM) trong khi tai NTT không bị sứt...
Thứ ba, về nhân chủng học (theo hộp sọ). Xem hình NAQ và HCM ở phần 2 trên, để ý phần hộp sọ, xương trán của NAQ và HCM khác hẳn nhau.
Bình luận 3: Tương tự bình luận 2, mỗi người hãy tự quan sát hay tự tham khảo các chuyên gia cho mình về điều này.
Thứ tư, về chiều cao cơ thể,NAQ là người thấp, cao chừng 152-154cm, còn HCM lại rất cao, chừng 170-172cm. Và HCM còn có chiều cao thay đổi nữa (tùy thời kỳ công tác)!
Đây là HCM với Võ Nguyên Giáp năm 1944 ở trong rừng Pắc Bó (nay đã thuộc đất Tàu):
Còn đây là HCM với Phạm Văn Đồng năm 1946 ở Pháp:
Bình luận 4: Giáp là kẻ rất lùn, vì thế có lẽ y thần tượng Napoleon từ bé. Riêng chỉ về chiều cao thôi thì tôi đồng ý Giáp xứng đáng là học trò của Napoleon, và chỉ duy nhất vì thế thôi. Thế mà năm 1944 HCM chỉ cao hơn Giáp chút xíu, cỡ 146cm +/- 5cm. Nhưng từ năm 1946 thì Hồ lại “nhổ giò”, cao ngang ngửa Đồng là kẻ có chiều cao ổn định trên 172-175cm, thuộc loại “cây sào” ở VN thời đó. Ở tuổi 50s, trong rừng, ngày nào cũng rượu với gái nạ dòng thay phiên (như Trần Đĩnh kể), và sau vài năm Hồ cao lên chừng trên 20cm! Hèn chi ngày nay các đệ tử của Hồ đều cố quyết liệt “học tập tư tưởng đạo đức của Hồ” bằng thật nhiều rượu và gái, còn khoản “trong rừng” thì chúng sáng tạo thay bằng thịt rừng... để mong cao lên bù cho những lúc chúng luôn phải sống quì lạy... Pắc Pó?!
Thứ năm, về thời gian lần đầu NAQ từ Pháp đến Moscow, theo hồ sơ đảng CSLX lưu trữ và công bố sau này, NAQ đến Moscow lần đầu vào đầu tháng 7 năm 1923 sau khi nhập cảnh qua cảng Petơrograd ngày 30/6/1923 dưới tên Chen Vang bằng thị thực do Đặc mệnh toàn quyền LX tại Đức ký ngày 25/6/1923, có nghĩa là vào đầu mùa hè. Còn T.Lan tức HCM thì kể lại: “Bác đến Nga vào mùa đông, mọi vật đều bị tuyết phủ trắng xóa như một thế giới bằng bạc. Có ngày rét đến 42 độ dưới 0...” - tức là vào giữa mùa đông? Lệch nhau đúng 180 độ, hay 6 tháng?
Lời bình 5: Sở dĩ HCM/T.Lan nói NAQ“đến Moscow vào mùa đông” thay vì vào mùa hè (tháng 7/1923) lại còn kể cái lạnh đến âm 42 độ, có lẽ vì mùa thu năm đó lạnh, ngày 10 tháng 10/1923 NAQ đã gặp Tưởng Giới Thạch và Trương Phát Lôi (cùng dự Quốc tế Nông Dân I năm 1923), rồi mùa đông đến càng lạnh khi Lenin chết vào tháng 1/1924, NAQ mới lại gặp gỡ các đồng chí Trung cộng trong dịp tang lễ đó nữa... mà gặp ai NAQ cũng “tôi vừa từ Paris đến” nên chắc các đồng chí Trung cộng đã kể lại thế làm cho T.Lan/HCM “nhớ nhầm” chăng? Chứ làm sao NAQ quên được các đồng chí CS Đức đã giúp NAQ vào Nga lần đầu tháng 7/1923 khi ở khắp Châu Âu và cả nước Nga là mùa cuối xuân đầu hè khắp nơi đầu tươi xanh rực rỡ chim hoa? Làm sao nhầm mầu xanh hoa lá ấm áp nhất năm với mầu trắng băng giá âm 42 độ của 6-7 tháng sau được? Bởi vì, cái vụ tháng 7/1923 chỉ lộ ra mấy chục năm sau khi LX tan rã năm 1990 còn T.Lan/HCM lại vội “kể chuyện” năm 1961 (theo lời kể của Trần Dân Tiên năm 1949 từ Thượng Hải), sớm mất gần 30 năm?...
Thứ sáu, về sức khỏe hay bệnh đặc trưng, NAQ bị lao phổi do điều kiện sống khó khăn tại xứ lạnh nhiều năm, năm 1932 trong tù Hong Kong bị lao nặng và có tin đã chết vì lao, còn HCM lại nghiện thuốc lá nặng và uống nhiều rượu, gái vẫn khỏe... Năm 1964 HCM còn đòi về Tàu lấy vợ...
Bình luận 6:NAQ chết vì lao năm 1932 trong tù hay không là điều còn đang tranh cãi, nhưng không ai tranh cãi việc NAQ bị lao nặng suýt chết năm 1932. Ngược lại, từ 1940 xuất hiện ở Cao Bằng HCM đã là kẻ nghiện rượu và thuốc lá nặng. Chỉ sau chưa đầy 8 năm bôn ba gian khó mà bệnh án đặc trưng hay sức khỏe của NTT/NAQ thay đổi thần kỳ vậy sao? Các chuyên gia, bác sĩ về bệnh học trả lời rằng: đó là điều không thể, hay phi lý.
Thứ bảy, về giọng nói, NAQ nói giọng Nghệ nhẹ đặc trưng. Còn HCM là kẻ có giọng nặng gẫy của ba Tàu cố nói tiếng Nghệ, phải nhấn từng câu nghe nó rời rạc. Tôi biết vài người nước ngoài nói tiếng Việt giọng Nghệ vì có thầy dạy tiếng Việt là người xứ Nghệ cũng có giọng nói như của Hồ, không khó khăn gì.
Bình luận 7: Nhiều người cho rằng người nước ngoài không nói được giọng Nghệ, nên ai nói được giọng Nghệ thì không phải người ngoại, là sai. HCM là một trường hợp như vậy. Nhưng dù “khá”, HCM vẫn không nói được giọng Nghệ luyến và ngân ở cổ, mà chỉ luyến được ở vòm miệng thôi.
Thứ tám, về tác phong ăn mặc, NAQ có tác phong ăn mặc kiểu Tây (Pháp) của những người Việt sống bên Tây: luôn mặc sơ mi, mang carvat, áo vét, quần tây, đi giày tây..., nhất là khi chụp hình. Còn HCM thì thôi rồi, vô cùng luộm thuộm, thậm chí như hơi... dơ dáy kiểu Tàu! Ngay như Giáp, không được đi Tây như NAQ, và ở trong rừng với Hồ, mà cũng diện bộ vét trắng thắt carvat! Sau này ra khỏi hang Pác Pó thì HCM cũng không bao giờ mặc đồ tây, mà chỉ mặc đồ cán bộ Tàu (bộ đại cán).
Bình luận 8: Ăn mặc là vấn đề thói quen và văn hóa cá nhân từ bé, không bỏ và không thay đổi được. Chỉ nhìn cách ăn mặc đã đủ biết NAQ và HCM có tác phong ăn mặc ngược nhau hoàn toàn, là do xuất xứ văn hóa khác nhau: Tàu và Việt lai Tây...
Thứ chín, về nét chữ, NAQ/NTT có nét chữ mềm, chỉnh chu của người quen viết chữ Latin (thể hiện trong các đơn xin việc từ 1912), còn HCM nét chữ nhịn, gãy, cứng, rời rạc như gà bới đặc trưng của người chỉ quen viết hán tự từ nhỏ...
Bình luận 9: Ai cũng phải ngỡ ngàng và phì cười về độ “gà bới”, thiếu nét, sai dấu, vụng về... trong nét chữ tiếng Việt của HCM, trừ bọn mấy triệu đảng viên cộng sản thì cứt của HCM chúng cũng thấy thơm nên chúng không bao giờ dám nói đến trình độ i tờ tiếng Việt của “cha già dân tộc”...
Thứ mười, về văn phong và khả năng tiếng Việt: Tương tự với nét chữ, văn phong tiếng Việt của NAQ là bình thường, nhưng của HCM là rất ngây ngô, là văn phong của người Tàu học tiếng Việt.
Bình luận 10: Có vô số chi tiết, ví dụ về văn phong không thuần Việt của HCM trong vô số “tác phẩm trứ danh” của Hồ mà đảng CSVN giữ như giữ mả tổ chúng, khắp nơi nơi, ai cũng có thể kiếm tra. Tôi có thể viết riêng một bài 5-10 trang về đề tài này, nhưng vì bài này sẽ quá dài (đã quá dài) nên tôi xin bỏ qua ở đây.
Thứ mười một, về văn phong và khả năng tiếng Tàu và Pháp: Trong chuyến đi lần đầu đến Tàu cộng, từ tháng 11/1924 đến tháng 5/1927 NAQ lúc này bí danh công tác tại Tàu là Lý Thụy, là phiên dịch tiếng Pháp trong phái đoàn của Borodin tổng đại sứ của LX tại Trung hoa Dân quốc của Tôn Trung Sơn (Quốc Dân đảng), là đại diện của Quốc tế Nông dân. Suốt thời gian đó NAQ làm việc bằng tiếng Pháp (khi viết báo hay báo cáo), tiếng Nga (với đoàn của Borodin) và Việt khi mở một số lớp đào tạo cho thanh niên nông dân VN do Borodin và Quốc dân đảng của Tàu tài trợ. Thậm chí, ngày 14/1/1926 NAQ được mời phát biểu tại Đại hội lần II của Quốc Dân đảng Tàu - Kuo Min Tai với tư cách là thành viên đoàn chủ tịch Quốc tế Nông dân I, cũng bằng tiếng Pháp và có phiên dịch ra tiếng Tàu. Vậy mà chỉ hơn hai năm sau, sau khi bôn ba các nước Nga, Đức, Bỉ, Ý, Thái, Xiêm..., tháng 12/1929 trở về Tàu lần 2 HCMđã thông thạo tiếng Tàu hoàn toàn và đồng thời quên hết tiếng Nga, Pháp, Anh... HCM lại làm việc riêng với người Tàu bằng tiếng Tàu... Rồi năm 1938 xuất hiện ở Tàu lần 3 HCM đã là thiếu tá Hồ Quang trong quân đội Tàu, có trình độ tiếng Tàu ở bậc trí thức!
Bình luận 11: Không ai hiểu HCM học tiếng Tàu khi nào trong điều kiện nào? Khoảng trống duy nhất mà HCM có thể học tiếng Tàu là từ tháng 12/1932 đến tháng 6 năm 1934 khi ra khỏi tù Hong Kong nhưng chưa đến lại Moscow lần 3.
Thứ mười hai, về biểu hiện văn hóa gia đình, NAQ rất có hiếu với cha (viết đơn xin quan Pháp tha tội cho cha là Nguyễn Sinh Sắc, và xin việc cho cha...), còn HCM sau hơn 30 năm xa nhà mà suốt 24 năm (từ 1945 đến 1969) chỉ về quê Nghệ An một lần vội vã, và khi anh (ông Cả Khiêm) và chị (bà Thanh) còn sống không về thăm, họ chết HCM cũng không về ma chay giỗ lễ...
Bình luận 12: Tôi nghĩ Hồ thà mang tiếng bất hiếu với những kẻ không phải cha mẹ mình còn hơn nếu về xứ Nghệ gặp “họ hàng” lại lòi ra mình không phải dân Nghệ thì khốn! Với lại Hồ rất có hiếu đấy chứ, thường xuyên về Tàu thăm hỏi chăm lo gia đình Tàu của mình đấy chứ!
Thứ mười ba, về biểu hiện văn hóa sắc tộc,NAQ/NTT rất lễ phép và tôn kính các bậc trên như với Cụ Phan Châu Trinh (thường kính cẩn gọi Cụ Phan là Hy mã Đại nhân), còn HCM thì không những không tôn kính mà còn hỗn hào với Đức Thành Trần (Trần Hưng Đạo) của cả dân tộc Việt, thể hiện qua bài thơ ở Đền thờ Trần Hưng Đạo ở Côn Lôn, Kiếp Bạc (mà Hồ dám hỗn xược xưng ông-tôi với Đức Thánh Trần).
Bình luận 13: Tôi đã có một bài chửi Hồ về tội này - tội hỗn với Đức Thánh Trần. Tôi muốn viết một bài nữa về tội 24 năm làm “cha già dân tộc” mà chỉ một lần tiện đường ghé qua Đền Hùng - vị vua Tổ của Dân tộc, không thèm làm lễ thắp nhang gì, ngồi xây lưng dạng chân ra dạy bảo quân lính. Trong khi đó, hầu như năm nào HCM cũng lần mò về Tàu cộng, và về đó thì Hồ đi khắp các đền thờ để cúng lạy...
Thứ mười bốn, về tác phong cầm bút viết, không có ảnh lưu về cách cầm bút của NAQ, còn ảnh HCM thì cầm bút máy mà thẳng đứng và chìa ra đầu ngón tay như người Tàu cầm bút lông viết chữ Tàu...
Xem hình Hồ “làm việc” sau:
Bình luận 14: Cầm bút thế thì chỉ có chọc thủng giấy thôi chứ viết được gì? Nhưng vì từ bé chắc Hồ chỉ được dạy viết bút lông nên quen tay rồi...
Bút tích của NQA/NTT trong lá thư xin học trường Pháp năm 1911
và bút tích của HCM trong di chúc
Thứ mười năm, về tác phong ăn uống, NAQ ăn uống đạm bạc, còn HCM thích ăn món ngon kiểu Tàu, luôn có cán bộ Ban Hoa vận bên cạnh phục vụ đồ Tàu khi trong rừng, về Hà Nội thậm chí thỉnh thoảng đại sứ Tàu là Trương còn đến nấu ăn riêng cho y.
Bình luận 15: tác phong ăn uống là cái có thể tập rèn tùy theo điều kiện xung quanh, nhưng khi người ta làm vua như HCM thì đó là tác phong, thói quen từ quá khứ. Lẽ ra quá khứ của HCM phải là NAQ tức theo đồ ăn Tây, nhưng không, Hồ chỉ thích đồ Tàu...
Thứ mười sáu, về tình cảm vợ con, NAQ được Lý Dĩnh Siêu là vợ Chu Ân Lai giới thiệu và tổ chức cưới Tăng Tuyết Minh năm 1927 ở Quảng Châu, còn HCM năm 1958 chỉ xin đảng CSVN và đảng CSTQ cho cưới/sống chung với Lâm Y Lan là một cán bộ cao cấp của CSTQ (nhưng không được chuẩn y), năm 1968 Lâm Y Lan chết và 1969 Hồ buồn chết theo.
Còn đây là Tăng Tuyết Minh vợ Lý Thụy - NAQ cưới năm 1926 ở Quảng Châu, chia tay 1927 khi NAQ về lại LX:
Bình luận 16: Tăng Tuyết Minh dù xinh đẹp thật đấy nhưng với HCM hình như vẫn là... vợ người ta! Còn vợ mình là Lâm Y Lan kia. Thế cho nên đến khi hôn mê Hồ vẫn chỉ gọi tên Lâm Y Lan, dù trong tiểu sử chính thức mà Trần Dân Tiên khai sẵn cho Hồ không có đoạn nào Lâm Y Lan được xuất hiện cả, chỉ có Tăng Tuyết Minh. Cuộc đời éo le, với vua Hồ cũng vậy, kịch và đời cứ lẫn lộn tréo ngoe...
Và 4 điều giống nhau tất yếu giữa NAQ và HCM
Sẽ là không công bằng và không khách quan nếu phủ nhận hoàn toàn sự giống nhau nếu có giữa NAQ và HCM - nhất định phải có cơ sở nào đó giống nhau lắm thì những người ủng hộ quan điểm này mới bỏ công xây dựng và “tin tưởng” vào lý thuyết NAQ là HCM của họ là đúng và có thể thuyết phục mọi người chứ. Phần này, vì thế, tôi xin trình bày 4 điểm giống nhau cơ bản, mà tôi gọi là tất yếu (chính vì thế mà) NAQ được chọn là “tiền thân” của HCM:
Thứ nhất, cả hai đều cuồng tín tôn thờ những kẻ tội đồ nhân loại và lý thuyết đấu tranh bạo lực của chúng. NAQ thì sau khi bôn ba ở Pháp, Anh đã không theo các Cụ Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh mà chạy theo cộng sản Nga với các lãnh tụ Stalin khét tiếng tàn ác và Quốc tế Cộng sản III của y. Còn HCM thì một mực chỉ biết có và tôn thờ Mao với chủ thuyết cũng cộng sản nhưng còn tàn bạo hơn Stalin...
Bình luận 17: Tuy giống nhau, cùng chọn quan thầy là đồ tể cộng sản, nhưng HCM già dơ hơn hay “sinh sau khả ố” hơn, nên chọn Mao giỏi hơn Stalin về tài giết người và độ tàn ác, với lượng bị hại của y lên đến hàng trăm triệu người, dù Stalin đã vượt cả Hitle... Vì thế, HCM cũng vào được top ten diệt chủng mà Mao dẫn đầu với Stalin theo sau đó.
Thứ hai, cả hai đều là những kẻ thích mượn tên, gọi là trộm danh, người khác để cướp công, giành danh tiếng của họ. NAQ thì “mượn luôn” tên chung Nguyễn Ái Quốc của nhóm Ngũ Long mà NAQ là Nguyễn Tất Thành lúc đó may mắn được là thành viên non kém nhất, dù chưa xứng học trò của bốn người kia là Cụ Phan Châu Trinh, Ls. Phan Văn Trường, chí sĩ yêu nước Nguyễn An Ninh và nhà chính trị Nguyễn Thế Truyền. Bằng cách đó, Nguyễn Tất Thành cướp công/danh là tác giả của “Thỉnh nguyên thư của dân tộc An Nam” và nhiều tác phẩm khác của nhóm ký tên NAQ. Còn HCM lúc là thiếu tá Hồ Quang của tình báo cộng sản Tàu Nam Hoa thì đã “mượn” rồi cướp luôn tên Hồ Chí Minh của cụ Hồ Học Lãm.
Bình luận 18: Chúng giống nhau từ xuất xứ cái tên trở đi: đều đi “thó” của người khác. Bằng cách đó HCM cũng cướp luôn danh tiếng, các tác phẩm và cả tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Cụ Lãm và những người sáng lập khác... Trong cái giống nhau thứ hai này, HCM cũng hơn NAQ ở mức độ - lần trước là mức độ tác ác của thần tượng Mao hơn Stalin, lần này là mức độ vô liêm sỉ và thô bỉ của kẻ mượn danh, ăn cắp tên tuổi danh tiếng của người khác.
Thứ ba, đi xa hơn mượn danh, cả hai đều là những bậc thầy đạo văn và trộm cướp tác phẩm, tư tưởng của người khác. NAQ thì đơn giản nhận mình là tác giả (duy nhất) của những gì - tài liệu và tư tưởng trong đó - do nhóm Ngũ Long viết ra dưới tên NAQ. Còn HCM thì không chỉ trộm cả tập thơ Ngục Trung Nhật Ký của người khác (được cho là của Cụ Hồ Học Lãm), trộm tư tưởng và các ý tưởng, áng văn của nhiều người nổi tiếng khác, cả các bài thơ của bất hủ của các nhà thơ danh giá (như bài Tiết Thanh Minh của Đỗ Phủ)...
Bình luận 19: Như vậy về mức độ và phong cách trộm cắp thì dù cả hai vẫn giống nhau, nhưng HCM vẫn ở đẳng cấp tay nghề cao hơn, thường xuyên hơn...
Thứ tư, cả hai NAQ và HCM đều rất giống nhau ở những hành vi phản thầy hại bạn, bán đứng đồng chí mình. NAQ thì năm 1925 ở Tàu đã lừa cùng Lâm Đức Thụ bán đứng Cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp lấy tiền thưởng. Còn HCM cũng với phong cách lừa thầy phản bạn đó nhưng ở mức độ cao hơn nhiều - đã bán đứng cho Pháp và/hoặc trực tiếp cho tay chân ra tay giết hại hàng chục ngàn chí sĩ yêu nước đấu tranh cho độc lập dân tộc dù có theo cộng sản (nhưng cản đường Hồ) hay không theo cộng sản...
Ví dụ: Cuối năm 1929, khi đang ở Xiêm, được tin Việt Nam Quốc Dân Đảng đang chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đầu năm 1930, NAQ đã vội vã quay lại Quảng Châu báo tin hệ trọng đó cho Quốc Dân Đảng Tưởng, và qua chúng báo cho Pháp chuẩn bị. Vì thế, nhờ công của NAQ và/hoặc HCM báo kịp thời, Thực dân Pháp ở Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng. Khi cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc Dân Đảng nổ ra ngày 10/2/1930 ở Yên Bái, Hà Nội, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương, Lào Cai, Hồng Quảng (Quảng Ninh), Hải Phòng... quân Pháp đã dễ dàng dìm những người Việt anh dũng đứng lên trong biển máu, kết thúc bằng vụ xử chém Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và 11 lãnh tụ VNQDĐ khác tại Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930...
Bình luận 20: Phần này tôi không muốn bình luận, chỉ muốn khóc, vì chỉ nêu ra điều chúng giống nhau tán ác này đã làm quá đau lòng mọi người Việt yêu nước thương nòi rồi. Sự giống nhau này của chúng - NAQ và HCM đã làm đen tối và đẫm máu lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, đã tước đi mọi cơ hội đi lên mong manh còn sót lại cho dân tộc Việt Nam suốt gần một thế kỷ nay, đã đưa dân tộc vào một thế kỷ đẫm máu khác của cộng sản...
Kết luận về NAQ và HCM là của mỗi người từng người, nhưng tội ác của chúng/nó với dân tộc Việt Nam thì không thể chối cãi hay che giấu, dù chúng có giống hay khác nhau, dù chúng có là hai hay là một.
Kết: Câu chuyện thử AND của HCM/NAQ
Nhưng tại sao đảng CSVN không dùng biện pháp thử ADN để chứng minh NAQ và HCM là một người? Chúng nói là việc thử AND chỉ chứng tỏ chúng cũng bán tín bán nghi HCM có phải là NAQ, mà chúng thì tin chắc NAQ là HCM rồi nên chúng không cần thử nữa! Sự thật là chúng sợ, rất sợ thử AND sẽ làm lòi ra sự thật HCM không phải NAQ. Vì chúng biết rõ rằng HCM là người Tàu, là gián điệp Tàu.
Giả sử HCM và NAQ là một như CSVN nói đi, thì ngoài 4 điều họ giống nhau như tôi đã công nhận trên, vẫn còn ít nhất 16 nhóm chi tiết/cơ sở/bằng chứng để có thể kết luận NAQ và HCM là hai kẻ khác nhau hoàn toàn, như tôi đã liệt kê ra trên. Điều đó làm nhiều người dân hoài nghi. Từ dân hoài nghi dẫn đến dân mất lòng tin, hay dẫn đến lòng dân ly tán. Điều gì có thể lấy lại lòng tin của dân đó, đánh đổ những hoài nghi đó của dân? Chỉ có chứng minh rõ ràng chắc chắn cho dân biết NAQ và HCM là một người. Và cách chứng minh thuyết phục nhất, dễ dàng nhất là thử ADN của HCM với ADN giòng họ Nguyễn hiện nay của NAQ. Chỉ đơn giản thế là CSVN có thể thuyết phục được rất nhiều người hoài nghi HCM là người Tàu. Lợi quá lớn mà công chả mất gì, không cần mỗi năm bỏ mấy nghìn tỷ đồng tổ chức “học tập đạo đức tư tưởng Hồ” gì cả mà Hồ vẫn được tâng lên tận Cung trăng. Thế nhưng chúng vẫn không dám làm phép thử đó, vì sao? Vì chúng biết rõ rằng HCM là giặc Tàu, và chúng đã đâm lao thì phải theo lao thôi.
Thế cho nên, dù còn một cơ hội thôi thì tôi, chúng ta cũng phải cố gắng vạch trần bộ mặt tội ác và gian trá của lũ giặc Tàu Hồ. Đó là điều tôi muốn nói, tôi cố làm, và sẽ còn làm nữa khi có thể.
Jakarta, Thứ 7, 03, 1959 - Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt, 68 tuổi, đã bị bảo một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng những điều dạy của Hồi giáo.
Báo chí Indonesia đã phê bình Chủ tịch Hồ về việc thường xuyên hôn hít trong chuyến viếng thăm 10 ngày xuyên qua Java và khu nghỉ mát quần đảo Bali.
Hôm nay, ông A. N. Firdaus, tổng thư ký của Toàn Quốc hội Hồi Giáo Indonesia tuyên bố: "Những hôn hít đó vi phạm luật Hồi giáo được 90% dân chúng Indonesia tin vào".
"Ảnh hưởng"
"Hôn hít các em gái nơi công cộng cũng là một vi phạm phong tục Indonesia."
Ông Firdaus bổ túc. "Có thể chủ tịch Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tuyên truyền cộng sản nên ông ta nghĩ rằng những giá trị đạo đức của Indonesia cũng tương tự như của cộng sản."
Tờ báo của cánh xã hội Pedoman, một trong những tờ báo hàng đầu của Jakarta mới đây cũng ám chỉ đến một bài chủ bút trên Harian Rakjat trong đó đã chỉ trích vụ sôi động này là "kết quả của văn hoá Mỹ" và bồi thêm rằng "chuyện hôn hít của Chủ tịch Hồ rõ ràng là sản phẩm mới nhất của văn hoá Liên Sô."
"Đoàn Kết"
Báo chí cộng sản đã nhào vào chống đỡ lãnh đạo Bắc Việt và gọi chuyện hôn hít của ông ta là "biểu lộ của sự đoàn kết và thương cảm, điều đã được thúc đẩy bởi Tổng thống Soekarno".
Tờ Harian Abadi cho rằng người trưởng khánh tân của Bộ Ngoại giao nên nói nhỏ vào tai những người khách của quốc gia rằng họ nên hành xử như thế nào".
Tờ báo cũng viết thêm: "Chúng ta thật tình không hiểu từ đâu mà những người khách ngoại quốc có cảm giác rằng ở đất nước chúng ta việc hôn hít những bà vợ và những con gái của chủ nhà là tạo nên một tục lệ cao quý.
"May mà Bác Hồ là một ông già"
Một nghị viên nữ của Nghị viện Indonesia, bà Mawardi Noor nói rằng việc hôn hít của Chủ tịch Hồ là điều đáng tiếc. "Tôi hy vọng cách cư xử của Hồ sẽ không trở thành tập quán ở đây."
Hồ Chủ tịch trở lại Jakarta hôm nay từ Bali.
Ông ta sẽ rời vào ngày mai để đi Medan, Sumatra nơi mà ông ta sẽ nghỉ tối trên đường về lại Hà Nội.