Posts tonen met het label quốc hội. Alle posts tonen
Posts tonen met het label quốc hội. Alle posts tonen

zaterdag 10 december 2016

Điều trần vụ ô nhiễm Formosa tại Quốc hội Đài Loan của Linh mục Nguyễn Đình Thục đến từ Giáo phận Vinh

Điều trần vụ ô nhiễm Formosa tại Quốc hội Đài Loan


Trong hai ngày 5/12 và 6/12, hai linh mục Nguyễn Đình Thục và Nguyễn Văn Hùng đã có buổi làm việc với các dân biểu Đài Loan tại Đài Bắc, liên quan đến vụ ô nhiễm môi trường biển miền Trung Việt Nam do Tập đoàn Formosa của Đài Loan gây ra.
Buổi điều trần có sự tham dự của các dân biểu Đài Loan Tô Thị Phần, Ngô Côn Dụ, Trần Mạn Lệ và người đại diện của Chủ tịch Quốc hội Tô Gia Truyền.
Phía Việt Nam có Linh mục Nguyễn Đình Thục, quản xứ Song Ngọc, Giáo phận Vinh. Linh mục Nguyễn Đình Thục đã thay mặt cho người dân bị ảnh hưởng của vụ ô nhiễm môi trường đề đạt lên Quốc hội Đài Loan những yêu cầu và nguyện vọng của các nạn nhân Formosa tại Việt Nam. Ông nhận xét với VOA:
“Họ rất quan tâm đến vấn đề của Việt Nam, thể hiện qua việc có 3 dân biểu tham gia trong buổi điều trần, có nhiều luật sư, đại diện của Chủ tịch Quốc hội và các đại diện của các tổ chức xã hội dân sự. Sau khi tôi trình bày các vấn đề của chúng tôi xong thì họ đã thảo luận, xem ra họ rất nỗ lực để tìm ra giải pháp cho vấn đề đó. Ở Việt Nam, lẽ ra trách nhiệm của họ phải bảo vệ người dân, phải lắng nghe tiếng nói của các nạn nhân để hiểu được các nạn nhân đã phải chịu thiệt hại, khổ cực như thế nào. Nhưng xem ra việc đó rất khó để thực hiện ở Việt Nam. Ví dụ như bây giờ tôi đến để gặp một vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam thì tôi nghĩ chắc là rất khó. Nếu tôi đi gặp một vị bộ trưởng thì có lẽ nằm ngoài ước mơ của tôi, có lẽ tôi không thực hiện được. Nhưng chính phủ Đài Loan đã dành cho chúng tôi điều đó. Tôi cảm thấy đó là một vinh dự vì họ đã quan tâm đến vấn đề của Việt Nam”.
Kể từ khi xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường ở 4 tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 cho tới nay, đa số người dân ở khu vực này vẫn chưa tìm được công ăn việc làm mới. Linh mục Nguyễn Đình Thục cho biết nhiều người đã phải bán cả thuyền bè để trả nợ ngân hàng khi chưa tìm được nguồn thu nhập thay thế. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã đồng ý mức bồi thường thiệt hại 500 triệu đôla của Công ty Formosa, nhưng các nạn nhân nói số tiền trên là quá nhỏ bé so với mức độ thiệt hại gây ra cho người dân và đối với môi trường, ước tính sẽ phải mất nhiều năm để khôi phục. Một số linh mục Công Giáo đã giúp đỡ cho người dân bằng cách quyên góp vật chất và hỗ trợ về mặt pháp lý cho người dân khởi kiện Formosa.
Sau buổi làm việc với các dân biểu Đài Loan, Linh mục Nguyễn Văn Hùng tại Đài Loan cho biết kết quả:
“Bên phía các dân biểu, với sự bảo trợ của Quốc hội, sẽ yêu cầu công ty China Steel, là công ty có cổ phần 25% trong cổ phần của Công ty Formosa Hưng Nghiệp ở Hà Tĩnh, phải đến một buổi tranh luận công khai ở Quốc hội, để yêu cầu Công ty China Steel phải trình bày những kết quả kiểm nghiệm về chất độc đã thải ra trong nước biển, và hiện nay đã làm gì để giải quyết những độc hại trong nước biển. Đồng thời, yêu cầu Công ty China Steel của chính phủ Đài Loan phải có trách nhiệm về việc đó”.
Ngoài ra, các đại diện của Việt Nam trình lên Quốc hội Đài Loan những yêu cầu phải sửa đổi một số quy định luật pháp về việc kiểm soát và xử lý những doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường ở nước ngoài như Formosa. Linh mục Hùng cho biết thêm chi tiết:
“Thứ nhất, chúng tôi yêu cầu bên Bộ Kinh tế, trong việc xét duyệt những đề án kinh tế đến các nước làm việc, đầu tư, thì không thể chỉ báo cáo miệng mà phải có trình tự đi qua. Thứ hai, nếu công ty ra nước ngoài mà gây thiệt hại hoặc vi phạm nhân quyền, thì chính phủ phải có trách nhiệm để ràng buộc công ty đó. Thứ ba, những nạn nhân ở những quốc gia mà những công ty làm kinh doanh gây ra những tai hại đó, thì dân chúng tại những địa phương ở quốc gia đó có quyền tới Đài Loan để thưa kiện”.
Linh mục Nguyễn Văn Hùng cho biết trong 2 ngày làm việc, Dân biểu Tô Thị Phần (Su Chih Fen) đã nhiều lần đề cập đến việc chính phủ Đài Loan trong những năm qua đã tạo điều kiện cho tập đoàn Formosa phát triển quá lớn mạnh. Chính điều này đã gây khó khăn cho việc giới hạn những việc làm sai trái của tập đoàn này. Theo Linh mục Nguyễn Văn Hùng, Tập đoàn Formosa ở Đài Loan cũng không giành được thiện cảm của người dân bản xứ sau những vụ gây ô nhiễm môi trường ở trong và ngoài nước.
“Công ty Formosa, trên trường quốc tế và cũng ảnh hưởng đến Đài Loan, đã được một huy chương đen, là huy chương mà một tổ chức ở bên Đức trao cho công ty vì công ty này đã đóng góp vào việc gây ô nhiễm môi trường và làm hại cho trái đất mà chúng ta đang sống”.
Cũng trong buổi làm việc, các linh mục Việt Nam đã trao một thỉnh nguyện thư của 46 tổ chức xã hội dân sự và nhân quyền ở Việt Nam, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Mông Cổ, Campuchia và Iran tới Văn phòng Chủ tịch Quốc hội Đài Loan.
Các linh mục Việt Nam hy vọng các dân biểu Đài Loan có thể giúp Việt Nam bằng cách yêu cầu công ty Formosa công bố thông tin về mức độ ô nhiễm phát thải từ các nhà máy thép cũng như những nỗ lực để cải thiện môi trường và bồi thường, đồng thời đảm bảo các nhà máy được trang bị các thiết bị phù hợp để xử lý các chất gây ô nhiễm môi trường.
Các đại diện Việt Nam nói những vụ ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đài Loan và cũng có tác động tới “chính sách hướng Nam mới” của Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn.
Đáp lại yêu cầu từ phía Việt Nam, các dân biểu Đài Loan hứa sẽ gây áp lực đối với công ty Formosa Hưng Nghiệp ở Hà Tĩnh thông qua Công ty China Steel, đòi công ty này phải cung cấp kế hoạch cụ thể để bồi thường cho các nạn nhân ở Việt Nam. Ngoài ra, các dân biểu hứa sẽ nỗ lực đưa những yêu cầu về môi trường vào bản dự thảo kế hoạch trong “chính sách hướng nam mới” của Đài Loan.

    zaterdag 4 juni 2016

    Lần đầu tiên Quốc Hội Đài Loan kỷ niệm vụ tàn sát Thiên An Môn 1989 tại Bắc Kinh


    Lần đầu tiên Quốc Hội Đài Loan kỷ niệm Thiên An Môn


    mediaCựu sinh viên Ngô Nhĩ Khai Hy (Wu Er Kai Xi, giữa) dành một phút mặc niệm cho các nạn nhân Thiên An Môn tại Quốc Hội Đài Loan, ngày 03/04/2016.REUTERS/Tyrone Siu
    Quốc Hội Đài Loan ngày 03/06/2016 lần đầu tiên tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989 tại Bắc Kinh. Các dân biểu kêu gọi tân chính phủ nêu ra vấn đề nhân quyền với Trung Quốc.
    Quan hệ Trung-Đài trở nên lạnh giá từ sau chiến thắng hồi tháng Giêng của tân tổng thống Thái Anh Văn (Tsai Ing Wen) và đảng Dân Tiến của bà vốn có quan điểm độc lập. Bà Thái Anh Văn kế nhiệm ông Mã Anh Cửu (Ma Ying Jeou) của Quốc Dân Đảng, người mà trong suốt tám năm cầm quyền đã xích lại rất gần với Bắc Kinh.
    Chính quyền Đài Loan đã kêu gọi Trung Quốc rút ra các bài học từ vụ Thiên An Môn, nhưng đây là lần đầu tiên Quốc Hội kỷ niệm sự kiện này.
    Tổ chức một hôm trước ngày kỷ niệm chính thức 04 tháng Sáu, các dân biểu đảng Dân Tiến cùng với các thành viên Quốc Dân Đảng và một cựu lãnh tụ sinh viên Thiên An Môn đang sống lưu vong là Ngô Nhĩ Khai Hy (Wu Er Kai Xi), đã dành một phút mặc niệm cho các nạn nhân.
    Họ cũng ký tên vào bản kiến nghị do đại biểu Vưu Mỹ Nữ (Yu Mei Nu) của đảng Dân Tiến soạn thảo, đòi hỏi chính phủ « bày tỏ sự quan ngại sâu sắc của Đài Loan về việc xem xét lại sự kiện Thiên An Môn vào một thời điểm thích hợp ». Bà Vưu nói : « Đài Loan và Trung Quốc có mối quan hệ chặt chẽ, nên việc xâm phạm nhân quyền của các công dân Trung Quốc cũng có thể đe dọa đến vấn đề nhân quyền ở Đài Loan ».
    Đối với ông Trần Học Thánh (Chen Shei Saint) thuộc Quốc Dân Đảng, việc dân chủ hóa Trung Quốc sẽ là « bảo đảm lớn nhất cho an ninh của Đài Loan ».
    Bắc Kinh luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình, sẵn sàng thu hồi bằng vũ lực, dù Đài Bắc là một chính thể độc lập từ năm 1949, khi Quốc Dân Đảng bị quân cộng sản đánh bại phải chạy sang hòn đảo này.
    Trong đêm ngày 03 rạng sáng 04 tháng Sáu năm 1989, sau bảy tuần lễ biểu tình đòi cải cách dân chủ, « Mùa Xuân Bắc Kinh » đã bị dập tắt bởi binh lính và chiến xa được chế độ điều đến, nổ súng vào đám đông hầu hết là sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn. Cho đến nay, không hề có số liệu chính thức, nhưng các nguồn độc lập ước tín hàng trăm, thậm chí trên một ngàn người đã bị giết hại trong đêm đẫm máu ấy, và sự kiện này vẫn còn là cấm kỵ tại Trung Quốc.
    Đảng cầm quyền Đài Loan bị tin tặc Trung Quốc tấn công
    Các tin tặc Trung Quốc rất có thể là thủ phạm đã tấn công vào trang web của đảng Dân Tiến vừa lên cầm quyền tại Đài Loan, theo thông báo hôm 02/06/2016 của một công ty an ninh mạng Hoa Kỳ.
    Hồi tháng Tư, trang web của đảng Dân Tiến cũng đã từng là nạn nhân của tin tặc, khi truy cập vào đều bị hướng sang một trang giả mạo. Theo FireEye, công ty an ninh mạng có trụ sở tại Mỹ, chiến thuật này thường xuyên được tin tặc Trung Quốc sử dụng. Vụ tấn công mới này « có thể nằm trong các nỗ lực liên tục của gián điệp tin học ở Hoa lục để thu thập các thông tin liên quan đến đảng Dân Tiến ».

    http://vi.rfi.fr/chau-a/20160603-lan-dau-tien-quoc-hoi-dai-loan-ky-niem-thien-an-mon


    Thiên An Môn, đêm dài đẫm máu vẫn ám ảnh người cựu sinh viên


    mediaCựu lãnh tụ sinh viên Ngô Nhĩ Khai Hy (Wuer Kaixi) tiếp tục đấu tranh đòi dân chủ (DR)
    Một phần tư thế kỷ đã trôi đi sau khi quân đội Trung Quốc đàn áp đẫm máu phong trào dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn, cựu lãnh tụ sinh viên Ngô Nhĩ Khai Hy (Wuer Kaixi) đêm đêm vẫn giật mình thức giấc, bị ám ảnh bởi kỷ niệm về các bạn học bị sát hại.
    Vào mùa xuân năm 1989, trên quảng trường rộng mênh mông ở trung tâm Bắc Kinh, địa điểm biểu tượng cho quyền lực Trung Quốc, các sinh viên đòi dân chủ và tự do đã được đại đa số người dân ủng hộ, trong một không khí hồ hởi lan truyền trên toàn quốc.
    Nhưng sau bảy tuần lễ chiếm giữ quảng trường, sinh viên biểu tình đã bị quân đội truy sát đêm mùng 3 rạng mùng 4 tháng Sáu, một vụ đàn áp đẫm máu làm cho hàng trăm cho đến hơn một ngàn người chết, theo nhiều nguồn khác nhau.
    Ngô Nhĩ Khai Hy, người nổi tiếng nhất trong số các lãnh tụ sinh viên Thiên An Môn, lúc đó mới 21 tuổi, hiện đang tị nạn ở Đài Loan, sau khi trở thành nhân vật thứ hai trong danh sách những người bị truy nã tại Trung Quốc. Anh kể lại với hãng tin Pháp AFP: « Vào thời đó, dường như hoàn toàn có khả năng chính quyền sẽ lùi bước, đáp ứng lời kêu gọi cải cách chính trị của chúng tôi. Tôi nghĩ là khi mới bị đàn áp, tất cả mọi người đều cảm thấy bị sốc, và tôi là người đầu tiên ».
    Được nuôi dưỡng bằng nỗi bất bình chồng chất trong một thập kỷ kinh tế xáo trộn, phong trào phản kháng của sinh viên đã lan rộng khi lễ tang của cựu Tổng bí thư Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang) qua đời hôm 15/4, trở thành một cuộc biểu dương lực lượng, vinh danh nhà lãnh đạo chủ trương cải cách chính trị, bị Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) cách chức sau làn sóng biểu tình sinh viên đầu tiên.
    Sinh viên chọn quảng trường Thiên An Môn làm nơi tập họp. Hàng ngàn thanh niên bắt đầu tuyệt thực. Đối diện với bức chân dung Mao Trạch Đông, họ dựng lên một bức tượng « Nữ thần Dân chủ », theo mô hình tượng Nữ thần Tự do của Mỹ.
    Ngô Nhĩ Khai Hy trở nên nổi tiếng từ một cuộc tranh luận với Thủ tướng Lý Bằng (Li Peng), được trực tiếp truyền hình. Anh sinh viên không ngần ngại cắt lời và chất vấn ngược lại người lãnh đạo có chủ trương cứng rắn.
    Anh nhớ lại : « Chúng tôi duy trì áp lực và hy vọng chế độ sẽ có sự chọn lựa tích cực. Họ có thể mở ra đối thoại và như vậy chắc chắn sẽ có thể tiếp tục đóng một vai trò quyết định trong sự tiến triển về chính trị của Trung Quốc. Nhưng thay vì thế, chính quyền đã có chọn lựa khác : đàn áp bằng quân đội ».
    Ngày 15/5, chuyến viếng thăm của Tổng bí thư Liên Xô Mikhail Gorbatchev, được báo chí quốc tế theo dõi chặt chẽ, bị nhòa nhạt đi bởi sự kiện đông đảo người dân Bắc Kinh nô nức xuống đường chào mừng nhà cải cách Nga.
    Bị chia rẽ sâu sắc, ban lãnh đạo cộng sản Trung Quốc nghiêng sang phía « cứng rắn » do Đặng Tiểu Bình cầm đầu, chủ trương tuyên bố thiết quân luật để đàn áp những người bị phe này cho là « nổi dậy phản cách mạng ».
    Lãnh tụ ôn hòa, Tổng bí thư Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang) xuất hiện lần cuối tại quảng trường Thiên An Môn hôm 19/5. Mắt nhòa lệ, ông nài nỉ những người biểu tình trở về nhà. Bị cách chức sau đó, ông bị quản thúc cho đến tận khi qua đời vào năm 2005.
    Được tuyên bố vào ngày 20/5, lệnh thiết quân luật vấp phải sự kháng cự đồng loạt nhưng ôn hòa của người dân. Cho đến khi Giải phóng quân Trung Quốc, huy động đến hàng chục ngàn lính với hàng trăm chiến xa, bắn thẳng vào đám đông ở hiện trường đêm 3 rạng 4 tháng Sáu.
    Ngô Nhĩ Khai Hy kể : « Những viên đạn rít lên ngay trên đầu bạn, đó là điều mà người ta chưa hề biết được qua những cuốn phim hay trong văn chương. Cho đến ngày mà nó trở thành sự thật ».
    Chính quyền truy lùng các lãnh tụ của phong trào, nhiều người bị bắt giam, cho dù có một mạng lưới ở Hồng Kông giúp cho các sinh viên chạy trốn khỏi đất nước. Khai Hy nhớ lại : « Ở khắp nơi, những người Hoa ủng hộ chúng tôi và giúp cho tôi trốn thoát. Tôi đã thành công trong việc vượt qua biên giới phía nam ».
    Sau cơn phẫn nộ của cả thế giới, quốc tế đưa ra các biện pháp trừng phạt chế độ Bắc Kinh. Nhưng trước sự cất cánh kinh tế ngạo nghễ – Trung Quốc nay là cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới – nhiều Nhà nước ngày nay ít muốn đề cập đến vấn đề nhân quyền.
    Vào thời gian đầu khi mới đi tị nạn, Khai Hy « buồn rầu, trầm cảm », nhưng sau đó « cần phải đối đầu ». Có tài hùng biện và năng động, xuất thân từ một gia đình trí thức Duy Ngô Nhĩ, anh lập nghiệp trong ngành tài chính và trở thành nhà bình luận chính trị. Nhưng Khai Hy cho biết vẫn bị « ám ảnh » với ký ức Thiên An Môn. Anh chưa bao giờ có thể trở lại Trung Quốc đã thăm cha mẹ nay đã già yếu.
    « Thật là đáng buồn ! Buồn cho tôi, cho gia đình tôi, nhưng cũng cho cả Trung Quốc. Tôi không thể sống lưu vong một cách yên ổn, tôi không chấp nhận việc bị áp bức bởi một trong những chế độ độc tài mạnh mẽ nhất thế giới ».
    Nhưng ban đêm, kỷ niệm về những người bạn học bị giết hại tàn nhẫn vẫn thường ngăn cản anh chìm vào giấc ngủ. Khai Hy giải thích : « Tôi không thể sống an nhàn vì đã sống sót sau vụ thảm sát ấy ».

    http://vi.rfi.fr/chau-a/20140531-thien-an-mon-dem-dai-dam-mau-van-am-anh-nguoi-cuu-sinh-vien

    Thiên An Môn, nỗi ám ảnh khôn nguôi

    Thiên An Môn, nỗi ám ảnh khôn nguôi
     
    Biểu tình trước tháp Eiffel, Paris kỷ niệm 25 năm Thiên An Môn, 04/06/2014.Capdevielle

      Chiều ngày 4 tháng Sáu năm 2014, đúng hai mươi lăm năm sau vụ thảm sát Thiên An Môn, một cuộc biểu tình đã diễn ra ở quảng trường Trocadéro trước tháp Eiffel để kỷ niệm sự kiện phong trào dân chủ bị chính quyền Trung Quốc dập tắt bằng cách cho quân đội nổ súng vào sinh viên, thậm chí cho chiến xa cán lên xác những người thanh niên vô tội. Sự kiện bị thảm này đã gây chấn động cả thế giới.

      Hai mươi lăm năm đã trôi qua, biết bao vật đổi sao dời, nhưng những người đã từng chứng kiến hoặc đã nghe thấy không bao giờ muốn trang sử đen tối này bị quên lãng.
      Cuộc biểu tình do nhiều hiệp hội tổ chức, trong đó có đảng Dân Chủ Trung Hoa, và các hiệp hội của người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ và Việt Nam nên bên cạnh các biểu ngữ, có cả những lá cờ Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa trước đây.
      Một nhà sư Tây Tạng trong bộ áo cà sa màu nâu đỏ, trong làn mưa lất phất, cố gắng giữ chặt lá cờ trước những ngọn gió đang thổi lồng lộng. Ông cho biết tên là Yeshi Wangchen, vừa từ Tây Ban Nha đến :
      Sáng nay tôi bay từ Barcelona đến Paris, vì hôm nay là một ngày đặc biệt đối với người Trung Quốc, Mông Cổ, người Duy Ngô Nhĩ và Tây Tạng. Ngày 4 tháng Sáu năm 1989 trên quảng trường Thiên An Môn, rất nhiều sinh viên đòi dân chủ tự do đã bị quân đội Trung Quốc nghiền nát. Đó là lý do khiến chúng tôi có mặt ở đây hôm nay. Thế giới phải thay đổi, tự do và dân chủ là hết sức quan trọng.
      Chính quyền Trung Quốc không muốn biết đến thực tế này. Họ có rất nhiều quyền lực, họ kiểm soát tất cả thông tin nên những người dân Trung Quốc bình thường không dễ gì hiểu được, không biết được những vấn đề của Tây Tạng. Bản thân người dân Hoa lục cũng không có được tự do và dân chủ trên đất nước mình. Nay chính quyền Bắc Kinh phải thay đổi chính sách, phải mở cửa nhiều hơn với thế giới, để người dân được hưởng một nền dân chủ và có được các quyền tự do.
      Không chỉ có người Tây Tạng, mà đại diện một dân tộc đang bị chế độ Bắc Kinh đàn áp khác là những người Duy Ngô Nhĩ đang sống tại Pháp cũng có mặt để kỷ niệm sự kiện này :
      Tôi là người Duy Ngô Nhĩ. Chúng tôi, hiệp hội những người Duy Ngô Nhĩ tại Pháp tập hợp lại đây để tưởng niệm ngày 4 tháng Sáu năm 1989 tại Thiên An Môn. Tại Trung Quốc hiện nay, tình hình Tân Cương thật khủng khiếp. Chúng tôi có nguy cơ bị đồng hóa : mất đi tôn giáo, mất đi văn hóa, truyền thống.
      Một trong số những người Việt tham dự cho biết:
      Tôi là Định, hôm nay tôi tới đây để ủng hộ cho những người Trung Hoa dân chủ, đòi tự do dân chủ cho xứ của họ nhân dịp kỷ niệm ngày tàn sát Thiên An Môn vào ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Chính ra đây là hoạt động của Hội những người Trung Hoa Dân chủ, nhưng hội này thường làm việc chung với các hội người Tây Tạng, Việt Nam, Duy Ngô Nhĩ (ở Tân Cương), trong danh xưng Hiệp hội các quốc gia Á châu tranh đấu cho nhân quyền.
      Vụ thảm sát Thiên An Môn gây xúc động cho những người Pháp yêu hòa bình. Một người phụ nữ không muốn nói tên, có mặt tại quảng trường Trocadéro hôm ấy thổ lộ :
      Tôi đến đây biểu tình để bày tỏ tình hữu nghị với tất cả các dân tộc đang chịu đau khổ vì chế độ cộng sản Trung Quốc ở châu Á. Bởi vì Trung Quốc chủ trương bành trướng, có thể nói như vậy. Có nhiều ví dụ chẳng hạn ở châu Phi, người dân địa phương đã bắt đầu thấy Trung Quốc quá lố. Tôi đến với các bạn người Trung Quốc, người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ…tất cả những con người đang cần được ủng hộ, cần có chúng ta ở bên họ.
      Vì sao cần kỷ niệm Thiên An Môn? Điều này là quan trọng vì dân tộc Trung Quốc đã không được lắng nghe, ngược lại nhiều người đã bị thảm sát, và đến nay họ cũng vẫn chưa được lắng nghe. Đó là một trong những sự kiện bi thảm của nhân loại, và những vụ như thế cần phải được chấm dứt, vì như thế đã quá đủ.
      Mưa gió không cản bước được một người phụ nữ lớn tuổi, đã 25 năm qua, năm nào cũng đi biểu tình ủng hộ một dân tộc bị áp bức là Tây Tạng. Bà cho rằng không những chính quyền Bắc Kinh không muốn hiểu khát vọng dân chủ của những người sinh viên ở quảng trường Thiên An Môn năm ấy, mà từ đó đến nay vẫn tiếp tục trấn áp những người đòi cải cách chính trị:
      Tôi tên là Françoise Giler, là người Pháp gốc nhưng tôi biểu tình ủng hộ tất cả các đất nước bị chiếm đóng, bị thống trị. Tôi đã bắt đầu với Tây Tạng. Phát hiện đất nước này qua một cuốn sách, tôi dần dần tìm hiểu thêm và cảm thấy rất đáng buồn. Tôi tự hỏi tại sao, và ngày mà tôi hiểu ra được vấn đề, tôi bắt đầu đi biểu tình. Mỗi lần có cuộc xuống đường nào cho Tây Tạng, tôi đều có mặt. Đó là điều bình thường.
      Tôi cho rằng cần phải có hành động nào đó. Không thể nào để cho người dân phải chết, bị giết hại hay phải tự thiêu như ở Tây Tạng, quá là bi thảm. Thế nên tôi cố gắng làm được tối đa những gì có thể làm được.
      Phong trào đòi dân chủ ở Thiên An Môn, đã từng là một niềm hy vọng mênh mông. Chính quyền Trung Quốc có lẽ đã hiểu được đôi điều, nhưng rốt cuộc họ đã chẳng chịu hiểu. Không những không muốn hiểu, mà từ đó đến nay đã 25 năm qua họ lại tiếp tục bắt bớ, tống giam, đày ải những người bất đồng chính kiến.
      Có lẽ đến một ngày nào đó họ sẽ hiểu ra khi có một cuộc nổi dậy vĩ đại tại Trung Quốc. Hiện giờ cũng đã có nhiều cuộc biểu tình ở Trung Quốc. Tôi có một người bạn từng là Hồng vệ binh, bà ấy nói với tôi con đường mà chế độ đang đi là không thể chấp nhận được. Bà vô cùng thất vọng trước nạn tham nhũng và nhiều tệ nạn khác, và bắt đầu xuống đường chống chế độ.
      Những lời kinh cầu của nhà sư Tây Tạng được dành cho những nạn nhân vụ thảm sát. Người điều hành chương trình tưởng niệm là anh Vương Long Mông (Wang Longmon). Người đàn ông trung niên có khuôn mặt hiền lành đầy biểu cảm, lúc nói những lời giới thiệu, anh đã bật khóc. Đó là một cựu lãnh tụ sinh viên Thiên An Môn. Mãi sau khi chương trình kỷ niệm đã kết thúc, anh mới có thì giờ tâm sự :
      Lúc đó tôi 23 tuổi, là sinh viên kịch nghệ. Tôi phải đi đến Thiên An Môn cùng các bạn, đó là ước muốn và trách nhiệm của tôi. Quê tôi ở xa lắm. Tôi muốn rằng Trung Quốc phải thay đổi. Nhưng làm thế nào thay đổi ? Tất nhiên là phải thành lập nên các phong trào, phải tham gia để có được sự đổi thay. Đó là lý do vì sao tôi có mặt ở quảng trường.
      Trong lịch sử Trung Quốc, đây là lần đầu tiên người dân bị chính nhà cầm quyền của mình thảm sát. Ngay cả người Nhật lúc chiếm đóng Bắc Kinh trước đây, họ cũng không sát hại chúng tôi như thế ! Chỉ có quân đội đỏ mới giết dân mình.
      Tôi có mặt ở quảng trường Thiên An Môn cũng như rất nhiều sinh viên khác, và nhiều người dân Bắc Kinh cũng ủng hộ, trong suốt một thời gian khá dài - khoảng năm chục ngày trời. Chúng tôi mang đến nhiệt tình của mình, mang đến khát vọng thay đổi Trung Quốc.
      Nhưng cuộc thảm sát đã diễn ra trong đêm. Thật là khủng khiếp. Tôi nhớ lại, cứ y như là chiến tranh. Lệnh thiết quân luật được ban hành, giọng của người xướng ngôn viên truyền hình nghiêm khắc, đầy đe dọa. Chúng tôi sợ hãi, nhưng cố gắng cầm cự đến ngày 3 tháng Sáu.
      Vào thời điểm đó quảng trường Thiên An Môn đã thưa người hơn. Ai nấy đều mệt mỏi. Có những người đã cảm thấy nguy hiểm, nhưng sinh viên chúng tôi thì không, vì chúng tôi còn trẻ quá. Sinh viên chẳng lo ngại nhiều về tương lai. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến những tràng đạn, những chiếc xe tăng, những khẩu súng AK 47 đang chờ đợi mình. Chưa bao giờ nghĩ đến !
      Tối hôm đó, tình hình đã hết sức căng thẳng. Có những sinh viên không muốn rời quảng trường. Chúng tôi quyết định ở lại, vì không tin rằng họ có thể giết chúng tôi. Không thể nào có chuyện đó được ! Chúng tôi có sáu ngàn người, rồi bốn ngàn... và vẫn còn nhiều sinh viên trụ lại Thiên An Môn.
      Nhưng đến khuya, bỗng dưng ánh sáng tắt lịm. Quảng trường chìm vào bóng tối. Các loa phóng thanh oang oang : « Các vị phải rời quảng trường, nếu không chúng tôi sẽ quét sạch ». Họ nhấn mạnh là sẽ san bằng thành bình địa, nếu chống lại sẽ mất mạng.
      Ông Lưu Hiểu Ba và những người bạn đã đến nơi để bảo vệ sinh viên. Các nhà trí thức đã thương lượng với người chỉ huy quân sự ở quảng trường Thiên An Môn. Họ nói, bốn đến sáu ngàn sinh viên trên quảng trường là những tinh hoa của dân tộc Trung Hoa, là tương lai của Trung Quốc, không được sát hại những người trẻ này.
      Viên chỉ huy quân đội nói, các vị chỉ có mỗi một chọn lựa, đó là rời khỏi quảng trường. Lưu Hiểu Ba thương thuyết với họ, sau đó bàn bạc với sinh viên. Cuối cùng chúng tôi chấp nhận. Ông Lưu Hiểu Ba nói, hãy giữ lại mạng sống của các bạn cho một ngày mai. Nếu hôm nay các bạn chết trên quảng trường này thì sẽ vô ích, không còn tương lai nữa.
      Anh Vương kể tiếp câu chuyện trên quảng trường Thiên An Môn, cũng như quá trình đào thoát sau đó :
      Thế nên chúng tôi đã quyết định rời quảng trường. Họ đã chừa một lối ra ở hướng nam. Chúng tôi nắm chặt tay nhau, cùng hát bài Quốc tế ca. Chúng tôi đi như vậy suốt bốn tiếng đồng hồ. Hãy tưởng tượng, sáu ngàn con người, đông lắm chứ, đi vào lúc tờ mờ sáng.
      Khi băng qua các con đường, chúng tôi nghe tiếng súng bùng nổ khắp nơi, y như pháo giao thừa. Đó là vì quân đội đang tiến đến, cùng với các chiến xa. Vụ thảm sát bắt đầu.
      Cái chết ập đến từ mọi nơi, trên tất cả các con đường quanh Thiên An Môn. Họ cán lên các thân người, họ bắn chết người dân trên các con đường nhỏ của Bắc Kinh. Quá trình bắn giết kéo dài suốt hai ngày trời. Từ sáng sớm ngày 4 tháng Sáu cho đến ngày 5. Thậm chí ngay trong ngày, khi có ai đó nói lời gì chống đối chế độ, thế là « bùm, chíu », họ bắn chết ngay. Tôi trông thấy những xác chết. Tôi thấy những xe tăng, xe vận tải bị đốt cháy, ngọn lửa kéo dài rất lâu.
      Tôi có hai bạn học cùng lớp bị bắn chết. Và một người phụ nữ đã tự tử bên cạnh xác con. Bà mẹ đã về hưu, lên Bắc Kinh thăm con gái, nhưng cuối cùng chỉ trông thấy thi thể của con. Một người bạn học khác cũng tự tử trong nhà tắm, anh ấy không còn chịu đựng được nổi nữa.
      Khi tôi ra khỏi được quảng trường, hai ngày sau đó tôi lên xe lửa đi về miền nam, nơi ấy an toàn hơn đôi chút. Có những chính khách từ Đài Loan đã đến tận Bắc Kinh, tìm cách giúp đỡ chúng tôi. Có người dành đến ba tháng lương cho các chi phí.
      Nhờ được móc nối với mafia Phúc Kiến, chúng tôi chờ tàu đến đón, nhưng lần thứ nhất thất bại. Lần thứ hai, chúng tôi mới lên tàu được, và chịu mọi rủi ro vì mafia có thể ra tay giết chúng tôi mà không ai biết được. Vì họ không biết chúng tôi là ai, tiền thì đã nhận rồi, chúng tôi có chết đuối thì cảnh sát Đài Loan cũng chẳng bắt họ. Đó là mafia chứ không phải một tổ chức nhân đạo. Lênh đênh suốt một tháng trời, mãi cho đến ngày 26 tháng Mười, tôi mới thực sự được cứu thoát.
      Anh Vương nằm trong số những sinh viên hiếm hoi may mắn đào thoát được khỏi Trung Quốc, nhờ có những tấm lòng vàng từ khắp nơi. Anh cho biết, một khi đã đến được Đài Loan thì mọi việc trở nên dễ dàng. Có bảy nước sẵn sàng nhận các sinh viên Thiên An Môn đến định cư. Là một người say mê nghệ thuật, anh đã chọn lựa nước Pháp. Đất nước không chỉ nổi tiếng về văn hóa, mà tổng thống thời đó là ông François Mitterand ngay sau sự kiện Thiên An Môn đã thẳng thừng tuyên bố : « Một chế độ bắn vào tuổi trẻ của mình là một chế độ không có tương lai ».
      Người cựu lãnh tụ sinh viên Thiên An Môn thổ lộ, anh không « nhớ lại » vụ thảm sát trên quảng trường đã nổi tiếng trên toàn thế giới sau cái đêm kinh hoàng ấy, mà anh luôn « sống » với sự kiện này. Không một ngày nào, trong suốt hai mươi lăm năm qua, anh không sống với những cảnh tượng đã ám ảnh suốt một đời người.
      Nhưng còn cái chế độ đã bắn vào tuổi trẻ của mình, tuy 25 năm sau trở thành một nền kinh tế thứ nhì thế giới, nhưng sự tàn bạo chừng như không thay đổi. Sự kiện Thiên An Môn bị kiểm duyệt bóp nghẹt trên mạng, kể cả Google cũng bị chặn.
      Người ta tự hỏi, nếu thế hệ yêu tự do, yêu hòa bình ở Thiên An Môn thành công, phải chăng một định mệnh tươi sáng hơn đã chờ đợi dân tộc Trung Hoa và những dân tộc khác chẳng may ở cạnh Trung Quốc, cạnh Biển Đông và Biển Hoa Đông mà Trung Nam Hải vẫn đang thèm khát ?

      maandag 7 december 2015

      Quốc Hội Anh chấp thuận không kích ISIS ở Syria + Anh quốc bắt đầu oanh kích ISIS ở Iraq

      Quốc Hội Anh chấp thuận không kích ISIS ở Syria
      Wednesday, December 2, 2015 6:31:03 PM



      Bài liên quan



      LONDON, Anh (AP)
      Sau cuộc tranh luận sôi nổi kéo dài 10 tiếng đồng hồ, Hạ Viện Anh đã biều quyết  397-223 lúc 10 giờ đêm Thứ Tư chấp thuận cho mở chiến dịch oanh kích ISIS trên lãnh thổ Syria.

      Chủ tịch đảng Lao Động Jeremy Corbin (giữa, bên phải – đứng) phát biểu trong cuộc tranh luận sôi nổi ở Hạ Viện Anh về vấn đề cho phép Không Quân Hoàng Gia Anh oanh kích ISIS. (Hình:Parliamentary Recording Unit via AP video)

      Như vậy các máy bay chiến đấu/oanh tạc Tornado của Không Quân Hoàng Gia Anh đặt căn cứ ở Cyprus có thể tiến hành các phi vụ truy tìm mục tiêu ISIS trên lãnh thổ Syria để tấn công. Cho đến nay Anh đã ở trong liên minh chống ISIS do Hoa Kỳ dẫn đầu, nhưng các máy bay Anh chỉ được phép oanh kích ISIS bên ngoài Syria. Trong vòng một tiếng đồng hồ sau khi biểu quyết, bốn máy bay Tornado cất cánh từ căn cứ không quân Akrotiri bay về hướng Đông nhưng không rõ đi đến mục tiêu nào.
      Sáu mươi sáu dân biểu đảng Lao Động không bỏ phiếu theo lãnh tụ của họ, ông Jeremy Corbyn, và bỏ phiếu tán thành đề nghị của Thủ Tướng David Cameron. Ngược lại chỉ có bảy dân biểu đảng Bảo Thủ không ủng hộ ông Cameron.

      Ngay lập tức Tổng Thống Barack Obama lên tiếng tỏ bày sự hoan nghênh quyết định của Anh. (HC)

      http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=218483&zoneid=5

      Anh quốc bắt đầu oanh kích ISIS ở Iraq
      Tuesday, September 30, 2014 6:24:00 PM 



      IRBIL, Iraq (NV) - Anh cho biết vừa tiến hành cuộc oanh kích đầu tiên vào các mục tiêu của quân Nhà Nước Hồi Giáo (ISIS) ở Iraq hôm Thứ Ba. Theo CNN, bốn ngày trước đó Quốc Hội Anh bỏ phiếu chấp thuận cho phép tham gia vào cuộc chiến chống ISIS.



      Một chiến đấu cơ của Anh đáp xuống phi đạo sau khi hoàn tất một phi vụ tại Akrotiri, 27 Tháng Chín, 2014. (Hình: AP Photo/Petros Karadjias)

      Bộ Quốc Phòng Anh nói, các phi cơ của họ trợ giúp quân của người Kurds chống lại ISIS ở Tây Bắc Iraq, bằng cách thả bom tiêu diệt một vị trí vũ khí hạng nặng và bắn hỏa tiễn vào một chiếc xe tải pickup có vũ trang.

      Giám định sơ khởi cho thấy cả hai cuộc tấn công đều thành công.

      Máy bay của Anh tham gia các phi vụ dọ thám ở Iraq ngay khi được sự chấp thuận của quốc hội vào ngày Thứ Sáu nhưng hôm Thứ Ba mới lần đầu tiên mở cuộc oanh kích.

      Anh gia nhập hàng ngũ với Hoa Kỳ và Pháp trong việc oanh kích ISIS ở Iraq, trong khi Bỉ và Ðan Mạch hứa cũng sẽ gửi chiến đấu cơ đến. Tuy nhiên chỉ Mỹ là nước duy nhất hợp tác với nhiều nước Ả Rập tấn công ISIS ở nước láng giềng Syria.

      Trong lúc đó, quân ISIS ở Iraq và Syria vẫn tiếp tục gây áp lực vào thị trấn Kobani (còn biết với tên Ayn al Arab) ở Bắc Syria, gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, nơi người Kurds chiếm đa số.

      Ðề Ðốc John Kirby, phát ngôn viên của Ngũ Giác Ðài, nói rằng máy bay Mỹ oanh kích Kobani suốt đêm.

      Nếu ISIS lấy được Kobani, họ sẽ kiểm soát hoàn toàn dải đất từ thủ đô tự xưng Raqqa lên đến biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, cách xa đến hơn 100 cây số. (TP)


      http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=195884&zoneid=5

      vrijdag 13 november 2015

      Bầu cử Miến Điện : Đảng đối lập của Bà Aung San Suu Kyi chiếm đa số tuyệt đối cả hai viện Quốc Hội + Quân đội hứa hợp tác với chính quyền dân cử

      Bầu cử Miến Điện : Đảng đối lập chiếm đa số tuyệt đối cả hai viện

      mediaChào mừng chiến thắng của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ. Ảnh chụp bên ngoài trụ sở đảng đối lập ở Rangoon, 09/11/2015.REUTERS/Jorge Silva
      Giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi, lãnh đạo đảng đối lập Liên đoàn Quốc gia vì Dân Chủ, đã giành được thắng lợi lịch sử trong cuộc tổng tuyển cử ngày 08/11/2015 vừa qua: đảng của bà chiếm được đa số tuyệt đối ở cả Hạ viện và Thượng viện Miến Điện.
      Theo AP, Ủy ban bầu cử Miến Điện, ngày hôm nay, 13/11/2015 ra thông báo : mặc dù chưa kiểm phiếu hết, nhưng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ đã giành được tổng cộng 348 ghế ở cả hai viện, trong khi chỉ cần 329 ghế trong tổng số 664 ghế là có đa đa số.
      Do tình hình căng thẳng ở một số nơi trước cuộc bầu cử, cuộc bỏ phiếu đã không được tổ chức ở bẩy địa điểm. Chính vì thế, chỉ cần có 329 ghế là đủ để có được đa số ở cả Hạ viện (Quốc hội) và Thượng viện (Hội đồng các sắc tộc). Trong khi đó, đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ đã chính thức 110 ghế tại Thượng viện và 238 ghế tại Hạ viện – cho phép tân Quốc hội thông qua các đạo luật do chính phủ đề xuất, mà không cần phải liên minh với các đảng phái khác.
      Tính đến chiều nay, đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển, được quân đội ủng hộ, chỉ có được tổng cộng 40 ghế.
      Theo Hiến pháp hiện hành của Miến Điện, quân đội được quyền chỉ định 25% tổng số ghế ở Hạ viện và Thượng viện và bà Aung San Suu Kyi không thể trở thành Tổng thống do có con mang quốc tịch nước ngoài.
      Tuy vậy, với kết quả kiểm phiếu được công bố chính thức, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi sẽ đứng ra lựa chọn tân Tổng thống và lập chính phủ. Đây là thắng lợi vượt quá mong đợi của phe đối lập.
      Từ Rangoon, thông tín viên RFI Remy Favre gửi về bài tường trình :
      « Giành được được đa số tuyệt đối có nghĩa là Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ có thể lựa chọn Tổng thống. Đây là thắng lợi đầu tiên tại Miến Điện, nơi giới tướng lãnh thống trị chính trường từ hơn 50 năm qua. Tổng thống Miến Điện có nhiều quyền hành như bổ nhiệm phần lớn các Bộ trưởng, cho dù quân đội được quyền bổ nhiệm Bộ trưởng một số bộ chủ chốt. Như vậy, đảng của bà Aung San Suu Kyi sẽ chia sẻ quyền hành pháp với quân đội. Hiện nay, một số nhóm sắc tộc thiểu số lo ngại là không có đại diện của họ trong các định chế mới ở Miến Điện.
      Vậy thì ai trong số các lãnh đạo của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ sẽ trở thành Tổng thống của Miến Điện ? Bà Aung San Suu Kyi không thể đảm nhiệm chức vụ này. Bản Hiến pháp do giới tướng lãnh làm ra trước đây chỉ để chống lại bà, ngăn cản bà trở thành Tổng thống. Thế nhưng, trong chiến dịch vận động tranh cử, bà Aung San Suu Kyi không nêu ra một ai để đảm nhiệm chức vụ Tổng thống và trước các đám đông, bà vẫn chỉ xuất hiện một mình, trừ lúc bà đọc bài diễn văn trong cuộc vận động tranh cử cuối cùng. Bà chỉ nói là bản thân bà sẽ giữ một vị trí đứng trên Tổng thống cho dù Hiến pháp Miến Điện không nói đến trường hợp này. Bà tuyên bố rằng tân Tổng thống sẽ làm những gì mà Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ bảo phải làm. Nói một cách khác, đó là Tổng thống bù nhìn ».

      http://vi.rfi.fr/chau-a/20151113-bau-cu-mien-dien-dang-doi-lap-chiem-da-so-tuyet-doi-ca-hai-vien

      Miến Điện : Quân đội hứa hợp tác với chính quyền dân cử

      mediaTướng Min Aung Hlaing phát biểu trước báo chí sau khi bỏ phiếu ngày 08/11/2015.AFP PHOTO / COMMANDER-IN-CHIEF OFFICE
      Hôm nay 12/11/2015, tướng chỉ huy tối cao của quân đội Miến Điện đã lên tiếng cho biết « sẵn sàng hợp tác với chính phủ mới » sẽ được thành lập bởi đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, vừa giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử tự do hôm 8/11.
      Giới tướng lĩnh quân đội đã bắt đầu thừa nhận thất bại trong cuộc tuyển cử vừa rồi, dù chưa có kết quả kiểm phiếu cuối cùng. Không nắm chính phủ nhưng quân đội vẫn giữ vị trí quan trọng trong chính trường. Sự hợp tác của quân đội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền lực sắp tới được diễn ra êm đẹp.
      Thông tín viên RFI tại Rangoon Rémy Favre tóm lược :
      Quân đội đã chúc mừng Aung San Suu Kyi và thừa nhận thắng lợi của đảng đối lập. Tư lệnh quân đội Miến Điện đã chấp thuận gặp bà Aung San Suu Kyi. Trước cuộc bầu cử hôm Chủ nhật, tướng Min Aung Hlaing vẫn từ chối nói chuyện với bà. Lần này, ông không thế làm ngơ trước kết quả của tuyển cử. Kết quả đã rất rõ vì Ủy ban bầu cử khẳng định đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ đến giờ đã giành đủ số ghế trong Quốc hội để có thể chỉ định một Phó tổng thống.
      Phe quân đội đã trị vì trên chính trường Miến Điện trong hơn năm chục năm, lãnh đạo đất nước cho đến tận năm 2011. Nhưng giới quân nhân vẫn không ra khỏi bối cảnh chính trị của đất nước. Hiến pháp vẫn bảo đảm cho họ có quyền hành rộng rãi. Giờ đây họ phải hợp tác với đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ. Lãnh đạo của đảng, bà Aung San Suu Kyi luôn mong muốn đối thoại với giới quân nhân. Bà thường xuyên có những phát ngôn tôn trọng quân đội và ngỏ ý bà không mong muốn trả thủ chế độ độc tài quân sự. Chiến lược này của bà đã thành công. Aung San Suu Ky đã có được lòng tin của các tướng lĩnh và họ chấp nhận chia se quyền lực với đối lập.
      Cũng trong ngày hôm nay, chính phủ Miến Điện cho biết, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã gọi điện thoại khen ngợi Tổng thống Thein Sein đã tạo điều kiện để cuộc bầu cử tự do được diễn ra tốt đẹp. Thông cáo của Bộ Thông tin Miến Điện cho biết thêm là Tổng thống Mỹ đánh giá chính phủ Miến Điện đã tổ chức thành công cuộc tuyển cử lịch sử, tự do và công bằng.

      http://vi.rfi.fr/chau-a/20151112-mien-dien-quan-doi-hua-hop-tac-voi-chinh-quyen-dan-cu

      Aung San Suu Kyi muốn đối thoại với những người đang cầm quyền

      mediaChân dung của lãnh tụ Aung San Suu Kyi trên mặt tiền trụ sở đảng đối lập Liên minh Quốc gia vì Dân chủ 09/11/2015 - AFP
      Nay đã nắm chắc chiến thắng trong tay sau cuộc tổng tuyển cử tự do ngày 08/11/2015, lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi kêu gọi đối thoại với những người đang cầm quyền, tức là những người xuất thân từ một chế độ quân phiệt đã từng quản thúc tại gia bà trong suốt hơn 15 năm.
      Hôm nay, 11/11/2015, đảng đối lập Liên đoàn quốc gia vì dân chủ công bố nội dung bức thư mà bà Aung San Suu Kyi gởi cho Tổng thống Thein Sein, chủ tịch Hạ viện Shwe Mann, cũng như cho tổng tư lệnh quân đội Miến Điện, tướng Min Aung Hlaing.
      Trong bức thư, nhà đối lập từng đoạt giải Nobel Hòa bình viết : « Các công dân đã bày tỏ ý nguyện của họ qua cuộc bầu cử. Tôi rất muốn mời quý vị thảo luận về hòa giải dân tộc vào tuần tới, vào một thời điểm thuận tiện cho quý vị ».
      Kết quả cuộc bầu cử Chủ nhật vừa qua vẫn được công bố theo kiểu nhỏ giọt, nhưng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ cho tới nay vẫn dẫn đầu, bỏ xa các đối thủ. Theo kết quả kiểm phiếu tính cho đến hôm nay, đảng đối lập đã giành được 56 trên tổng số 61 ghế của Hạ viện. Nhưng dù kết quả chung cuộc là như thế nào đi nữa, thì phe quân sự vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trên sân khấu chính trị Miến Điện. Từ Rangun, thông tín viên RFI Rémy Favre gởi về bài tường trình :
      « Bà đang ở thế mạnh và nghĩ rằng sẽ giành được đa số ở Quốc hội, nên bà muốn mở đối thoại, cuộc đối thoại mà bà đã không thể tiến hành được trước cuộc tổng tuyển cử. Bà Aung San Suu Kyi đã viết thư cho Tổng thống Thein Sein, chủ tịch Hạ viện Shwe Mann, cũng như cho tổng tư lệnh quân đội Miến Điện, tướng Min Aung Hlaing.
      Nhà đối lập muốn gặp họ để thảo luận về cách thức mà những người đang cầm quyền sẽ thực hiện ý nguyện của người dân. Nói cách khác, bà muốn bàn về việc chuyển giao quyền lực, một cuộc chuyển giao mà bà muốn diễn ra một cách ôn hòa để thiết lập một chính phủ hòa giải dân tộc. Trước cuộc bầu cử, bà Aung San Suu Kyi đã nhiều lần tìm cách gặp lãnh đạo quân đội Miến Điện, nhưng vị này không bao giờ đáp ứng.
      Cho dù kết quả cuộc tuyển cử Chủ nhật vừa qua như thế nào, quân đội sẽ vẫn đóng vai trò quan trọng trên sân khấu chính trị Miến Điện. Phe quân nhân sẽ tiếp tục nắm quyền phủ quyết đối với mọi sửa đổi Hiến pháp.
      Tổng tư lệnh quân đội vẫn có quyền kiểm soát trên các bộ quan trọng nhất. Chính viên tướng này, chứ không phải chính quyền, chỉ định bộ trưởng Quốc phòng, bộ trưởng Nội vụ và bộ trưởng đặc trách các vấn đề biên giới. »
      Mặt khác, những người ủng hộ bà Aung San Suu Kyi đang lo ngại về phản ứng của phe quân sự trước thảm bại trong cuộc bầu cử vừa qua. Chiến lược của Liên đoàn quốc gia dân chủ là để cho chính phủ hiện hành có thời gian để « tiêu hóa » kết quả đó, không reo hò ăn mừng chiến thắng, không đổ dầu thêm lửa, vì làm mất mặt đối thủ này sẽ là một sai lầm chiến lược.
      Chính vì vậy bà Aung San Suu Kyi kể từ sau bầu cử cho tới nay tỏ ra rất thận trọng, tránh xuất hiện trước công chúng, cũng như đã ra lệnh gỡ màn ảnh lớn và các loa phóng thanh trước trụ sở đảng đối lập. Những người ủng hộ bà cũng tuân thủ chỉ thị nên ở nhà, không tiếp tục xuống đường ăn mừng chiến thắng.

      http://vi.rfi.fr/chau-a/20151111-aung-san-suu-kyi-muon-doi-thoai-voi-nhung-nguoi-dang-cam-quyen

      zondag 13 september 2015

      Quốc hội Việt Nam gián tiếp xác nhận « chấp nhận công đoàn độc lập » ? (Nhà bình luận Phạm Chí Dũng - Saigon)


      Quốc hội Việt Nam gián tiếp xác nhận « chấp nhận công đoàn độc lập » ?


      mediaCông nhân một công ty sản xuất phụ tùng xe hơi và xe gắn máy ở Vĩnh Yên, ngoại thành Hà Nội, 19/08/2015.REUTERS/Kham
      Trên một tờ báo mạng Việt Nam cách đây hai ngày xuất hiện một bài báo đáng chú ý mang tựa đề « Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết ». Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội khi trả lời phỏng vấn đã hé lộ việc Việt Nam đã vượt qua được các điều kiện về công đoàn và lao động, khi kết thúc đàm phán song phương TPP với các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ.
      Như vậy có thể hiểu là Hà Nội đã nhượng bộ về vấn đề công đoàn độc lập khi thương lượng Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, tuy không tuyên bố chính thức ? Sự kiện này có liên hệ gì với việc Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được đón tiếp trọng thể tại Mỹ trong chuyến công du hồi tháng Bảy hay không ?
      RFI Việt ngữ đã đặt câu hỏi này với nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon.
      RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Thưa anh, ngày 10/09/2015, báo điện tử Vietnamnet đã đăng bài phỏng vấn Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Đức Kiên về vấn đề « lao động khi tham gia các FTA » - một khía cạnh rất thường bị Việt Nam xem là « nhạy cảm » hoặc thậm chí bị gán ghép « diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch ». Anh có ấn tượng gì về bài phỏng vấn này?
      Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Đây là bài phỏng vấn cần được dư luận đặc biệt lưu ý, vì nếu tôi nhớ không lầm, đây là lần đầu tiên một quan chức có trách nhiệm của Việt Nam công khai một số thông tin về tiến trình hình thành tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam, liên quan trực tiếp đến quá trình Việt Nam đàm phán đa phương và song phương với các nước khác về Hiệp định TPP. Còn trước đây, mọi thông tin về công đoàn độc lập hầu như không tồn tại trên mặt báo chí nhà nước.
      Việt Nam đã chấp nhận công đoàn độc lập?
      RFI : Theo cách nhìn của anh, ông Nguyễn Đức Kiên đã công khai vấn đề gì đáng lưu ý nhất?
      Nội dung đặc biệt nhất trong toàn bộ bài phỏng vấn là câu trả lời của ông Nguyễn Đức Kiên: « Chúng ta cam kết thế, phải luật hóa các cam kết đó, và phải thực hiện 24 tiếng sau khi phê chuẩn TPP » cho câu hỏi của phóng viên « Theo thông tin của ông, Việt Nam có được hưởng ân hạn trong cam kết về công đoàn và lao động hay không? ».
      Khái niệm « công đoàn và lao động » mà phóng viên hỏi chính là yêu cầu bắt buộc về sự hình thành tổ chức công đoàn độc lập, là một trong những điều kiện then chốt của TPP nếu phía Việt Nam muốn tham gia hiệp định này. Câu trả lời của ông Nguyễn Đức Kiên đã gián tiếp xác nhận rằng Nhà nước Việt Nam đã chính thức chấp nhận và cam kết điều kiện cho thành lập tổ chức công đoàn độc lập (hay « công đoàn cơ sở » theo cách gọi né tránh của Việt Nam) sau khi hoàn tất đàm phán song phương với các nước, đặc biệt với phía Hoa Kỳ.
      Nhưng điều thú vị của bài phỏng vấn này là còn gợi ra cho độc giả một kỹ thuật đọc báo theo cách « đọc câu hỏi », hoặc nói cách khác là « thông tin không nằm trong câu trả lời mà trong chính câu hỏi ». Kỹ thuật đặt câu hỏi vừa khéo léo vừa mang tính gợi mở của phóng viên đã cung cấp những thông tin đắt giá cho độc giả, mặc dù người trả lời phỏng vấn mà vì lý do tế nhị nào đó đã không thể trả lời trực diện toàn bộ các vấn đề.
      Câu hỏi vừa nêu của phóng viên đã gián tiếp xác nhận một vấn đề quan trọng không kém là không có thời gian ân hạn, nói cách khác là độ trễ muộn, dành cho việc thực hiện công đoàn độc lập khi vào TPP. Còn trước đây, chỉ có một số tin tức không chính thức cho biết phía Việt Nam đề nghị thời gian ân hạn thực hiện công đoàn độc lập là 5 năm, tương đương với thời gian ân hạn đề nghị để cải tổ doanh nghiệp nhà nước để được quốc tế công nhận là « kinh tế thị trường đầy đủ ».
      RFI : Từ cuối năm 2014 và sang quý I năm 2015, khi diễn ra chuyến làm việc của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang tại Washington, có phải đã bắt đầu xuất hiện những thông tin không chính thức và vài tín hiệu nào đó, về khả năng phía Việt Nam chấp nhận công đoàn độc lập?
      Đúng như vậy, có những tín hiệu đã xuất hiện từ cuối năm ngoái và đầu năm nay. Vào cuối tháng 8/2014, tức chỉ ít ngày sau chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Ủy ban Châu Âu, Manuel Barroso, một sự kiện có vẻ khá « bất ngờ » là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức hội thảo « Việc làm, quan hệ lao động và hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-châu Âu (EVFTA) » tại Thành phố Hồ Chí Minh.
      Ấn tượng lớn nhất của cuộc hội thảo này là sự đề cập « Hai hiệp định này có nhiều nội dung mang tính phi thương mại như quyền của người lao động, các tổ chức xã hội dân sự, tiêu chuẩn lao động, tự do hiệp hội-công đoàn… đặt ra yêu cầu các nước tham gia phải thực thi các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc theo tuyên bố năm 1998 của Tổ chức lao động quốc tế ».
      Chúng ta hoàn toàn có thể hiểu là vấn đề tự do hiệp hội và tự do công đoàn của hội thảo này chính là « tự do lập hội »« công đoàn độc lập ». Cũng tại hội thảo này, chi tiết đáng chú ý là ông Vũ Quang Thọ, Viện trưởng Viện Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), cho biết vấn đề tự do hiệp hội - công đoàn cũng là những hiệp định đòi hỏi các quốc gia khi tham gia phải có những điều chỉnh lớn về chính sách, pháp luật lao động-công đoàn.
      Còn vào đầu năm 2015, Hoa Kỳ bất chợt sôi nổi hẳn và mời ông Trần Đại Quang đi Mỹ. Chuyến đi này mang mục đích quan trọng nhất là chuẩn bị cho chuyến công du Washington của ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư (TBT) đảng Cộng sản Việt Nam. Vào thời điểm đó, dư luận và cả giới quan sát có vẻ bất ngờ trước động thái nhiệt tình của Mỹ cùng sự đáp ứng không mấy ngần ngại của Việt Nam.
      RFI : Không những không ngần ngại mà ông Nguyễn Phú Trọng còn tỏ ra khá thoải mái và tự tin khi gặp Tổng thống Obama tại Phòng Bầu dục vào tháng 7/2015. Liệu thái độ ấy có liên quan gì đến bài nói chuyện khá mạnh bạo của ông Obama tại Nhà máy Nike vào tháng 5/2015 về chủ đề lao động và công đoàn độc lập cho Việt Nam?
      Tôi cho là cách nói có nét tuyên bố khẳng định của ông Obama về công đoàn độc lập cho Việt Nam là có cơ sở, còn khi đặt chân lên đất Mỹ, ông Trọng cũng đã thừa hiểu Việt Nam đã phải « trả giá » đến mức nào để được tiếp hết sức trân trọng tại Phòng Bầu dục.
      Chúng ta hãy nhớ lại là vào ngày 08/05/2015, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã hiện diện tại trụ sở công ty Nike (Portland, Oregon), với một bài phát biểu rất đặc biệt, không phải dành cho nước Mỹ mà chính Việt Nam.
      Đây là lần đầu ông Obama dùng thể khẳng định trong đoạn phát biểu để nêu ra vấn đề Công đoàn độc lập: « Lần đầu tiên, Việt Nam sẽ phải phải để cho người lao động tự do thành lập công đoàn bảo vệ quyền lợi. Điều này cũng sẽ tạo ra sự thay đổi ».
      Một khả năng có thể là phát biểu của Tổng thống Mỹ được căn cứ trên cơ sở một văn bản nào đó chưa công bố giữa Việt Nam và Mỹ với cam kết của Nhà nước Việt Nam sẽ chấp thuận thực hiện công đoàn độc lập ở Việt Nam.
      Tại thời điểm đó, theo một nguồn tin đáng tin cậy mà tôi có được, phía Việt Nam hầu như đã chấp nhận điều kiện hình thành công đoàn độc lập do phía Mỹ nêu ra. Cụ thể, công đoàn độc lập sẽ được cho phép ra đời và hoạt động tại cấp cơ sở là các doanh nghiệp (chưa rõ doanh nghiệp thuộc thành phần nào - nhà nước, tư nhân hay đầu tư nước ngoài). Hai vấn đề mà nói theo ngôn ngữ ngoại giao « vẫn còn những điểm khác biệt » mà phía Việt Nam chưa đồng ý là tính liên kết của các tổ chức công đoàn độc lập giữa các doanh nghiệp với nhau, và tính quan hệ quốc tế của công đoàn độc lập tại Việt Nam với các tổ chức lao động, nghiệp đoàn quốc tế.
      Ngay sau lời phát biểu của Tổng thống Obama về chủ đề công đoàn độc lập ở Việt Nam, đã xuất hiện một luồng dư luận cho rằng bắt đầu hé lộ khả năng TBT Trọng sẽ được tiếp bởi tổng thống Mỹ.
      Đến ngày 13/5/2015 thì sự việc đã khá rõ ràng. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam - Ted Osius - xuất hiện trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) trong cuộc trả lời phỏng vấn xoay quanh kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ và tương lai Mỹ - Việt. Song chi tiết được dư luận đặc biệt chú ý trong bài trả lời phỏng vấn của Ted Osius là: « Chúng tôi sẽ đón tiếp TBT Nguyễn Phú Trọng với những nghi thức cấp cao nhất ».
      Đến khi đó, phương trình đa ẩn số đã được giải mã cơ bản. Bất chấp nhiều đồn đoán và dự đoán về việc ông Nguyễn Phú Trọng sẽ không được Tổng thống Mỹ tiếp, hoặc có được tiếp thì chỉ theo nghi lễ rất thông thường do ông Trọng không phải nguyên thủ quốc gia, « nghi thức cấp cao nhất » mà đại sứ Mỹ xác nhận đã đưa vai trò của Tổng bí thư Việt Nam và đoàn tùy tùng « nâng lên một tầm cao mới ».
      RFI : Theo anh, thỏa thuận ý nghĩa nhất mà hai quốc gia Mỹ và Việt Nam đạt được trong chuyến công du của TBT Trọng là gì?
      Trước khi ông Trọng đi Mỹ, những thông tin chính thức và không chính thức vẫn đề cập đến những chủ đề chính trong nghị sự là TPP, hợp tác quốc phòng và nhân quyền. Nhưng chẳng mấy người nhắc đến công đoàn độc lập. Khi đó, TPP vừa vượt qua được cửa ải Lưỡng viện Mỹ về quyền đàm phán nhanh (TPA) và người ta xem TPP là lĩnh vực có thể dễ được thỏa thuận nhất giữa Việt Nam và Mỹ, nhất là khi cuộc hội đàm cấp bộ trưởng các nước về TPP trong tháng 7/2015 được coi là « cuối cùng ».
      Nhưng té ra cuộc hội đàm ấy kết thúc có phần bế tắc, dù theo Đại diện thương mại Mỹ Michael Froman thì đã giải quyết được đến 98% các bất đồng trong đàm phán. Trong khi đó, vấn đề hợp tác quốc phòng Mỹ và Việt Nam vẫn chỉ tạm dừng lại ở cơ chế « giao lưu hải quân » - theo những tin tức được công khai. Còn nhân quyền mới đáng thất vọng, nhất là khi trong dịp lễ Quốc khánh 2/9, chính quyền Việt Nam đã không đặc xá cho bất kỳ tù nhân chính trị nào, cho dù con số được đặc xá năm 2015 là chưa từng có - hơn 18.000 phạm nhân.
      Rốt cuộc, chỉ còn lại vấn đề có thể ít được hy vọng nhất là công đoàn độc lập, thì lại trở thành một trong những kết quả lớn nhất cho chuyến công du Mỹ của TBT Trọng. Theo tôi, chính kết quả này, đạt được từ trước khi ông Trọng đặt chân lên Washington, đã giải thích vì sao ông Trọng được phía Mỹ đón tiếp trân trọng đến vậy.
      Quyền tự do lập hội cho mọi người dân Việt Nam
      RFI : Công đoàn độc lập được chấp nhận hình thành sẽ mở ra cho dân chủ Việt Nam triển vọng ra sao?
      Còn hơn cả lĩnh vực tù nhân lương tâm, công đoàn độc lập mang tính bao trùm về quyền lập hội của công nhân và do đó là công dân. Tất cả những gì đã được hứa hẹn, và cả hiến định từ tận Hiến pháp 1992, về quyền tự do lập hội của công dân nhưng cho tới nay vẫn chưa được thực thi, sẽ có cơ hội hiện thực hóa dần. Vào đầu năm nay, « bỗng dưng » Quốc hội Việt Nam đưa ra dự thảo Luật về hội là vấn đề vẫn còn bị coi là rất nhạy cảm chính trị, cho dù cho tới nay xã hội dân sự ở Việt Nam đã hình thành và đã tồn tại gần ba chục tổ chức hội đoàn độc lập.
      Khi trả lời câu hỏi « những cam kết về lao động và công đoàn trong TPP cũng chỉ là lặp lại những cam kết của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam là thành viên » của báo Vietnamnet, ông Nguyễn Đức Kiên cũng đã trở thành quan chức đầu tiên của VN tiết lộ một sự thật ít người biết:
      « Việt Nam trở thành thành viên của ILO năm 1998 sau khi đạt được thỏa thuận lùi thời gian thực hiện lại, tức có lộ trình. Có 13 công ước của ILO, trong đó, chúng ta đã và đang thực hiện 8, và 5 chưa thực hiện.
      Có hai công ước quan trọng nhất. Thứ nhất là Công ước 87 về quyền tự do lập hội của người lao động ở cơ sở, hay nói nôm na là quyền lập công đoàn cơ sở. Một nhà máy có thể có nhiều công đoàn, như công đoàn công chức, công đoàn công nghiệp, công đoàn hóa chất, hay thậm chí là hội thợ may quê Nghệ An… Người lao động được tự do gia nhập các tổ chức ấy, hoặc là họ tự lập ra một tổ chức và chính quyền phải chấp nhận. Họ có quy chế, có đăng ký, và các tổ chức ấy được đối xử bình đẳng.
      Thứ hai là Công ước 107, khi công đoàn tập hợp được trên 50% người lao động thì họ có quyền liên kết lại để ký với chủ thỏa ước lao động; và nếu cần, họ có thể đình công, hay kêu gọi đình công hợp pháp. Công đoàn này có thể hỗ trợ công đoàn khác. Họ liên kết ngang, liên kết dọc ».
      Chúng ta có thể hiểu những quy tắc mà ông Kiên dẫn lại cũng sẽ là những nội dung mà các tổ chức công đoàn độc lập của công nhân Việt Nam có thể thực hành trong những năm tới. Ông Kiên còn chi tiết hóa thêm thế này: « Cố vấn pháp luật của một đoàn đàm phán ngồi riêng nói với chúng tôi, tại sao các ngài cứ lo về cái điều mà chúng tôi có bắt các ngài làm ngay sáng hôm sau đâu. Cam kết ở đây là để các ngài xây dựng luật, phù hợp với các hệ thống luật khác của các ngài.
      Các ngài có thể đồng ý cho công nhân thành lập công đoàn, nhưng các ngài quy định, người đứng ra thành lập công đoàn cơ sở đó phải 25 tuổi trở lên; phải làm việc trong doanh nghiệp đó ít nhất 3 năm; không có tiền án, tiền sự; có gia sản ít nhất bằng này, vì có gia sản mới lấy tiền đó đi hoạt động được, mà không phải lấy đóng góp từ người lao động. Xong 4 điều kỹ thuật đó, lại quy định tiếp là người đó phải lấy được ít nhất 10% ý kiến của người lao động ở doanh nghiệp, họ ký vào đây đồng ý, thì Nhà nước mới cho ông lập ».
      Nói tóm lại, sự chấp nhận của chính quyền Việt Nam về công đoàn độc lập chính là thắng lợi lớn lao của cuộc vận động không mệt mỏi trong những năm qua, của các tổ chức nhân quyền trong nước và đặc biệt là của người Việt hải ngoại, cũng là một thành công nho nhỏ trên bàn đàm phán của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu với Nhà nước Việt Nam.
      Câu cuối trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Đức Kiên là lời trần thuật rất tâm trạng : « Nói thực ra là nhiều người Việt Nam cũng nghĩ đến điều này… ». Ông ấy giải thích thêm : « Nếu Đảng và các tổ chức chính trị xã hội đi cùng không tự vươn lên, không trở thành thỏi nam châm để thu hút người lao động, thì người lao động họ sẽ tách ra và đi theo guồng máy của lực hút khác. Những thách thức đó còn khốc liệt hơn nhiều, thách thức toàn diện, không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà sang cả chính trị… ».
      Tôi cho rằng ông Kiên đã nói ra một sự thật trần trụi. Đã khá muộn nhưng vẫn còn hơn không. Đảng cầm quyền ở Việt Nam phải thay đổi cách nghĩ, đừng cho rằng cứ có công đoàn độc lập là sẽ tái hiện Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan để lật đổ chế độ. Mà công đoàn độc lập thật ra chỉ là một thứ quyền đương nhiên và mưu sinh của người dân.
      RFI : Nhưng muốn thực thi công đoàn độc lập cho công nhân thì lại phải chờ kết quả đàm phán TPP?
      Tất nhiên là như vậy. Nhưng tôi cho rằng đàm phán TPP chỉ còn là vấn đề thời gian. Có thể sẽ diễn ra một cuộc đàm phán « cuối cùng » theo đúng nghĩa của cấp bộ trưởng các nước vào tháng Chín này, hoặc cũng có thể muộn hơn một chút, nhưng khó mà kéo dài sang năm 2016. Tiến độ có thể nhìn thấy là nếu đàm phán TPP kết thúc trong năm 2015 thì Quốc hội Mỹ sẽ xem xét bản thảo đàm phán trong nửa đầu năm 2016, và căn cứ vào kết quả đạt được hay vi phạm về nhân quyền của chính quyền Việt Nam mà Quốc hội Mỹ sẽ "yes" hay "no" đối với TPP Việt Nam.
      Bao nhiêu phần trăm cho « kịch bản Miến Điện »?
      RFI : Trước đây anh vẫn hàm ý có khả năng xu hướng dân chủ hóa ở Việt Nam có thể phần nào đó biến diễn theo cách của Miến Điện. Những gì mà Việt Nam đang cải cách có thực chất không?
      Cải cách khung luật pháp là điều kiện lớn của TPP và của Mỹ lẫn Tây Âu. Từ cuối năm 2014, Quốc hội Việt Nam bắt đầu hé lộ ý định « sẽ ban hành các luật Trưng cầu ý dân, Luật về hội ».
      Sang năm 2015, Việt Nam bắt đầu « điều chỉnh » các luật Hình sự (sửa đổi), Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo, và các dự Luật về hội, Luật tiếp cận thông tin. Hiện tượng này gần như tương tự với Miến Điện vào những năm 2012 – 2013, khi Tổng thống Thein Sein ban hành các luật về tự do lập hội, tự do báo chí và luật biểu tình. Đồng thời tiến hành thả đại trà đến hơn 300 tù nhân chính trị, thậm chí thả cả người bị kết án đến hơn 100 năm tù.
      Chính vì những cử chỉ thành tâm này mà vào cuối năm 2012, Tổng thống Mỹ Obama đã lần đầu tiên công du Miến Điện, kéo theo làn sóng xóa nợ lên đến 6 tỉ USD cho Miến Điện từ các quốc gia Đức, Nhật Bản, Na Uy, Câu lạc bộ Paris…
      Nhưng còn ở Việt Nam thì khác hẳn. Cho tới nay khung luật pháp vẫn chỉ được điều chỉnh mang tính đối phó, các dự luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và lập hội tràn ngập từ ngữ « xin – cho », còn dự luật Hình sự sửa đổi thì thật ra chẳng sửa đổi gì hết. Vì những điều khoản bị cộng đồng quốc tế lên án là mơ hồ và dễ bị lạm dụng như điều 79 (lật đổ chính quyền), điều 88 (tuyên truyền chống chế độ), điều 258 (lợi dụng quyền tự do dân chủ) vẫn được giữ nguyên mà chỉ thay đổi vị trí và cách đánh số trong dự luật mà thôi.
      RFI : Câu hỏi cuối cùng: nếu có thể lượng hóa, anh thấy Việt Nam đang và sẽ thay đổi ứng với kịch bản Miến Điện ra sao?
      Cần nói chân thành rằng kịch bản Miến Điện không mang mục tiêu lật đổ hoặc thay thế hoàn toàn chính thể cầm quyền, mà diễn ra một cách êm thấm theo xu hướng dân chủ hóa từng giai đoạn và tránh đổ máu - là kịch bản mà giới quan chức chính quyền Thein Sein có lẽ cũng không mong gì hơn.
      Và tôi cũng cho rằng trong thế bế tắc chính trị, kinh tế và xã hội ở Việt Nam, hiện nay tỉ lệ quan chức trung - cao tuy không dám nói ra nhưng mong đợi Việt Nam sẽ thay đổi theo cách của Miến Điện không phải là nhỏ. Đơn giản đó là cách để kìm giữ quyền lực và tài sản một cách hữu hiệu nhất, còn không thì rất có thể sẽ mất trắng nếu dân chúng nổi loạn. Một cách nào đó, tỉ lệ này phản ánh cho tỉ lệ đến 85% người Việt Nam ủng hộ quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ và chỉ hơn 10% thích Trung Quốc - như một bản khảo sát dư luận vào giữa năm 2015 của Trung tâm nghiên cứu Pew - Hoa Kỳ.
      Hồi trước còn có quan điểm cho rằng « theo Mỹ mất đảng còn nước », nhưng bây giờ khi phía Mỹ đã tuyên bố tôn trọng triết lý chính trị của chính thể Việt Nam, có lẽ phải điều chỉnh lại đôi chút: theo Mỹ còn nước và còn cả đảng, nếu đảng đó biết đặt Tổ quốc lên trên hết.
      Sau chuyến công du Hoa Kỳ của TBT Trọng được giới tuyên giáo đảng cho là « thành công lịch sử và vượt hơn cả mong đợi », tôi cho rằng việc chính thể Hà Nội chấp nhận định chế công đoàn độc lập mà không còn quá lo lắng về tiền lệ Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan những năm 80 của thế kỷ trước, cho thấy đã có một sự chuyển đổi không quá nhỏ về tư duy não trạng.
      Nếu sau chuyến công du Mỹ vào năm 2013 của ông Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước, tôi còn thận trọng đánh giá tỉ lệ tương ứng với kịch bản Miến Điện mới đạt chỉ khoảng 3-4%, thì sau chuyến đi Mỹ của TBT Trọng, có vẻ như tỉ lệ này đã lên đến 10%. Còn sau khi thông tin về công đoàn độc lập được Nhà nước Việt Nam chấp nhận, dù thông tin này chỉ mang tính gián tiếp qua một quan chức Quốc hội, tôi cho rằng tỉ lệ tương ứng kịch bản Miến Điện cho trường hợp Việt Nam đang đạt đến 15%.
      Chúng ta có thể hy vọng và đã có một ít cơ sở để hy vọng vào triển vọng này. Thậm chí nếu sau đại hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016 mà xuất hiện một gương mặt Tổng bí thư cởi mở hơn, xác suất tái hiện kịch bản Miến Điện còn cao hơn.
      RFI : Nếu Thụy My nhớ không lầm, thì năm ngoái khi trả lời RFI anh cũng đã có đặt vấn đề là người Mỹ dường như đang bắt tay giới bảo thủ Hà Nội. Bây giờ có vẻ như nhận định đó càng được củng cố thêm phải không thưa anh. Xin cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.


      Nhà bình luận Phạm Chí Dũng - Saigon 12/09/2015 - Thụy My Nghe

      http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150912-quoc-hoi-viet-nam-gian-tiep-xac-nhan-%C2%AB-chap-nhan-cong-doan-doc-lap-%C2%BB