Ngày 21/05/2018, Toà thánh Vatican thông báo giáo hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm tổng giám mục Marek Zalewski, người Ba Lan, làm Sứ thần Toà thánh tại Singapore kiêm đại diện Toà thánh không thường trú tại Việt Nam.
Sinh ngày 2-02-1963 tại Augustów, thuộc giáo phận Łomża, Ba Lan, tổng giám mục Marek Zalewski hiện đang là sứ thần Toà thánh tại Zimbabwe.
Trong chức vụ đại diện Toà thánh không thường trú tại Việt Nam, tổng giám mục Zalewski sẽ tiếp nối công việc của tổng giám mục Leopoldo Girelli, người Ý, đã được giáo hoàng Benedicto bổ nhiệm làm đại diện Toà thánh tại Việt Nam từ ngày 13/01/2011. Tổng giám mục Girelli đã mãn nhiệm từ ngày 13/09/2017 để nhận sứ vụ mới, nhưng chức vụ đại diện Toà thánh tại Việt Nam vẫn để trống từ đó đến nay.
Trong bản thông cáo đề ngày 21/05/2018, chủ tịch Hội Đồng Giáo Mục Việt Nam Giuse Nguyễn Chí Linh, tổng giám mục Huế, đã bày tỏ hy vọng rằng nhiệm kỳ của tân đại diện Tòa thánh Zalewski sẽ « cải thiện hơn nữa mối quan hệ giữa Tòa thánh Vatican và Nhà nước Việt Nam ». Đức cha Nguyễn Chí Linh cho biết sẽ mời tân đại diện Tòa thánh sớm sang thăm Việt Nam và Hội Thánh Việt Nam. Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kêu gọi giáo dân cầu nguyện cho tổng giám mục Zalewski trong sứ vụ mới tại Việt Nam.
Giáo hoàng Phanxicô (trái) tiếp chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang tại Vatican ngày 23/11/2016.REUTERS/Maurizio Brambatti
Hôm qua, 23/11/2016, đức giáo hoàng Phanxicô đã tiếp chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang tại Vatican, một bước mới trên tiến trình hai quốc gia xích lại gần nhau.
Theo thông cáo của Tòa Thánh, trong cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài 15 phút hôm qua, giáo hoàng và chủ tịch Việt Nam đã nêu lên “các mối quan hệ tốt” giữa hai bên, những mối quan hệ “được tăng cường bởi tinh thần đối thoại chung”. Thông cáo cho biết thêm là hai quốc gia “vẫn luôn tìm kiếm những công cụ tốt nhất giúp cho các mối quan hệ này phát triển hơn nữa”. Tuy nhiên, Tòa Thánh không nói đến khả năng tái lập bang giao giữa Vatican và Hà Nội.
Phái đoàn chủ tịch Việt Nam gồm 10 người hôm qua cũng đã gặp nhân vật lãnh đạo số 2 của Vatican, hồng y Pietro Parolin, nắm chức vụ như là Ngoại trưởng của quốc gia này.
Chế độ Cộng sản Việt Nam đã cắt đứt bang giao với Vatican vào năm 1975, nhưng hai bên đã tiến tới hòa giải kể từ năm 2007 và đến năm 2009 đã lập “Nhóm làm việc chung Vatican -Việt Nam ”. Đặc biệt kể từ năm 2011, Tòa Thánh có một “đại diện không thường trú” ở Việt Nam, đó là Tổng giám mục Leopoldo Girelli, Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore.
Nhiều lãnh đạo cao cấp của Việt Nam trong những năm gần đây đã đến hội kiến đức giáo hoàng tại Vatican, như thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Tuy quan hệ giữa Tòa Thánh và Hà Nội tiếp tục được cải thiện, căng thẳng vẫn tồn tại giữa chính quyền và Giáo hội Công giáo Việt Nam, chủ yếu do tranh chấp đất đai.
Đức Giáo hoàng Phanxicô rất chú trọng đến việc phát triển Công giáo ở châu Á ( hiện chỉ chiếm thiểu số 3% dân số ). Từ khi được bầu làm Giáo hoàng năm 2013, Ngài đã đến các nước Hàn Quốc, Srilanka và Philippines. Giáo hoàng Phanxicô hiện cũng đang chuẩn bị cho việc xích gần lại Trung Quốc, qua việc công nhận các giám mục do chế độ Bắc Kinh bổ nhiệm.
Bốn ngày sau đó ông cũng ra sân bay ở Santiago de Cuba – cách Havana đến 870km – để tiễn đưa ngài. Điều đó chứng tỏ vị lãnh đạo 84 tuổi này rất kính trọng Đức Giáo hoàng.
Tương tự, khi máy bay của Đức Giáo hoàng Phanxicô đáp xuống căn cứ không quân Andrews ở thủ đô Washington chiều 22/9, Tổng thống Barack Obama và gia đình, cùng với Phó Tổng thống Joe Biden và phu nhân, đã có mặt ở đó để chào đón ngài.
'Sức mạnh kinh tế, quân sự không phải lúc nào cũng là quan trọng nhất'
Trong sáu ngày ở Mỹ, có hàng ngàn, hàng chục ngàn thậm chí hàng trăm ngàn người nồng nhiệt xuống đường chào đón Đức Giáo hoàng hoặc tham dự các cuộc gặp, sinh hoạt và Thánh lễ của ngài.
Nước Mỹ dành cho lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình – người cũng sang thăm Mỹ ngày 22/09, không bằng Đức Giáo hoàng.
Theo Reuters, khi tới Seattle, ông Tập chỉ được Thống đốc tiểu bang Washington, Jay Inslee, đón tại sân bay.
Khi ông về khách sạn Westin, có khoảng 100 người tụ tập ở đó, gồm các tín đồ Pháp luân công phản đối Bắc Kinh cấm đoán, đàn áp phong trào của họ ở Trung Quốc.
Khi ông Tập bay đến Washington DC ngày 24/09 bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước tại Mỹ chỉ có Phó Tổng thống Joe Biden đón ông ở phi trường.
Đức Giáo hoàng Phanxicô được mời phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội Mỹ ngày 25/09.
Jane Perlez viết trên New York Times hôm 24/09 rằng quan chức của Trung Quốc từng ngỏ ý để ông Tập Cận Bình đọc diễn văn trước Quốc hội Mỹ nhưng ý tưởng ấy đã bị phía Mỹ từ chối.
Jane Perlez trước đó cũng nói ông Tập chọn đến Seattle trước và chỉ đến Washington sau khi Đức Giáo hoàng Phanxicô đã rời thủ đô Mỹ vì biết không thể cạnh tranh với một vị Giáo hoàng quá nổi tiếng.
Có thể nói, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã hoàn toàn làm lu mờ Chủ tịch Trung Quốc, dù xét về sức mạnh quân sự, kinh tế, so với ông Tập, ngài chẳng có gì. Image copyrightAFPImage captionĐức Giáo hoàng đã có bài phát biểu trước Lưỡng viện Hoa Kỳ Ngài chỉ là ‘nguyên thủ’ của một ‘quốc gia’ bé tý, có lãnh thổ chưa đầy nửa km vuông, với vỏn vẹn 842 dân, 100 lính canh người Thụy Sỹ, không quân đội, không vũ khí.
Còn ông Tập Cận Bình lãnh đạo một cường quốc, với diện tích gần 10 triệu km vuông, 1,35 tỷ người và 2,3 triệu lính với ngân sách quốc phòng ước tính hơn 100 tỷ USD.
Điều này ít nhiều cho thấy sức mạnh quân sự, kinh tế không phải lúc nào cũng vượt trội những giá trị, yếu tố phi vật chất khác trong chính trị thế giới.
Những thông điệp quan trọng
Đức Giáo hoàng Phanxicô, kể từ khi được chọn làm người lãnh đạo Giáo hội cách đây hơn hai năm, ngoài việc thúc đẩy canh tân trong Giáo hội, đã có nhiều sáng kiến, hoạt động nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Một trong những đóng góp của ngài được nhiều người khen ngợi, Mỹ và Cuba biết ơn đó là giúp họ bình thường hóa bang giao sau nhiều thập kỷ hiềm khích.
Tổng thống Obama và lãnh đạo Cuba Raul Castro dành cho ngài một sự tiếp đón nồng hậu, vì họ muốn ghi nhận đóng góp đó của ngài.
Giới lãnh đạo, người dân Mỹ dành cho ngài một sự đón tiếp như thế và các tổ chức, dư luận quốc tế nói chung có thiện cảm với ĐGH vì ngài còn cổ súy những giá trị tốt đẹp khác.
Một số báo Mỹ nói Hoa Kỳ kính trọng, ngưỡng mộ Đức Giáo hoàng vì ngài lên tiếng bảo vệ nhân quyền, tự do – đặc biệt là tự do tôn giáo – trong khi khá lạnh nhạt với Tập vì ông và chính quyền Trung Quốc vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo.
Trong các bài giảng, phát biểu, diễn văn tại Mỹ, ngài đã nêu nhiều thách đố, khủng hoảng mà thế giới đang phải đối diện – trong đó có vấn đề tôn giáo cực đoan, buôn bán vũ khí, xung đột, chiến tranh, vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo, nghèo đói, nạn ô nhiễm môi sinh và làn sóng di dân.
Ngài đã kêu gọi Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế can đảm, khôn ngoan, độ lượng, đối thoại và cộng tác với nhau để giải quyết những thách đố, khủng hoảng đó. Image copyrightAFPMột điểm khác được ngài nhấn mạnh, nếu không muốn nói là trọng tâm của diễn văn của ngài tại LHQ, là đề cao vai trò của LHQ, luật pháp, trọng tài quốc tế, của việc dùng các biện pháp ôn hòa để giải quyết các tranh chấp, xung đột giữa các quốc gia.
Lời kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế và bình đẳng giữa các quốc gia đó của Đức Giáo hoàng rất có ý nghĩa đối với chính trị thế giới và rất có lợi cho những quốc gia nhỏ, nằm cạnh những láng giềng lớn, như Việt Nam.
Quan hệ với Việt Nam
Cuba, nước cộng sản độc đảng như Việt Nam đã đón tiếp đón đến ba vị Giáo hoàng trong vòng 17 năm qua.
Đức Giáo hoàng đã có những thông điệp rất thiết thực về các vấn đề quốc tế lớn – gồm những điều rất có lợi cho cả Việt Nam.
Nhưng sao đến giờ Việt Nam vẫn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao và chưa một Đức Giáo hoàng nào sang thăm Việt Nam?
Quan trọng hơn, một biến cố như vậy có thể xẩy ra trong thời gian tới hay không?
Được biết ĐGH Gioan Phaolô II và ĐGH Bênêđictô XVI đã rất mong được thăm Việt Nam và các Giám mục Việt Nam cũng đã muốn chính quyền Việt Nam mời hay cho phép các ngài sang thăm đất nước mình vào năm 1999, khi Giáo hội Việt Nam kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang và dịp lễ Bế mạc Năm Thánh tại La Vang vào ngày 06/01/2011, khi người Công giáo Việt Nam kỷ niệm 350 năm thành lập hai địa phận tông tòa đầu tiên ở Việt Nam.
Tuy không có một giải thích chính thức nào từ hai phía, có thể nói những điểm sau là lý do tại sao đến giờ Việt Nam vẫn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Vatican hay mời Đức Giáo hoàng sang thăm:
Trước hết, khác với Cuba, ở Việt Nam người Công giáo vẫn là thiểu số. Trước khi đi hoạt động cách mạng, cả hai anh em Fidel và Raul Castro đều học trường đạo (Dòng Tên) và có thể họ cũng đã được rửa tội.
Những món quà mà hai ông và ĐGH Phanxicô tặng cho nhau trong chuyến thăm vừa rồi đều liên quan đên tôn giáo, đời sống thiêng liêng. Vì vậy, ít hay nhiều họ vẫn có thiện cảm với Giáo hội. Image copyrightPoolImage caption Giáo hoàng Benedict XVI đã tiếp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng Vì những vấn đề lịch sử khác nhau, giới lãnh đạo Việt Nam nghi ngại Giáo hội và sợ một chuyến thăm của ĐGH sẽ gây nên những tác động không có lợi cho mình. Họ cũng sợ những cuộc tụ tập lớn. Nếu Đức Giáo hoàng đến Việt Nam, những Thánh lễ, hoạt động của ngài chắc chắn sẽ thu hút hàng trăm ngàn người tham dự.
Giáo hội và chính quyền cũng đã có nhiều điểm bất đồng. Trong đó có chuyện đất đai, các cơ sở của Giáo hội bị tịch thu, quyền tự do tôn giáo bị hạn chế và Giáo hội từng không được tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục và bác ái.
Vatican và Cuba vẫn duy trì quan hệ ngoại giao kể từ năm 1959, khi ông Fidel Castro lên nắm quyền. Trong khi đó, dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam không thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh.
Đến giờ, Việt Nam là một trong số ít quốc gia còn lại chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Vatican, dù là từ 2011, Hà Nội đồng ý để Tòa Thánh có một vị Đại diện không thường ập quan hệ ngoại giao với Vatican, dù kể từ năm 2011, Hà Nội đồng ý để Tòa Thánh có một vị Đại diện không thường trú tại Việt Nam.
Một số người cho rằng Việt Nam sẽ không những cải cách chính trị nếu những cởi mở như vậy chưa xẩy ra ở Trung Quốc. Tượng tự có người nói Việt Nam sẽ không nối quan hệ ngoại giao với Vatican nếu không có những cải thiện trong quan hệ Trung Quốc-Vatican.
Mối quan hệ này hiện đang rơi vào bế tắc vì hai bên có những bất đồng quá lớn về vấn đề tự do tôn giáo và Đài Loan.
Vatican vẫn giữ quan hệ ngoại giao với Đài Bắc, trong khi đó Bắc Kinh tiếp tục đàn áp những người Công giáo không theo Giáo hội quốc doanh do họ lập nên.
Nhưng nay xem ra mọi chuyện đã có phần thay đổi và việc hai bên tiến tới thiết lập bang giao – và thậm chí việc Đức Giáo hoàng sang thăm Việt Nam – trong những năm tới có thể xảy ra. Image copyrightAFPImage caption Các lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần tới thăm Tòa thánh Vatican, nhưng chưa vị Giáo hoàng nào tới thăm Việt Nam Số người Công giáo ở Việt Nam là gần 7 triệu cũng xấp xỉ số người Công giáo ở Cuba: 53% trên 12,7 triệu dân.
Như được thể hiện trong chuyến thăm Cuba vừa qua – Đức Giáo hoàng Phanxicô là người rất cởi mở, thân thiện, sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai, dù khác ý thức hệ.
Ngài cũng rất tế nhị, nhạy cảm, coi trọng sự hòa giải, hợp tác. Hơn nữa, cũng giống như những sinh hoạt, buổi lễ lớn khác của người Công giáo, những cuộc gặp, Thánh lễ có sự hiện diện của ngài luôn diễn ra trong trật tự dù quy tụ hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn người.
Vì vậy, có thể giờ chính quyền Việt Nam bớt nghi ngại, lo sợ về chuyện một chuyến thăm của Đức Giáo hoàng gây nên những tác động xấu, bất lợi cho họ.
Trong tám năm vừa qua, các lãnh đạo nắm giữ bốn vị trí cao nhất của Việt Nam – trong đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hai lần – sang thăm Vatican và được Đức Giáo hoàng đón tiếp. Vì sự cởi mở, gần gũi, giản dị, đơn sơ, thân thiện của Đức Giáo hoàng Phanxicô, báo chí và dư luận chung ở Việt Nam cũng có nhiều cảm tình với ngài.
Những hình ảnh, cử chỉ, hoạt động của ngài – như việc ngài chọn một chiếc xe giản dị để đi lại trong thời gian thăm Mỹ – thường xuất hiện trên báo chí Việt Nam.
Quan hệ giữa Giáo hội và chính quyền Việt Nam được cải thiện đáng kể trong thời gian qua.
Một điểm bất đồng lớn giữa hai bên trước đây là chuyện Giáo hội tham gia vào các hoạt động giáo dục.
Nhưng ngày 03/08/2015, Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam đã ký quyết định chấp thuận cho Hội đồng Giám mục Việt Nam thành lập Học viện Công giáo Việt Nam tại số 72/12 Trần Quốc Toản, Quận 3, TP.HCM.
Về quân sự và kinh tế, Vatican chẳng có gì. Nhưng xét về ngoại giao, uy tín quốc tế, Tòa Thánh có tác động, ảnh hưởng rất lớn. Hiện Vatican đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới.
Vì vậy, một quan hệ gần gũi với Tòa Thánh sẽ giúp Việt Nam cải thiện vị thế, hình ảnh, ảnh hưởng quốc tế của mình.
Hơn nữa, Việt Nam và Vatican cũng có những điểm tương đồng về nhiều vấn đề quốc tế - như sự bình đẳng giữa các quốc gia, việc xây dựng quan hệ quốc tế dựa trên sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau hay giải quyết các tranh chấp bằng các phương tiện hòa bình.
Từ năm 1986, Việt Nam đã chủ trương đa dạng hóa quan hệ quốc tế và đến nay đã có quan hệ đối tác toàn diện hay chiến lược với nhiều nước – trong đó có những quốc gia xa xôi, ít có ảnh hưởng về quân sự, kinh tế, đặc biệt là ngoại giao như Tây Ban Nha.
Lẽ nào Hà Nội lại không muốn hay không thể chính thức thiết lập bang giao với Vatican?
Nếu chính quyền Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Vatican hay mời Đức Giáo hoàng sang thăm cũng cho Bắc Kinh, đó cũng là cách cho nhiều nước khác và chính người dân của mình thấy họ hoàn toàn độc lập trong đường lối ngoại giao. Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của người viết, một người Công giáo sống tại Anh.
Giáo hoàng Phanxicô đang có chuyến tông du Hoa Kỳ đầu tiên với một chương trình vừa mang tính tôn giáo vừa phản ánh quan điểm chính trị của người đứng đầu Giáo hội Công giáo với 1.2 tỉ giáo dân toàn cầu.
Tuy là người đứng đầu một giáo hội, Giáo hoàng còn là lãnh đạo của Vatican mà theo công pháp quốc tế là một đất nước rất nhỏ có lãnh thổ và cơ cấu tổ chức chính quyền như một quốc gia, vì thế khi Giáo hoàng đến thăm tín hữu công giáo tại một quốc gia, ngài cũng được đón tiếp như Tổng thống một nước.
Chiều 22/9, khi phi cơ có danh hiệu “Sheperd One” đáp xuống căn cứ không quân Andrews, Giáo hoàng Phanxicô đã được Tổng thống Barack Obama và toàn gia đình, cùng với Phó Tổng thống Joe Biden và phu nhân ra đón tại chân thang máy bay.
Ngày hôm sau, tại vườn hoa trước Bạch Ốc đã có buổi lễ đón tiếp với hơn một vạn khách mời. Giáo hoàng và lãnh đạo Mỹ sau đó có buổi thảo luận trong Phòng Bầu dục.
Sinh hoạt tôn giáo trong chuyến đi của Giáo hoàng Phanxicô là phong thánh cho linh mục Junipero Serra, một giáo sĩ dòng Phanxicô từ hơn một thế kỷ trước đã đem đạo Công giáo vào California, là buổi gặp gỡ Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, tham dự Đại hội Thế giới về Gia đình, và chủ tế các thánh lễ theo nghi thức công giáo ở Thủ đô Washington, New York và Philadelphia.
Giáo hoàng Phanxicô đã đề cập đến những vấn đề chính trị trong thảo luận với Tổng thống Barack Obama tại Bạch Ốc và trong các diễn văn đọc trước Lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ và trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.
Những vấn đề nhạy cảm
Khi được bầu chọn hồi đầu năm 2013, Giáo hoàng Phanxicô, người Nam Mỹ đầu tiên và từ Dòng Tên, đã gây nhiều chú ý không chỉ trong Giáo hội Công giáo mà với mọi người, về nhiều vấn đề, từ đời sống thường nhật của ngài cho đến những phát biểu về đức tin, về người đồng tính, về vợ chồng lị dị, phá nạo thai nhi - những vấn đề gần gũi với đời sống người công giáo và được quan tâm khắp nơi, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.
Về người đồng tính, Giáo hoàng Phanxicô phát biểu ngài không phải là người phán xét họ. Theo ngài, những ai có đời sống lương thiện, đúng với lương tâm sẽ được cứu rỗi ở đời sau.
Sự kiện Giáo hoàng Phanxicô được ngưỡng mộ và đón tiếp trọng thể tại Hoa Kỳ vì ngài là vị mục tử với đời sống nghèo khó như hình ảnh của Đức Kitô.
Những ngày còn ở quê hương sinh quán Argentina, từ khi làm linh mục, giám mục rồi lên đến hồng y, ngài luôn sống hòa mình với dân thường, với người nghèo khó, với kẻ tù đày. Ngài dùng phương tiện chuyên chở công cộng để di chuyển, thường xuyên đến thăm những khu dân nghèo quanh thủ đô Buenos Aires. Ngài có đời sống đơn sơ, gần với người nghèo khổ, với những ai bị áp bức. Image copyrightReutersNgài đã lên tiếng kêu gọi người giầu giúp đỡ người nghèo nhiều hơn. Điều này khiến một số lãnh đạo Hoa Kỳ và những người có quan điểm chính trị bảo thủ nghĩ rằng Giáo hoàng Phanxicô có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Có người còn cho rằng ngài là một người cộng sản.
Mới đây nhất, trên chuyến bay từ Cuba đến Mỹ, khi được hỏi ngài có khuynh hướng theo cánh tả, ý nói có phải là ngài nghiêng về chủ thuyết cộng sản, Giáo hoàng Phanxicô trả lời phóng viên rằng nếu muốn, ngài có thể đọc kinh tin kính ngay tại chỗ, để chứng minh đức tin của ngài vào Thiên Chúa. Ý ngài muốn mọi người hiểu rằng, nếu là cộng sản thì phải là kẻ vô thần, không tin có Thượng Đế.
Dân biểu Cộng hoà Paul Gosar từ tiểu bang Arizona đã tẩy chay không đến nghe Giáo hoàng Phanxicô đọc diễn văn trước quốc hội Mỹ vì cho rằng ngài hành động “như một chính trị gia cánh tả”.
Quan điểm tương đồng
Trong khi đó, giúp đỡ người nghèo cũng là chính sách của Tổng thống Obama và đương kim lãnh đạo Mỹ cũng đã nhiều lần bị phe bảo thủ dán cho nhãn cộng sản khi đưa ra các luật về chăm sóc y tế cho toàn dân và tăng lương tối thiểu.
Giữa Giáo hoàng Phanxicô và Tổng thống Obama thì đây là những quan điểm tương đồng. Ngoài ra tầm nhìn về biến đổi khí hậu cũng là điều cả hai cùng quan tâm và muốn các quốc gia hợp tác để bảo vệ môi trường sinh sống cho con người. Đó là quan điểm chính sách của đại đa số dân cử thuộc Đảng Dân chủ.
Còn Đảng Cộng hòa chia sẻ quan điểm với Giáo hoàng Phanxicô về vấn đề chống phá thai, không chấp nhận hôn nhân đồng tính, bảo vệ quan niệm truyền thống về gia đình.
Ngài không nhắc đến việc phá thai nhưng mạnh mẽ lên tiếng chống lại án tử hình. Giáo hoàng Phanxicô nói cần có chính sách cải tạo con người hơn là giết chết thân xác, dù là thân xác phạm nhân. Image copyrightAFPImage caption Phát biểu trước Quốc hội Mỹ, Giáo hoàng Phanxico kêu gọi Hoa Kỳ có chính sách cởi mở hơn với người tị nạn Một vấn đề khác cũng đang làm nhức đầu giới lãnh đạo Mỹ là chính sách di dân. Giáo hoàng có cùng quan điểm với Đảng Dân chủ Mỹ. Trong diễn văn trước Lưỡng viện Quốc hội, ngài kêu gọi Hoa Kỳ có chính sách cởi mở hơn với những người tị nạn, đối xử nhân bản và bác ái hơn với di dân.
Mấy tuần trước, khi làn sóng người Syria vượt biên giới vào Đức, Hungary, Áo quốc, Giáo hoàng đã kêu gọi các giáo xứ mở cửa đón nhận người tị nạn và chính ngài đã nhận nuôi hai gia đình. Bản thân gia đình Giáo hoàng cũng là di dân với thân sinh của ngài đến nhập cư Argentina từ Ý.
Trong phần mở đầu bài diễn văn, Giáo hoàng Phanxicô trích dẫn quốc ca để ca ngợi Hoa Kỳ là “đất của con người tự do và là nhà của những người can đảm”. Ngài cũng nói Hoa Kỳ là “đất của những giấc mơ” và “Hầu hết chúng ta cũng đã từng là người nước ngoài” để nhắc nhở nước Mỹ được như hôm nay là do đóng góp của di dân.
Gần gụi người nghèo
Image copyrightGettyĐến với người nghèo khó cũng là điều mà Giáo hoàng Phanxicô đã thể hiện. Trong bóng tối của đêm đen, nhiều lần ngài đã lang thang trên những khu phố quanh Vatican hay Rome để giúp đỡ và an ủi kẻ không nhà.
Khi đến Hoa Kỳ, ngài đã từ chối tiệc trưa với lãnh đạo Quốc hội để đến chia sẻ bữa ăn với những kẻ không nhà.
Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, viếng kẻ tù đày được Giáo hoàng Phanxicô thể hiện bằng hành động, như trong giáo lý công giáo.
Ngài cũng có cuộc sống đơn sơ. Không ở trong căn nhà dành riêng cho Giáo hoàng mà chọn ở trong một nhà trọ với nhiều người khác. Không dùng phương tiện xa hoa mà chỉ dùng chiếc xe cũ còn chạy được.
Đôi giầy đen ngài đi không là hàng hiệu đắt tiền mà là loại giầy các linh mục thường dùng. Khi cần sửa đôi mắt kính, tự ngài đem ra tiệm. Có những buổi sáng ngài tham dự thánh lễ tại một giáo đường nào đó quanh Rome cùng với người đời.
Những việc làm đó thể hiện tinh thần nghèo khó, khiêm cung của Thánh Phanxicô Assisi mà ngài đã chọn làm danh hiệu khi được bầu lên ngôi Giáo hoàng.
Suốt cuộc đời tu hành Giáo hoàng Phanxicô chủ trương dấn thân vào đời giúp kẻ nghèo khó. Ngoài xã hội chủ trương đó được coi là một quan điểm chính trị rất cấp tiến. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà giáo dạy đại học cộng đồng và hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.
Khi hồng y Jorge Bergoglio của Argentina, được bầu làm Giáo hoàng Phanxicô hôm 13-3-13, rất ít người trong thế giới nói tiếng Anh biết ngài là ai. Các nhà báo và biên tập viên hối hả gom về các tiểu sử của giáo hoàng đầu tiên đến từ châu Mỹ La tinh, và tựa sách nổi bật nhất chính là ‘Nhà cải cách lớn: Đức Phanxicô và con đường tạo nên một Giáo hoàng Tận Căn’ [The Great Reformer: Francis and the Making of a Radical Pope]của nhà báo Austen Ivereigh. Quyển sách của ông giúp các độc giả vượt qua các khái niệm do truyền thông dựng lên, để nắm bắt tinh thần mục tử đích thực của Đức Phanxicô, về những gì tạo nên con người ngài, và những gì ngài đang cố gắng thực hiện trong triều giáo hoàng của mình.
Lúc 7giờ tối ngày 25 tháng 8, Ivereigh sẽ có bài nói chuyện về chuyến công du sắp đến của Giáo hoàng Phanxicô, tại Trường thánh Inhaxiô, 1076 W. Roosevelt Road. Và mới đây, ông có trả lời phỏng vấn với biên tập viên Joyce Duriga. của tờ Catholic New World.
Austen Ivereigh găp giáo hoàng Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư, ngày 12/6
Catholic New World: Trong quyển sách của mình, ông tập trung vào 3 con đường của Giáo hoàng Phanxicô – nhà cải cách.
Austen Ivereigh: Những gì tôi nói là Đức Phanxicô là một nhà cải cách trong truyền thống cải cách tận căn của Công giáo, vốn thực sự được Yves Congar, một trong các thần học gia yêu thích của ngài, đưa ra trong quyển sách ‘Cải cách Thật và Giả trong Giáo hội’ xuất bản hồi thập niên 1950. Tất cả mọi cải cách Công giáo đích thực, đều không chất vấn các giáo lý và giáo huấn Công giáo cốt lõi, nhưng là cải cách trong truyền thống Công giáo.
Thú vị thay, cải cách Công giáo đích thực luôn luôn mang định hướng mục vụ. Nói cách khác, mục tiêu cải cách luôn luôn là đưa mọi người về lại mối liên hệ với Thiên Chúa, về lại với đời sống bí tích và đời sống giáo xứ. Do đó, bất kỳ mục tiêu cải cách nào khác đều là biểu hiện cho thấy nó không đích thực.
Đặc tính thứ ba, là tất cả mọi cải cách đích thực đều mở đầu từ vùng ngoại biên và đi vào trung ương. Thay đổi thực sự diễn ra trong giáo hội khi trung ương mở mình ra với vùng ven. Điều này dựa trên nền tảng kinh thánh, bởi Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng tại Galilee với các ngư dân và mục đồng, rồi mới tiến về Jerusalem.
Khi mọi người cứ hỏi không ngừng rằng, ‘Đức Phanxicô là kiểu giáo hoàng thế nào? Ngài muốn làm gì?’ Tôi sẽ bảo, ngài không phải là người theo chủ nghĩa tự do. Ngài không phải là người theo chủ nghĩa bảo thủ. Ngài không theo chủ nghĩa tự do bởi ngài không tìm cách hiện đại hóa hay giảm bớt hay thay đổi các giáo lý của giáo hội. Ngài đang thực hiện một cách mạng mục vụ tận căn bên trong truyền thống của Giáo hội Công giáo trải dài hàng nhiều thế kỷ, bằng nhiều cách theo gương người anh hùng của ngài, thánh Phanxicô thành Assisi.
CNW: Nhiều người tin rằng ngài đang thay đổi hay đang dự định thay đổi giáo lý và giáo huấn của giáo hội. Theo ý của ông, thì cải cách mục vụ là gì?
Ivereigh: Không phải ngài đang thay đổi giáo huấn của giáo hội. Với những người nói thế, thì tôi muốn hỏi, ‘Bạn thử chỉ ra một giáo lý Công giáo mà ngài đang xem lại hay thay đổi xem nào?’ Thật vậy, giáo hoàng này, theo lời của chính ngài, là một người con trung thành của giáo hội. Tôi nghĩ ngài đang thẳng thắn bảo vệ huấn giáo Công giáo vốn cũng gây tranh cãi, chẳng hạn như tông thư Đời sống Con người [Humanae Vitae].
Tôi nghĩ mọi người đang lo lắng hay hi vọng rằng ngài đang tự do hóa giáo lý, là bởi theo tôi, chúng ta có khuynh hướng nhìn giáo hoàng qua lăng kính của các khác biệt văn hóa Công giáo của riêng mình. Và tất nhiên, trận chiến văn hóa bên trong Giáo hội Công giáo sau thời Công đồng Vatican, chính là giữa người tự do và bảo thủ.
Nhưng, Đức Phanxicô đến từ một truyền thống không như vậy, là châu Mỹ La tinh và cụ thể là Argentina.
Vậy nên, với ngài, cải cách đích thực là việc đưa giáo hội về lại với bản chất sứ mạng, mục đích sứ mạng mà Chúa Giêsu Kitô đã trao phó cho các tông đồ tiên khởi. Đó chính là bổn phận phúc âm hóa, và trên hết là thay đổi từ dưới lên, qua những con người bình thường để gắn kết với Chúa. Đây chính là thay đổi thực sự.
Nhiều việc mà Đức Phanxicô đang thay đổi, chính là nỗ lực đẩy giáo hội ra khỏi những thứ đang làm xao lãng quên mất bản chất sứ mạng này. Tôi nghĩ ngài có niềm tin vững chắc và nhất quán trong suốt đời mình rằng, vấn đề lớn nhất của giáo hội trong việc phúc âm hóa chính là thứ mà thần học gia Henri de Lubac gọi là sự trần tục thiêng liêng, đem giáo hội gắn liền với quyền lực trần gian này là của cải, an toàn, quan liêu, cái tôi, và còn nữa …. Và như thế thì thông điệp Tin mừng bị ô uế và bị chối bỏ.
Nhiều cải cách của ngài – mà ngài là một người cải cách cũng như một người tận căn – là nhắm đến phục hồi sự nguyên tuyền của bản chất sứ mạng của giáo hội, vốn là truyền giáo. Điều này khiến nhiều người cảm thấy bị đe dọa và đứng ngồi không yên. Do đó, nó tạo nên những người nhìn ngài theo những gì họ e sợ, và với nhiều người là sợ ngài theo chủ nghĩa tự do, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là phóng chiếu tưởng tượng mà thôi.
CNW: Có một chuyện ông kể ở đoạn gần đầu quyển sách về việc khi Đức Bergoglio đang coi sóc một vài chủng sinh, và cần phải nuôi sống các thầy, thì ngài đã mở một nông trại chăn nuôi trồng trọt. Rồi ngài sai các chủng sinh đi dạy trẻ em trong vùng phụ cận, chỉ để các chủng sinh biết rằng trẻ em ở đó không có đủ đồ để ăn. Rồi họ mở rộng nông trại để có thể nuôi cả các trẻ em đó nữa. Những hành động của ngài cho chúng ta nhớ lại đấng sáng lập dòng Tên, thánh Inhaxiô thành Loyola.
Ivereigh: Tôi nghĩ trong quyển sách, tôi đã có thể họa được một Bergoglio dòng Tên hơn, bởi tôi nghĩ những gì ngài tìm kiếm khi làm giám tỉnh, và cả khi làm giám mục và giáo hoàng, chính là một dạng phúc âm hóa nguyên thủy của dòng Tên, vốn luôn luôn đồng hành với người dân ở bất kỳ nơi đâu họ cần nhằm đáp ứng cho những cần kíp của họ.
Sứ mạng hoàn toàn là bỏ đi bản thân và đồng hành với người khác, lắng nghe họ và biết những gì họ cần. Rồi giúp đỡ cho những ai đang cần kíp, bởi đó chính là những gì Chúa Kitô làm và đó cũng chính là phúc âm hóa nguyên thủy.
Đây không phải là chuyện đem đến giáo lý và giáo huấn, mà cũng không phải là đem đức tin vào thay đổi chính trị. Nhưng đây chính là điều mà Đức Phanxicô gọi là ‘giáo hội người Samari nhân hậu.’ Đây là một điều rất hiện thực và cấp bách. Bạn đi ra và gặp những người túng quẫn, và bạn làm thế để bày tỏ Chúa Kitô với họ, và bạn cho họ cảm nghiệm về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa theo những cách thức thực tế và thẳng thắn nhất.
Đức Phanxicô là một người thầy lớn, nhưng ngài còn là một người thực hành lớn. Tất cả những ai biết ngài đều nói rằng, ‘Một điều về ngài, là bạn luôn luôn có thể hướng về ngài mà tìm sự giúp đỡ.’ Và tôi có thể nói với bạn rằng khi viết quyển sách này và nói chuyện với những người biết ngài rất rõ ở Roma, tôi đã nghe một vài câu chuyện thật đặc biêt về những việc giúp đỡ không thể tin nổi ngài đã làm, từ lâu về trước và ngay cả lúc này khi đã là giáo hoàng. Tôi không thể dùng những câu chuyện đó, bởi vì chúng quá riêng tư, và họ đã tin tưởng mà kể cho tôi, nhưng đó là những chuyện rất xúc động, và sẽ khiến bạn nín thở.
Tên cương vị giáo hoàng, ngài đã cho đi thời gian, và giúp đỡ người khác một cách rất đơn sơ, rất thực tế. Ngài vẫn dự phần vào cuộc sống người khác, ngay cả khi là giáo hoàng. Tôi nghĩ rằng đây chính là điểm mấu chốt để hiểu ngài và những gì ngài đang cố làm cho giáo hội.
CNW: Ông chỉ ra rằng một cách để hiểu Giáo hoàng Phanxicô rõ hơn, chính là hãy hiểu thần học dòng Tên. Ý ông là sao?
Ivereigh: Vâng, đây là những gì tôi đã nói trong quyển sách, và tôi nghĩ điều này đặc biệt đúng trong tông huấn ‘Niềm vui Tin mừng’ ban hành tháng 11, 2013, trong đó ngài nói về giáo hội như một ‘bệnh viện dã chiến, phải hướng về các vết thương của con người.’ Tôi nghĩ những lời này của ngài, mà nói lại theo kiểu thánh Inhaxiô, thì là chúng ta cần phải cho mọi người cảm nghiệm của tuần Linh Thao đầu tiên, hơn là ngay lập tức đưa họ đến tuần Linh Thao thứ hai.
Bất kỳ ai đã thực hành Linh Thao, thì biết rằng tuần đầu tiên dùng để xem lại đời mình và cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói cách khác, cảm nghiệm sự thật rằng không gì có thể tách lìa bạn khỏi tình yêu Thiên Chúa, rằng Ngài luôn yêu thương bạn vô điều kiện và tha thứ cho bạn vô điều kiện ngay cả khi bạn chối bỏ Ngài bằng hành động. Tuần Linh Thao đầu tiên này được thiết kế để đưa bạn đến nhận thức đó. Đâ là một thao luyện thiêng liêng và cảm xúc đầy mạnh mẽ.
Nó mở lòng và trí bạn ra cho tuần thứ hai, lúc nhờ tác động của tuần thứ nhất, mà bạn đưa ra chọn lựa theo Chúa Kitô. Tôi nghĩ Đức Phanxicô thấy giáo hội quá thường đưa tuần thứ hai lên trước tuần thứ nhất, hoặc làm ngơ hoàn toàn tuần thứ nhất này. Nói cách khác, chúng ta tin rằng việc tuyên xưng chân lý, đòi hỏi dấn thân và vv… có thể xảy đến mà không cần cho người ta cảm nghiệm ban đầu và trước hết về tình yêu thương xót của Thiên Chúa.
Một cách để hiểu được những gì Giáo hoàng Phanxicô đang cố gắng làm chính là xem việc ngài đang cố gắng phục hồi những gì được xem là tuyên xưng căn bản trong thần học, chính là về tình yêu thương xót cứu độ của Thiên Chúa. Bởi khi người ta cảm nghiệm được điều này, thì chính đó sẽ thay đổi họ. Đây là lý do vì sao lòng thương xót là điểm mấu chốt cho triều giáo hoàng của ngài, và vì sao ngài tuyên bố năm tới sẽ là Năm Toàn xá Lòng Thương xót.
Tôi xin kể một giai thoại về lần ngài giảng tĩnh tâm ở Buenos Aires, vài tháng trước khi làm giáo hoàng, và ngài đang suy niệm về việc ném đá người phụ nữ ngoại tình trong Phúc âm theo thánh Gioan chương 8. Ngài nói, ‘Liệu cô ấy có phạm tội lần nữa không?’
Rồi, ngài tiếp, ‘À, tất nhiên Tin mừng không cho chúng ta biết, nhưng bạn có thể chắc rằng cô ấy không phạm tội nữa, bởi không một ai đã cảm nghiệm được lòng thương xót vô bờ như thế, lại có thể chệch khỏi lề luật được.’
Đây thực sự là một lời rất mạnh mẽ, nhưng khi xem xét chuyện này, tôi nhận ra rằng ngài có một đức tin mạnh đến thế nào về sức mạnh hoán cải của việc được trải nghiệm lòng thương xót mà ngài luôn luôn muốn đặt làm ưu tiên hàng đầu cho việc phúc âm hóa.
CNW: Ông xác định lòng thương xót thế nào?
Ivereigh: Đây là một câu hỏi hay. Chúng ta nên xác định lòng thương xót rõ hơn nữa, bởi đây là điều quá mấu chốt. Trên hết và trước hết, đây chính là cảm nghiệm về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Đây cũng là việc nhận ra rằng tất cả là ơn Chúa, rằng thực sự chúng ta không tự kiếm cho mình ơn cứu độ, nhưng tất cả đều được Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta, ban cho nhưng không.
Điểm mấu chốt chính là biết rằng Thiên Chúa là ai, và biết rằng Thiên Chúa đầy lòng thương xót. Một khi cảm nghiệm được điều này, thì chính nó thay đổi cuộc đời bạn theo một cách mà kiến thức mơ hồ về một Thiên Chúa xa cách không thể cho bạn được. Và tất nhiên, sẽ có nhiều điều tuôn tràn từ đây mà ra.
Một trong những diều đáng chú ý về giáo hội Mỹ La tinh, chính là việc họ không xem việc bác ái và phúc âm hóa là hai chuyện riêng biệt như ở nước chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng tách biệt hai chuyện này. Còn ở giáo hội Mỹ La tinh, hai sự này không tách rời.
Khi làm việc bác ái cho những ai đang cần kíp, là bạn cũng đang rất chủ tâm nói với họ về nguồn gốc của việc lành này và về Thiên Chúa. Tôi nghĩ rằng một trong những nguyên do tại sao chúng ta, những người ở các nước giàu bắc bán cầu, lại có vấn đề với triều giáo hoàng của Đức Phanxicô, chính là bởi những phạm trù mới mẻ này. Thực sự đây là những phạm trù rất quen thuộc với những ai biết rõ giáo hội Mỹ La tinh.
Tôi nghĩ là chúng ta đã chia rẽ việc bác ái và phúc âm hóa. Tôi nghĩ đây chính là vấn đề của chúng ta. Chúng ta làm nhiều điều cho những người túng quẫn và người nghèo, nhưng lại có khuynh hướng nói rằng chúng ta không chiêu mộ, chúng ta không trực tiếp đưa đức tin vào việc bác ái. Chúng ta chỉ hi vọng rằng có thể người ta sẽ chú ý thấy nguồn gốc của việc bác ái và sẽ ngỏ lời. Chúng ta thiếu sốt sắng về động cơ của mình. Thực sự động cơ để chúng ta giúp đỡ người khác là bởi chúng ta đã được nhận lãnh trước rồi. Và vì lòng biết ơn, chúng ta muốn làm điều tương tự cho người khác. Tôi nghĩ chúng ta cần phải táo bạo hơn về lý do vì sao chúng ta làm việc bác ái, để từ đó nối kết hai việc bác ái và phúc âm hóa lại với nhau một cách rõ ràng hơn.
Lịch trình của Austen Ivereigh ở Chicago
Ivereigh sẽ nói về chuyến công du sắp đến của Giáo hoàng Phanxicô tại Hoa Kỳ, trong hai bài diễn thuyết miễn phí.
bằng tiếng Tây Ban Nha, lúc 7g tối ngày 24/8, tại Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội, 2745 W. 44th St.
bằng tiếng Anh, 7g tối, ngày 25/8, tại Trường thánh Inhaxiô, 1076 W. Roosevelt Road.
The Huffington Post – Paul Brandeis Raushenbush – 08/20/2015
Khoảng gần 1triệu rưỡi người sẽ dự thánh lễ với Giáo hoàng Phanxicô, ngày 27 tháng 9, đỉnh điểm của Đại hội Gia đình Thế giới ở Philadelphia. Con số rất đông những người quy tụ đã tạo nên một từ mới là ‘Popeapocalypse’ [ngày tận thế kiểu giáo hoàng]
Các đại học đóng cửa, người hành hương ngủ trong các túi ngủ chờ sẵn nơi Vườn Bách thú Philadelphia, vé tàu giờ như chuyện xổ số, và các phụ nữ sắp đến ngày sinh dự định phải dời đến các thành phố khác – tất cả đều là dự liệu cho ngày giáo hoàng Phanxicô công du đến đây.
Không có một lãnh đạo chính trị, tôn giáo, hay giải trí nào còn sống ngày nay có thể có được sự hưởng ứng như của giáo hoàng, và đây thật khiến nhiều người vò đầu gãi tai hỏi tại sao?
Tại sao giáo hoàng lại có tầm quan trọng đến vậy?
Ngài là một Lãnh đạo Chính trị Xuyên Quốc gia
Là thủ lãnh của Giáo hội Công giáo La Mã, giáo hoàng giữ một vị trí mà không một lãnh đạo tôn giáo nào có được. Hầu hết các tôn giáo lớn đều không có cơ cầu phẩm trật nhìn nhận rõ ràng một lãnh đạo hiện thể toàn bộ truyền thống, như kiểu giáo hoàng trong Công giáo. Giáo hoàng là đầu của một tổ chức xuyên quốc gia có tính cố kết, đã tồn tại suốt gần 2000 năm. Giáo hội có một chuỗi nối kết từ Vatican đến tận các giáo xứ địa phương, có thể truyền đạt thông tin, tư tưởng và cả của cải vật chất đi khắp thế giới.
Ngược lại, các tôn giáo khác hầu như phân mảnh thành nhiều phái khác nhau, với các lãnh đạo khác nhau. Và thậm chí nếu các tôn giáo khác có tồn tại hàng phẩm trật, như trong Anh giáo, thì con số cũng không thể sánh được với 1.2 tỷ người Công giáo La Mã.
Tác động của Giáo hội Công giáo còn tăng thêm vì vị thế của Vatican, một thành quốc độc lập, bang giao với các quốc gia trên toàn thế giới. Là lãnh đạo của Vatican, nên khi đến thăm một quốc gia, giáo hoàng không chỉ là một lãnh đạo tôn giáo, nhưng là một nguyên thủ. Điều này khiến cho giáo hoàng khác với hầu hết các lãnh đạo khác, dù là bên đạo hay bên chính trị, không kể các vị trí mang tính thuần nghi lễ, như của nữ hoàng Anh quốc, vừa là lãnh đạo danh nghĩa của Giáo hội Anh giáo, vừa là lãnh đạo của Khối Thịnh vượng chung, nhưng lại không có mấy ảnh hưởng. Ngược lại, giáo hoàng là thẩm quyền hiển hiện của các tước này, và ngài có thể gây ảnh hưởng trong vai trò của mình.
Giáo hội Công giáo không chỉ có tầm xuyên quốc gia, nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, Giáo hội có một vai trò đầy ảnh hưởng đối với đời sống dân sự và chính trị. Các giáo hội địa phương này được lãnh đạo bởi các giám mục, tổng giám mục, và hồng y bản tại, tất cả đều được giáo hoàng chỉ định và chịu trách nhiệm trước mặt ngài. Điều này nghĩa là những ưu tiên hàng đầu và chú tâm của giáo hội Công giáo địa phương, chịu ảnh hưởng nhiều từ những người đứng đầu do chính giáo hoàng sắp đặt.
Ngài có một Tầm Ảnh hưởng Tôn giáo Quốc tế
Ngoài uy thế chính trị và ngoại giao, quyền lực mềm của giáo hoàng còn ấn tượng hơn nữa. Với một phần lớn nhân loại, suốt 2 thiên niên kỷ, Giáo hội Công giáo đã là đường dẫn đến với Thượng Đế, và đã đem lại câu trả lời cho các câu hỏi về một đời sống ý nghĩa và đạo đức là thế nào.
Là đầu của Giáo hội Công giáo La Mã, thẩm quyền của giáo hoàng gắn với thánh Phêrô, một trong các tông đồ của Chúa Giêsu, và được Giáo hội Công giáo xem là giáo hoàng đầu tiên. Các tuyên bố của giáo hoàng có sức nặng và ngài có tác động lớn trên nhận thức của người Công giáo về sự thánh thiện, ví dụ như ngài có vai trò then chốt trong việc quyết định phong thánh. Giáo hoàng là đại diện cao nhất của Giáo hội Công giáo với các truyền thống đức tin khác, cho dù đó là các phái cùng trong Kitô giáo, các tôn giáo khác, hay thậm chí là thế giới thế tục.
Những tuyên bố và hoạt động của giáo hoàng không chỉ được truyền tải trên các kênh Công giáo, nhưng còn là mục tiêu chú ý của truyền thông và được theo sát chặt chẽ. Khi giáo hoàng nói về Tin mừng Kitô, như trong ngày thứ tư tiếp kiến chung hay buổi đọc kinh Truyền tin ngày chúa nhật tại quảng trường thánh Phêrô, hay bằng các tông thư và những tài liệu ít chính thức hơn, thì ngài thường liên hệ thông điệp thiêng liêng và tôn giáo này không chỉ với sự cứu rỗi và đạo đức riêng của mỗi người, nhưng còn là với các vấn đề xã hội và đời sống chính trị. Điều này thường khơi lên các lập trường hay tranh cãi ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới và trong các sự kiện quốc tế lớn.
Do bởi uy quyền tột cùng của cương vị giáo hoàng, nên bất kỳ giáo hoàng nào cũng đều quan trọng. Tuy nhiên, khi cương vị này được nắm giữ bởi một người như giáo hoàng Phanxicô, thì tầm quan trọng còn hơn nữa.
Ngay từ lúc tân giáo hoàng ra mắt đám đông ở quảng trường thánh Phêrô, và danh hiệu ngài chọn được công bố, PHANXICÔ, thì tinh thần mọi chuyện đều có thể đang lan rộng suốt Giáo hội Công giáo La Mã.
Triều giáo hoàng đặc biệt của Giáo hoàng Phanxicô
Đức Phanxicô đã trở thành một trong những nhân vật phi thường nhất thế kỷ XXI. Ngay từ đầu, khi ngài từ chối Dinh thự Tông Đồ để ngụ lại một nhà khách mở đơn sơ, khi ngài dùng một chiếc Hyundai thay vì xe Mercedes, và khi ngài tuyên bố rằng ngài những ước mong một giáo hội nghèo và vì người nghèo, thì Đức Phanxicô đã chiếm lĩnh các mặt báo, với những lời nói việc làm đầy kinh ngạc của ngài.
Trong vòng một năm đầu triều, Giáo hoàng đã cử hành Phụng vụ Thứ năm Tuần thánh bằng việc rửa chân cho các tù phạm, có cả phụ nữ và người Hồi giáo, rồi ngài nói rằng người vô thần có thể được cứu rỗi, ngài cho rằng giáo hội đã sa đà quá nhiều về hôn nhân đồng tính và phá thai, ngài khiển trách bộ máy quan liêu đang mang bệnh Alzheimer tinh thần, ngài tuyên bố thị trường tài chính toàn cầu đang ‘áp bức người nghèo’ và tất nhiên, là có cả câu trả lời đầy thâm thúy của ngài về những người đồng tính: ‘Tôi là ai mà phán xét?’
Ngài đã dùng cương vị của mình để đặt biệt nêu bật cảnh ngộ của các di dân, những người vô gia cư, người nghèo, vấn đề hòa bình Trung Đông, nạn bách hại các Kitô hữu, và mới nhất là vấn đề đạo đức môi sinh trong tông thư ‘Laudato Si’
Giáo hoàng chiếm lĩnh mặt báo, nhưng những ưu tiên hàng đầu của ngài phát tiết trong nền chính trị và xã hội thế giới.
Giáo hoàng chính là người đã góp phần hàn gắn quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba, hai quốc gia ngài sẽ viếng thăm trong chuyến công du sắp đến, vang vọng lại hành động của thánh Gioan Phaolô II, người đã tác động để phá vỡ Bức màn sắt bằng chuyến công du về quê hương Ba Lan hồi 1979, khi có đến 2 triệu người quy tụ chào đón giáo hoàng đầu tiên đến một nước cộng sản.
Ở Hoa Kỳ, câu ‘Tôi là ai mà phán xét?’ của Giáo hoàng Phanxicô được thượng nghị sỹ Công giáo bang Illinos trích lại trong thảo luận bỏ phiếu cho hôn nhân đồng tính hồi năm 2013. Ngược lại, ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa, Jeb Bush lại bẻ lại các tuyên bố của Đức Phanxicô về môi trường và kinh tế. ‘Tôi không điều chỉnh chính sách kinh tế theo các giám mục, hay hồng y, hay giáo hoàng của tôi.’
Đức Phanxicô sẽ là giáo hoàng đầu tiên nói chuyện với Lưỡng viện Hoa Kỳ, và chắc chắn sẽ đưa ra những thách thức với các nhân vật chính trị của cả hai đảng. Dường như chuyến công du của giáo hoàng và các lời nói của ngài sẽ được dẫn chứng trong các vòng bỏ phiếu sơ bộ và chung để bầu tổng thống. Thật khó để chỉ ra được một nhân vật nào khác, thẳng thắn về các vấn đề môi trường, kinh tế và nhập cư hơn Giáo hoàng Phanxicô.
Ngài giúp cải tổ Giáo hội Công giáo
Bên trong Vatican, Đức Phanxicô đã và đang tích cực cố gắng cải tổ và ‘dọn dẹp’ Giáo triều cũng như ngân hàng Vatican. Sự hiệu quả của ngài trong các nỗ lực này, cũng như trong việc giải quyết những mảnh đời bị xâm hại do các giáo sỹ, được mọi người theo dõi sát sao. Trong khi nhiều người lo rằng nhịp độ cải tổ vẫn còn chậm, thì có vẻ như dưới thời Đức Phanxicô, giáo hội đang có một bộ khung đúng đắn, và bắt đầu đi theo đường hướng đúng, nhất là trong bộ phận ngân hàng.
Như đã nói ở trên, giáo hoàng có quyền khá là tuyệt đối trên hàng giáo phẩm giáo hội. Một phần trách nhiệm của ngài là chỉ định các hồng y mới, những người về sau sẽ bỏ phiếu bầu giáo hoàng, cũng như chỉ định và thay thế các giám mục và tổng giám mục, những người lãnh đạo giáo dân Công giáo trên các quốc gia toàn thế giới. Đức Phanxicô đã dùng uy quyền của mình để mở rộng sự hiện diện và sức mạnh của nam bán cầu, bằng cách chỉ định nhiều hồng y đến từ các vùng nghèo nhất trên thế giới. Ngài cũng sắp xếp lại vai trò của hàng giáo sỹ lãnh đạo ở Hoa Kỳ, và cất nhắc một vài nhân vật ôn hòa trong hàng lãnh đạo, cũng như nhanh chóng giáng chức giám mục Tebartz-van Elst ở Đức vì chi tiêu hoang phí.
Một trong những biến đổi đáng chú ý nhất dưới thời Đức Phanxicô, là về địa hạt truyền thông xã hội. Bậc tiền nhiệm của ngài cũng dùng Twitter, với tên @Pope2YouVatican, và bị Jon Stewart giễu cợt trong chương trình của mình. Bây giờ thì không có chuyện đó nữa. Dưới thời Đức Phanxicô, tài khoản Twitter của ngài được tăng sức nặng với tên @Pontifex, với nhiều thứ tiếng (kể cả La Tinh) và Đức Phanxicô chính là một trong những người có ảnh hưởng nhất trên Twitter suốt 2 năm qua.
Tuy nhiên, chính sự hiện diện đời thực của giáo hoàng mới thực sự cho thấy ngài có tầm quan trọng đến thế nào.
Trong các buổi hội kiến riêng, hay trước 3 triệu người ở Rio, thì tinh thần mục tử khiêm nhượng, nồng ấm của Đức Phanxicô đều được đồng hưởng từ mọi người, dù là Công giáo hay không Công giáo. Trong thế giới này, nơi cả người có đạo và không có đạo đều đang đói khát một tâm thức nối kết, đang khao khát làm rõ vấn nạn bất bình đẳng, và thiết tha làm việc vì một thế giới có tình, hòa bình, và công bằng hơn, thì những lời nói và hành động của Giáo hoàng thực sự rất quan trọng.