Posts tonen met het label Lê Duẩn. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Lê Duẩn. Alle posts tonen

zaterdag 31 augustus 2013

Vũ Thế Phan (Danlambao) : Hồ ông với Đòn thù và câu nói nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Hồ ông: Đòn thù và câu nói nổi tiếng
Vũ Thế Phan (Danlambao) - “Sinh tiền Người ta thì o ép lướt quyền Người ta, lạm dụng tiếng tăm, hình ảnh của Người ta. Hậu vận Người ta lại táo tợn tráo Ngày khai tử, xén sửa bản Di chúc của Người ta, vậy các chiêu trò ướp xác, lộng kiếng, xây lăng, tạc tượng, hương hóa Người ta… làm sao có thể trách hậu sinh đặt câu hỏi, suy ngẫm…”

*

Thế giới đều đã tỏ tường Hồ ông mất nhằm đầu tháng 9 năm 1969, tuy nhiên điều kỳ lạ là ông mất trùng chóc ngày ông đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975) tức cũng là ngày Đại lễ Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 38 năm qua: 2-9 (1976-2013). 

Trước khi thông cáo số 151-TB/TW của Bộ Chính trị do cố TBT Nguyễn Văn Linh ký và công bố ngày 19/8/1989, thì nơi nơi đều đinh ninh Hồ ông mất nhằm ngày 3 tháng 9 năm 1969, qua "Lời kêu gọi và Điếu văn của BCH TƯ ĐLĐ Việt Nam" do Lê Duẩn ký, 09/9/1969. Nghĩa là đảng Việt Cộng, dưới triều đại sinh sát của 2 bạo chúa Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, đã giấu nhẹm bí mật này, lừa bịp đồng bào trong nước và nhân dân trên thế giới suốt 20 năm; cũng có nghĩa họ đã bất chấp mọi thủ đoạn, kể cả việc toa rập đánh tráo cả Ngày mất, xén sửa luôn bản Di chúc của vị lãnh tụ ‘vĩ đại muôn vàn kính yêu’ của họ, kiêm ‘cha già dân tộc’ tự phong, miễn là họ đạt được mục đích dù chỉ là giai đoạn. Bản thông cáo nêu trên chỉ được phổ biến sau khi Ba Duẩn ‘băng hà’ được gần 3 năm (10-7-1986) và bấy giờ, Lê Đức Thọ cũng đã buộc lòng nắm chặt tay Trường Chinh Đặng Xuân Khu và Phạm Văn Đồng cùng đồng hành về hưu và làm ‘cố vấn’, đồng ý ẳm Nguyễn Văn Linh lên ngai vàng của Ba Duẩn trong Đại hội VI (1986), rồi Sáu Búa đuổi kịp Ba Duẩn sau đó không lâu, 13-10-1990 (1): Chính thức chấm dứt triều Lê... trùng. Hoặc nói theo lối Trần Văn Thủy qua "Hà Nội trong mắt ai": Thời Lê mạt!

Hậu sinh chúng ta thấy lại gì khi xâu chuỗi những biến cố lịch sử kinh hoàng, tang tóc, điêu linh ở Việt Nam theo trình tự thời gian, kể từ khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ra Bắc - cụ thể là sau tội ác Cải Cách Ruộng Đất với con số chính thống 172.008 nhân mạng, khủng khiếp đến nỗi Người ta rơi nước mắt, chân thành như thể Tào Tháo khóc cả nhà Lữ Bá Sa, hay trước đó Người ta ‘tiếc’ Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Bông... bị VM thủ tiêu, ám sát; hoặc cận đại hơn, đẳng cấp hơn như cụ Lacoste khóc ‘thượng đế’?:

- 01. Vụ án «xét lại chống đảng» tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1967-1976);
- 02. Thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968;
- 03. Cuộc chiến Cổ thành Quảng Trị, 81 ngày đêm (1972)
- 04. Chiến dịch Xuân-Hè tức Mùa hè đỏ lửa (1972-1973);
- 05. Cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa (1975);
- 06. ‘Thống nhất’ Việt Nam, đẩy toàn xã hội Xuống Hố Cả Nút (1975-1989);
- 07. Tập trung cải tạo (đày đọa, trả thù Dân-Quân-Cán-Chính VNCH, 1975-)
- 08. Thảm trạng Thuyền nhân (Boat people, 1975-1989);
- 09. Chiến tranh Việt Cộng-Khờ me Cộng (1979);
- 10. Chiến tranh Việt Cộng-Tàu Cộng (1979 và 1988); v.v…

Cặp bài trùng Lê Duẩn-Lê Đức Thọ đích thị là 2 tác nhân trụ cột, là 2 tội đồ đầu bảng của Mười ‘thắng lợi’ thượng dẫn.

Chuyện Hồ ông ‘cưng’ tướng Võ Nguyên Giáp, không thích Lê Duẩn; bù lại Lê Duẩn cũng coi thường Hồ ông vì tự cho rằng ‘Ba ta giỏi hơn bác Hồ’; ganh ghét, đì và hạ nhục danh tướng Điện Biên cho đến khi Ba ta qua đời năm 1986; không ưa Ủy viên TƯ đảng kiêm Bộ trưởng Ung Văn Khiêm…; chuyện Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khống chế, lướt quyền Hồ ông; trù dập các ‘đồng chí’ không hạp mắt hạp ý mình, lộng hành suốt một thời gian dài trong chính trường Miền Bắc thì mươi năm trở lại đây, nhờ các hồi ký ‘phản đảng’ cũng như xuyên qua mớ tài liệu ‘phản động’ trên Internet, đã không còn là ‘thâm cung Ba Đình’ nữa. Xin dẫn một đoạn (đọc cực đã) trong cuốn hồi ký ‘phản đảng + phản động’, viết theo lối khẩu ngôn lột rõ mức bá đạo của Lê Đức Thọ, nguyên văn:

[“Ôi! Người rất thân với tôi là Bùi Công Trừng và Ung Văn Khiêm kể cho tôi nghe. Với cái giọng ‘mẹ đời’, Bùi Công Trừng kể:

- Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi lại lại trong phòng, như thể nó là đội trưởng tổ Pháo đi kiểm tra, đốc thúc pháo binh chuẩn bị bắn.

Nó không hút thuốc, nhưng nó cầm lon thuốc Đại Tiền Môn ở tay này, tay kia nó cầm cái bật lửa bự như cái chày giã cua. Nó lựa mặt người mà chìa lon thuốc. Nguyễn Khánh Toàn, tay ăn hút, thấy thuốc lá Trung Quốc như lân thấy pháo, nhón ngay một điếu, đưa lên môi rồi chìa mồm ra. Thằng Thọ đánh bật lửa một cái “beng”. Đứng xa nhìn thấy thằng Thọ nói gì đó, thằng Toàn gật đầu. Thọ đi đến chỗ thằng Huy. Ce petit - thằng nhỏ này bợ hộp thuốc. Lê Đức Thọ cũng đánh bật lửa một cái “beng”.

Ở một góc phòng thằng Hà Huy Giáp đứng đó, Lê Đức Thọ tới, nói cái gì đó, thằng Giáp nghiêm sắc mặt, gật gật đầu.

Ba vị ấy được Lê Đức Thọ coi là ba tay lý luận nên mời – biểu – lên tiếng trong cuộc họp.

Trời ơi! Dưới triều đại Hồ Chí Minh, ai được Lê Đức Thọ có cảm tình là má thằng đó đẻ nó đêm Rằm Tháng Bảy.

“- Tao nói cho mày nghe nhá, Bùi Công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ Chí Minh. “Tao nghe thằng Thọ đang âm mưu lật đổ ông già và lấy Nguyễn Chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác-Lê Nin. Chuyện nước giao Nguyễn Chí Thanh. Việc đảng, Statuquo - Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng.

Mày coi, coi có tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính mến của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà quay mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà!”.

Tao đếm lão Hồ đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông già cũng cho Hội nghị nghe ông nói ca dao bằng tiếng khóc:

“Khi thương trái ấu cũng tròn,
  Khi ghét bồ hòn cũng méo.”

Và ông nói xụi lơ: thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra. Có chi mà!”]

Còn Ung Văn Khiêm kể:

[“Trước khi vào Hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy ông cụ có thêm mấy chỗ, còn mang tuồng chữ của monsieur Hồ chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao, mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông cụ.

Và mày coi thằng thủ trưởng khoa giáo của mày (tức Tố Hữu). Khi tao đứng tại chỗ phát biểu ý kiến, thằng Huy đi ngang qua, nó phun nước miếng, vào đoạn tao nói chủ trương hòa bình là trung thành với Lénine. Tao mỉm cười bụng nói: A, thằng nhỏ mày dám đái đầu ông Xá.

Hội nghị 9 này (1963) có thông qua cái ‘nghị quyết 9’ và mấy anh ấy nói là cũng có trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm.

Anh Khiêm lộ bí mật.

- Tao có hỏi mí ông cụ có bỏ thăm không. Ông cụ làm thinh.

‘Nghị quyết 9’ tạo một cao trào trấn áp, khủng bố đảng viên. Nó cho lập ra Ban xét tội và kết án trực thuộc Bộ Chính trị của Trung ương đảng. Ban này có mấy ban viên, tôi không nói. Chỉ nói người đứng thớt là Lê Đức Thọ, người làm heo là Trần Quốc Hoàn (tôi nói giọng thịt luộc Chợ Đệm).

Hai vị này toàn quyền qui kết tội: xét lại chống đảng, âm mưu lật đổ, phản cách mạng, tay sai đế quốc?”]

(Nguyễn Văn Trấn: Viết cho Mẹ và Quốc hội, trang 327, 328, 329 - Nxb Văn Nghệ, Cali USA 1995).

Để cho thời thượng, xin vui tay trích gõ thêm tí ti từ Bên thắng cuộc 2 - Quyền bính, chương 15 của Huy Đức câu nói nặc mùi nghĩa tình ‘đồng chí không gì sánh được’ của Sáu Búa Lê Đức Thọ do Gs-Ts Hồ Ngọc Đại (chồng bà Lê Tuyết Hồng, con gái Lê Duẩn), kể lại rằng: “Có lần ông Thọ nói ông còn để cái đầu ông Giáp trên cổ là đã may lắm”!

*

Theo tài liệu ‘thâm cung’ trên kia, hậu sinh chúng ta có thể tin tưởng được rằng Hồ ông đã bị cặp bài trùng Lê Duẩn-Lê Đức Thọ công khai bắt nọn, cô lập, khuynh loát ít ra cũng từ đầu thập niên 1960 mà Hồ ông đành thúc thủ xụi lơ. Vậy, trong Mười ‘thắng lợi’ nêu trên, ở tiết 2 tức Tết Mậu Thân 1968, Việt cộng gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”, chúng ta có nên tiếp tục gán ‘công đầu’ cho tác giả bài vè Xuân dưới đây hay không?:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”

Muốn biết thực hư ra sao về câu hỏi của tôi, không gì quý hơn là các bạn (đặc biệt các bạn Dư Luận Viên... nhân dân) hãy tự đọc hay tự đọc lại những gì do ông Vũ Kỳ - thư ký riêng của Hồ ông ghi lại, có ở đây. Hoặc cùng nhau đọc lại Huy Đức, sách đã dẫn chương 15 và, dù thế nào, xin chớ có lấc cấc vu-quy người soạn bài này đang bảo chữa, giảm tí tội cho Người ta:

- [“Theo Đại tá Lê Trọng Nghĩa: “Ngày 5-9-1967, Hồ Chí Minh được đưa đi nghỉ ở Bắc Kinh. Chúng tôi nhận được thông báo từ Ban Tổ chức Trung ương của Lê Đức Thọ: Bác mệt, phải đi nghỉ đông, từ nay, những ai trước trực tiếp làm việc với Bác thì làm việc với đồng chí Lê Duẩn.”];

- [“Hồ Chí Minh được đưa về Hà Nội khi cuộc Tổng tiến công (Tết 1968) đã gần kề. Theo ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông, ngày 21-12-1967, Văn phòng Trung ương điện “mời Bác về dự họp Bộ Chính trị”. Ngày 23-12-1967, chuyên cơ chở Hồ Chí Minh về tới Gia Lâm. Ông Vũ Kỳ viết: “Máy bay lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch mười lăm độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn.”].

Tội ác của chế độ cộng sản trên thế giới nói chung, đã được ghi rõ trong Nghị quyết 1481 (Résolution 1481) do Hội đồng châu Âu hay Quốc hội chung châu Âu (gọi theo lối cs VN) công bố ngày 25-01-2006 tại Strasbourg (Pháp). Tội ác của Hồ ông nói riêng đối với 54 dân tộc trên quê hương Việt Nam cụ thể cao dày ra sao thì buộc hậu sinh chúng ta phải chờ đến sau khi đại họa XHCN ở nước ta thật thụ sang trang như bên Liên Sô và Đông Âu năm 1991; đến lúc đó mọi bí mật, kể cả mọi toa rập vẽ vời về Hồ ông sẽ được chính thức bạch hóa. Tạm thời, chúng ta hãy nghe chính Hồ ông tự luận tội trong di chúc bản thứ 5 - bản viết tay, mà Hồ ông “xin coi là chính thức”:

Bút tích Di chúc HCM, bản thứ 5 - Trích báo giấy Con Ong Tỵ Nạn - Paris 1981.

[Ai cũng tưởng tôi là người vô thần, nhưng riêng Đức cha Lê Hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hóa. Vì tin có Ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sảng khác trên thế giới sớm thoát ách C.S. Tôi cũng xin Ông Trời cho tờ zi chúc này có ngày được fổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẫy Kiều, zùng hai câu thơ của cụ Nguyễn Zu để tỏ lòng hối hận trước Cao Xanh:

Rằng con biết tội đã nhiều
Zẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.

Hà Nội ngày 14-8-1969

Tên ký

Hồ chí Minh]

Còn công lao của ông ta ‘vĩ đại’ nhường nào thì không gì bằng hãy cùng đọc lại lời của chính ông chủ của ông ta - lãnh tụ Liên Xô (cũ) là Nikita Khruthschev, đã ca ngợi ông ta như [“là vị thánh, vị tông đồ của chủ nghĩa cộng sản. Lãnh tụ Liên Xô kêu gọi các người cộng sản hãy quỳ gối trước Hồ ông để tỏ lòng biết ơn ông ta vì nhờ có ông ta mà giờ đây (Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70) dân Việt Nam đang đổ máu và hiến mạng sống mình vì lợi ích của phong trào cộng sản thế giới’’]. (Hồi ký Khrutschev Remembers, tập I, trang 487, cuối chương 19. Theo Minh Võ, trang 9/10.)

*

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là câu nói nổi tiếng của Hồ ông được chính thức xuất hiện lần đầu trong báo Nhân Dân số 4484, ngày 17-7-1966, in lại trong HCM Toàn tập, tập 10 trang 376-377 – Nxb Sự Thật, HN 12/1989.



Đọc thật kỹ 2 ‘scan’ trên, hậu sinh chúng ta thấy gì? Riêng cá nhân tôi, sau nhiều lần đọc đi đọc lại, tôi nghiệm rằng khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ra đời rất muộn màng, so với quá trình làm kách mệnh ‘vì độc lập, tự do’ của người viết ra nó, từ năm 1919. Khẩu hiệu này lọt thỏm, lại chẳng chút mật thiết, gắn bó keo sơn gì với toàn văn bài viết. Có cũng được. Không có cũng chẳng sao. Ngược lại, qua những gì tôi đã dẫn chứng thì rõ ràng, từ năm 1963, Hồ ông đã điều hành nội chính và ngoại giao của nước VNDCCH đến cuối đời tương tự Nhật hoàng, Thái hoàng, Anh quốc nữ hoàng, Hòa Lan nữ hoàng… sau đệ nhị thế chiến! Cho nên nội hàm của khẩu hiệu danh tiếng “Không có gì…”, theo tôi, đích thị ẩn giấu nỗi niềm “nhớ rừng của con Hổ ở Vườn Bách Thú”!


Nói rõ hơn, dưới thế liên minh Duẩn-Thọ, Hồ ông đã mất thực quyền chúa đảng kiêm thực quyền Chủ tịch nước; mất cả độc lập, tự do của bản thân từ đầu thập niên 1960. Đến giữa năm 1966 Hồ ông mới thấm thía và nuối tiếc rằng không có gì quý hơn hai thứ này. Và đến nay, nhân dân ta vẫn chưa thật sự có hai thứ này, mặc dầu ‘nỗi niềm’ của Hồ ông vẫn được họ tận dụng treo khắp hang cùng ngõ hẻm. Vẫn chỉ là khẩu hiệu, chỉ là ‘định hướng’, chỉ là ba sạo!

Sinh tiền Người ta thì o ép lướt quyền Người ta, lạm dụng tiếng tăm, hình ảnh của Người ta. Hậu vận Người ta lại táo tợn tráo Ngày khai tử, xén sửa bản Di chúc của Người ta, vậy các chiêu trò ướp xác, lộng kiếng, xây lăng, tạc tượng, hương hóa Người ta... thì làm sao có thể trách cứ hậu sinh đặt câu hỏi, suy ngẫm: liên kết tất cả những diễn tiến đó lại với nhau thành cơ sở khả tín để kết luận mà không sợ nhầm lẫn rằng đấy thực chất chính là Đòn Thù Chính Trị Siêu Cấp (2) của cặp bài trùng Duẩn-Thọ dành riêng cho Người ta! Đã đành đấy là quả báo đáng đời đáng kiếp Người ta, quả báo từ muôn vàn oan nghiệt mà Người ta đã ‘trồng’ ra trên nước non chữ S đến tận ngày 2 tháng 9 năm nay và không biết đến bao giờ nghiệt oan mới dứt. Nhưng ở đây, cách thể hiện ‘nghĩa tử, nghĩa tận’ trong tình đồng chí xhcn VN quả thật âm hiểm quá, ‘Tàu quá’, theo tôi, vượt xa sức tưởng tượng của các tác gia phim truyện giả tưởng Âu-Mỹ.

Ngày nào đảng Việt cộng còn toàn trị thì lăng Ba Đình còn tồn tại. Ngày nào lăng Ba Đình còn tồn tại, Hồ ông còn là vũ đài bất cọng đái thiên giữa khen hão, nguyền rủa và mụ mị Made in Viet Nam. Rốt lại, dù thế nào, chỉ dân tộc ‘anh hùng’ với bề dày 4.000 năm văn hiến là đăng đẳng trầm luân trong mê cung đại bịp và đại phản bội; là lãnh đủ vì đã, đang phải trả giá ‘khủng’ cho tính nhẹ dạ cả tin vào những sự thật vốn thật sự không có thật, “không có gì...”. Triền miên.



__________________________

Chú thích đáng được lưu ý:

(1) Lê Đức Thọ, Trưởng Ban tổ chức TƯ đảng, tên thật là Phan Đình Khải, là người Việt Nam đầu tiên đến nay được giải Nobel Hòa bình chung với Henry Kissenger năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973. Lê Đức Thọ từ chối nhận giải bởi vì “người làm hòa bình là chúng tôi chứ không phải Mỹ”. Lý do ông Thọ đưa ra rất đúng với những gì xảy ra tiếp liền sau đó cho Việt Nam Cộng Hòa, đến năm 1975; và càng đúng hơn nữa khi ta hiểu quan niệm “chiến tranh toàn diện, triệt để, vô hạn định” do Lê-nin triển khai từ tư tưởng của danh tướng binh gia người Đức, Clausewitz. Đàm phán tức là chính trị, mà chính trị là một hình thức của chiến tranh, cũng như chiến tranh là một hình thức đấu tranh của chính trị.

Hơn ai hết, ông Thọ tự hiểu nếu ông nhận giải Nobel Hòa bình tức là làm trò hề trước cả nhân loại, vì ông chỉ muốn viết hai chữ Hòa Bình bằng máu của người khác, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cho Đệ tam Quốc tế Cộng sảng là cưỡng chiếm Miền Nam. Hòa bình đã thực sự có ở Việt Nam chưa, thưa vong linh ông Phan Đình Khải alias Lê Đức Thọ?

Sinh thời, ‘đức độ hậu chính trường’ của ông Thọ ra sao mà đồng chí nào cũng ‘sợ’ (kể cả cụ đồng chí CTN Tôn Đức Thắng); sau khi chết, mộ phần của ông ta vì sao lại bị quần chúng phá phách nhiều lần? Và cũng hơn ai hết, vợ con ông hiểu rõ cái ‘đức độ’ của chồng, của cha mình như thế nào nên chính họ phải lén dời xác ông ta ra khỏi Nghĩa trang Mai Dịch, đem cải táng tại một nơi bí mật. “Tội ác của Lê Đức Thọ, mà nói chung quanh nghị quyết 9 thì thấm thía gì” cũng như “tội ác của chế độ này, từ 68 năm nay, thật nói không hết.” (Nguyễn Văn Trấn, sđd, trang 334, 345). Xem thêm scan Báo cáo Mật và Quyết định thu hồi sách của Nguyễn Văn Trấn do (đương kim CTN) Trương Tấn Sang ký; Đừng để khi quá muộn – Minh Diện và Bức thư của một thanh niên ở Nam Định - Đỗ Quang Thênh, 2 bài mới nhất viết về Lê Đức Thọ.

(2) Xem thêm tài liệu quý (9/2009): Một nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh của tập thể bác sĩ VN, chứng minh mạch lạc Bộ Chính trị triều Duẩn-Thọ đã ám sát Hồ ông như thế nào. Hoặc ở đây, 6/2013. Video clip Cung nghênh tượng Đức Phật Ngọc Hồ Chí Minh ngày 02-9-2012 tại Nam Định. Trong clip này, ở giây 50 lại nói giỗ Hồ ông là ngày 21-7-1969!
____________

Xem lại: Hồ ông sinh ngày tháng năm năm nào? 1 và 2.
 
 
Hồ ông sinh ngày tháng năm nào?
Vũ Thế Phan (Danlambao) - “Trong 4 năm sinh nầy (1892, 1895, 1890 và… 1840) thì năm nào đúng, hay năm nào cũng đúng cả? Lịch sử xhcn VN kể cũng lạ thường chứ chẳng phải đùa… Thảo nào ngày 29-3-2013, khi hay tin năm nay sẽ không phải thi môn sử, học sinh trường THPT Nguyễn Hiền (Sài Gòn) đã rủ nhau xé nát đề cương môn sử và tung hê xuống kín cả một góc sân trường!”

*

1. Trong đơn xin vào học trường Thuộc địa Paris, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh - HCM) tự viết tay ông sinh năm 1892. 

2. Phiếu xin gia nhập Franc Maçonnerie (hội Tam Điểm Pháp), ông ghi sinh năm 1895. 

3. Năm 1946 (ngày 19 tháng 5), đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, Cao ủy Pháp tại Đông Dương, từ Lào qua Việt Nam để thảo luận sơ bộ về Hội nghị Hoà bình Paris (từ 29-7 đến 15-10 năm 1946). HCM và chính quyền Việt Minh đã ma mãnh cho công bố tổ chức sinh nhật của mình đúng ngày 19-5, treo cờ quạt rình rang để coi như luôn thể đón d’Argenlieu, và cho biết ‘Người’ ra đời năm 1890. Nói rõ luôn ở đây, ngày 19-5 thực chất ‘lịch sử’ là ngày sinh nhật chính trị, là một thủ thuật cao trong ngoại giao. Ngày tháng năm sinh thật thụ của Hồ ông đến nay vẫn còn là ẩn số.

Nhắc lại, trước đó, ngày 14 tháng 5 (năm 1946), Hồ ông có gửi điện văn cho d’Argenlieu như sau:


4. Năm 2013, chút chít ông lại khai ông sinh năm 1840!


Nghiã là Hồ ông (tức Nguyễn Sinh Cung tự Tất Thành) ra đời trước ông bố là Nguyễn Sinh Sắc 22 năm! Cụ Sắc sinh năm 1862, mất năm 1929. Đúng là «sinh con rồi mới sinh cha».

Cần lưu ý thêm rằng, ĐCS VN chỉ đặc cách quốc gia hoá sinh nhật của duy một mình lãnh tụ HCM thôi, chứ các lãnh tụ khác kể cả Lê Duẩn (1907-1986), lãnh tụ đại công thần tái ‘thống nhất’ Việt Nam năm 1975 và là người nắm quyền Tổng Bí thư tuyệt đối đến cuối đời (10-7-1986) cũng không được cái vinh dự đó. 

Trong 4 năm sinh nầy (1892, 1895, 1890 và… 1840) thì năm nào đúng, hay năm nào cũng đúng cả? Lịch sử xhcn VN kể cũng lạ thường chứ chẳng phải đùa… Thảo nào ngày 29-3-2013, khi hay tin năm nay sẽ không phải thi môn sử, học sinh trường THPT Nguyễn Hiền (Tp HCM) đã rủ nhau xé nát đề cương môn sử và tung hê xuống kín cả một góc sân trường!

Với phương pháp «Học tập và vận dụng sáng tạo tư tưởng HCM» vào từng giai đoạn, từng hoàn cảnh cụ thể, biết đâu chừng năm 2014, Hồ ông lại chẳng có thêm một năm sinh khác, hầu tạo hứng cho hậu sinh tiếp tục buông vè:

Hồ ông hơn điếu thuốc Lào,
Chưa chôn vẫn được bới, đào hút chơi!
Khen ai thật khéo gợi mời,
Buộc đây mồi lửa kéo chơi mấy vần:
Hồ ông là bậc vĩ nhân
Cho nên sống mãi trong quần chúng ta!
Chúng ta, trẻ cũng như già,
Tháng Năm, Mười chín phì phà Hồ ông!

 
 
Hồ ông sinh ngày tháng năm nào? (hồi 2)
Vũ Thế Phan (Danlambao) - Sự cố các thanh niên thiếu nữ Hải Phòng cho Hồ ông chào đời trước cả người đã sinh ra ‘Người’ những 22 năm, các chút chít trong ảnh tất nhiên bị báo lề dân lẫn lề đảng ném đá tơi bời. Nhưng, để cho công bằng, bà con có biết chăng là trong năm 2013 này, đâu chỉ teen Hải Phòng đã loạn khai sinh của ‘Bác’, mà chính một loạt báo chính thống của ‘đảng ta’ bôi Bác còn kinh hơn teen Hải Phòng gần 100 năm (19-5-1980 – 19-5-2013)! Xin dẫn vài hình chứng:





Tiện thể nhắc lại luôn: Ngày 19 tháng 5 năm 2012, một loạt báo nhớn lề đảng đã từng mừng sinh nhật Hồ ông thế này (theo còm Trần Thị Hải Ý):




Ai quan tâm tới thời sự Việt Nam non trăm năm trở lại đây đều biết Hồ ông sở hữu thật lắm thứ và thứ nào cũng giỏi, cũng hay, cũng xuất sắc... khác người. Thí dụ, tài liệu sử Made in chxhcn VN đã công nhận rằng suốt quá trình hoạt động kách mệnh, Hồ ông là lãnh tụ đã dùng hàng trăm bí danh, bút hiệu. Hồ Chí Minh đương nhiên là bí danh nổi tiếng nhất, kế đến phải kể bí hay bút danh Nguyễn Ái Quấc (Quốc). Có điều, Nguyễn Ái Quấc lại không phải là bút danh của riêng Hồ ông mà là của nhóm Ngũ Long Paris (năm con rồng tại Paris), bao gồm: Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (HCM, trẻ và kém nhất). Nhà sử học kiêm ĐBQH CHXHCN VN họ Dương, tên Trung Quốc đã bật mí sự thật lịch sử đó dùm hậu sinh chúng ta trong bài «Nhân sự phá sản của Đề án 112» đăng trên báo Lao động ngày 22-9-2007 và đã được / bị bóc xuống ngay sau đó:


Cuối cùng là bút danh Trần Dân Tiên và bút danh T. Lan. Để tránh phải gõ, tôi xin mượn ngay Hình chứng dưới đây làm bằng, vì còn khối người vẫn cho là tôi xuyên tạc, bịa đặt, bôi Bác:





*

 

maandag 29 juli 2013

Chế độ độc Đảng và Lê Duẩn

Tuesday, July 30, 2013


Chế độ độc Đảng và những Quái thai Lê Duẩn

QLB 
- Lê Duẩn - một người mà người ta nói rằng Tội lỗi của ông ta đối với dân tộc chất cao như Núi. Nhưng dưới một chế độ độc Đảng đã cho phép ông ta bưng bít tất cả những mảng đen bản thỉu trong cuộc đời chính trị của ông ta.

Từ sự nướng quân của Tết Mậu thân năm 1968 khiến hàng triệu triệu sinh mạng người lính nằm xuống một cách ngớ ngẩn, vô lý để rồi sau đó cũng chính Lê Duẩn đã chỉ thị không được phép báo tử ngay cho gia đình liệt sĩ và buộc phải đổi lại năm mất khiến hàng trăm ngàn chiến sĩ đã chết dưới tay ông ta nhưng đến ngày giỗ của mình cũng 'KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG' 'cơm canh, rượu thịt' bởi người thân đâu biết được chính xác ngày mất để gọi hồn?


Có ở đâu ngoài cái chế độ độc Đảng với con quái thai như Lê Duẩn đã nghĩ ra cả những trò lừa dối đến cả xác chết cũng không được yên thân vậy?  Người ta nói đúng: Chẳng có gì mà chế độ độc Đảng của cộng sản không dám làm.

Rồi sau đó, cũng chính Lê Duẩn đã bắt những người lính phải mở lại con đường lên K9 do chính ông ta hạ lệnh lấp lại sau khi đưa Hồ Chí Minh lên đó giam lỏng, nay lại được chính Lê Duẩn 'đón' về Ba Đình để viết bài thơ uý lạo, lừa bịp toàn dân tộc che dấu tội lỗi tày dình nướng 'thịt người' của Lê Duẩn.

"Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến CHẮC còn thắng to
Vì Độc lập - Vì tự do
......."

Rồi Thái Nguyên. Lạng Sơn, Cao Bằng ... đã bị tàn phá, hàng trăm ngàn người dân mất nhà cửa, bị giết hại bởi giặc Tàu cũng chính bởi sự ngạo mạn và ngu xuẩn của Đảng trưởng Lê Duẩn khi dám đạp bàn tại Trung Nam Hải cao ngạo "Chúng tôi đã đánh thắng Mỹ, Mỹ chỉ là con Hổ giấy"!

Nhưng hậu quả tột đỉnh của Lê Duẩn chính là việc giải tán Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Chính tội lỗi này của Lê Duẩn đã gây mầm hoạ đến tận hôm nay cả dân tộc đang phải gánh chịu hậu quả, đang phải rên xiết dưới sự áp bức, thống trị, sự mục ruỗng, thối nát của chế độ độc Đảng đã chuyển hoá sang giai đoạn thối rữa, mục ruỗng bởi tham nhũng, bởi độc tài, phát xít. Đến hôm nay Đảng cộng sản Việt Nam không phải chỉ có mổ con quái thai Lê Duẩn mà nó đã hoành hành sản sinh ra hàng loạt quái thai như X, như Y.... Đó là hệ quả tất yếu của một chế độ độc Đảng...

Dù bưng bít nửa thế kỷ, nhưng cái gì của Lịch sử cũng sẽ trả về cho lịch sử. Ngày hôm nay chế độ độc Đảng tham nhũng tàn bạo với nhân dân, bóp nghẹt dân chủ, quỳ gối cầu vinh rồi cũng sẽ đến ngày nhân dân lôi ra ánh sáng. Cái ngày đó rồi sẽ đến cũng như chính Lê Duẩn có khi nào biết được rồi có một ngày 90 triệu người dân Việt Nam đã lôi ông ta từ dưới mồ lên để chịu tội cho những gì ông ta đã làm với cả dân tộc Việt Nam ta...

Muốn biết được một phần tội lỗi của Lê Duẩn, hãy đọc sách
Lê Duẩn và 'chiến tranh vì hòa bình'

Pierre Asselin
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Honolulu

Cập nhật: 08:11 GMT - thứ hai, 29 tháng 7, 2013

Vai trò của Lê Đức Thọ trong chính trị miền Bắc tương tự Henry Kissinger ở Mỹ?

Cuốn sách Hanoi's War (Cuộc chiến của Hà Nội) của Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng (tựa đề đầy đủ: Cuộc chiến của Hà Nội: một Biên khảo Sử học Quốc tế về Cuộc chiến tranh vì Hòa bình ở Việt Nam, NXB Đại học North Carolina, 2012) đưa ra bằng chứng và kiến giải tươi mới về các khía cạnh chính trị, ngoại giao và quân sự then chốt về cuộc chiến Việt Nam.

Nhờ tham khảo rất nhiều tài liệu tiếng Việt, bao gồm các nguồn sử liệu gốc thu thập từ Việt Nam, cuốn sách đã phân tích tư duy chiến lược của ban lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào giai đoạn thập niên trước và sau cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào năm 1965.

Một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của cuốn sách là số lượng chi tiết mà nó cung cấp về Đảng Lao động Việt Nam, cơ quan quyền lực của cộng sản kiểm soát miền Bắc. Tôi chưa được biết tới một nguồn tư liệu bằng tiếng Anh nào có thể l‎ý giải công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng cơ chế ra quyết định về chiến tranh của Hà Nội, tốt hơn là cuốn sách này.

Cuốn sách cũng đề cập các tranh cãi, cạnh tranh cừu thù trong nội bộ Đảng Lao Động, một giai đoạn từ trước tới nay vẫn còn yếu kém về tư liệu. Cuốn sách đặc biệt tỏ ra khéo léo trong việc trình bày các chia rẽ nội bộ Đảng sau khi ký kết hiệp định Geneva 1954 kết thúc chiến tranh Pháp-Việt Nam (1946-1954).
'Giải phóng' miền Nam

Một số đảng viên đảng Cộng sản, trong đó có nhiều người hoạt động ở miền Nam Việt Nam, lặng lẽ lên án quyết định của lãnh đạo cấp cao chấp nhận hiệp định và kêu gọi đình chỉ các chiến dịch quân sự và phân chia đất nước. Những đảng viên này cho rằng việc kết thúc chiến tranh sớm là hèn nhát, và họ nghĩ thật ngây thơ khi giả định rằng hai năm sau, sẽ có thống nhất đất nước trong hòa bình.

Khi rõ ràng là tổng tuyển cử sẽ không bao giờ thành hiện thực, ban lãnh đạo Đảng đã phải quyết định liệu (1) có chờ đợi các sự kiện ở miền Nam và tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc mà Đảng đã được thực hiện ngay sau khi ký kết hiệp định Geneva hoặc (2) theo đuổi "giải phóng" miền Nam bằng vũ lực vốn chịu nguy cơ khiêu chiến với Hoa Kỳ.
"Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ."

Thế tiến thoái lưỡng nan này phân chia giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và các thành viên quan trọng khác thành hai phe đối địch, gồm phe ủng hộ lựa chọn thứ nhất và phe còn lại hậu thuẫn phương án sau. Cuốn “Cuộc chiến của Hà Nội” không chỉ đề cập sự phân cực, chia rẽ mà còn đề cập cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực ở thủ đô Bắc Việt.

Mặc dù một số học giả từ lâu đã nhận ra điều này và trên thực tế trước đây đã đề cập vấn đề này trong các tác phẩm của mình, nhiều độc giả vẫn ngạc nhiên khi biết rằng ông Hồ Chí Minh đã không còn là nhân vật trung tâm ở Hà Nội vào thời điểm cuộc chiến với Hoa Kỳ nổ ra.

Ông Hồ đã luôn là khuôn mặt biểu tượng của cách mạng Việt Nam, một điều chắc chắn, thế nhưng các cá thể khác ít được biết đến hơn thì lại thực sự nắm quyền quyết định ở Bắc Việt vào năm 1965.

Nổi bật trong số này, như trình bày của tác giả, là Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động, và vị phó trung thành của ông, Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đầy quyền lực của Đảng.

Với sự hậu thuẫn từ ông Thọ, sử dụng các thủ đoạn lèo lái, lừa dối, và các chiến thuật, Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ. Ông Duẩn tạo lập một cấu trúc điều hành cho phép ông ta có thể độc chiếm quyền lực chính trị, trở thành một nhà độc tài, và đưa Bắc Việt tiến vào con đường đụng độ chiến tranh với Hoa Kỳ.

Tác giả sách đưa ra một so sánh thú vị - và hợp lý - giữa cặp Duẩn – Thọ với bộ đôi phía Mỹ. Giống như Tổng thống Mỹ Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, lèo lái hoạch định các chính sách đối ngoại quan trọng dưới bức màn bí mật, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cũng làm điều tương tự ở Bắc Việt.

Theo tác giả, bước đường "chiến tranh vì hòa bình" của Hà Nội đều do Lê Duẩn hoạch định. Sự thiếu niềm tin của ông vào ngoại giao, quyết tâm của ông dùng bạo lực để "giải phóng" miền Nam, và niềm tin vào chiến thắng tất yếu của một chiến lược cách mạng giải thích việc Hà Nội, trong thời gian dài, cứng rắn cự tuyệt đàm phán nghiêm túc với Washington mà lại tìm kiếm thắng lợi bằng các phương tiện quân sự.

'Niềm tin sai lầm'

"Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ."

Niềm tin sai lầm của Lê Duẩn, theo tác giả, ít nhất phải chịu phần nào trách nhiệm về "những thương vong lớn" cho người Việt Nam ở cả hai bên vĩ tuyến mười bảy trong cuộc chiến tranh. Đây là một điểm rất quan trọng. Đối với nhiều người Mỹ và cả các học giả Hoa Kỳ, lâu nay họ xem xét cuộc chiến Việt Nam với một con mắt phê phán cho rằng chính các quyết định của chính quyền Hoa Kỳ đã đẩy Hà Nội đi tới những bi kịch do xung đột. Cuộc chiến tranh đã được sách vở Mỹ mô tả với các cách thức khác nhau như "chiến tranh Lyndon Johnson" và "chiến tranh Việt Nam của Nixon ", điều cho thấy rằng người Việt Nam ít chủ động hơn nhiều trong cuộc chiến so với người Mỹ. Cuốn "Cuộc chiến của Hà Nộ"i đã khắc phục sự mất cân bằng trong nhận thức, ít nhất, cho thấy chính Hà Nội, mà không phải là Washington, đã dàn trận các trận đánh đẫm máu nhất của cuộc chiến tranh, bao gồm cả trận Tết Mậu Thân 1968 và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1972.

Như tất cả các chuyên khảo đầy tham vọng, tác giả cũng mắc một số lỗi và thiếu sót nhất định. Trong phần đầu của cuốn sách, tác giả viết rằng "bộ máy chiến tranh" của Hà Nội đã được "kích hoạt" vào cuối năm 1961. Bằng chứng hiện hữu cho thấy sự tiêu diệt quân lực của chính quyền Sài Gòn không trở thành mối ưu tiên chiến lược đối với Hà Nội cho đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IX vào cuối năm 1963.

Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới chỉ ra rằng trong khi phát động Chiến dịch Linebacker II, hay còn gọi là đợt "đánh bom Giáng sinh" vào Hà Nội và Hải Phòng, hồi tháng 12/1972, Nixon đã tìm cách chuyển thông điệp của ông nhằm đạt được "hòa bình trong danh dự" cho Hà Nội, mà không quan tâm đến phản ứng của Sài Gòn. Đó là, các vụ đánh bom vào tháng 12/1972 chỉ nhằm mục tiêu thuyết phục Hà Nội tiếp tục các cuộc đàm phán hòa bình bị đình chỉ và thừa nhận trên hai vấn đề còn lại để một thỏa thuận có thể được hoàn tất, nó không hề có ‎ý mong ông Thiệu tuân theo một giải pháp thương lượng.

Mặc dù có những thiếu sót nhỏ, cuốn ‘Cuộc chiến của Hà Nội’ là một công trình học thuật xuất sắc. Các sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam phải đọc cuốn sách này.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Phó Giáo sư sử học tại Hawaii Pacific University ở Honolulu, người có nhiều công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuốn "Một nền hòa Bình cay đắng: Washington, Hà Nội, và sự hình thành của Hiệp định Paris," "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội nghị Genève 1954: Một phê bình xét lại" trong Lịch sử Chiến tranh Lạnh...

BBC
 

zaterdag 29 juni 2013

Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.

Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.
Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Quá khứ đã trôi qua gần 40 năm , tuy nhiên quá khứ đó vẫn là nỗi đau với nhân dân Việt Nam nói chung và quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng. Vết thương không thể lành lặn nếu đảng cộng sản vẫn tiếp tục xúc phạm danh dự của quân dân Việt Nam Cộng Hòa và đàn áp nhân dân Việt Nam. Tôi viết bài này chỉ xin góp một tiếng nói chân thật của lịch sử nhằm phanh phui tội ác của Lê Duẩn và cộng sản Việt Nam, để như một nén hương với người đã khuất trong lao tù cộng sản hay tri ân những ai đã vì tự do mà phải chịu đọa đày trong ngục tù cộng sản.

Như trong “Những sự thật cần phải biết 6”, bài Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968, tôi đã trình bày với bạn đọc tội ác của Lê Duẩn trong việc đồng mưu cùng Hồ Chí Minh tàn sát hàng nghìn người dân Huế vô tội tết mậu thân 68. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin trình bày về tội ác tiếp theo của Lê Duẩn trong việc trả thù tàn bạo đối với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975. Đây là một trong những tội ác không thể bỏ qua vì nó là một trong bốn nhóm tội ác được dự liệu tại Đạo Luật Rome (The Rome Statute) và thuộc quyền xét xử của Toà Án Hình Sự Quốc Tế (The International Criminal Court, viết tắt là ICC).

Trên thực tế , những ai là quân dân, cán chính Việt Nam cộng hòa sau khi bị bị cộng sản đưa vào tù đều thấy điều này. Ngoài ra, gia đình họ bị cộng sản bức hại đi lên vùng kinh tế mới, con em bị ghi lý lịch xấu, nhà của bị tịch thu là những nỗi thống khổ của những quân dân cán chính VNCH. Trong khuôn khổ bài viết này, tội ác của Lê Duẩn và đảng cộng sản đối với quân dân, cán chính Việt Nam cộng hòa trong lao tù của cộng sản.

I. Cả nước Việt Nam là một trại tù khổng lồ : 

Thứ nhất, ngày Thứ Hai, 23/7/2007, Website của The Wall Street Journal, nhà báo James Taranto đã trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đã kết luận rằng: "Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đã đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn - dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đã bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đã bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm.” 

Đây là một tội ác hình sự mang tính lịch sử của đảng cộng sản cộng sản và những người đứng đầu đảng cộng sản. Nó xứng đáng được được đưa vào cáo trạng mà chúng tôi đang thực hiện nhằm đưa tội ác của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản ra trước ánh sáng công lý.

Cũng theo cuộc điều tra nói trên cho biết: “Cứ mỗi ba gia đình tại Miền Nam, có một gia đình có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đã có 165,000 người chết vì bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết vì bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn còn bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đình họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rõ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đã và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.

Thứ hai, trong tập tài liệu ghi bí số TN/QP-14 được lưu chiểu ngày 14/02/1977 tại cục lưu trữ Bộ Quốc Phòng Cộng sản ghi rõ như sau tại trang số 6: "Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình , bộ quốc phòng giao lại cho bộ nội vụ quản lý là 1.236.569 người".

Qua tài liệu nói trên của nhà nước cộng sản nói lên điều gì? Đó là họ đã coi những quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa là những “Tù nhân”. Trên thực tế, họ không phải là tù nhân vì theo như cộng sản tuyên truyền họ chỉ đi học tập chủ trương đường lối của “cách mạng”. Nhưng chính tài liệu của cộng sản đã coi họ là tù nhân.

Ngoài ra con số người mà đảng cộng sản cho biết chính là con số nói lên thực tế về trại tù khổng lồ mà cộng sản cùng Lê Duẩn bày ra nhằm trả thù quân dân cán chính VNCH.

Thứ ba, theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Ðại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.

Như vậy, mặc dù do thất lạc khi rút bỏ Miền Nam, cộng với những thống kê những người chết do cộng sản đạo đày trong tù thì những con số mà Viện Bảo tàng cũng cho thấy cộng sản đã biến cả nước Việt Nam thành một địa ngục tù ngục trong chính sách trả thù man rợ của mình đối với những ai liên quan đến VNCH.

Thứ tư, để thừa nhận thêm về chính sách bỏ tù quân dân cán chính VNCH, cũng cần phải nhắc lại đảng cộng sản Việt Nam chủ trương theo chủ nghĩa cộng sản độc tài của Liên Xô và Trung Cộng. Hồ Chí Minh khi đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam chủ trương làm tay sai cho quốc tế thứ 3 (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ" phần 4,10,11,12) và làm con tốt thí trong tay sai Liên Xô. Những tư tưởng của Lê Nin đã được Hồ Chí Minh truyền thụ cho đàn em của mình trong việc trả thù những ai bất đồng chính kiến, trong trường hợp này là quân dân quán chính VNCH. Vì vậy nhìn lại Việt Nam sau năm 1975 như một trại tù khổng lồ của cộng sản không có gì là điều lạ lùng . Hãy đọc cuốn “Lê Nin và Xã hội chủ nghĩa" xuất bản tại Liên Xô dày 820 trang, tại trang 233 có viết: 

"Chiếm được một tỉnh, giải phóng được một nước thì dễ nhưng giữ yên được đất nước, địa phương ấy mới là khó. Muốn vậy sau khi chiếm được lãnh thổ, trước hết phải tập trung giam giữ lâu dài bọn phản động, thành phần làm việc cho chế độ cũ, chỉ khi nào ổn định được xã hội, nắm vững tình hình an ninh nội chính mới thả chúng về”.

Và cũng là sư phụ của Hồ Chí Minh cũng như Lê Duẩn sau này không quên nói thêm: "Bọn này gồm những tên đầu đường xó chợ, đói khát rách rưới, Vô sản lưu manh rất nguy hiểm, chúng là kẻ thù số một của chuyên chính vô sản vì dễ bị bọn phản động mua chuộc, chúng cần bị giam giữ, loại trừ”(Trích cuốn “Lê Nin tuyển tập và Bản tuyên ngôn đảng cộng sản” có nói về Vô sản lưu manh.).

Qua đây chúng ta có thể thấy, việc cộng sản Việt Nam học tập tư tưởng của Lê Nin nhằm trả thù man rợ quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa cũng là điều hết sức thường tình đối với bản chất của cộng sản.

Thứ năm, trong cuốn sách có tên “Đối nghịch” của tác giả J. Leroy - một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp (giới thiệu ở bài “Những sự thật không thể chối bỏ - phần 14 - Ai làm cho Huế đau thương?”). Cuốn sách của ông đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng cộng sản và các đảng phái khác và dẫn chứng về cuộc chiến Việt nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 202 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung trích như sau: “Sau ngày 30/4/1975, tư tưởng của Mác, Lê Nin đã hoàn toàn làm chủ cả Việt Nam. Hàng triệu người theo chế độ cũ do người Mỹ giúp đỡ đã phải vào tù theo lệnh cải tạo của nhà nước Việt Nam”. 

Cuốn sách này cho thấy người cộng sản Pháp đã phải công nhận có hàng triệu người quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa bị cộng sản đẩy vào tù để phục vụ cho mục đích trả thù những ai không theo cộng sản độc tài.

II. Trả thù man rợ :

Từ sau năm 1975 đến nay, nhà nước cộng sản Việt Nam, đã thi hành chính sách bắt những người là quân dân cán chính đi cải tại các trại tập trung. Thực chất là đi tù. Khi ra khỏi trại thành kẻ tứ cố vô thân. Rồi chính sách cải tạo công thương nghiệp làm cho nhiều người điêu đứng phải vượt biên... Rồi trấn áp, bắt bớ người vượt biên. Một số địa phương ven biển còn lợi dụng “bắt vượt biên” để trấn vàng, trấn của… Những thương phế binh VNCH thì bị đẩy ra lề đường.

Để nói lên thực tế này, ngay một tờ báo cộng sản đã phải thừa nhận sự thật này . Xin trích dẫn đến bạn đọc đoạn viết trên Tuần Vietnamnet: "Anh tên Ngô Công Vò, quê xã Thủy Phù, Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế, đi lính cho chế độ Sài Gòn năm 1970… So với nhiều anh em lính chế độ cũ, tôi còn may mắn hơn nhiều. Nhưng cuộc sống vẫn vất vả lắm. Anh em thương binh phía Bắc còn có chế độ, chứ chúng tôi chẳng có gì, làm việc quần quật mà chẳng đủ nuôi vợ con. Công việc của gia đình anh Vò chủ yếu làm ruộng, và ai thuê gì làm nấy. Công việc khá thường xuyên của anh là lấy đất thải san ủi nền nhà, và cả tháo gỡ những quả bom mìn còn sót lại trong vùng đem bán. Công việc vất vả, mạo hiểm đủ để tùng tiệm cuộc sống”. (Links của bài báo : http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-04-27-hoa-hop-dan-toc-va-su-hoi-sinh-tu-noi-dau).

Còn đối với những người bị giam trong tù thì ra sao? Xin điểm lại một số chứng cứ để thấy cộng sản đã đối xử với quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa như thế nào.

Trên thực tế,quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa được thông báo: "Công chức trung ương từ Chánh sở, địa phương từ trưởng ty, phó quận cho tới Tổng thống; sĩ quan cảnh sát từ thiếu tá trở lên; các thành phần đảng phái, nhân viên tình báo ra trình diện học tập tại trường Gia Long…, mang theo quần áo, lương thực.. đủ dùng trong một tháng”.

Khoảng hơn một năm sau ngày nhập trại, bộ nội vụ bèn gom tù lại, ra Chính sách 12 điểm, tất cả học viên thành tù hết, án phạt ba năm… do Công an quản lý, đối xử hà khắc, bắt lao động cực nhọc, giai đoạn này cho ăn đói, mỗi bữa chỉ có vài củ khoai và một hai bát bo bo… rồi nhiều người bị đẩy ra những trại tù ở miền Bắc như: Hoàng Liên Sơn, Cổng Trời, Thanh Hóa, Hà Nam Ninh…

Những người bị giam ở trong nam thì còn đỡ khổ vì có gia đình thăm nuôi vả lại miền nam khá hơn miền Bắc, những người bị đưa ra Bắc vô cùng thê thảm, đói khát, lạnh lẽo, bệnh tật, làm việc quá sức.. nhiều người chết bỏ xác miền Bắc hoặc hóa ra thân tàn ma dại. Sĩ quan cấp thiếu úy, những người quá trình nhẹ hoặc có thân nhân là cán bộ bảo lãnh phần nhiều được về trong vòng ba năm, cấp trung úy hoặc ty sở trưởng, những người có liên hệ an ninh tình báo thường là được về sau 5 hay 6 năm... Trong thời gian đó, cộng sản hành hạ quân dân cán chính VNCH hết sức tàn tệ:

Thứ nhất, sau ngày 30/04/75, mọi người đều e ngại về một cuộc tàn sát trả thù đẫm máu vì đã có những lời đồn đại về hành động này. Nhưng cộng sản đã nghĩ ra một giải pháp thâm độc và tránh được sự lên án của Quốc tế đó là giam cầm và hành hạ quân dân cán chính VNCH. Quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã được khuyến dụ trình diện để “học tập” ngắn hạn. Gọi là “tìm hiểu đường lối, chính sách của nhà nước và để gột bỏ tàn tích chống phá cách mạng khi xưa”. Chính quyền mới hứa là thời gian học tập chỉ vài tháng rồi ai nấy trở về với gia đình, phục vụ đất nước.

Nhưng thực ra đây là một sự tù đầy, tẩy não, hành xác. Có người vài ba năm. Rất nhiều người mươi năm. Và số người triền miên tù đầy gần hai chục năm cũng không ít. Lại còn một số đáng kể chết mất xác trong tù đầy hành hạ. Người sống sót trở về đã kể lại nhiều thảm cảnh mà họ phải gánh chịu trong thời gian đau khổ ấy. Những thảm cảnh mà nghe lại ai cũng rùng mình. 

“Rồi mai đây, nếu vì may mắn nào đó, tôi được sống trong môi trường khác, tôi có bổn phận phải nhớ và nhớ thật kỹ tất cả những gì đã xẩy ra, đã khắc xâu vào tâm khảm tôi những chứng tích khổ đau, hờn hận!”, (Tạ Tỵ - Đáy Địa Ngục, trang 152.).

Người tù bất khuất Tạ Tỵ đã mô tả cảnh đói khát trong nhà tù cộng sản hết sức kinh khủng vì có lẽ bỏ cho đói khát là chính sách để kiềm chế, kiểm soát người tù. Nên bất cứ tù nhân nào cũng nói rất nhiều về sự hành xác này.

“Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).

Thứ hai, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ là một trong những người đã chứng kiến cảnh tượng đó. Và ông đã mô tả chân thực cuộc sống của nhà tù cộng sản giành cho quân dân cán chính VNCH. Chật chội, ngột ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước, nhiều khi có chuột bọ chết thối trong giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Đi cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất…

“Cả trại nhốn nháo về bệnh kiết lỵ. Hầu như không khu nào thoát. Chưa bao giờ buổi sáng lại đông người chờ đi cầu như vậy. Mặt mũi người nào cũng nhăn nhó, mệt mỏi trông thật thảm hại... Thật đau khổ, lúc nào bụng cũng quặn đau, mỗi lần đi cầu són ra một chút, phân ít, mũi máu nhiều. Từ nơi tôi ở ra nhà cầu khá xa. Để tiện việc, tôi không về nhà, ngồi ngay ở căn nhà chiếu Tivi sẵn sàng chạy ra hố cầu khi cần. Không phải mình tôi như vậy mà hàng chục người tay cầm lon nước, ngồi bệt xuống mặt cát. Bệnh của tôi kéo dài cả tuần sau khi uống cả lọ tetracycline do Lan cho. Trong thời gian kỷ luật chúng tôi được xuống sông tắm mỗi hai tuần một lần. Tuy nhiên nhiều khi cán bộ bận hay có việc gì bất thường thì phải chờ lâu tới ba tuần”, (Tầng Ðầu Địa Ngục - Linh Mục (LM) Nguyễn Hữu Lễ.).

Và cùng đó là cảnh thiếu thốn: “Điều quan trọng đối với tôi là cái đống rác! Mỗi lần đi ngang đống rác trước cổng trại là mỗi lần đời tôi lên hương. Hai con mắt hoạt động tích cực để tìm nhặt những thứ cần thiết cho cuộc sống trong buồng như vải rách dùng đại tiện, bọc nylon làm nhiên liệu chất đốt, hoặc may mắn hơn thì cái bàn chải đánh răng cũ hoặc ít giấy bao xi măng làm vở viết chữ Tầu, thứ ngôn ngữ tôi đang cố học”, (Tầng Ðầu Ðịa Ngục - LM Nguyễn Hữu Lễ.).

Cùng đó là những hành động bị hành hạ cơ thể:

“Tùy theo mức độ nặng nhẹ khác nhau của các hình thức vi phạm nguyên tắc mà tù nhân bị “đại ca” ra hình phạt tương xứng theo luật giang hồ tù. Nếu chỉ để cảnh cáo và áp đảo tinh thần những lính mới để bắt phải đi vào khuôn phép thì chỉ cần sử dụng “chưởng” tức là đánh bằng hòn đá bọc trong cái vớ hoặc “bẻ ngà” là dùng đá cà hoặc đập gẫy hết cả hai hàm răng. Trường hợp nặng hơn thì “lấy cấp pha” tức là móc đôi mắt, hoặc “ xin cặp nạng” nghĩa là cắt gân gót chân. Trường hợp nghiêm trọng thì đối phương sẽ được “cất” có nghĩa là giết chết”, (Tầng Ðầu Ðịa Ngục - LM Nguyễn hữu Lễ.)


Thứ ba, cũng cần nhắc qua cuốn Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh để thấy sự tàn tệ của nhà tù cộng sản đối với quân dân cán chính VNCH như thế nào. Hình ảnh cánh binh cộng sản bắt phạt tù nhân “ngụy” được mô tả như sau: “Nói đến sùi bọt mép mà thấy nét mặt của mười thằng “ngụy” vẫn trơ thổ địa ra, thằng quản giáo cáu quá hét: Tao phạt chúng mày quỳ hai tiếng. Quỳ xuống! Bọn tù chỉ liếc nhìn nhau chẳng ai chịu quỳ. Thằng quản giáo đâu có chịu thua. Hắn móc súng bắn đến đùng một phát. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, anh em lần lượt êm ái quỳ. Thằng quản giáo đứng chửi rủa một lúc rồi mới chịu bỏ đi...”, (Đại Học Máu - Hà Thúc Sinh, trang 116). 

Tác giả Hà Thúc Sinh cũng không quên mô tả tình trạng thiếu thuốc men và y tế của cộng sản đối xử với quân dân cán chính VNCH: "Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm vì bị phù do thiếu chất, cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha...”, (Đại Học Máu - Hà Thúc Sinh, tr. 251.).


Thứ tư, cũng có rất nhiều tác giả khác đã từng ngồi tù cộng sản bằng mỹ từ “học tập cải tạo” đã viết lên những khốn khổ trong tù cộng sản mà trong khuôn khổ bài này tôi không thể kể xiết. Xin điểm lại một số điểm chính để bạn đọc thấy rõ bản chất tàn bạo của cộng sản.

Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khoá 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, Đại tá Chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), Cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975), Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù cải tạo (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ từ năm 1990. Ông từng là Chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, nguyên Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi có viết: 

"Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ đươc ăn có 4 chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa sẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể nhũng vụ gánh phân đi bón nặng gẫy sương sườn và chốc lở sương vai.Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày môt tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đầy ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây súc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát”.
(Links: 


Tác giả Nguyễn Chí Thiệp trong cuốn “trại kiên giam “ nổi tiếng của mình thì viết: "Tiêu chuẩn ngừoi phạm kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu . Cơm mới bỏ vào miệng chưa kịp nhai cái lưỡi đã đưa cơm vào cổ. Đến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó”. (Nguyễn Chí Thiện - Trại Tù Kiên Giam, trang 35). 

Hoặc: “Hai chân tôi bị còng chéo để bức cung. Còng chéo hai chân bị đóng cứng chặt giữa hai cái còng hình chữ U và thanh sắt xuyên. Vì độ cao của thanh sắt giở hổng hai chân lên thành ra không thể nằm thẳng lưng, vì nằm như vậy thân mình căng ra hai chân bị siết chặt vào sắt đau buốt tận tủy óc. Người bị còng phải dùng hai khuỷu tay để chống hoặc cởi hết quần áo ra chêm ngang thắt lưng mới chịu được một thời gian. Chờ một vài ngày hai cổ chân gầy đi xoay được lật úp thì hai chân sẽ thẳng ra nhưng phải nằm sấp. Nhưng chỉ vài ngày chân đã sưng húp vì ban đêm bị lắc còng điểm danh”, (Trại Tù Kiên Giam - Nguyễn Chí Thiện, tr 473).

Thứ năm, trên thực tế còn rất nhiều bằng chứng từ chính những người bị cộng sản trả thù man rợ. Nhưng còn phe cộng sản nói gì về điều này? Xin giới thiệu cuốn sách “365 ngày ở Việt Nam” của nhóm công tác do Liên Xô chỉ đạo trong năm 1975 tại Việt Nam đã được giải mật năm 2008 (Đã giới thiệu ở “Những sự thật cần phải biết” phần 5) cho biết tại trang 75 như sau: "Những hình phạt của đảng cộng sản Việt Nam giành cho tù nhân chế độ Sài Gòn đã cho thấy những người anh em của chúng ta đã không quên phương pháp mà Xtalin áp dụng...”.

Cuốn sách này còn nói thêm tại trang 82: "Trong một điều kiện khó khăn và kỷ luật hà khắc, chính quyền mới tại nước Việt Nam thống nhất đã thanh lọc rất tốt tư tưởng của những người đi theo Mỹ…”.

Như vậy, ở đây ta có thể thấy, cuốn sách đã chỉ rõ cộng sản Việt Nam học tập phương pháp tàn bạo của kẻ giết người hàng loạt đó Xtalin. Và cuốn sách nhắc đến cum từ “Kỷ luật hà khắc” cho thấy bản chất bạo tàn của cộng sản trong đó có cộng sản Việt Nam áp dụng đối với quân dân cán chính VNCH.

III. Lê Duẩn là đầu xỏ :

Việc trả thù quân dân cán chính VNCH do chủ trương của đảng cộng sản gây ra. Những người trực tiếp thực hiện đó là Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Cao Đăng Chiếm… Nhưng chủ trương và phương án này chính là do Lê Duẩn cầm đầu. 

Thứ nhất, Lê Duẩn chính là một người tuy thích thân Liên Xô hơn Tầu nhưng Duẩn cũng học tập chính sách của Hồ Chí Minh trong cải cách ruộng đất. Và chính đảng cộng sản Việt Nam đã thừa nhận điều này: "Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, người cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội…” (Trích: Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 11/7/1986).

Và tại thời điểm sau năm 1975, Duẩn với cương vị đứng đầu của nhà nước cũng như đảng cộng sản (Lúc đó có tên là đảng lao động) chính là kẻ đã chỉ đạo và quyết định việc đối xử tàn tệ với quân dân cán chính VNCH.Là kẻ đứng đầu đảng và nhà nước, đương nhiên Duẩn biết điều này và không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai: "Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, nước Việt Nam thống nhất. Ngày 16 tháng 5 năm 1975, Bí thư thứ Nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đã trực tiếp vào miền Nam nắm tình hình, gồm cả tình hình kinh tế.”

Và: "Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại và Ban Chấp hành Trung ương vào Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.Tại Đại hội lần thứ IV Đảng (năm 1976) và lần thứ V của Đảng (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng".(Trích bài phát biểu của Nông Đức Mạnh: Báo Điện tử đảng cộng sản Việt Nam 6/4/2007 )

Thứ hai, trong cuốn “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: "Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ý chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ - Ngụy đã được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội mới..”.

Bỏ qua những từ ngữ huyênh hoang quen thuộc của cộng sản để tự lăng xê chính mình. Bỏ qua những mỹ từ “Cải tạo, lao động” thì chúng ta thấy Lê Duẩn đã rất tâm đắc với chủ trương của mình trong việc hành hạ những người là quân dân cán chính VNCH.

Thứ ba, cũng vẫn cuốn sách: “365 ngày ở Việt Nam” của nhóm công tác do Liên Xô chỉ đạo trong năm 1975 tại Việt Nam đã giới thiệu ở phần trên cũng viết tại trang 83: "Đồng Chí Tổng bí thư đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn cùng ban chấp hành trung ương đảng đã tiến hành ổn định nhanh chóng tình hình sau ngày 30/4/1975. Chính sách kỷ luật hà khắc mà nhà nước áp đặt cho những người lính chế độ Sài Gòn đã được chính đồng chí Tổng bí Thư Lê Duẩn đề ra trong một cuộc họp của bộ chính trị…”.

Qua đây có thể thấy, đảng cộng sản mà đứng đầu là Lê Duẩn đã vạch ra kế hoạch “hà khắc” đối với quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa. Những hành động đầy tội ác mà tôi đã nêu ra ở phần hai chính là do Lê Duẩn – một đồ tể tay chân của Hồ Chí Minh gây ra.

Thứ tư, ngày 1-11-1978, Lê Duẩn và Phạm Văn Ðồng dẫn đầu một phái đoàn đảng và chính phủ sang Mạc Tư Khoa để cùng Brezhnev ký bản hiệp ước “hợp tác và hữu nghị”, theo đó hai nước sẽ liên minh với nhau cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự. Ðiều 6 của hiệp ước này nói rõ là nếu một trong hai nước bị tấn công, cả hai nước sẽ dùng những biện pháp thích hợp đối phó. Từ đó, Liên Xô đã hết lòng viện trợ cho Việt Nam. Số tiền viện trợ và cho vay lên tới nhiều tỷ Mỹ kim. Bù lại, Việt Nam sẽ để cho Liên Xô sử dụng hải cảng Cam Ranh và có thể Ðà Nẵng làm đầu cầu quân sự để kiềm chế Trung Hoa và đối đầu với hạm đội thứ 7 của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương. Trong cuộc găp với Brezhnev, ngoài báo cáo tình hính quan hệ với Trung cộng, CamPuchia thì Lê Duẩn đã báo cáo: “Cơ bản tình hình trong nước chúng tôi đã ổn định do tôi và các đồng chí trong bộ chính trị không để cho ngụy quân, ngụy quyền có thể nổi lên bằng việc áp dụng mô hình nhà tù như thời đồng chí Xtalin. Chúng tôi chỉ lo lắng là Campuchia đang leo thang khủng bố…”( Trích: "Văn thư lưu trữ của đảng cộng sản Liên Xô trang 422”). 

Vậy không ai khác mà chính Lê Duẩn cùng cộng sản Việt Nam đã đẩy quân dân cán chính VNCH vào lao tù khắc nghiệt.

IV. Kết Luận :

Qua những hành động trả thù man rợ quân dân cán chính Việt Nam cộng hòa của cộng sản nói chung và Lê Duẩn nói riêng cho thấy bản chất của cộng sản là không thay đổi qua các thê hệ từ sau Hồ Chí Minh. Tội ác đó vi phạm công ước về tù binh chiến tranh cũng như luật nhân đạo. Sau nhiều chục năm bị bưng bít bởi chế độ cộng sản toàn trị, đã đến lúc chúng ta cần cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ thấy được bản chất tàn bạo của cộng sản.

Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, chưa bao giờ dân tộc Việt Nam lại rơi vào thảm cảnh như ngày hôm nay do bàn tay độc ác của cộng sản. Chúng ta cần phải đoàn kết lại để lên án và lật đổ chế độ bán nước hại dân cộng sản Việt Nam. Xin trả lại sự thật lịch sử và danh dự cho những người quân dân cán chính VNCH để tôn vinh họ - Những người anh hùng không chịu khuất phục lao tù cộng sản.

6/6/2013