Posts tonen met het label Nguồn gốc. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Nguồn gốc. Alle posts tonen

zondag 24 september 2017

Nguồn gốc "văn hóa uống trà" của người Anh : Hoàng hậu Catherine (vợ Vua Charles II) gốc Bồ Ðào Nha, từ năm 1662

Nguồn gốc văn hóa dùng trà của người Anh

  • 23 tháng 9 2017
Getty ImagesBản quyền hình ảnh Getty Images
Hãy tưởng tượng về một người Anh điển hình. Tôi đoán bất kể bạn nghĩ tới kiểu người nào đi chăng nữa, thì rồi người đó cũng gắn liền với hình ảnh một người cương quyết, trên tay luôn cầm một tách trà. Bởi đó chính là người Anh.
Họ mang theo trà, họ uống trà. Trà là thứ hoàn toàn Anh, là một phần của văn hóa Anh, và cũng là cách nhìn thâm căn cố đế của thế giới đối với nền văn hóa đó.
Theo cách hiểu thông thường thì người phương Tây phải cảm ơn Trung Quốc, nơi bắt nguồn của việc trồng trọt, thu hoạch thứ lá có chứa chất tannin này.
Phong cách Anh trong những quán ăn 'đặc Anh'
Vẻ đẹp kinh ngạc ở xứ sở bị lãng quên của Mỹ
Lạc vào thủ phủ dao gấp ở châu Âu
Thụy Sỹ, nơi đúng giờ tuyệt đối
Nhưng hiếm ai biết rằng người Bồ Đào Nha mới là người đã khiến cho trà trở nên phổ biến tại Anh, mà chính ra là một phụ nữ Bồ Đào Nha. Hãy nghĩ tới điều đó khi lần tới bạn tới nhấp ngụm trà ô-long trong chiếc cốc tinh tế tại khách sạn Ritz, hay đứng dưới tấm chân dung Bá tước Grey tại Bảo tàng Victoria & Albert.
Christopher Furlong/Getty ImagesBản quyền hình ảnh Christopher Furlong/Getty Images
Image caption Không mấy ai biết rằng chính người Bồ Đào Nha đã khiến cho trà trở thành phổ biến tại Anh
Ngược dòng thời gian về năm 1662, khi Catherine vùng Braganza (công chúa, con gái Vua John IV của Bồ Đào Nha) cưới được vị vua của vương triều vừa mới được phục hồi ở Anh, Vua Charles III, nhờ vào khoản hồi môn vô cùng hậu hĩnh gồm cả tiền bạc, các loại gia vị, đồ châu báu và các cảng biển béo bở Tangiers và Bombay. Sự kết hợp này khiến nàng trở thành một người phụ nữ rất quan trọng: Hoàng hậu Anh, Scotland và Ireland.
Đặc sản từ trên trời rơi xuống
Nét đặc trưng Campuchia qua bữa ăn sáng
Thuật ứng xử của người Ba-tư
Khi chuyển lên miền bắc chung sống với Vua Charles, nàng được cho là đã mang theo trà mạn trong những hành lý, và đó cũng rất có thể chính là một phần của hồi môn của nàng. Một truyền thuyết thú vị kể rằng những [cratesư thùng trà được đánh dấu là Transporte de Ervas Aromaticas (Vận chuyển Hương liệu Thơm) - rồi sau được viết tắt là T.E.A.
Phần thông tin đó có thể không đúng (các nhà ngôn ngữ học cho rằng chữ 'tea' trong tiếng Anh là bắt nguồn từ việc phiên âm từ chữ 'trà' trong tiếng Hoa), nhưng điều chắc chắn là trà khi đó đã được dùng rộng rãi trong giới quý tộc Bồ Đào Nha do nước này có mối buôn bán trực tiếp với Trung Quốc thông qua thuộc địa của mình là Macau, lần đầu tiên từ hồi giữa thập niên 1500.
DEA/G. DAGLI ORTI/Getty ImagesBản quyền hình ảnh DEA/G. DAGLI ORTI/Getty Images
Image caption Sau khi kết hôn với Vua Charles II của Anh, công chúa Bồ Đào Nha Catherine vùng Braganza luôn mang theo và uống trà hàng ngày
Khi Catherine tới Anh, trà đã được dùng ở đây nhưng mới chỉ như một loại thuốc chữa bệnh, nhằm giúp cơ thể khoẻ mạnh và tâm trạng không bị u uất.
Thế nhưng hoàng hậu trẻ trung vốn quen uống trà hàng ngày nay vẫn tiếp tục như thế, và điều đó khiến cho trà trở thành món đồ uống phổ biến trong các dịp giao lưu xã hội thay vì chỉ đóng vai trò một thứ thức uống bổ dưỡng.
Ngôi đền Hồi giáo rực rỡ nhất thế giới
Toronto: Thành phố có 140 ngôn ngữ
Nơi người ta không thích nói ‘không’
"Khi Catherine kết hôn với Charles, nàng trở thành tâm điểm chú ý - mọi thứ, từ váy áo cho tới đồ dùng của nàng đều trở thành chủ đề bàn tán nơi cung đình," Sarah-Beth Watkins, tác giả cuốn Catherine of Braganza: Charles II's Restoration Queen, nói. "Việc nàng thường uống trà khiến những người khác cũng uống. Các quý bà quý cô đua nhau học theo nàng, và đua nhau muốn trở thành thành phần thân cận với nàng."
Nói cho công bằng thì trà đã có mặt ở nước Anh từ trước khi Catherine tới, nhưng nó không thật phổ biến, không được nhiều người biết đến.
"Waller được ghi nhận là đã uống trà từ 1657, tức là hơn sáu năm trước khi Catherine tới nơi," Markman Ellis, giáo sư nghiên cứu về Thế kỷ 18 tại Đại học Queen Mary thuộc Đại học London, nói. Ông cũng là đồng tác giả cuốn Empire of Tea: The Asian Leaf that Conquered the World. "Ông ấy là môt nhà trà học nổi tiếng, và điều đó rất bất thường, bởi khi đó trà vô cùng đắt và mọi người đều uống cà phê cả."
Có ba lý do khiến trà đắt đỏ. Anh không buôn bán trực tiếp với Trung Quốc, trà từ Ấn Độ khi đó vẫn chưa có, và những số lượng nhỏ mà người Hà Lan nhập khẩu vào được bán với giá rất cao.
"Rất là đắt vì nó được đưa từ Trung Quốc tới, và bị đánh thuế rất nặng," Jane Pettigrew, tác giả cuốn A Social History of Tea, giải thích. Bà cũng là người được giải 2014 World Tea Awards' Best Tea Educator và là giám đốc nghiên cứu tại Học viện Trà Anh.
Blake Kent/Design Pics/Getty ImagesBản quyền hình ảnh Blake Kent/Design Pics/Getty Images
Image caption Vì Anh không buôn bán trực tiếp với Trung Quốc nên trà mang sang được Anh có giá thành rất cao
Thực sự là nó rất đắt đỏ (một cân Anh, tức 454g, có giá bằng mức thu nhập của một người lao động trung bình trong một năm), và do đó, theo Ellis, "chỉ dành cho giới thượng lưu nhất, giàu có nhất trong xã hội. Cho nên trà trở nên gắn liền với những quý bà quý cô sang trọng nhất nơi cung đình, mà tất nhiên Catherne là hình tượng nổi tiếng nhất."
Và điều gì xảy ra với những người nổi tiếng? Những người kém nổi tiếng hơn sẽ bắt chước. "Khi hoàng hậu làm điều gì thì mọi người đều muốn làm theo, cho nên dần dần, đến cuối Thế kỷ 17, giới quý tộc bắt đầu nhấp trà," Petrigrew nói.
Đương nhiên là giới thượng lưu không tạo ra văn hóa uống trà mà cũng chỉ là những người học theo. Như Pettigrew nói, "cho tới khi trà được người Hà Lan mang tới, chúng tôi [người Anh] không biết tí gì về trà hết. Không có thìa đường, tách uống, không có ấm pha trà (chỉ có ấm đun nước để trong bếp), cho nên chúng tôi làm điều luôn xảy ra đó là sao chép toàn bộ nghi lễ uống trà từ Trung Quốc. Chúng tôi nhập khẩu những chén sứ nhỏ, tách, đĩa đựng đường, những ấm pha trả nhỏ [của Trung Quốc]."
Tại đất nước quê nhà của Catherine, người ta cũng chứng kiến sự phổ cập hóa phong cách uống trà như vậy. "Bồ Đào Nha là một trong những tuyến đường mà đồ sứ theo vào châu Âu," Ellis ghi nhận. "Đó là món rất đắt đỏ, rất đẹp, và là một trong những thứ khiến việc uống trà trở nên hấp dẫn, giống như bây giờ mọi người muốn có điện thoại iPhone đời mới nhất vậy."
Bởi quý giá, cho nên đồ sứ có lẽ cũng là một phần trong của hồi môn của Catherine. Và giống như các quý bà quý cô thuộc dòng dõi quý tộc khác, nàng có lẽ có nhiều những món đồ tuyệt đẹp để bày biện trong những buổi thưởng trà một khi chuyển hẳn sang sống tại Anh.
ZenShui/Laurence Mouton/Getty ImagesBản quyền hình ảnh ZenShui/Laurence Mouton/Getty Images
Image caption Người Anh học cách uống trà của người Trung Quốc, thậm chí nhập khẩu cả các loại ấm, chén pha trà từ Trung Quốc
Pettigrew giải thích: "Nàng bắt đầu nó như một thói quen quý phái nơi cung điện của mình - rất sang trọng, rất thượng lưu, và do đó những nghi lễ đến từ Trung Quốc ngay lập tức được gắn với đời sống vương giả. Ngay khi trà được đưa vào Anh, nó đã có những mối liên hệ rất mạnh mẽ với giới phụ nữ và những gia đình quyền thế, mà tôi cho là thông qua Catherine, bởi đồ sứ rất đắt tiền. Những người nghèo thì phải dùng đồ đất nung. Cho nên mọi thứ đắt giá đều chỉ dành cho giới quý tộc. Tương tự như ngày nay thôi: bạn mua những thứ rất đắt để cho thiên hạ thấy bạn quan trọng tới mức nào."
Rồi rốt cuộc, những tầng lớp xã hội thấp hơn cũng chuyển trà sang thành thứ đồ uống phổ biến hơn.
Ngày nay, những ai tới London vẫn có thể trải nghiệm sự phù hoa và kiểu cách của giới quý tộc khi dùng trà chiều tại các khách sạn sang trọng, mà đáng kể nhất là tại Palm Court của khách sạn Langham ở London (được cho là nơi sinh ra nghi lễ trà chiều), tại các khách sạn danh giá Ritz London và Claridge's.
Ta cũng có thể bắt gặp các sự kiện dùng trà rất thú vị tại Bồ Đào Nha, nhưng ở đó mối liên hệ tới Hoàng hậu Catherine không phải là điều nhiều người biết.
Tuy nhiên, tại thành phố lịch sử Sintra, có một khách sạn đang nỗ lực làm thay đổi điều này. Tại khách sạn Tivoli Palácio de Seteais Sintra, tổng giám đốc Mario Custódio sẽ làm một chương trình trà chiều đặc biệt với chủ đề Catherine trong tháng Mười. "Trong trường học, chúng tôi không được biết [về câu chuyện lịch sử này]," Custódio nói. "Tôi không biết gì hết. Thậm chí người dân Bồ Đào Nha cũng không ai biết gì hết."
Stuart McCall/Getty ImagesBản quyền hình ảnh Stuart McCall/Getty Images
Với Custódio, đưa phần lịch sử ít người biết này vào với đời sống sẽ khiến du khách tới thành phố có được trải nghiệm đặc biệt, rất cá nhân "Tôi đang muốn đưa ra những thứ rất ít người biết này, bởi vì ngày nay, đó là thứ xa xỉ," ông nói.
Việc phục vụ trà hàng ngày (chỉ dành cho khách nghỉ lại khách sạn) sẽ giới thiệu về mối liên hệ của Bồ Đào Nha với truyền thống tao nhã này.
Hiện Custódio đang hợp tác với một sử gia để phục vụ loại trà mà Catherine có lẽ đã từng uống (Ellis cho rằng hầu như chắc chắn rằng đó là một loại trà xanh, bởi vì trà từ Ấn Độ không được đưa ra thế giới bên ngoài cho tới tận thập niên 1830, là khi hoàng hậu đã qua đời từ lâu.
Mứt vỏ cam (marmalade) cũng là một phần trong thực đơn, bởi đó là một phần trong câu chuyện huyền bí về Catherine vùng Braganza mà Custosdio tìm tòi được trong quá trình nghiên cứu.
Câu chuyện kể rằng do một số loại cam ngon nhất thế giới là của Bồ Đào Nha, cho nên Catherine đã cho chở cam tới Anh, ngôi nhà mới của mình, một cách thường xuyên. Những quả cam khi tới nơi không còn đạt chất lượng cao nhất sẽ được đem đi làm mứt marmalade.
Tất nhiên là cam nguyên quả thì quý hơn nhiều, cho nên nếu Hoàng hậu Catherine tặng ai đó món marmalade thay vì trái cam, thì điều đó đồng nghĩa với việc nàng không quan tâm lắm đến người đó.
"Người Bồ Đào Nha chúng tôi muốn tin rằng Catarina đóng vai trò quan trọng đối với trà. Tôi không muốn câu chuyện lịch sử này mất đi," Custosdio nói.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Tin liên quan

donderdag 24 december 2015

Nguồn gốc món ăn ngày Giáng Sinh

Nguồn gốc món ăn ngày Giáng Sinh
Monday, December 21, 2015 6:03:10 PM



Bài liên quan


 
Với người Phương Tây, Giáng Sinh là một ngày lễ lớn, đêm Giáng Sinh, người ta dường như quên đi tất cả những nỗi ưu tư đời thường để sum vầy quanh bàn tiệc ấm áp, chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Tùy từng quốc gia mà bữa tiệc đêm Giáng Sinh có những nét riêng nhưng không thể thiếu được trên bàn tiệc đó là món Gà Tây, bánh Pudding, bánh Khúc Cây, và kẹo Bạc Hà.
Giống như ngày Tết của người Việt thì có bánh tét, bánh chưng, củ kiệu, mứt dừa, mứt bí.... những món ăn trong ngày lễ Noel cũng có nguồn gốc riêng. Trải qua nhiều thế hệ, các món ăn này được truyền bá khắp nơi và thay đổi cho phù hợp với thói quen ăn uống của từng dân tộc.

Gà Tây quay
Gà Tây luôn là món có mặt trong tiệc Giáng Sinh và lễ Tạ Ơn (Hình minh họa: Getty Images)


Vào thế kỷ thứ XVI, nhà thám hiểm Sebastian Cabot đem gà Tây về nước Anh. Mặc dù khí hậu lạnh không thích hợp với loại gia cầm này, nhưng gà Tây quay vẫn trở thành món ăn phổ biến của người Anh mỗi dịp Giáng sinh về. Trước đó, những người Anh giàu có thường dùng thiên nga, công quay và đầu lợn rừng cho bữa tiệc Noel.
Gà Tây quay nổi tiếng đến nỗi năm 1843, nhà văn Anh Charles Dickens đã mang vào tác phẩm kinh điển của mình, A Christmas Carol. Món ăn truyền thống này được truyền sang Úc vào năm 1788.

Bánh Pudding
Bánh Pudding cho tiệc Giáng Sinh (Hình minh họa: Getty Images)


Mỗi độ Giáng Sinh, trên bàn tiệc nhà nhà không thể thiếu chiếc bánh pudding thơm lừng, béo ngậy. Tuy nhiên, bánh pudding ngày nay khác xa “tổ tiên” xưa của chúng. Vào thế kỷ XV, bánh được làm từ mận, rượu vang, thịt bê thái nhỏ, vụn bánh mì, thảo dược, hành, rau, trái cây khô và gia vị.
Khoảng thế kỷ thứ XVI, các loại rau và thịt mất dần. Đến thế kỷ thứ XIX thì thành phần và vị của nó rất gần với bánh pudding ngày nay. Người ta còn cho vào bánh vài hạt đậu hoặc đồng xu và tin rằng nếu ăn phải phần bánh mì này, họ sẽ gặp may mắn cả năm.

Bánh Khúc Cây
Bánh khúc cây (Hình minh họa: webphunu.com.vn)

Truyền thuyết kể rằng, trong lễ hội Yule cổ xưa, người ta phải chuẩn bị một khúc gỗ lớn và đốt lên trong suốt 12 đêm để đón chào sự trở lại của thần mặt trời. Người dân tin rằng họ sẽ gặp điềm gở nếu thân cây cháy hết trước lúc kết thúc lễ hội.
Ngày nay, mỗi Giáng Sinh, chúng ta lại có một ổ bánh kem chocolate nâu hình khúc gỗ. Người ta rắc ít chocolate trắng lên tượng trưng cho tuyết. Chuẩn bị chiếc bánh này chắc chắn sẽ đỡ tốn thời gian hơn khúc gỗ Yule xưa kia nhiều.
Cũng có ý kiến cho rằng, theo tục lệ vào đêm trước Noel, người Phương Tây thường vào rừng chặt một khúc cây lớn và đem về nhà làm lễ dâng rượu. Khúc cây được đặt trên lò sưởi, rắc thêm ít dầu, muối, rượu nóng và mọi người bắt đầu nghi thức cầu nguyện. Tương truyền rằng, tiếng lửa kêu tách tách và bột than từ khúc cây đã cháy này sẽ bảo vệ ngôi nhà khỏi thiên tai và sự xâm nhập của ma quỷ.
Dù ở khía cạnh nào thì sự ra đời của món bánh khúc cây nhân ngày Giáng Sinh ít nhiều cũng mang ý nghĩa cầu mong sự an lành, hạnh phúc cho gia chủ.

Kẹo bạc hà hình cây gậy
Kẹo hình cây gậy thường xuất hiện trong mùa Giáng Sinh (Hình minh họa: kienthuc.net.vn)
Từ rất lâu, kẹo cây gậy đã trở thành món ăn không thể thiếu trong lễ Giáng Sinh. Thuở ban đầu cây kẹo này có hình dáng thẳng và chỉ có màu trắng. Sau này kẹo được thêm những vằn đỏ, vị bạc hà và được uốn cong một đầu thành hình cây gậy như hiện nay.
Nếu lật ngược cây gậy theo bảng chữ cái tiếng anh, bạn sẽ thấy cây kẹo có hình chữ J, đó là chữ cái đầu tiên của tên chúa Jesus. Màu trắng muốt của kẹo biểu hiện cho sự xuất hiện của Đức Mẹ Đồng Trinh, sự trong trắng vô tội của Chúa.
Độ cứng của kẹo biểu trưng cho ý chí sắt đá, nền tảng vững chắc của nhà thờ và lời hứa cao cả của Chúa. Những sọc nhỏ màu đỏ tượng trưng cho những giọt máu đau đớn mà Đức Chúa phải chịu đựng trước khi ngài chết trên cây Thánh giá.
Chính vì vậy mà kẹo cây gậy Giáng sinh xuất hiện như một biểu tượng thiêng liêng, đồng thời giúp con người hướng đến cuộc sống thánh thiện, tốt đẹp hơn mỗi khi được thưởng thức, thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Jesus.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=219587&zoneid=1

donderdag 25 december 2014

Nguồn gốc ngày lễ Giáng sinh và Truyền thống hang đá

Văn hóaTôn giáoNoel - Giáng Sinh

Nguồn gốc ngày lễ Giáng sinh

mediaGiáo dân tại Erbil, phía bắc Irak đón Noël đêm 24/12/2014 - AFP / SAFIN HAMED
    Hôm nay, 25/12, hơn 1 tỷ tín đồ Công giáo trên thế giới mừng lễ Giáng sinh, vì đây được cho là ngày mà Chúa Giêsu Hài đồng đã sinh ra nghèo hèn trong máng cỏ hang lừa ở Bêlem, xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Nhưng có lẻ ít ai biết đến nguồn gốc của lễ Giáng sinh, hay đúng hơn là ít ai biết ngày lễ này có từ bao giờ.
    Trước khi nói về nguồn gốc của lễ Giáng sinh, thì chúng ta hãy thử giải đáp câu hỏi : Chúa Giêsu thật ra đã sinh ra vào ngày nào ? Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, kể cả Giáo hoàng Benedicto 16, đã xác định thật ra Đấng Cứu Thế không phải là đã sinh ngày 25/12 cách đây 2014 năm.
    Chúa Giêsu sinh ngày nào ?
    Đọc lại các sách Phúc Âm thì ta sẽ thấy là kinh thánh không hề đưa ra ngày sinh cụ thể nào, thậm chí không nói rõ là Chúa Hài đồng đã mở mắt chào đời vào mùa nào. Phúc âm theo Thánh Máccô và Phúc âm theo Thánh Gioan không hề đề cập đến sự kiện này, còn Phúc âm theo thánh Mátthêu chỉ nói là Chúa sinh ra "vào thời Vua Hêrôđê". Theo lịch sử, Vua Hêrôđê trị vì hơn 30 năm, từ năm 37 đến năm 4 trước Công Nguyên.
    Còn theo Phúc âm thánh Luca, Mẹ Maria, lúc ấy đang mang thai, phải đi đến Bêlem, nơi mà Giuse chồng bà phải có mặt để được kiểm tra dân số « trong khắp cả thiên hạ », theo lệnh của Hoàng đế Augúttô, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria.
    Nhưng làm sao Chúa Giêsu có thể sinh ra vào thời Vua Hêrôđê, chết vào năm 4 trước CN, mà lại có thể được kiểm tra dân số dưới thời « ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria », vào năm 6 sau CN, tức là 10 năm sau? Như vậy, theo Thánh Luca, Chúa Giêsu sinh ra vào thời điểm mà theo thánh Mátthêu lẽ ra Ngài đã được 10 tuổi.
    Cũng theo Phúc âm theo Thánh Luca, khi Ðức Giêsu khởi sự rao giảng, « Người trạc ba mươi tuổi », vào một thời điểm được xác định là cuối năm 27 hoặc đầu năm 28 sau CN.
    Cho đến khoảng năm 200 sau Công nguyên, mới có một nhà thần học nêu lên các giả thuyết về ngày sinh của Chúa, đó là các tháng 3, tháng 4 hoặc tháng 5, nhưng không hề có ai nói đến ngày 25/12.
    Trong một thời gian dài, Ngày Chúa Giáng Sinh được ghi lúc này lúc khác. Tổ phụ Clément d'Alexandrie đề nghị mừng lễ Noel ngày 19/4, nhưng cũng có nhiều người chủ trương ngày 18/4 hoặc 24/3 hoặc 29/5. Nhân đây cũng xin nói rằng các Giáo hội Phương Đông mừng Chúa ra đời ngày 6/1.
    Bây giờ chính Cựu Giáo hoàng Benedicto 16, nguyên là một giáo sư thần học, cũng nhìn nhận rằng Chúa Giêsu không phải hạ sinh ngày 25/12. Trong cuốn sách thứ ba viết về cuộc đời của Chúa Giêsu, xuất bản năm 2012, Ngài đã nêu ra những sai lầm trong việc xác định ngày và năm sinh của Đấng Cứu Thế và theo Giáo hoàng Benedicto 16, đúng hơn là Chúa Giêsu đã xuống thế làm người từ cách đó 6 hoặc 7 năm, chứ không phải cách đây 2014 năm.
    Vì sao chọn ngày 25/12 ?
    Xem lại lịch sử tôn giáo ta sẽ thấy là thật ra đến thế kỷ thứ 4, Giáo hội mới chính thức ấn định ngày sinh của Chúa Hài đồng. Cụ thể là sau nhiều tranh cãi gay gắt, mãi đến cuối triều đại Hoàng đế Constantin (qua đời năm 337), Giáo hội Công giáo La Mã mới dứt khoát chọn ngày 25/12 là ngày Chúa Giáng sinh, thay thế cho ngày lễ thần Mặt trời, Mythra, của dân La Mã thời Cổ Đại.
    Giải thích thường được đưa ra nhất đó là Giáo hội muốn ngày lễ Giáng sinh trùng với một những ngày lễ đã có của những người thờ đa thần thời ấy, mà những ngày lễ thường tập trung vào mùa Đông. Mục đích là để thúc đẩy sự bành trướng của Thiên chúa giáo thuở ban đầu. Nhưng một số nhà sử học thì vẫn bác bỏ giải thích ấy, cho rằng nó không có cơ sở lịch sử.
    Dầu sao thì ngày Chúa Giáng sinh là khởi đầu của Công nguyên, lịch mà nay được áp dụng ở tuyệt đại đa số quốc gia trên thế giới, là dấu mốc để các nhà sử học xác định thời điểm của các sự kiện ( trước Công nguyên hay sau Công nguyên). Và cho dù Chúa Giêsu có sinh ra trước Công nguyên vài năm hay vài chục năm thì bây giờ cũng chẳng có ai nghĩ đến chuyện sửa lại Dương lịch.

    http://vi.rfi.fr/xa-hoi/20141225-nguon-goc-ngay-le-giang-sinh/

    Xã hộiTôn giáoNoel - Giáng SinhQuốc tế

    Truyền thống hang đá có từ bao giờ ?

    mediaHang đá vùng Provence nặn tượng thánh bằng đất nung tượng trưng cho các nghề truyền thống - Creative commons /Daniel Ferrier
      Ngoài truyền thuyết ông già Noel phát quà cho trẻ con, gắn liền với ngày Lễ Giáng sinh là truyền thống làm hang đá. Nhưng truyền thống này có tự bao giờ ? Cho tới nay chưa có câu trả lời chắc chắn, nhưng theo truyền thuyết thì người « sáng chế » ra hang đá Noel chính là thánh Phanxicô thành Sissi bên Ý (1181- 1226).
      Thánh Phanxicô thành Sissi dường như đã dựng hang đá đầu tiên vào năm 1233, tại nhà thờ của Ngài nằm trong một động ở Grecchio, Ý, và có lẽ vì không có thời giờ đúc tượng, cho nên thánh Phanxicô đã giao cho các dân làng « thủ vai chính » của ngày Giáng sinh ( Chúa Giêsu Hài đồng, thánh cả Giuse, Đức mẹ Maria, Ba vua, mục đồng, nông dân ). Các con thú như bò, lừa... cũng là những con thú thật.
      Dần dần truyền thống làm hang đá được phổ biến sang những nơi khác và những nhân vật bằng xương, bằng thịt cũng dần dần được thay thế bởi các tượng làm bằng sáp, bằng đất nung, bằng sứ, hay bằng thạch cao.
      Những hang đá đầu tiên có hình dạng gần giống như hiện nay chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ 16 trong các nhà thờ. Chính các tu sĩ dòng Tên là những người đã làm ra các hang đá đầu tiên dưới dạng thu nhỏ.
      Mãi đến thế kỷ 17, truyền thống làm hang đá trong gia đình mới xuất hiện và dần dần được phổ biến rộng rãi trong thế kỷ kế tiếp, nhất là trong các gia đình quý tộc vùng Napoli, Ý. Tại Pháp, do Cách mạng cấm dựng hang đá nơi công cộng, nên truyền thống hang đá gia đình càng phát triển mạnh.
      Ở vùng Provence thời đó, người dân làm các hang đá rất thô sơ, chứ không tinh tế như của giới quý tộc vùng Napoli. Nhưng hang đá vùng Provence độc đáo ở chỗ là người dân địa phương dùng đất đúc những tượng thánh tượng trưng cho các nghề truyền thống, để trong hang đá như một hình thức dâng cúng những thành quả lao động khó nhọc của họ cho Chúa Giêsu Hài đồng.
      Từ đó đến nay, hang đá Giáng sinh được dựng lên tùy theo tập tục của mỗi quốc gia và mỗi vùng. Nhưng dù có dáng vẻ thế nào thì hang đá vẫn mang lại cho chúng ta một cái gì đó vừa thiêng liêng, vừa ấm cúng, khiến tâm hồn chúng ta trở nên thanh thản hơn trong những ngày cuối năm.

      http://vi.rfi.fr/quoc-te/20141225-truyen-thong-hang-da-co-tu-bao-gio/

      zaterdag 11 oktober 2014

      Cháo thịt dơi có thể là nguồn gốc gây dịch Ebola

      Cháo thịt dơi có thể là nguồn gốc gây dịch Ebola

      mediaDơi bày bán tại một khu chợ ở Brazzaville (Congo), 2005Reuters
        Virus Ebola đang gây ra bệnh dịch trên quy mô lớn tại vùng miền tây Châu Phi và làm cho cộng đồng quốc tế lo ngại. Tuy nhiên, dịch này không xuất hiện từ trước. Cũng như nhiều tác nhân gây bệnh khác, virus Ebola « ẩn nấp » và chờ thời cơ « xuất đầu lộ diện » tung hoành. Như vậy, có những động vật mang trong mình Ebola và có sức đề kháng với virus này.
        Tổ chức Thú y Thế giới đang nghiên cứu lại chủ đề này. Giới chuyên gia đã có thêm nhiều thông tin.
        Người không phải là đối tượng duy nhất bị nhiễm virus Ebola. Sốt xuất huyết Ebola là một loại bệnh lây nhiễm nghiêm trọng, nhắm vào cả loại linh trưởng không thuộc chi Người, như khỉ đột, tinh tinh và một số loài khỉ khác. Những loại động vật này không phải là nơi chứa chấp virus Ebola vì chúng cũng là đối tượng bị lây nhiễm.
        Theo giới chuyên gia, dịch sốt xuất huyết Ebola có thể lây truyền sang người từ một động vật hoặc từ một người bị nhiễm virus.
        Virus Ebola lại được phát hiện ở người vào đầu năm 2014, tại Guinea, rồi Liberia. Sau đó, virus lan truyền tại Sierra Leone để trở thành ổ dịch lớn nhất trong lịch sử và tại miền tây Châu Phi. Tháng 05/2014, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố dịch bệnh Ebola là một vấn đề y tế khẩn cấp quốc tế.
        Theo Tổ chức Thú y Thế giới, mặc dù xác định được loại virus gây dịch bệnh, nhưng nguồn gốc khởi phát dịch vẫn chưa rõ. Có rất nhiều khả năng ban đầu, virus chỉ lây từ một loại động vật hoang dã nào đó sang một người duy nhất. Hiện nay, dịch bệnh lây từ người sang người và không có gì để chứng minh rằng động vật vẫn tiếp tục là tác nhân lây lan virus.
        Các nghiên cứu trên thực địa và điều tra dịch bệnh cho thấy, động vật ấp ủ virus Ebola có thể là dơi quạ, một loại dơi to thường có ở Châu Phi, nhưng chúng lại không có triệu chứng bị bệnh. Theo giới chuyên gia, có rất nhiều khả năng, ban đầu, virus Ebola lây truyền sang người từ những động vật như dơi quạ hoặc từ loại linh trưởng không thuộc chi Người, khi người ta đi săn, bắt hoặc thu lượm xác động vật hoặc trong lúc cắt, chia thịt động vật hoang dã.
        Tại một số vùng nông thôn ở Châu Phi, dơi quạ là một nguồn thịt phổ biến, cung cấp thức ăn cho người dân. Với hai bàn tay trần, người ta bắt và làm thịt dơi quạ trước khi đem nấu, xấy khô hoặc hun khói. Như vậy, virus có thể lây sang người trong quá trình này hoặc do ăn hoa quả hoang dại có dính dãi, phân của dơi quạ trong những vùng bị lây nhiễm.
        Tháng Bẩy vừa qua, tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) bày tỏ lo ngại về mối nguy hiểm do việc ăn thịt dơi quạ, loại động vật ăn hoa quả, vì chúng chứa, ấp ủ virus Ebola. Và FAO khuyến cáo cần nỗ lực giải thích cho các cộng đồng cư dân ở nông thôn về mối nguy hiểm bị lây nhiễm virus Ebola khi ăn một số loại động vật hoang dã.
        Thực tế, một số loại động vật này được chế biến thành thịt xấy khô hoặc xấy tẩm gia vị và được người dân trong các vùng hiện đang có dịch bệnh ưa thích.
        Tổ chức Luơng Nông Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh, dơi quạ không phải là mối đe dọa duy nhất mà cả một số loài linh trưởng và động vật chân đầu (céphalophe). Tổ chức Thú y Thế giới nhấn mạnh đến các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, như tránh mọi tiếp xúc với động vật hoang dã tại các vùng bị nhiễm virus, nhất là dơi quạ, khỉ và các động vật gậm nhấm.

        http://vi.rfi.fr/quoc-te/20141010-chao-thit-doi-co-the-la-nguon-goc-gay-dich-ebola/

        zondag 27 april 2014

        Trung Quốc : Người Uighur từ đâu đến?

        Người Uighur từ đâu đến?

        Cập nhật: 11:29 GMT - thứ năm, 24 tháng 4, 2014

        Một nhóm Uighur bị chặn bắt ở Songkhla, miền Nam Thái Lan hồi tháng 3/2014
        Câu chuyện về các nhóm người Hồi giáo dân tộc Uighur tìm cách sang Việt Nam bị bắt và trao nộp về cho quân Trung Quốc đang thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế.
        BBC Tiếng Việt giới thiệu các nguồn quốc tế về dân tộc Uighur từ trong lịch sử và các vấn đề họ đang gặp phải hiện nay ở Trung Quốc:

        Một thời đế quốc

        Là một trong số nhiều bộ lạc nói tiếng Turkic (Thổ) thời cổ, người Uighur hiện nay tập trung đông nhất tại Tân Cương, (Trung Quốc) nhưng cũng sống ở Pakistan, Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Nga.
        Ngoài ra họ có các cộng đồng nhỏ ở cả Ukraine, Đức và một số nước khác do lưu lạc đến sau này.
        Các sử liệu Phương Tây ghi nhận sự tồn tại của Đế Quốc Hồi Hột (Uighur Empire) có thủ đô ở Karabalghasun bên bờ sông Orhon, ở về phía Tây của Trung Hoa.
        Có hai nhóm Uighur chính: những người du mục, nổi tiếng về đua ngựa và từng được người Hán gọi là tộc Cao Xa hoặc Thiết Lặc, và những cộng đồng định cư làm nghề nông.
        Về mặt chủng tộc, họ thuộc nhóm Âu Á (Eurasian) nên có nhiều nét hình thể giống người Đông Á nhưng cũng có những người mũi cao, tóc sáng.
        Theo Britannica, đế quốc của người Uighur mà dân Hán cũng gọi là Duy Ngô Nhĩ, đã có quan hệ gắn chặt với các triều đại Trung Hoa.

        Người Uighur thuộc nhóm Âu Á và có nền văn hóa lâu đời
        Tuy thế, họ không bị người Hán coi là mối đe dọa như nhóm Hung Nô và người Uighur từng giúp vua Đường dẹp loạn An Lộc Sơn năm 755.
        Các triều vua Hán thường mua ngựa của người Uighur và bán cho họ các sản phẩm nông nghiệp.
        Một vị vương của tộc Uighur, Mouyu còn từng viếng thăm kinh đô Lạc Dương của Trung Hoa.
        Vì có ngôn ngữ và tôn giáo giống các dân tộc Trung Á, người Uighur là cầu nối giữa Trung Hoa và các vùng phía Tây.
        Kashgar, đô thị có từ thời cổ của người Uighur mà nay thuộc về Tân Cương, Trung Quốc, từng là một trung tâm thương mại trên Con đường Tơ lụa giữa Đông và Tây ở châu Á.
        Đầu thế kỷ 20, người Uighur từng tuyên bố độc lập ngắn ngủi ở vùng Đông Hồi (East Turkestan).
        Đến năm 1949, chính quyền Mao Trạch Đông thắng trong cuộc nội chiến ở Hoa lục, đưa quân vào làm chủ vùng đất này và gọi là Tân Cương, miền biên giới mới.

        Trung Quốc lo ngại gì?

        BBC News trích lời giới vận động người Uighur nói rằng văn hóa, thương mại và tôn giáo của họ bị chính quyền Trung Quốc trói buộc.
        Trung Quốc cũng bị tố cáo đã tăng cường trấn áp người Uighur sau các cuộc biểu tình trong thập niên 1990 và trước thời gian diễn ra Thế Vận hội Bắc Kinh 2008.
        Vẫn theo trang BBC News, trong thập niên qua, nhiều nhân vật nổi trội từ cộng đồng Uighur ở Tân Cương, ước tính có khoảng 9-10 triệu người, đã bị Trung Quốc bắt hoặc truy đuổi khiến họ phải trốn ra nước ngoài tỵ nạn.
        Chính quyền Bắc Kinh nói có các nhóm ly khai Uighur và thậm chí có cả những tổ chức khủng bố thuộc sắc dân này.
        Ngược lại, các nhóm vận động người Uighur tố cáo Bắc Kinh đưa di dân Hán vào vùng Tân Cương, bắt đầu từ các ‘binh đoàn’ lao động sản xuất nhưng có vũ trang từ thời Mao tới các đợt mới ồ ạt hơn về sau này.

        Đại biểu từ Tân Cương tham gia Quốc hội Trung Quốc
        Họ cho rằng các nhóm Hán tộc di dân vào Tân Cương làm loãng đi bản sắc của người bản địa và người Uighur trở thành thiểu số ngay tại tân Cương.
        Vụ xung đột sắc tộc nghiêm trọng nhất xảy ra vào tháng 7 năm 2009 tại Urumqi, thủ phủ Tân Cương khi đám đông người Uighur tràn ra phố, tấn công người Hán, chém chết cả phụ nữ và trẻ em.
        Vài ngày sau, các nhóm thanh niên Hán dùng gậy và thanh sắt đã ra phố lùng bắt và đánh trả người Uighur, gây ra thương vong và khiến chính quyền phải đưa quân cảnh ra phố.
        Trong vụ bạo lực đó, gần 200 người đã bị thiệt mạng và theo truyền thông Trung Quốc thì đa số nạn nhân là người Hán.
        Đầu tháng 3 năm nay, tại nhà ga xe lửa Côn Minh, tỉnh Vân Nam đã xảy ra một vụ tấn công nghiêm trọng nữa bằng đao mà các mạng xã hội Trung Quốc nói là do các thủ phạm người Uighur thực hiện.
        Trong vụ việc, có ít nhất trên 40 thường dân Trung Quốc thiệt mạng và hơn 140 người bị thương.
        Giới quan sát từ bên ngoài nói vụ tấn công gây ngạc nhiên vì cộng đồng Uighur ở Vân Nam và Hồ Nam chỉ có vài nghìn dân làm nghề trồng cấy, ít liên hệ với nhóm Uighur gốc du mục Tân Cương.
        Tuy thế, các nguồn tin như New York Times cũng nói sau vụ đâm chém tại ga Côn Minh, công an Trung Quốc vây các khu nhà của người Uighur trong tỉnh và tiến hành các vụ bắt bớ.
        Các đợt trấn áp cũ và mới có thể là lý do khiến một số nhóm Uighur tìm đường xuống Đông Nam Á.
        Ngoài Việt Nam và Thái Lan, họ cũng đến cả Campuchia và một nhóm từng bị chính quyền Hun Sen trục xuất về Trung Quốc năm 2009.
        Theo nhà báo Hamid Ismailov từ ban Trung Á của BBC, người Uighur chạy xuống Đông Nam Á là để tìm đường vòng trở lại Thổ Nhĩ Kỳ, nước cho họ trú ngụ do có cùng nguồn gốc ngôn ngữ và tôn giáo.
        Mục tiêu của các nhóm Uighur vì thế không phải là tìm cách định cư ở lại Thái Lan hay Việt Nam.
        Dù vậy, chính quyền các nước này đã tìm cách trục xuất họ về Trung Quốc.
        Cách đối xử này khác hẳn với chuyện các nước Asean thường cho người tỵ nạn Bắc Hàn sang Nam Hàn định cư.
        Vì dù tồn tại như một dân tộc có hàng triệu người nhưng lại không có nhà nước riêng, người Uighur đang phải chịu sự đưa đẩy của hoàn cảnh mà không có quốc gia nào bảo vệ.

        Thêm về tin này

        Chủ đề liên quan

        http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/04/140423_uighur_origins_china.shtml

        Ba lý do người Uighur tới Việt Nam

        Cập nhật: 16:10 GMT - thứ hai, 21 tháng 4, 2014
        Người Uighuir chờ ra tòa ở Thái Lan hồi tháng Ba năm 2014
        Nhiều người Uighuir cũng bị Thái Lan kết tội nhập cảnh trái phép trong tháng Ba
        Vụ việc vượt biên trái phép của người Trung Quốc qua cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Quảng Ninh hôm 18/4 cuối cùng đã làm bảy người chết và nhiều người bị thương.
        Một trong những lý do mà một nhà báo Việt Nam đưa ra là sự không hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên. Người Uighur, hay còn gọi là Duy Ngô Nhĩ, có vẻ không hiểu những gì mà lính biên phòng Việt Nam và Trung Quốc nói với họ khi buộc họ phải trở về Trung Quốc ngay lập tức.
        Sĩ quan phiên dịch của cuộc gặp, Thiếu tá Nguyễn Minh Đãi, 43 tuổi, người được điều động từ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái xuống Bắc Phong Sinh đã chết cùng Thiếu úy Lê Vũ Việt, 24 tuổi trong vụ đụng độ trưa ngày 18/4.
        Năm người Uighur bị chết và lý do được quan chức Quảng Ninh nói với BBC là họ nhảy từ tầng cao của đồn biên phòng xuống nhưng một đại tá biên phòng cho biết hai người trong số đó bị bắn chết.
        Số người còn lại được phía Việt Nam ngay lập tức trao cho phía Trung Quốc.
        Những bức hình được truyền thông Việt Nam đăng tải cho thấy lính Trung Quốc mặc đồ rằn ri và mang mũ có biển 'Công an Quảng Tây', tỉnh giáp ranh với Quảng Ninh đã có mặt ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh để nhận bốn phụ nữ mang khăn trùm đầu cùng hai trẻ nhỏ.
        Những người đàn ông hoàn toàn không xuất hiện trong các bức ảnh được đăng tải chính thức cho dù trên mạng xã hội cũng có những ảnh được cho là chụp thi thể của những người Uighur, có người nằm đè lên nhau, trên xe gia súc kéo.
        Việc Việt Nam ngay lập tức trao trả người Uighur mà không qua xét xử và tìm hiểu nguyên nhân họ phải bỏ nhà mang theo trẻ nhỏ ra đi đã gây ra chỉ trích.
        Công dân mạng cũng bất bình với hình ảnh các thi thể người Uighur nằm ngổn ngang.

        Chính sách 'Hán hóa'

        Một đồng nghiệp của BBC tiếng Trung nói anh có nói chuyện với một người Uighur đang sống lưu vong ở London và những người Uighur hải ngoại biết rất ít về hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ sống ở tỉnh biên giới Vân Nam.
        Đồng nghiệp BBC cũng nói thường mỗi khi có chuyện gì xảy ra với người Uighur ở Tân Cương, nơi có hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ sinh sống, người Uighur hải ngoại thường lên tiếng ngay lập tức và cũng thường gắn thêm động cơ chính trị cho những gì xảy ra.
        Nhưng trong trường hợp này chưa có tuyên bố gì từ hội người Uighur hải ngoại.
        Mặc dù vậy anh cũng nói sau vụ tấn công bằng dao ở Côn Minh khiến gần 30 người chết và hàng trăm người bị thương hồi tháng Ba, Trung Quốc đã trục xuất người Uighur ở nhiều tỉnh về lại Tân Cương.
        Phái đoàn Uighur từ Tân Cương ở Quốc hội Trung Quốc đầu tháng Ba
        Trong tháng Ba cũng diễn ra vụ tấn công bằng dao của người Uighur ở Côn Minh
        Ngoài Việt Nam, người Uighur cũng tới Thái Lan
        Năm nay cũng là kỷ niệm năm năm vụ bạo động ở thủ phủ Urumqi của Tân Cương hồi tháng Bảy năm 2009 làm hơn 200 người chết và hàng ngàn người bị thương.
        Mỗi trường hợp ra đi của người Uighur đều có những lý do cá nhân.
        "Nhưng có ba lý do bao trùm cho mọi cuộc "bỏ phiếu bằng chân" từ khi Trung Quốc kiểm soát toàn diện Tân Cương hồi năm 1949. Đó là: đói nghèo, phân biệt đối xử và bị đẩy ra rìa xã hội."
        Nhưng có ba lý do bao trùm cho mọi cuộc "bỏ phiếu bằng chân" từ khi Trung Quốc kiểm soát toàn diện Tân Cương hồi năm 1949.
        Đó là: đói nghèo, phân biệt đối xử và bị đẩy ra rìa xã hội.
        Chính sách 'Hán hóa' của Trung Quốc, với mục tiêu người Hán chiếm đa số ở mọi nơi, khiến cho số người Hán ở Tân Cương chiếm tới 40% theo thống kê từ vài năm về trước.
        Trong những vụ ra đi gần đây, người ta thấy người Uighur thường kéo cả gia đình đi theo.
        Riêng trong những ngày cuối tuần qua, số người Uighur vượt biên vào Việt Nam và Thái Lan đã là 51 người trong đó có năm người thiệt mạng ở Bắc Phong Sinh.
        Các quan chức Việt Nam không tiết lộ gì về danh tính 21 người vượt biển vào Việt Nam mà Hà Nội nói phía Trung Quốc đã bắt giữ.
        Nhưng nhóm 16 người vào Việt Nam ở Bắc Phong Sinh và nhóm 15 người bị bắt ở Sa Kaeo, Thái Lan có cả thảy bảy phụ nữ và chín trẻ em.
        Báo Phnom Penh Post nói những người Uighur cảm thấy họ không thể sống nổi ở quê hương do chính sách hà khắc của chính quyền Trung Quốc.

        'Tị nạn'

        Trên thực tế chuyện người Uighur vào Việt Nam để tới nước thứ ba, có thể là Thổ Nhĩ Kỳ, nơi có cộng đồng lớn người Uighur, đã từng xảy ra.
        Sau bạo động ở Tân Cương hồi năm 2009, một nhóm 22 người Duy Ngô Nhĩ cũng đã băng qua Việt Nam để tới Campuchia nộp đơn xin tị nạn.
        Tuy nhiên Phnom Penh đã trả họ về Trung Quốc dưới sức ép của Bắc Kinh cho dù không phải là trả vội vàng qua biên giới như Việt Nam.
        Ngay cả Thái Lan, nước cởi mở hơn với người tị nạn so với Việt Nam và Campuchia, hồi tháng trước cũng kết án hàng chục người Uighur xâm nhập trái phép cho dù Hoa Kỳ kêu gọi Bangkok bảo vệ những người này.
        Cảnh sát bán quân sự ở Tân Cương nơi gần như năm nào cũng có bất ổn
        Cách hành xử của Việt Nam, dù nay đã là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, là điều khó tránh khỏi.
        Sức ép của Trung Quốc với Việt Nam, cả về chính trị, thương mại và quân sự, luôn hiện hữu.
        Người ta cũng đã đặt câu hỏi tại sao Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam về cả hai vụ người Uighur toan vượt biên vào Quảng Ninh nhưng vì lý do nào đó bản thân phía Trung Quốc lại không thể chặn được những người này rời Trung Quốc.
        "...Nếu Trung Quốc gặp vấn đề với người Hồi giáo Tân Cương và phật tử ở Tây Tạng thì Việt Nam cũng từng có vấn đề với người Thượng ở Tây Nguyên và người H'Mong ở Mường Nhé, Điện Biên. "
        Và nếu Trung Quốc gặp vấn đề với người Hồi giáo Tân Cương và Phật tử ở Tây Tạng thì Việt Nam cũng từng có vấn đề với người Thượng ở Tây Nguyên và người H'Mong ở Mường Nhé, Điện Biên.
        Những người Thượng và người H'Mong cũng từng vượt biên qua Lào, Campuchia để tới Thái Lan với hy vọng được đi tỵ nạn và thực tế rất nhiều người đã tới được Hoa Kỳ.
        Hiện chưa rõ động cơ cá nhân của nhóm hơn 50 người Uighur mới nhất bỏ nước ra đi và một luật sư ở Việt Nam nói đáng ra Hà Nội cần điều tra rõ ràng vụ việc trước khi có quyết định trao trả những người Duy Ngô Nhĩ muốn vào Việt Nam.
        Khi bạo động Tân Cương xảy ra hồi năm 2009, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã coi những gì xảy ra là "hành động diệt chủng" cho dù Bắc Kinh nói hầu hết trong số 200 người chết ở Urumqi là người Hán.
        Với đợt bỏ trốn mới nhất này, Trung Quốc không công khai lý do tại sao người Uighur phải ra đi và những lời kêu gọi những nước như Việt Nam điều tra không phải không có lý.
        Nhưng thực hiện theo những lời kêu gọi đó lại bất khả thi với chính sách hiện nay của Việt Nam về nhân quyền và cách tiếp cận ngoại giao hiện có của Hà Nội đối với Bắc Kinh.

        http://www.bbc.co.uk/vietnamese/blogs/2014/04/140421_uighurs_vietnam_comment.shtml