Posts tonen met het label vũ trụ. Alle posts tonen
Posts tonen met het label vũ trụ. Alle posts tonen

vrijdag 12 december 2014

5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ

Khoa học

5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ

Ngôi sao già nhất có niên đại lớn hơn cả vũ trụ, thấu kính lớn nhất trong vũ trụ là một cụm thiên hà, còn cục nam châm mạnh nhất là một ngôi sao neutron.
Thấu kính vĩ đại nhất
Cụm thiên hà J0717.5+3745, nằm cách chúng ta 5,4 tỷ năm ánh sáng, là thấu kính lớn nhất trong không gian. Đây cũng là cụm thiên hà đông đúc nhất mà con người có thể quan sát.

5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ Phóng to
Cụm thiên hà J0717.5+3745. Ảnh: Listverse.com.
Hiệu ứng thấu kính ở J0717.5+3745 tạo điều kiện cho con người nghiên cứu những đối tượng không phát ra bức xạ trong vũ trụ. Kết hợp cùng thuyết tương đối của nhà bác học Einstein, J0717.5+3745 giúp các nhà khoa học xác định sự tồn tại của vật chất tối, đối tượng bí hiểm nhất trong vũ trụ.
Vụ nổ tia X mạnh nhất
Kính thiên văn Swift của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) phát hiện vụ nổ tia X lớn nhất vào tháng 6/2010. Nó xảy ra cách chúng ta 5 tỷ năm ánh sáng nhưng vẫn khiến các vệ tinh nhân tạo tê liệt. Một nhà khoa học ví các vệ tinh của chúng ta chỉ như những chiếc “xô đo mưa” trong khi sức mạnh của vụ nổ tương đương sức mạnh của một trận sóng thần.
5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ
Vụ nổ tia X được phát hiện tháng 6/2010. Ảnh: Listverse.com.
Theo các nhà khoa học, vụ nổ tia X khổng lồ bắt nguồn từ quá trình hóa kiếp một ngôi sao chết, tạo thành lỗ đen đáng sợ trong vũ trụ. Các nhà khoa học hoàn toàn bất ngờ khi quan sát được vụ nổ sao trong vũ trụ. Người ta phát hiện sự hiện diện mạnh của tia X, nhưng hoàn toàn không thấy các dải quang phổ khác.
Cục nam châm mạnh nhất
Sao neutron SGR 0418 57290418 5729 là cục nam châm mạnh nhất trong vũ trụ. Cơ quan Vũ trụ châu Âu phát hiện nó vào năm 2009. Nhờ công nghệ đo đạc lượng khí thải tia X, các nhà khoa học có thể quan sát từ trường bên dưới bề mặt ngôi sao. ESA mô tả neutron SGR 0418 57290418 5729 là “con quái vật từ tính” khổng lồ.
5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ
Mô phỏng trừ trường ở ngôi sao neutron SGR 0418 57290418 5729. Ảnh: Listverse.com.
Nếu neutron SGR 0418 57290418 5729 là mặt trăng, nó có thể đẩy lùi những đầu máy xe lửa bằng kim loại đang chạy trên trái đất. Tuy nhiên, ngôi sao này nằm cách chúng ta 6.500 năm ánh sáng nên hoàn toàn không thể gây hại cho địa cầu.
Tia laser mạnh nhất
500.000 tỷ watts là cường độ của tia laser mạnh nhất mà con người từng tạo ra. Trong khi đó, vật thể mang tên MG J0414+0534 phát ra ánh sáng maser, tương tự tia laser, với cường độ 1 nonillion watt, tức là gấp 10.000 lần năng lượng do mặt trời tạo ra.
5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ
Tia laser. Ảnh: Listverse.com.
Theo các nhà khoa học, maser mạnh nhất bắt nguồn từ nước. Các phân tử nước trong chuẩn tinh (thiên thể cực xa và cực sáng) va vào nhau và gây ra tác động liên hoàn. Phản ứng dây chuyền khuếch đại, tạo ra tia maser. Các nhà khoa học phát hiện MG J0414+0534 vào năm 2008. Nó cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của nước, cách chúng ta 11,1 tỷ năm ánh sáng.
Vật thể già nhất
Giới khoa học ước đoán, vũ trụ của chúng ta khoảng 13,7 tỷ năm tuổi. Tuy nhiên, Đài thiên văn Nam Âu ở Chile phát hiện ngôi sao HE 1523-0901, nằm trong chính dải Ngân hà, đã 13,2 tỷ năm tuổi. Nhờ đồng hồ phóng xạ, các nhà khoa học xác nhận HE 1523-0901 là vật thể già nua nhất trong vũ trụ mà con người tìm thấy.
5 kỷ lục dị thường trong vũ trụ
Ngôi sao HE 1523-0901, vật thể già nua nhất trong vũ trụ. Ảnh: Listverse.com.
Hiện tại, giới khoa học đang xác định tuổi của ngôi sao gây tranh cãi HD 140283, biệt danh “Methuselah”, do kính thiên văn Hubble phát hiện. Kết quả đo đạc ban đầu cho thấy, HD 140283 đã tồn tại 14,5 tỷ năm tuổi. Sở dĩ HD 140283 gây tranh cãi bởi tuổi của nó còn cao hơn độ tuổi của vũ trụ.
Còn nữa!
Bài viết được cập nhật lần cuối lúc 10:36 - 02/12/2013

Phát hiện khối kim cương khổng lồ trong vũ trụ với kích thước tương đương trái đất : ngôi sao lùn trắng lạnh

Khoa học

Phát hiện khối kim cương khổng lồ trong vũ trụ

Các nhà thiên văn vừa phát hiện ngôi sao kim cương với kích thước tương đương trái đất. Nó là ngôi sao lùn trắng lạnh và mờ nhạt nhất mà con người từng phát hiện.
Bằng cách sử dụng kính thiên văn GBT và VLBA, một nhóm nhà thiên văn người Mỹ đã khám phá ra ẩn tinh nằm cách trái đất gần 900 năm ánh sáng, thuộc chòm sao Bảo Bình. Họ đặt tên nó là PSR J2222-0137.
PSR J2222-0137 là ngôi sao lùn trắng lạnh nhất và mờ nhạt nhất mà giới khoa học phát hiện từ trước tới nay. Ảnh:
PSR J2222-0137 là ngôi sao lùn trắng lạnh nhất và mờ nhạt nhất mà giới khoa học phát hiện từ trước tới nay. Ảnh: NRAO/AUI/NSF.
Theo Universal Today, PSR J2222-0137 là ngôi sao lùn trắng lạnh và mờ nhạt nhất mà giới khoa học phát hiện từ trước tới nay. Theo tính toán của các chuyên gia, nhiệt độ của PSR J2222-0137 không lớn hơn 2.700 độ C. Trên thực tế, carbon của nó kết tinh lại và hình thành nên một viên kim cương có kích cỡ tương đương trái đất.
“Đây thực sự là một vật thể đáng chú ý. Nhưng nó quá mờ nhạt tới mức chúng ta khó có thể quan sát”, giáo sư David Kaplan tới từ Đại học Wisconsin-Milwaukee, Mỹ, cho biết.
Theo các nhà khoa học, khoảng 5 tỷ năm tới hoặc lâu hơn, mặt trời của chúng ta sẽ dùng hết khí hydro để tạo thành năng lượng và dần biến thành một ngôi sao khí heli và bắt đầu phân hủy. Lõi mặt trời sẽ trở nên nóng hơn và giãn nở, dần tạo thành một ngôi sao khổng lồ với kích thước vươn tới quỹ đạo trái đất. Các phản ứng hóa học liên tục diễn ra đến khi mặt trời mất dần trọng lượng, để lại một lõi trơ chứa chủ yếu là cácbon và oxy. Đó chính là sao lùn trắng.
Các sao lùn trắng sẽ dần nguội lạnh và mờ nhạt qua hàng tỷ năm. Nhóm nghiên cứu nhận định, nhiều khả năng, ngôi sao kim cương PSR J2222-0137 bằng tuổi dải ngân hà – khoảng 11 tỷ năm tuổi.
Bài viết được cập nhật lần cuối lúc 17:56 - 24/06/2014

vrijdag 15 november 2013

Nguyễn Quang Riệu : Hé lộ về tuổi thơ vũ trụ

Thứ năm 28 Tháng Ba 2013

Hé lộ về tuổi thơ vũ trụ

Kính thiên văn vô tuyến  đường kính 100 m cuả Viện Max Planck tại Effelsberg (Đức) (Hình Max Planck Institut für Radioastronomie).
Kính thiên văn vô tuyến đường kính 100 m cuả Viện Max Planck tại Effelsberg (Đức) (Hình Max Planck Institut für Radioastronomie).

Thanh Hà
Ngày 21/03/2013 Cơ quan Không gian Châu Âu vừa công bố hình ảnh ngược dòng thời gian, đưa con người trở về với thời thơ ấu của vũ trụ 13,8 tỷ năm về trước. Đâu là tầm mức quan trọng của những khám phá vừa được vệ tinh Planck tiết lộ. RFI mời nhà vật lý thiên văn Nguyễn Quang Riệu trả lời câu hỏi trên.



Nhà Thiên văn học Nguyễn Quang Riệu, Paris
 
27/03/2013
 
 
RFI : Ảnh của vũ trụ chụp bằng vệ tinh Planck vừa được công bố chứng minh với chúng ta điều gì ?
Nguyễn Quang Riệu : Nguồn gốc và sự tiến hoá của vũ trụ vẫn là đề tài mà các nhà thiên văn quan tâm đến từ lâu. Họ quan sát qua những kính thiên văn ngày càng lớn, nên nhìn được ngày càng sâu trong vũ trụ. Những thiên thể không chỉ phát ánh sáng mà còn phát những bức xạ không nhìn thấy như bức xạ hồng ngoại và bức xạ vô tuyến. Những số liệu đầu tiên thu được trên bước sóng vô tuyến và hồng ngoại bằng vệ tinh Planck cung cấp cho các nhà thiên văn hình ảnh của vũ trụ khi mới có 400 nghìn năm tuổi. So với tuổi ngót 14 tỷ năm của vũ trụ hiện nay thì đây là hình ảnh của vũ trụ đang ở tuổi hãy còn trẻ thơ.
Theo vũ trụ quan hiện đại, khi vũ trụ vừa mới ra đời ngay sau Big Bang thì nóng tới hàng chục tỷ độ. Trong một môi trường cực kỳ nóng như thế thì các hạt electron không kết hợp được với các hạt ion để tạo ra nguyên tử, nên electron di chuyển tự do khắp vũ trụ. Do đó, khí electron như đám sương mù dày đặc bao phủ toàn thể vũ trụ nguyên thủy và che bức xạ vũ trụ. Bởi vì vũ trụ dãn nở không ngừng nên nguội dần. Phải đợi 400 nghìn năm sau, nhiệt độ mới giảm xuống chỉ còn 3000 độ. Bắt đầu từ thời điểm này, nhiệt độ cuả vũ trụ mới trở nên vừa phải để electron có thể kết hợp được với những hạt ion. Màn sương electron khi đó mới tan và bức xạ vũ trụ mới bắt đầu xuất hiện. Bức xạ nguyên thủy này thường được gọi là « bức xạ phông vũ trụ ». Ngày nay, do vũ trụ dãn nở nên nhiệt độ bức xạ phông vũ trụ giảm xuống chỉ còn khoảng 3 độ Kelvin, tức là -270 độ Celsius.
Mục tiêu cuả các nhà thiên văn là quan sát bức xạ đầu tiên phát ra bởi vũ trụ. Bức xạ nguyên thủy chứa chất những dấu ấn quý giá của những hiện tượng xẩy ra trong quá trình hình thành cuả vũ trụ ngay sau khi vũ trụ mới ra đời. Bức xạ này được phát ra trên những bước sóng vô tuyến milimet và hồng ngoại nên bị hấp thụ phần nào bởi khí quyển trái đất. Các nhà thiên văn phải sử dụng kính thiên văn phóng lên không gian bằng vệ tinh như vệ tinh Planck để quan sát. Ảnh chụp bởi vệ tinh cung cấp những thông tin về môi trường trong vũ trụ nguyên thủy nhằm tìm hiểu quá trình tiến hóa của vũ trụ từ quá khứ xa xôi cho tới ngày nay.
RFI : Tầm quan trọng và ý nghĩa của sự quan sát bằng vệ tinh Planck ?
NQR : Bức xạ phông vũ trụ, tàn dư cuả Big Bang, đã được phát hiện tình cờ bởi các nhà thiên văn từ năm 1964, dưới dạng một « biển » bức xạ vô tuyến dường như đồng đều bao trùm toàn thể vũ trụ. Năm 1992, Cơ quan NASA phóng vệ tinh đặt tên là COBE để quan sát bức xạ phông vũ trụ với nhiều chi tiết hơn. Họ phát hiện bức xạ phông vũ trụ không phải là đồng đều, cường độ bức xạ tăng giảm hỗn độn từ vùng này đến vùng khác trên bầu trời. Có nghĩa là ngay từ khi mới ra đời, vật chất đã tồn tại thành từng cụm lổn nhổn trong vũ trụ để làm mầm mống cho những thiên hà và những ngôi sao thế hệ đầu tiên. Để quan sát được nhiều chi tiết hơn, năm 2003 các nhà thiên văn Mỹ lại phóng vệ tinh mang tên là WMAP có độ phân giải cao hơn vệ tinh COBE. Những mô hình vũ trụ học và những tính toán thống kê dựa trên sự phân bố những cụm vật chất quan sát được trên bầu trời đã giúp các nhà thiên văn tìm ra được những đặc điểm cơ bản, như thành phần vật chất và năng lượng trong vũ trụ cùng quá trình tiến hoá của vũ trụ.
Năm 2009, Cơ quan Hàng không Châu Âu, ESA, phóng vệ tinh Planck với mục tiêu quan sát bức xạ phông vũ trụ với độ phân giải cao hơn 5 lần vệ tinh WMAP. Các thiết bị đặt trên vệ tinh Planck được ướp lạnh xuống tới nhiệt độ thấp gần bằng không độ tuyệt đối để có ít tiếng ồn và hoạt động trong điều kiện tối ưu. Do đó, độ nhạy của vệ tinh Planck cao hơn ít nhất là 10 lần độ nhạy cuả vệ tinh WMAP. Vệ tinh Planck dùng để đo biên độ cuả sự thăng giáng nhiệt độ cực kỳ nhỏ cuả bức xạ phông vũ trụ. Vệ tinh cung cấp cho các nhà thiên văn những kết quả sơ bộ độc đáo chưa từng quan sát thấy từ trước tới nay. Những kết quả quan sát ban đầu về cường độ cuả sự thăng giáng nhiệt độ đo được bởi vệ tinh Planck cho thấy có những điểm mâu thuẫn với những mô hình lý thuyết và còn cần phải được giải thích.
RFI : Những phát hiện đó mở ra những chân trời nào cho ngành nghiên cứu vật lý thiên văn ?
NQR : Những số liệu cuả vệ tinh Planck sẽ được dùng để tìm hiểu số phận cuả vũ trụ. Vũ trụ sẽ dãn nở mãi mãi hay sẽ co dãn tuần hoàn. Những kịch bản này chủ yếu tùy thuộc vào sự phân bố năng lượng và vật chất trong vũ trụ. Cho tới nay, các nhà thiên văn xác định là thành phần năng lượng được gọi là năng lượng tối chiếm tới 70% và 30% còn lại là vật chất mà đa phần lại là một loại vật chất tối không nhìn thấy. Vật chất thông thường nhìn thấy được và dùng để tạo ra những ngôi sao và những thiên hà chỉ là 4%, tức là một thành phần không đáng kể. Thành phần năng lượng và vật chất trong vũ trụ đã được đo đạc chính xác bằng những thiết bị tối tân đặt trên vệ tinh Planck. Độ chính xác cuả sự đo đạc những số liệu này là yếu tố cần thiết để xác định mô hình tiến hoá của vũ trụ. Hiện nay, bản chất cuả năng lượng tối và vật chất tối vẫn chưa được xác định. Năng lượng tối là một lực đẩy làm vũ trụ dãn nở ngày càng nhanh. Tuy nhiên, kết quả quan sát bằng vệ tinh Planck cho thấy là vũ trụ dãn nở có phần chậm hơn như đã công bố trước đây.
Những kết quả thu được bằng vệ tinh Planck sẽ là những số liệu quý giá để các nhà thiên văn xử lý và sử dụng trong cả một thập niên tới. Nhờ có độ nhạy và độ phân giải cao nên vệ tinh Planck có khả năng phát hiện được những hiện tượng thiên nhiên mới lạ mà các nhà thiên văn sẽ phải cố tâm giải thích bằng những mô hình lý thuyết.
Các nhà thiên văn phải quan sát bầu trời trên nhiều miền sóng trong phổ điện từ, đặc biệt là trên miền sóng khả kiến tức là ánh sáng phát ra từ những thiên thể. Cộng đồng thiên văn Châu Âu ESO vừa mới chấp thuận đề án xây kính thiên văn E-ELT (European Extremely Large Telescope) có đường kính 40 m, lớn chưa từng có trong lĩnh vực kính quang học. Hệ kính giao thoa ALMA có tổng cộng 66 ăngten đặt tại Chilê cũng vừa mới được đưa vào hoạt động trên những bước sóng vô tuyến milimet. Kính ALMA có độ phân giải cao nên được dùng để quan sát những thiên hà xa xôi có kích thước biểu kiến rất nhỏ, nhằm bổ sung những kết quả cuả vệ tinh Planck trong công việc nghiên cứu sự tiến hoá cuả vũ trụ. Tuy hãy còn đang trong thời kỳ thử nghiệm, nhưng kính ALMA đã cung cấp những kết quả đầu tiên đầy triển vọng.
Vũ trụ là một phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại và phong phú. Nhờ có những phát triển công nghệ phóng kính thiên văn lên không gian và kỹ thuật hiện đại trong lĩnh vực chế tạo kính thiên văn, máy thu tín hiệu, máy tính và ngành điện tử mũi nhọn mà nhân loại mới hé mở được cánh cửa cuả phòng thí nghiệm vũ trụ, không những để khám phá những hiện tượng thiên nhiên thú vị, mà còn đi ngược dòng thời gian tới thời điểm khai sinh ra vũ trụ.
tags: Khoa học - Phỏng vấn - Thiên văn
 
http://www.viet.rfi.fr/node/79951

woensdag 9 oktober 2013

Nobel Vật lý 2013 người Bỉ+người Anh: Phát hiện về hạt Higgs, "chìa khóa" để hiểu vũ trụ

Thứ ba 08 Tháng Mười 2013

Nobel Vật lý 2013 : Phát hiện về hạt Higgs, "chìa khóa" để hiểu vũ trụ

Nhà vật lý Anh Peter Higgs (phải) và nhà vật lý người Bỉ Francois Englert trong một hội nghị khoa học tại Genève hôm 4/7/2012.
Nhà vật lý Anh Peter Higgs (phải) và nhà vật lý người Bỉ Francois Englert trong một hội nghị khoa học tại Genève hôm 4/7/2012.
REUTERS/Denis Balibouse/Files

Trọng Thành
Hôm nay, 08/10/2013, giải thưởng Nobel vật lý học được trao cho hai nhà khoa học, ông François Englert người Bỉ, 81 tuổi, và ông Peter Higgs người Anh, 84 tuổi.


Từ Hà Nội, giáo sư vật lý học Cao Chi cho biết một số nét về công trình được giải thưởng này và phản ứng trong giới vật lý Việt Nam.
Giáo sư Cao Chi tại Hà Nội
 
08/10/2013
 
 

Giáo sư Cao Chi : Giải Nobel Vật lý năm nay được trao cho công trình do ba nhà khoa học làm. Nhưng vì một nhà khoa học (ông Robert Brout, người Bỉ, sinh năm 1928) đã mất năm 2011, nên giải chỉ được trao cho hai người. Đó là giáo sư François Englert và giáo sư Peter Higgs.
Hạt Higgs này rất quan trọng. 50 năm nay người ta đi tìm, mãi đến năm 2011 mới phát hiện được, nhờ các thí nghiệm ở máy siêu gia tốc LHC. Việc tìm được hạt này làm cho các lý thuyết mà người ta tìm được từ trước đến nay có được một cơ sở vững vàng.
Trước đây, lý thuyết để thống nhất các hạt tuân theo một đối xứng nhất định, mà khi tuân theo các đối xứng đó, thì các hạt đó không có khối lượng. Mà trong thực tế, các hạt đó có khối lượng. Cho nên một câu hỏi đặt ra là : Khối lượng đó ở đâu ra ?
Các nhà khoa học nói trên đã đưa ra một luận thuyết. Đó là tồn tại một hạt Higgs. Khi các hạt khác tương tác với hạt này, thì các hạt khác thu được khối lượng. Nói nôm na là thế này : Hạt Higgs trong không gian làm thành một cái trường, một môi trường có nhiều « chất nhớt », nếu các hạt khác lọt vào đây, tự nhiên được chất nhớt đó làm cho có khối lượng.
Cái mô hình thống nhất ba loại « tương tác mạnh », « tương tác yếu », « tương tác điện từ » là mô hình đã được kiểm chứng rất nhiều. Nhưng cái khó khăn nhất, như tôi nói, là trong mô hình đó, các hạt không đúng với thực tế (tức là không có khối lượng, trong khi thực tế là có khối lượng). Nếu không tìm được yếu tố để giải thích được thực tế này, thì mô hình này xem như còn thiếu sót.
Việc tìm ra được hạt Higgs là một thành công lớn làm cho Mô hình Chuẩn về ba loại tương tác kể trên trở nên vững chãi. Và bây giờ, nếu Mô hình Chuẩn thống nhất ba tương tác, mà đã có cơ sở nhờ hạt Higgs, thì trong tương lai, người ta có thể mạnh dạn tiến đến thống nhất với loại tương tác cuối cùng là « tương tác hấp dẫn ». Cho nên chuyện tìm ra hạt Higgs là một phát hiện vĩ đại.
(…) Vừa rồi chúng tôi nhận được tin này, chúng tôi rất mừng, vì mình đã viết một cuốn sách « Kỷ yếu Higgs ». Cuốn sách đó làm cho người ta thấy là mình cũng có một linh cảm nào đấy về giải thưởng Nobel. Năm tác giả là các giáo sư Pierre Darriulat, Phạm Xuân Yêm, Nguyễn Xuân Sanh, Chu Hảo và tôi. Ông Pierre Darriulat là một giáo sư người Pháp, tầm cỡ Nobel (người sáng lập phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ đầu tiên của Việt Nam đặt tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân). Ông đã đứng ra và tập hợp anh em khoa học lại, để viết quyển sách này. Quyển sách về hạt Higgs này sẽ ra mắt trong vòng vài tháng nữa.
Như vậy, điều này chứng tỏ giới khoa học Việt Nam rất quan tâm đến những vấn đề cơ bản như vậy, và dường như họ đã cảm thấy hạt Higgs sẽ là đối tượng của giải Nobel vật lý hôm nay.
RFI : Xin chân thành cảm ơn Giáo sư.
Giả thuyết về hạt Higgs, được nhà vật lý Anh Peter Higgs đưa ra năm 1964, cùng với hai đồng nghiệp Bỉ Robert Brout et François Englert. (AFP)

tags: Anh - Bỉ - Châu Âu - giả thuyết - Khoa học - lý thuyết - mô hình - Nobel - Pháp - Phỏng vấn - Quốc tế - thí nghiệm - tương tác - vật lý - Việt Nam - vũ trụ
 
http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20131008-giai-nobel-vat-ly-phat-hien-ve-hat-higgs-%E2%80%93-%C2%AB-chia-khoa-%C2%BB-de-hieu-vu-tru

woensdag 23 mei 2012

Cảnh đẹp vũ trụ trong tuần

20/5/2012

Một tinh vân có hình dạng giống hệt con mắt ma quái, còn cực quang tại Thụy Điển tạo ra một thứ giống dòng thác màu xanh chảy từ trên trời.


Nhà du hành Don Pettit, đang làm việc trên Trạm Không gian Quốc tế, ghép 18 bức ảnh để theo dõi những vệt sao ở phía trên bầu khí quyển địa cầu. Ảnh: NASA.

Tinh vân Helix có hình dạng giống một con mắt khổng lồ trong vũ trụ trong bức ảnh do vệ tinh GALEX của Mỹ chụp. Vật thể ở giữa tinh vân là một ngôi sao lùn trắng. Ảnh: NASA.

Sông băng
Sông băng Columbia ở phía nam Alaska, Mỹ trong một bức ảnh do vệ tinh của Mỹ chụp. Bức ảnh được phối màu để người xem có thể phân biệt sông băng (màu xanh dương thẫm), hệ thực vật (xanh lục) và đá (nâu). Ảnh: NASA.

Andromeda, thiên hà khổng lồ cách trái đất chừng 2,5 triệu năm ánh sáng, hiện ra trong một bức ảnh do vệ tinh GALEX của Mỹ chụp. Ảnh: NASA.

Mây đen trôi qua mặt trăng trong một bức ảnh được chụp tại thành phố San Jose, Mỹ. Ảnh: National Geographic.

Cực quang giống như
Cực quang tại Abisko, Thụy Điển giống như dòng thác màu xanh lục chảy từ vũ trụ. Ảnh: National Geographic.

Bức xạ từ bụi trong tinh vân
Bức xạ từ bụi trong tinh vân Sharpless 2-71 trong bức ảnh được chụp từ Đài Thiên văn Gemini North tại Hawaii, Mỹ. Ảnh: NASA.

Minh Long




maandag 17 oktober 2011

'Chùm bom' khổng lồ trong vũ trụ: 7 supernova's đồng thời trong thiên hà Arp 220

10/10/2011

Khi quan sát một thiên hà xa xôi, các nhà khoa học phát hiện 7 vụ nổ sao siêu lớn, một sự kiện chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thiên văn.


Thiên hà Arp 220, nơi các nhà thiên văn phát hiện 7 siêu tân tinh
Thiên hà Arp 220, nơi các nhà thiên văn phát hiện 7 siêu tân tinh. Ảnh: ESA.

National Geographic cho biết, các vụ nổ sao siêu lớn (siêu tân tinh) xảy ra trong Arp 220, một thiên hà cách trái đất tới 250 triệu năm ánh sáng.

"Từ trước tới nay giới khoa học mới chỉ chứng kiến tối đa ba siêu tân tinh trong một thiên hà. Chỉ chừng ấy vụ nổ thôi cũng là con số rất ấn tượng", Fabien Fatejat, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Chalmers ở Thụy Điển, phát biểu. Fatejat là trưởng nhóm quan sát thiên hà Arp 220.

Fatejat cho biết, mỗi siêu tân tinh trong thiên hà Arp 220 có chiều dài tới gần một năm ánh sáng.

Để tưởng tượng mức độ gây sốc của sự kiện 7 siêu tân tinh cũng xuất hiện trong một thiên hà, chúng ta chỉ cần biết rằng cứ vài trăm năm mới có một siêu tân tinh xuất hiện trong dải Ngân Hà.

Một siêu tân tinh trong vũ trụ. Ảnh:
Một siêu tân tinh trong vũ trụ. Ảnh: zimbio.com.

Nhóm của Fatejat đã theo dõi những tín hiệu radio từ Arp 220 trong suốt 17 năm qua. Họ sử dụng 57 kính thiên văn tại 5 quốc gia để thực hiện công việc. Arp 220 nổi tiếng vì nó được coi là "nhà máy sản xuất các ngôi sao" với công suất lớn. Bụi và khí tập trung với mật độ dày đặc ở vùng trung tâm của Arp 220 nên ánh sáng không thể xuyên qua, dẫn tới việc các nhà thiên văn không thể quan sát vùng trung tâm bằng kính thiên văn quang học. Tuy nhiên, sóng radio có thể di chuyển qua lớp bụi khí để tới các kính thiên văn radio trên trái đất.

Siêu tân tinh là một số loại vụ nổ của ngôi sao lớn tạo nên những vật thể rất sáng. Độ sáng của chúng tăng vọt tới hàng tỷ lần trong một thời gian ngắn rồi giảm dần sau vài tuần hay vài tháng.

Mạnh Hồng