|
Khám phá công nghệ tàng hình của các chiến đấu cơ Mỹ
| ||||
|
Máy bay tàng hình là công nghệ tối tân trên thế
giới được sử dụng nhằm mục đích vượt qua hệ thống phòng không đối phương và tiếp
cận mục tiêu.
Trong lịch sử phát triển vũ khí phòng không, từ khi radar cùng tên lửa phòng không ra đời và hoàn thiện, chúng khắc chế hoàn toàn các loại máy bay chiến đấu, dù phi cơ bay cao tới đâu, sử dụng biện pháp gây nhiễu radar mạnh đến cỡ nào. Ví như, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, Mỹ áp dụng nhiều biện pháp, trang bị mọi thiết bị gây nhiễu radar nhằm che giấu đội hình B-52; nhưng rốt cuộc chúng vẫn không thể thoát khỏi dàn radar dày đặc canh trời miền Bắc và tên lửa SA-2. 81 máy bay (trong đó có 34 B-52) "rụng" trong 12 ngày đêm khói lửa cuối năm 1972. Sự sụp đổ hoàn toàn của "siêu pháo đài bay B-52" thúc đẩy mạnh mẽ người Mỹ dồn lực phát triển máy bay tàng hình để có thể hóa giải "mắt thần và mũi tên lửa". Họ thành công lần đầu với máy bay cường kích tàng hình F-117A, rồi đến những hậu duệ" như B-2, F-22. Những máy bay tàng hình làm thay đổi hoàn toàn các cuộc chiến tranh trên thế giới. Trong chiến tranh Nam Tư (1999), 2 cuộc chiến tranh Iraq (1991 và 2003), người ta thấy rõ sự bất lực hoàn toàn của lực lượng phòng không tương đối mạnh của 2 quốc gia này trước siêu chiến đấu cơ tàng hình F-117A, B-2 của Mỹ Máy bay tàng hình là gì? Máy bay tàng hình là các loại phi cơ được ứng dụng nhiều công nghệ kỹ thuật trong thiết kế khí động học, điện tử cho phép máy bay vượt qua hệ thống radar phòng không đối phương mà không bị phát hiện. Để hiểu rõ hơn, ta cần biết nguyên lý hoạt động của radar. Trong tác chiến phòng không, radar sẽ phát lên trời chùm xung vô tuyến có cường độ lớn, khi gặp vật thể, sóng phản xạ về máy thu. Bằng cách phân tích sóng phản xạ, vật phản xạ được định vị. Đây là cách mà nó dùng để phát hiện, xác định vị trí máy bay. Đối phó với bài toán đó, máy bay tàng hình áp dụng công nghệ để tán xạ theo các hướng khác mà không trở về máy thu. Dĩ nhiên, không có sóng phản xạ về, radar không thể phát hiện mục tiêu. Không có radar chỉ đường thì tên lửa đối không vô dụng theo, mặc cho máy bay tàng hình "ung dung" tiến vào oanh tạc mục tiêu. Công nghệ tàng hình máy bay Để máy bay "biến mất" trước radar, các nhà khoa học chọn giải pháp tăng khả năng tán xạ tia radar bằng cách tạo hình dáng, kết cấu đặc biệt trên máy. Đây cũng là lý do giải thích vì sao các máy bay tàng hình luôn có kiểu dáng kỳ quái, khác với thiết kế máy bay thông thường. Ví như, cường kích tàng hình F-117A của Mỹ có kiểu dáng "không giống ai", hình thù phần thân như kim tự tháp, cánh đuôi chữ V. Hay như, máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 như con dơi khổng lổ, không có cánh đuôi, cánh chính được kéo dài kỳ lạ. Kiểu thiết kế này nhằm làm sóng radar dò tìm đối phương bị trượt đi theo hướng khác, hoặc hấp thụ, giảm nhỏ được sóng phản xạ, làm cho hình ảnh hiện trên màn radar rất yếu hoặc không tồn tại. Ngoài ra, người ta còn tăng khả năng hấp thụ tia radar bằng cách dùng vật liệu có tính hấp thụ mạnh như sợi carbon dệt thành tấm mỏng, cao su chịu nhiệt để bọc thân, cánh và các đường giao tuyến với các mặt phẳng. Dùng các loại vật liệu phức hợp được chế tạo dưới dạng lỗ xốp hình lục lăng như tổ ong để bọc các mép cánh, các đường nối giữa các khối thân và cánh, đuôi…để hấp thụ tia radar. Ví dụ, trên máy bay ném bom tàng hình B-2, Mỹ sử dụng phần lớn vật liệu phức hợp đá đen và sợi than có trọng lượng nhẹ, cường độ chịu lực lớn, phản xạ sóng radar nhỏ. Trên bề mặt vật liệu có dạng tổ ong li ti hấp thụ được sóng radar. Ngoài các công nghệ trên, máy bay tàng hình còn áp dụng một số kỹ thuật khác. Vì như chúng ta đã biết, máy bay không thể biến mất khỏi mắt con người nên các nhà khoa học dùng sơn có tính phản quang, màu sắc phù hợp với nền trời như xám, bạc, đen để…máy bay chìm vào màu sắc bầu trời. Bên cạnh đó, ngày nay người ta còn dùng khí tài ngắm hồng ngoại để phát hiện mục tiêu trên không vì bất kể một loại máy bay nào khi hoạt động đều phát ra nhiệt. Trong chế tạo máy bay tàng hình, người ta sử dụng vật liệu đặc biệt chịu nhiệt như composite chịu được 2.315 độ C, cao su, sơn chịu ma sát tốt phủ lên bề mặt thân máy bay để máy bay phát xạ nhiệt nhỏ dù cọ sát với không khí. Loa phụt của động cơ được thiết kế tối ưu nhằm làm giảm nhiệt, như tiêm kích tàng hình F-22 thì phần đuôi động cơ có cấu tạo hình răng cưa và dùng công nghệ laser khoan 600 lỗ nhỏ phun sướng, làm nguội loa phụt ra động cơ, nhiệt độ luồng khí phụt giảm tới 40%. Với cường kích F-117A người ta bố trí động cơ trong cánh, hướng luồng khí phụt lên phía trên, kết hợp cửa hút khí làm mát động cơ chính và phụ dọc theo thân để hòa trộn hai luồng khí nóng - lạnh, giảm nhiệt động luồng phụt, từ đỏ giảm tín hiệu hồng ngoại. Còn máy bay ném bom tàng hình B-2A, động cơ có lắp bộ trộn dòng khí, lấy không khí lạnh dẫn vào buồng đốt động cơ và tua bin, làm hạ thấp nhiệt độ mặt ngoài. Loa phụt động cơ nằm sâu bên trong thân máy bay, qua đó giảm đáng kể tín hiệu hồng ngoại. Một điểm chung trong thiết kế máy bay tàng hình, không chỉ của Mỹ mà cả của Nga, Trung Quốc là việc thiết kế khoang vũ khí nằm hoàn toàn trong thân để tối ưu hóa tính tàng hình. Tất nhiên, các máy bay này có thể mang vũ khí bên ngoài, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc nó từ bỏ khả năng tàng hình. "Vỏ quýt dày có móng tay nhọn" Có thể nói, máy bay tàng hình là bước đột phá trong lịch sử hàng không quân sự thế giới. Chúng là đối thủ rất "khó nhằn". Thực tế một số cuộc chiến tranh có sự tham gia của máy bay tàng hình chứng minh điều đó. Tuy vậy, bất kể loại vũ khí nào cũng đều có nhược điểm, luôn có cách để đối phó. Máy bay tàng hình cũng vậy. Kể từ khi nó ra đời, nhiều quốc gia nhanh chóng nghiên cứu phương án đối phó. Một trong những phương án điển hình, người ta vẫn sử dụng "mắt thần radar" biến hóa với những cải tiến mới, tăng khả năng phát hiện mục tiêu. Trước đây, một trạm radar thường làm cả 2 nhiệm vụ: phát sóng radar và thu nhận sóng phản xạ. Nhưng kỹ thuật tàng hình sẽ làm tán xạ radar đi theo hướng khác, không về máy thu. Vì vậy, người ta áp dụng hệ thống radar song trạm: trạm phát và trạm thu sóng ở 2 nơi khác nhau. Khi đó, khả năng thu được sóng phản xạ từ mục tiêu sẽ cao hơn nhiều. Các nhà khoa học thiết kế hệ thống radar đặt trên vũ trụ hoặc máy bay. Do máy bay tàng hình thường chú trọng phần dưới thân để đối phó radar mặt đất mà không coi trọng phần trên nên nếu dùng trạm radar đặt trên vũ trụ có thể dễ dàng phát hiện máy bay tàng hình. Ngoài ra, người ta có thể bố trí radar đặt trên khinh khí cầu tầng cao để trinh sát vật thể di động phía dưới. Một phương án khác là sử dụng hệ thống radar thụ động để phát hiện máy bay tàng hình. Khác với radar truyền thống phát hiện mục tiêu bằng cách "phát và thu sóng phản xạ", radar thụ động hoạt động theo nguyên tắc thu bắt tất cả các tín hiệu điện từ để phát hiện, bám bắt mục tiêu. Do tất cả các máy bay đều phải có thiết bị vô tuyến để liên lạc, đo cao bằng vô tuyến, thiết bị truyền số liệu… do đó dễ bị bộc lộ vị trí. Một điểm nữa, dù máy bay tàng hình áp dụng biện pháp để giảm tín hiệu hồng ngoại nhưng nó không thể triệt tiêu hẳn, vẫn còn tín hiệu tồn tại. Vì thế, người ta vẫn có thể sử dụng cảm biến quang điện để phát hiện mục tiêu. Hiện trên các máy bay tiêm kích, người ta cũng thường thiết kế hệ thống ngắm quang - điện có khả năng phát hiện nguồn nhiệt từ vài chục km. Cuối cùng, trong tác chiến phòng không nói chung (chống máy bay tàng hình nói riêng), vũ khí khí tài mới chỉ đóng góp một phần, quan trọng nhất vẫn là con người, chiến thuật, cách đánh… Kết hợp được tất cả những yếu tố này mới có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Theo Infonet
http://www.vietsn.com/forum/showthread.php?t=716527
| ||||
Posts tonen met het label chiến đấu cơ. Alle posts tonen
Posts tonen met het label chiến đấu cơ. Alle posts tonen
donderdag 17 april 2014
Khám phá công nghệ tàng hình của các chiến đấu cơ Mỹ
zondag 25 augustus 2013
Chiến đấu cơ Su-30 và F-16 được dùng nhiều nhất trên thế giới
Su-30 và F-16 được dùng nhiều nhất trên thế giới Friday, August 23, 2013 5:47:36 PM
Hồ sơ
Những máy bay Hoa Kỳ đều có một biệt danh, như Falcon, còn biệt danh Flanker là tên gọi của NATO đặt cho máy bay Nga.
Su-30 sử dụng ở Nga, Trung Quốc, Venezuela, Algeria, Uganda, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Việt Nam.
F-16 được dùng trong Không Quân Hoa Kỳ và 25 quốc gia khác.
Đây là những máy bay thuộc hạng chiến đấu cơ thế hệ thứ 4, nghĩa là chưa phải loại mới nhất hay tối tân nhất như chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.
Nhưng chiến đấu cơ thế hệ thứ 5, có thêm đặc tính đáng chú ý nhất là tàng hình nghĩa là khó bị địch phát hiện, hầu hết hãy còn ở giai đoạn phát triển và sản xuất chưa đi vào sử dụng. Ngoại trừ F-22 của Hoa Kỳ đã có khoảng 150 chiếc sử dụng từ năm 2005 và F-35 đang bắt đầu sản xuất; PAK FA của Nga, J-20 và J-21 của Trung Quốc mới chỉ được bay thử. Theo dự trù ít nhất 3 năm nữa, nghĩa là sau năm 2016, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 mới bắt đầu được sử dụng.
Cũng nên biết rằng giá trị chiến đấu không chỉ ở chính máy bay mà còn phụ thuộc nhiều nơi trang bị điện tử và vũ khí, do đó chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 chưa hẳn đã ưu việt hơn thế hệ thứ tư về tất cả mọi mặt. Vả lại, các chuyên gia cho rằng chỉ 10 năm nữa khả năng tàng hình như hiện nay sẽ không còn hiệu quả khi kỹ thuật điện tử có thêm những tiến bộ mới. Một số máy bay thế hệ 4 được trang bị hệ thống điện tử dò tìm và hệ thống vũ khí mới như F-18 Super Hornet của Hải Quân Hoa Kỳ được gọi là thế hệ 4.5. Nói cách khác, hàng chục năm nữa, chiến đấu cơ thế hệ 4 và thế hệ 4 cải tiến, sẽ vẫn còn là đối thủ của thế hệ 5 chứ chưa tới lúc về nghỉ hưu.
Bài viết khái quát này chú ý tới Su-30 và F-16 vì như đã nói, là hai loại máy bay chiến đấu đang được dùng phổ biến nhất, nhưng chỉ có sự đối chiếu chứ không phải so sánh, bởi lẽ mỗi loại có rất nhiều phiên bản khác nhau. Sự so sánh hai kiểu máy bay chiến đấu là vô nghĩa, với những tính năng, trang bị cũng như tùy thuộc vào từng nhiệm vụ chiến trường đang thi hành của nó.
Nặng và nhẹ
Su-30 là máy bay chiến đấu hạng nặng, hai động cơ phản lực đặt cạnh nhau trong thân, trọng lượng cất cánh tối đa 35 tấn.
F-16 là chiến đấu cơ nhẹ, một động cơ phản lực, trọng lượng cất cánh 20 tấn.
Thành công của chiếc F-4 Phantom II, chiến đấu cơ đa năng thế hệ 3, qua những kinh nghiệm ở chiến trường Việt Nam và Trung Đông, là bài học để công ty Sukhoi ở Liên Xô thiết kế chiếc Su-27 năm 1985. Su-30 với nhiều phiên bản khác nhau sau này là sự cải tiến và sửa đổi trên căn bản của S-27.
F-16 thoạt tiên được trù liệu là máy bay chiến đấu ban ngày, chủ yếu với sứ mạng tiêm kích, ngênh cản máy bay địch bảo vệ không phận, những phiên bản sau chuyển thành chiến đấu cơ đa năng sử dụng trong mọi thời tiết. Trừ một vài phiên bản, F-16 do một phi công điều khiển.
Su-30 là loại chiến đấu cơ đa năng do 2 phi công điều khiển. Cả hai loại F-16 và Su-30 đều có vận tốc tối đa khoảng Mach 1.2 ở mặt biển và Mach 2 trên cao độ, trần bay 50,000 feet, vận tốc thăng 250 mét/giây.
Nhưng F-16 chỉ có tầm hoạt động dưới 400 dặm nếu không mang bình nhiên liệu phụ hay được tiếp tế trên không. Su-30 có tầm hoạt động gấp hơn 2 lần và lâu tới 4 giờ. Đối với Việt Nam các máy bay Su-30MK2V đặt căn cứ ở phi trường Biên Hòa hay Thành Sơn, Phan Rang, có thể dễ dàng hoạt động trên không phận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Linh hoạt
Vì F-4 Phantom quá đắt tiền nên sau chiến tranh Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ muốn có một loại máy bay nhẹ thích hợp cho không chiến và sử dụng ít tốn kém hơn. Một cách đại cương, F-16 chỉ bằng ½ giá Su-30 và tiêu thụ nhiên liệu cũng ít hơn. Nhưng giá cả là một vấn đề quá phức tạp và không thể có tiêu chuẩn để so sánh. Giá của hai máy bay cùng loại có thể khác xa nhau, đôi khi đắt gấp rưỡi hay hơn nữa. Trước hết, một máy bay mới sẽ tính gồm cả chi phí không nhỏ về nghiên cứu phát triển, khác với máy bay đã đưa vào giây chuyền sản xuất hàng loạt. Tiếp đó là trang bị và vũ khí, phụ kiện, chi phí bảo trì, huấn luyện phi công cùng nhiều nhu cầu khác,…
Được chấp thuận dự án năm 1976 và bắt đầu chế tạo từ 1980, F-16 là máy bay chiến đấu đầu tiên dùng hệ điều khiển gọi là “fly by wire”, dùng giây điện qua computers. Khác với các máy bay cũ, phi công qua hệ thống giây cáp, bộ phận cơ khí, thủy lực, điều kiển các cánh nhỏ, đuôi, bánh lái để làm máy bay chuyển hưởng. Phương pháp mới giúp tăng khả năng linh hoạt, dễ dàng xoay trở của máy bay nhờ giảm nhu cầu ổn định bền. Khi phi công điều khiển trực tiếp bằng tay chân, máy bay sẽ an toàn hơn nếu tự quay trở về trạng thái ổn định ban đầu (static stability). Nhưng điều này cũng có nghĩa là cản trở những tác dụng truyền cho nó và phi công sẽ phải tiếp tục tác động. Với phương pháp “fly by wire”, computer nhận lệnh thi hành, sẽ điều chỉnh thích hợp mọi điều kiện của máy bay theo ý phi công, và tạo ổn định với tình trạng mới không cần thêm sự can thiệp khác.
Trong không chiến trước kia, điều quan trọng nhất là một máy bay chiến đấu có thể dễ dàng và mau chóng chiếm lãnh vị trí thuận lợi để sử dụng vũ khí. Vị trí lý tưởng là lòn ra phía sau máy bay địch, đuổi theo nổ súng hay phóng hỏa tiễn tầm nhiệt tìm theo hơi nóng tới ống thoát hơi của động cơ phản lực. Với tiến bộ của hỏa tiễn và hệ thống điều khiển điện tử, giao chiến trên không có thể diễn ra rất xa ngoài tầm nhìn của mắt.
Trong chiến tranh Việt Nam, F-4 C “Phantom” nặng nề hơn không thể linh hoạt bằng MiG-15, nhưng được ưu thế nhờ hệ thống điện tử và hỏa tiễn. Phi công thứ hai trên F-4 C có thể phát hiện ra địch trước qua màn hình radar, và tấn công từ phía trước, sau hay ngang – với hỏa tiễn Sparrow hoặc Sidewinder – rồi đổi hướng trốn tránh nếu địch không bị hạ.
Như vậy có lúc người ta đã cho rằng có thể hy sinh bớt khả năng linh hoạt. Nhưng các chiến đấu cơ thế hệ thứ 4, tính linh hoạt vẫn được xem là một yếu tố thiết yếu với không chiến trong hay ngoài tầm mắt nhìn. Phát hiện ra địch từ rất xa bằng hệ thống radar dò tìm và theo dõi di chuyển thật mau đến vị trí tốt nhất để phóng hỏa tiễn tấn công rồi tẩu thoát không để địch đuổi theo, đó là mục dích chính. Trong điều kiện này, cần mau chóng đạt tới vận tốc lớn và cao độ vì có lợi thế trong cả tấn công và tự vệ; vận tốc của máy bay cũng giúp thêm động năng cho hỏa tiễn phóng đi nhanh chóng tới mục tiêu. Các máy bay thế hệ thứ 4 đều sử dụng hệ điều khiển “fly by wire”.
Sukhoi Su-30 là loại chiến đấu cơ lớn và nặng nhưng có khả năng linh hoạt rất tốt nhờ hệ thống “thrust vectoring” (định hướng sức đẩy), phương pháp do Liên Xô áp dụng đầu tiên cho các máy bay chiến đấu Su-27 của họ. Ống thoát hơi của hai động cơ phản lực chĩa ra 32 độ theo chiều ngang với trục máy bay và có thể quay lên hoặc xuống 15 độ. Hệ thống này cùng với chuyển động quen thuộc của cánh, cánh nhỏ, đuôi, bánh lái giúp thêm hiệu quả cho sự chuyển hướng của máy bay.
Sản xuất
Đến nay F-16 đã ngưng sản xuất cho Không Quân Hoa Kỳ sau khi hơn 4,500 được đưa vào hoạt động, ngoại trừ nếu có nhu cầu xuất cảng cho tới 5 năm nữa. Su-30 bay thử lần đầu tiên năm 1989 và bắt đầu đưa vào sử dụng từ 1996. Đến nay đã có hơn 420 máy bay được sản xuất và còn tiếp tục với nhiều phiên bản thích hợp với những nhiệm vụ khác nhau của không quân, hải quân hay bộ binh. Su-30 cũng là mặt hàng xuất cảng vũ khí quan trọng của Nga. Đồng thời Sukhoi cũng hợp tác với Ấn Độ sản xuất phiên bản Su-30 MKI tại Ấn Độ.
Su-30 bán cho Việt Nam là Su-30 MK2V, do KnAAPO, một phân bộ của Sukhoi sản xuất, có ống thoát hơi định hướng và “canard” nghĩa là 2 cánh phụ nhỏ phía trước cánh chính, nhằm tăng ổn định bay. Tên này do Pháp đặt ra vì trông giống như con vịt bay và thường chỉ có ở những máy bay cánh tam giác không có đuôi phía sau.
Là chiến đấu cơ hạng nặng, Su-30 mang được nhiều bom đạn hơn F-16, bao gồm các loại hỏa tiễn không-không, không-địa, bom thường hoặc có điều khiển và một đại bác 30mm nòng xoay bắn nhanh. Cho tới giữa năm 2013, Việt Nam đã có 4 Su-30MK , 20 Su-30MK2V và hôm 21 tháng 8 loan báo mua thêm của Nga 12 chiếc Su-30 MK2 trị giá $450 triệu sẽ được giao trong năm 2014-2015. (HC)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=171831&zoneid=403#.UhpJU_nCS70
Hà Tường Cát/Người Việt
Sukhoi Su-30 'Flanker C' của Nga và General Dynamics F-16 'Fighting Falcon' của Hoa Kỳ là hai loại máy bay chiến đấu phản lực đang được sử dụng nhiều nhất trong không lực các quốc gia trên thế giới.
Máy bay chiến đấu đa năng Sukhoi Su-30MK2V Việt Nam mua của Nga. (Hình: RIA Novosti)
Những máy bay Hoa Kỳ đều có một biệt danh, như Falcon, còn biệt danh Flanker là tên gọi của NATO đặt cho máy bay Nga.
Su-30 sử dụng ở Nga, Trung Quốc, Venezuela, Algeria, Uganda, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Việt Nam.
F-16 được dùng trong Không Quân Hoa Kỳ và 25 quốc gia khác.
Đây là những máy bay thuộc hạng chiến đấu cơ thế hệ thứ 4, nghĩa là chưa phải loại mới nhất hay tối tân nhất như chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.
Nhưng chiến đấu cơ thế hệ thứ 5, có thêm đặc tính đáng chú ý nhất là tàng hình nghĩa là khó bị địch phát hiện, hầu hết hãy còn ở giai đoạn phát triển và sản xuất chưa đi vào sử dụng. Ngoại trừ F-22 của Hoa Kỳ đã có khoảng 150 chiếc sử dụng từ năm 2005 và F-35 đang bắt đầu sản xuất; PAK FA của Nga, J-20 và J-21 của Trung Quốc mới chỉ được bay thử. Theo dự trù ít nhất 3 năm nữa, nghĩa là sau năm 2016, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 mới bắt đầu được sử dụng.
Cũng nên biết rằng giá trị chiến đấu không chỉ ở chính máy bay mà còn phụ thuộc nhiều nơi trang bị điện tử và vũ khí, do đó chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 chưa hẳn đã ưu việt hơn thế hệ thứ tư về tất cả mọi mặt. Vả lại, các chuyên gia cho rằng chỉ 10 năm nữa khả năng tàng hình như hiện nay sẽ không còn hiệu quả khi kỹ thuật điện tử có thêm những tiến bộ mới. Một số máy bay thế hệ 4 được trang bị hệ thống điện tử dò tìm và hệ thống vũ khí mới như F-18 Super Hornet của Hải Quân Hoa Kỳ được gọi là thế hệ 4.5. Nói cách khác, hàng chục năm nữa, chiến đấu cơ thế hệ 4 và thế hệ 4 cải tiến, sẽ vẫn còn là đối thủ của thế hệ 5 chứ chưa tới lúc về nghỉ hưu.
Bài viết khái quát này chú ý tới Su-30 và F-16 vì như đã nói, là hai loại máy bay chiến đấu đang được dùng phổ biến nhất, nhưng chỉ có sự đối chiếu chứ không phải so sánh, bởi lẽ mỗi loại có rất nhiều phiên bản khác nhau. Sự so sánh hai kiểu máy bay chiến đấu là vô nghĩa, với những tính năng, trang bị cũng như tùy thuộc vào từng nhiệm vụ chiến trường đang thi hành của nó.
Nặng và nhẹ
Su-30 là máy bay chiến đấu hạng nặng, hai động cơ phản lực đặt cạnh nhau trong thân, trọng lượng cất cánh tối đa 35 tấn.
F-16 là chiến đấu cơ nhẹ, một động cơ phản lực, trọng lượng cất cánh 20 tấn.
Thành công của chiếc F-4 Phantom II, chiến đấu cơ đa năng thế hệ 3, qua những kinh nghiệm ở chiến trường Việt Nam và Trung Đông, là bài học để công ty Sukhoi ở Liên Xô thiết kế chiếc Su-27 năm 1985. Su-30 với nhiều phiên bản khác nhau sau này là sự cải tiến và sửa đổi trên căn bản của S-27.
F-16 thoạt tiên được trù liệu là máy bay chiến đấu ban ngày, chủ yếu với sứ mạng tiêm kích, ngênh cản máy bay địch bảo vệ không phận, những phiên bản sau chuyển thành chiến đấu cơ đa năng sử dụng trong mọi thời tiết. Trừ một vài phiên bản, F-16 do một phi công điều khiển.
Su-30 là loại chiến đấu cơ đa năng do 2 phi công điều khiển. Cả hai loại F-16 và Su-30 đều có vận tốc tối đa khoảng Mach 1.2 ở mặt biển và Mach 2 trên cao độ, trần bay 50,000 feet, vận tốc thăng 250 mét/giây.
Nhưng F-16 chỉ có tầm hoạt động dưới 400 dặm nếu không mang bình nhiên liệu phụ hay được tiếp tế trên không. Su-30 có tầm hoạt động gấp hơn 2 lần và lâu tới 4 giờ. Đối với Việt Nam các máy bay Su-30MK2V đặt căn cứ ở phi trường Biên Hòa hay Thành Sơn, Phan Rang, có thể dễ dàng hoạt động trên không phận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Linh hoạt
Vì F-4 Phantom quá đắt tiền nên sau chiến tranh Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ muốn có một loại máy bay nhẹ thích hợp cho không chiến và sử dụng ít tốn kém hơn. Một cách đại cương, F-16 chỉ bằng ½ giá Su-30 và tiêu thụ nhiên liệu cũng ít hơn. Nhưng giá cả là một vấn đề quá phức tạp và không thể có tiêu chuẩn để so sánh. Giá của hai máy bay cùng loại có thể khác xa nhau, đôi khi đắt gấp rưỡi hay hơn nữa. Trước hết, một máy bay mới sẽ tính gồm cả chi phí không nhỏ về nghiên cứu phát triển, khác với máy bay đã đưa vào giây chuyền sản xuất hàng loạt. Tiếp đó là trang bị và vũ khí, phụ kiện, chi phí bảo trì, huấn luyện phi công cùng nhiều nhu cầu khác,…
Được chấp thuận dự án năm 1976 và bắt đầu chế tạo từ 1980, F-16 là máy bay chiến đấu đầu tiên dùng hệ điều khiển gọi là “fly by wire”, dùng giây điện qua computers. Khác với các máy bay cũ, phi công qua hệ thống giây cáp, bộ phận cơ khí, thủy lực, điều kiển các cánh nhỏ, đuôi, bánh lái để làm máy bay chuyển hưởng. Phương pháp mới giúp tăng khả năng linh hoạt, dễ dàng xoay trở của máy bay nhờ giảm nhu cầu ổn định bền. Khi phi công điều khiển trực tiếp bằng tay chân, máy bay sẽ an toàn hơn nếu tự quay trở về trạng thái ổn định ban đầu (static stability). Nhưng điều này cũng có nghĩa là cản trở những tác dụng truyền cho nó và phi công sẽ phải tiếp tục tác động. Với phương pháp “fly by wire”, computer nhận lệnh thi hành, sẽ điều chỉnh thích hợp mọi điều kiện của máy bay theo ý phi công, và tạo ổn định với tình trạng mới không cần thêm sự can thiệp khác.
Trong không chiến trước kia, điều quan trọng nhất là một máy bay chiến đấu có thể dễ dàng và mau chóng chiếm lãnh vị trí thuận lợi để sử dụng vũ khí. Vị trí lý tưởng là lòn ra phía sau máy bay địch, đuổi theo nổ súng hay phóng hỏa tiễn tầm nhiệt tìm theo hơi nóng tới ống thoát hơi của động cơ phản lực. Với tiến bộ của hỏa tiễn và hệ thống điều khiển điện tử, giao chiến trên không có thể diễn ra rất xa ngoài tầm nhìn của mắt.
Trong chiến tranh Việt Nam, F-4 C “Phantom” nặng nề hơn không thể linh hoạt bằng MiG-15, nhưng được ưu thế nhờ hệ thống điện tử và hỏa tiễn. Phi công thứ hai trên F-4 C có thể phát hiện ra địch trước qua màn hình radar, và tấn công từ phía trước, sau hay ngang – với hỏa tiễn Sparrow hoặc Sidewinder – rồi đổi hướng trốn tránh nếu địch không bị hạ.
Như vậy có lúc người ta đã cho rằng có thể hy sinh bớt khả năng linh hoạt. Nhưng các chiến đấu cơ thế hệ thứ 4, tính linh hoạt vẫn được xem là một yếu tố thiết yếu với không chiến trong hay ngoài tầm mắt nhìn. Phát hiện ra địch từ rất xa bằng hệ thống radar dò tìm và theo dõi di chuyển thật mau đến vị trí tốt nhất để phóng hỏa tiễn tấn công rồi tẩu thoát không để địch đuổi theo, đó là mục dích chính. Trong điều kiện này, cần mau chóng đạt tới vận tốc lớn và cao độ vì có lợi thế trong cả tấn công và tự vệ; vận tốc của máy bay cũng giúp thêm động năng cho hỏa tiễn phóng đi nhanh chóng tới mục tiêu. Các máy bay thế hệ thứ 4 đều sử dụng hệ điều khiển “fly by wire”.
Sukhoi Su-30 là loại chiến đấu cơ lớn và nặng nhưng có khả năng linh hoạt rất tốt nhờ hệ thống “thrust vectoring” (định hướng sức đẩy), phương pháp do Liên Xô áp dụng đầu tiên cho các máy bay chiến đấu Su-27 của họ. Ống thoát hơi của hai động cơ phản lực chĩa ra 32 độ theo chiều ngang với trục máy bay và có thể quay lên hoặc xuống 15 độ. Hệ thống này cùng với chuyển động quen thuộc của cánh, cánh nhỏ, đuôi, bánh lái giúp thêm hiệu quả cho sự chuyển hướng của máy bay.
Sản xuất
Đến nay F-16 đã ngưng sản xuất cho Không Quân Hoa Kỳ sau khi hơn 4,500 được đưa vào hoạt động, ngoại trừ nếu có nhu cầu xuất cảng cho tới 5 năm nữa. Su-30 bay thử lần đầu tiên năm 1989 và bắt đầu đưa vào sử dụng từ 1996. Đến nay đã có hơn 420 máy bay được sản xuất và còn tiếp tục với nhiều phiên bản thích hợp với những nhiệm vụ khác nhau của không quân, hải quân hay bộ binh. Su-30 cũng là mặt hàng xuất cảng vũ khí quan trọng của Nga. Đồng thời Sukhoi cũng hợp tác với Ấn Độ sản xuất phiên bản Su-30 MKI tại Ấn Độ.
Su-30 bán cho Việt Nam là Su-30 MK2V, do KnAAPO, một phân bộ của Sukhoi sản xuất, có ống thoát hơi định hướng và “canard” nghĩa là 2 cánh phụ nhỏ phía trước cánh chính, nhằm tăng ổn định bay. Tên này do Pháp đặt ra vì trông giống như con vịt bay và thường chỉ có ở những máy bay cánh tam giác không có đuôi phía sau.
Là chiến đấu cơ hạng nặng, Su-30 mang được nhiều bom đạn hơn F-16, bao gồm các loại hỏa tiễn không-không, không-địa, bom thường hoặc có điều khiển và một đại bác 30mm nòng xoay bắn nhanh. Cho tới giữa năm 2013, Việt Nam đã có 4 Su-30MK , 20 Su-30MK2V và hôm 21 tháng 8 loan báo mua thêm của Nga 12 chiếc Su-30 MK2 trị giá $450 triệu sẽ được giao trong năm 2014-2015. (HC)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=171831&zoneid=403#.UhpJU_nCS70
vrijdag 15 februari 2013
Pháp bán chiến đấu cơ cho Ấn Ðộ, trị giá $12 tỉ
Pháp bán chiến đấu
cơ cho Ấn Ðộ, trị giá $12 tỉ Thursday, February 14, 2013 6:53:32
PM
NEW DELHI (AFP) - Hai nhà lãnh đạo của Pháp và Ấn Ðộ hôm Thứ Năm cho hay cuộc thương thảo về giao kèo chiến đấu cơ trị giá $12 tỉ hiện đang tiến triển tốt đẹp.
Tổng Thống Pháp Francois Hollande hy vọng rằng chuyến viếng thăm đầu tiên của ông ở Á Châu sẽ giúp thúc đẩy Ấn ký thỏa thuận mua 126 chiến đấu cơ của công ty Pháp Dassault Aviation, vốn được thương thảo từ Tháng Giêng năm 2012.
Ông Hollande và Thủ Tướng Ấn Ðộ Manmohan Singh cũng thảo luận về các thỏa thuận liên quan đến nhiều lãnh vực khác như năng lượng nguyên tử và hỏa tiễn phòng không tầm ngắn trong ngày đầu của chuyến công du.
Tuy nhiên, thỏa thuận về chiến đấu cơ Rafale được coi là vấn đề nóng bỏng nhất và tư lệnh Không Quân Ấn Ðộ tuần qua cho hay ông hy vọng sẽ có kết quả trước giữa năm nay.
Công ty Areva của Pháp cũng hy vọng sẽ ký được giao kèo xây nhà máy điện nguyên tử với công suất 9.9MW ở tiểu bang Maharashtra.
Thỏa thuận trị giá $9.3 tỉ này đã được đồng ý trong chuyến viếng thăm Ấn Ðộ năm 2010 của cựu Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy. Tuy nhiên, từ đó đến nay dự án xây cất bị cản trở vì lý do an toàn do có động đất trong vùng cũng như về môi trường. (V.Giang)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=161877&zoneid=1
NEW DELHI (AFP) - Hai nhà lãnh đạo của Pháp và Ấn Ðộ hôm Thứ Năm cho hay cuộc thương thảo về giao kèo chiến đấu cơ trị giá $12 tỉ hiện đang tiến triển tốt đẹp.
|
|
| Tổng Thống Francois Hollande của Pháp (trái) bắt tay Thủ Tướng Manmohan Singh của Ấn Ðộ tại buổi gặp gỡ ở New Delhi. (Hình: AP Photo/Manish Swarup) |
Tổng Thống Pháp Francois Hollande hy vọng rằng chuyến viếng thăm đầu tiên của ông ở Á Châu sẽ giúp thúc đẩy Ấn ký thỏa thuận mua 126 chiến đấu cơ của công ty Pháp Dassault Aviation, vốn được thương thảo từ Tháng Giêng năm 2012.
Ông Hollande và Thủ Tướng Ấn Ðộ Manmohan Singh cũng thảo luận về các thỏa thuận liên quan đến nhiều lãnh vực khác như năng lượng nguyên tử và hỏa tiễn phòng không tầm ngắn trong ngày đầu của chuyến công du.
Tuy nhiên, thỏa thuận về chiến đấu cơ Rafale được coi là vấn đề nóng bỏng nhất và tư lệnh Không Quân Ấn Ðộ tuần qua cho hay ông hy vọng sẽ có kết quả trước giữa năm nay.
Công ty Areva của Pháp cũng hy vọng sẽ ký được giao kèo xây nhà máy điện nguyên tử với công suất 9.9MW ở tiểu bang Maharashtra.
Thỏa thuận trị giá $9.3 tỉ này đã được đồng ý trong chuyến viếng thăm Ấn Ðộ năm 2010 của cựu Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy. Tuy nhiên, từ đó đến nay dự án xây cất bị cản trở vì lý do an toàn do có động đất trong vùng cũng như về môi trường. (V.Giang)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=161877&zoneid=1
Abonneren op:
Posts (Atom)