Posts tonen met het label Nguyễn Tấn Dũng. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Nguyễn Tấn Dũng. Alle posts tonen

vrijdag 5 februari 2016

Chặng đường lên voi xuống chó của Nguyễn Tấn Dũng và ảnh hưởng của Tập Cận Bình trong bàn cờ chính trị Việt Nam (Vũ Ðông Hà)

Chặng đường lên voi xuống chó của Nguyễn Tấn Dũng và ảnh hưởng của Tập Cận Bình trong bàn cờ chính trị Việt Nam


Vũ Đông Hà (Danlambao) - Ngày 10/01/2015, tại Hội nghị TƯ 10, BCHTƯ lấy phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Trong số 20 người được bình bầu, Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu bảng, Trần Đại Quang xếp hạng 7, Nguyễn Phú Trọng đứng thứ 8, Nguyễn Xuân Phúc gần cuối sổ ở thứ 15.

Hơn 1 năm sau, Nguyễn Tấn Dũng bị BCT và BCHTƯ loại ra khỏi bàn cờ quyền lực. Nguyễn Phú Trọng tiếp tục là Tổng Bí thư và kẻ đứng gần cuối sổ tín nhiệm năm trước bây giờ được chọn là Thủ tướng thay Nguyễn Tấn Dũng. 

Điều gì đã xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 1/2016?

Sau khi Nguyễn Tấn Dũng thắng thế trong Hội nghị TƯ 10, ngày 25.01.2015, Trung Nam Hải qua tờ Hoàn Cầu Thời Báo đã gián tiếp đặt Nguyễn Tấn Dũng ngồi vào ghế Tổng Bí Thư. Mặc dù về "diện", nội dung của tờ báo chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng là "đại diện phe thân Mỹ" nhưng về "điểm" thì đây là một tín hiệu được gửi đến từ Bắc Kinh "đại hội 12 là cơ hội duy nhất để Nguyễn Tấn Dũng trở thành TBT" và cũng là một cảnh báo "muốn vậy thì phải xa Mỹ gần Tàu".

Điều cảnh báo của Bắc Kinh đã được Nguyễn Tấn Dũng cấp tốc ghi nhận bằng chuyến tham quan vội vã đến Nhân Cơ, nóc nhà chiến lược Tây Nguyên mà Tàu cộng đang ngự trị ngay sau khi vừa củng cố xong quyền lực. Tại đây, vào ngày 09.02.2015, Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: "bùn đỏ vẫn an toàn". Những phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng mang nội dung về an toàn môi trường nhưng thực chất là một thông điệp gián tiếp gửi đến quan thầy Bắc Kinh về mặt chính trị để khẳng định sự thần phục và thái độ "gần Tàu"

Phải chờ đến ngày 30/4/2015 Nguyễn Tấn Dũng mới có được cơ hội để gửi thông điệp "xa Mỹ" đến Bắc Kinh. Trong bối cảnh kỷ niệm 40 năm ngày cộng sản thôn tính VNCH, Nguyễn Tấn Dũng đã ngoan ngoãn đáp trả yêu cầu "xa Mỹ gần Tàu" của quan thầy Bắc Kinh với bài diễn văn chửi Mỹ, cám ơn Tàu Cộng được truyền hình trực tiếp trên cả nước vào ngày 30/04/2015: 

"Đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối với đồng bào ta, đất nước ta" 

"Tại buổi lễ trọng thể này, một lần nữa chúng ta chân thành cảm ơn các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc". 

Phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng làm cho những kẻ ngấm ngầm hoặc công khai hỗ trợ ông ta, cho rằng ông ta là thành phần "cấp tiến", chống tàu và có thể là 1 Putin Việt Nam... hụt hẫng và im lặng trong ngỡ ngàng.

Thông điệp xa (chửi) Mỹ, gần (cám ơn) Tàu của Nguyễn Tấn Dũng là hy vọng của Dũng làm hài lòng Bắc Kinh. 

Quan trọng hơn cả, phát biểu 30/4/2015 chửi Mỹ thân Tàu của Nguyễn Tấn Dũng đã định vị bàn cờ chính trị trong nội bộ đảng trước đại hội XII: không có phe thân Mỹ, phe thân Tàu... Tất cả, toàn bộ UVTƯĐ đều (phải) là những kẻ thân Tàu. 

Thân Tàu. Đó mới chính là tiêu chuẩn cần thiết và sống còn cho con đường hoạn lộ của tất cả các UVTƯĐ. Ai thân Tàu nhiều hơn? Đó chính là cuộc đua của các lãnh đạo chóp bu trong những tháng bước vào Đại hội đảng XII.

Tuy nhiên, phát biểu 30/4 của Nguyễn Tấn Dũng đã có những hệ luận chính trị. Phải chăng những phát biểu "chửi Mỹ" đó của Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đến việc Hoa Kỳ trải thảm đỏ đón tiếp Nguyễn Phú Trọng và Obama tiếp người Tổng bí thư có tiếng là bảo thủ của đảng CSVN vào ngày 7/7/2015? Điều mà người ta có thể thấy được mà không thể chối bỏ là chuyến đi Hoa Kỳ và sự tiếp đón khá trọng thị của Toà Bạch ốc đã làm gia tăng uy thế của Nguyễn Phú Trọng trong nội bộ đảng.

Trong khi đó, Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục tìm cách gia tăng thanh thế bằng chiêu thức loại trừ đối thủ trong đảng. Đỉnh cao của nó là lần "cướp diễn đàn" Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân của Bộ Quốc phòng tại Hà Nội vào ngày 1/7/2015 song song với nguồn tin "Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa trị". Tình trạng của ông Thanh lúc đó làm người ta liên tưởng đến tình trạng của Phạm Quý Ngọ và Nguyễn Bá Thanh, trong đó có nhiều suy luận, đồn đoán về bàn tay của Nguyễn Tấn Dũng trong đến cái chết của 2 người này.

2 tuần sau, trước tình hình sôi động về những lời đồn đoán cho sự sống còn của Phùng Quang Thanh - người Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam trung thành nhất với Bắc Kinh qua câu nói "Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc", Bắc Kinh đã "vào cuộc". 

Ngày 16/7/2015 Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Trương Cao Lệ cấp tốc đến Việt Nam hội đàm với Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và sau đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đón tiếp ông ta tại trụ sở chính phủ. Trong chuyến đi này, Trương Cao Lệ cũng thông báo trước là Tập Cận Bình sẽ qua Việt Nam. 

Trong vòng 9 ngày sau, ngày 25/7 Phùng Quang Thanh được thông tin với hình ảnh chụp từ xa là đã trở về Việt Nam từ Paris và xuất hiện lần đầu tiên vào ngày 27/7 để dự chương trình giao lưu 'Khát vọng đoàn tụ' tại hội trường Bộ Quốc phòng. Lúc này, người ta thấy Phùng Quang Thanh với hình ảnh ngơ ngáo, không nói câu nào và gần như không phải chính ông ta.

Tháng 11, 2015 Tập Cận Bình sang Việt Nam. 

Trước đó 10 ngày, ngày 23/10/2015 Vương Gia Thụy, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Tàu dẫn đầu một phái đoàn sang trước và làm việc với Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Sinh Hùng. Kết quả của những cuộc làm việc này là sự xuất hiện của Tập Cận Bình để đọc bài phát biểu trước Quốc hội Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn cả, thông điệp mạnh mẽ và quyến rũ hơn cả là khoảng viện trợ 1 tỷ nhân dân tệ Bắc Kinh dành cho Ba Đình trong vòng 5 năm cùng với việc chuyển khoản vay ưu đãi 300 triệu USD cho dự án đường cao tốc Móng Cái-Vân Đồn và bổ sung khoản vay ưu đãi 250 triệu USD cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông.

Phiếu tín nhiệm của 200 UVTƯĐ chưa bỏ vào thùng hội nghị TƯ tương lai nhưng đã bắt đầu hướng về phía Nguyễn Phú Trọng trong đó rất nhiều bộ trưởng, bí thư tỉnh làm giàu được nhờ vào những công trình, dự án và khoản viện trợ của Bắc Kinh. 

550 triệu USD cho 2 dự án về đường cao tốc và đường sắt đô thị cộng với Dự án sân bay quốc tế Long Thành trị giá 18 tỷ đô la mà Nguyễn Phú Trọng đưa vào nghị trình trong hội nghị TƯ 11 giao thông vận tải đã kéo hẵn Đinh La Thăng và toàn bộ đàn em của Đinh La Thăng đứng về phía Nguyễn Phú Trọng.

Từ tháng 7 cho đến tháng 11, Nguyễn Phú Trọng và phe cánh của ông ta trở thành đối tác chính của Washington lẫn Bắc Kinh. Đó là hình ảnh và thế của Nguyễn Phú Trọng. Với vị thế này Nguyễn Phú Trọng đã thu phục được đa số thành viên Bộ Chính trị lẫn BCHTƯ và loại Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi danh sách đề cử vào Ban chấp hành TƯ khóa 12.

Kết quả là cái chết lâm sàng cho sự nghiệp chính trị của Nguyễn Tấn Dũng giữa đại hội đảng lần thứ 12.

28.01.2016


http://danlambao.blogspot.nl/2016/01/chang-uong-len-voi-xuong-cho-cua-nguyen.html

dinsdag 14 april 2015

Nguyễn Tấn Dũng không thể học thủ đoạn dối trá của Machiavelli do thiếu lý tưởng... mị dân (Ngô Nhân Dụng)

Nguyễn Tấn Dũng không thể học Machiavelli
Friday, April 10, 2015 6:49:05 PM






Ngô Nhân Dụng
Các lãnh tụ Cộng Sản rất giỏi trong nghề nói dối, và họ đã thành công trong việc đánh lừa dân nhiều lần. Chẳng hạn, năm 1945 Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương; mục đích là đánh lừa các tướng Tàu, đánh lừa các đảng phái quốc gia, và đánh lừa dân chúng cả nước Việt Nam. Bề ngoài, Đảng Cộng Sản không còn nữa, đến năm 1950 mới tái sinh dưới tên mới là Đảng Lao Động.
Nhưng từ 1945 tới 1950 Đảng Cộng Sản Đông Dương vẫn hoạt động, vẫn kết nạp đảng viên và thủ tiêu những người bất đồng ý kiến. Năm 1947 và 48, Hồ Chí Minh vẫn nhân danh đảng gửi thư cho Mao Trạch Đông. Một cuộc triển lãm năm 2007 tại Hà Nội còn trưng bày những điện văn Hồ gửi cho Mao mà Trung Cộng còn lưu giữ. Trong các thư này Hồ nhân danh “Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Đông Dương gửi Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Trung Quốc” (nguyên văn bản dịch chính thức). Bức thư ngày 18 tháng 4 năm 1947 viết, “Từ nay về sau tôi sẽ thường xuyên thông báo những tin tức và tình hình kháng chiến chống Pháp của Việt Nam và chính sách của đảng và chính phủ trong kháng chiến. Hy vọng các đồng chí có thể thường xuyên đề xuất ý kiến và góp ý.” Bức thư ngày 20 tháng 2 năm 1948 gửi lời mời, “Chúng tôi quyết định triệu tập đại hội đại biểu toàn quốc của đảng vào tháng 8, 1948. Hy vọng quý đảng chuẩn bị cử đại biểu đến dự đại hội để cung cấp cho chúng tôi kinh nghiệm cách mạng của các đồng chí, đồng thời hy vọng thông báo giúp bốn đảng anh em Liên Xô, Nhật Bản, Miến Điện, Ấn Độ cử đại biểu tham gia. Đường đến có hai tuyến, hoặc là từ Hương Cảng đến Châu Nam rồi tới Việt Nam, hoặc đến Xiêm La.”
Sau năm 1954, văn kiện Đảng Cộng Sản công khai thú nhận rằng việc tuyên bố giải tán đảng chỉ là một thủ đoạn đánh lừa. Nhưng lúc đó dân Việt đã chui vào rọ của đảng rồi, không ai dám hỏi tội lừa bịp cả.
Đảng Cộng Sản chuyên dối trá. Và đã thành công! Cho nên, nửa thế kỷ sau đám con cháu vẫn tiếp tục thói man trá. Khi lên làm thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố sẽ tấn công tham nhũng, còn to miệng thề thốt rằng nếu không diệt được tham nhũng sẽ từ chức. Để bắt đầu, Nguyễn Tấn Dũng thu tất cả các xí nghiệp quốc doanh vào trong tay mình. Rồi thành lập các doanh nghiệp nhà nước lớn, bổ nhiệm tay chân cầm đầu, như Vinashin, Vinalines. Được mấy năm, những vụ tham nhũng hàng tỷ Mỹ kim tại các doanh nghiệp này bị đổ bể. Khi bị hạch, Nguyễn Tấn Dũng trâng tráo chối biến trách nhiệm của mình: Tôi làm thủ tướng là do Đảng (Cộng Sản) bảo tôi làm, Đảng trao phó nhiệm vụ tôi phải nhận. Tức là mất mấy tỷ đô la nhưng không thằng nào con nào có tội hết!
Đảng viên Cộng Sản chuyên môn nói dối không phải vì cha mẹ họ dạy con như vậy, nhưng vì họ đã được đảng dạy. Họ vào đảng để “tranh đấu.” Đảng Cộng Sản ra đời để “đấu tranh giai cấp.” Mà trong các cuộc đấu tranh thì nói dối là việc bình thường: “Binh bất yếm trá.” Cho nên trước khi có chiến tranh Cộng Sản đã gài gián điệp khắp nơi rồi, gián điệp là đỉnh cao của nghề lừa bịp, được tuyên dương về tài lừa thầy phản bạn cũng không tự thấy thẹn thùng. Họ gọi nghề dối trá bằng cái tên “thủ đoạn chính trị.”
Các nhà chính trị phương Tây, dù Cộng Sản hay tư bản, đều biện minh cho thủ đoạn dối trá trong chính trị bằng những lý luận của Machiavelli. Nguyễn Tấn Dũng nghĩ rằng trong mười năm mọi người sẽ quên hết, không ai còn nhớ những lời cam kết chống tham nhũng nữa. Năm thế kỷ trước đây, Niccolo Machiavelli (1469-1527) viết cuốn Quân Vương (Il Principe) đã dạy rằng dân chúng như trẻ con, chúng rất mau quên. Hơn nữa, trong chương 18, Machiavelli nhắc lại điển tích đời xưa Achilles và các nhà lãnh tụ khác đều được các con Centaur Chiron nuôi dưỡng, con vật thần thoại này đầu người mình ngựa. Ông nói thẳng rằng các quân vương phải biết hành động theo lối “nửa người nửa thú,” cả hai không bỏ cái nào được.
Nhưng làm học trò của Niccolo Machiavelli không dễ. Nguyễn Tấn Dũng không thể cứ tiếp tục đóng vai “nửa người nửa thú.” Vì Il Principe không chỉ khuyên các nhà chính trị nói dối. Một quy tắc của Machiavelli là: Muốn gian dối phải làm cho mọi người tưởng rằng mình là người đáng tin! Thủ đoạn dối trá chỉ có thể thành công trong một số điều kiện, trong đó có phần chủ quan nơi người gian thi hành thủ đoạn. Nhà chính trị trước hết phải làm sao cho người ta tin rằng mình là người thành thật, đáng tin, không bao giờ dối trá.
Cho nên Machiavelli khuyên các lãnh tụ chính trị phải làm sao mọi người thấy mình là một người hiền từ, chung thủy, nhân đạo, chính trực, và có tín ngưỡng. Ông nhấn mạnh, “Điều cần thiết nhất là phải tạo hình ảnh mình là người có đức tính thứ năm,” tức là tín ngưỡng. Vào thế kỷ 16, điều này có nghĩa là các quân vương phải có bề ngoài của một người “ngoan đạo.” Chỉ khi nào nhà chính trị làm cho dân tin rằng mọi hành động của mình đều do một đức tin nhiệt thành chỉ đạo thì lúc đó mới có khả năng làm những việc dối trá. Như câu tục ngữ Ý từ thời đó đã nói, “Alexander nói những điều không làm, Cesare làm những điều không nói;” bởi vì cả vị giáo hoàng lẫn cậu con trai Cesare Borgia có thể khiến dân tin tưởng rằng họ có đủ năm đức tính, trong đó tín ngưỡng quan trọng nhất.

Các lãnh tụ Cộng Sản thời Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh đều áp dụng bài học Machiavelli dạy, và đều thành công trong cuộc đời đóng kịch của họ. Nhưng đến thời nay, đám con cháu của họ không thể dùng các thủ đoạn dối trá nữa. Dù có thể đóng kịch giỏi tạo hình ảnh đã đạt được bốn trong năm năm điều kiện mà Machiavelli khuyên bảo, nhưng điều kiện khó đóng kịch dối nhất là chứng tỏ một niềm tin.
Stalin, Mao, Hồ hay Pol Pot ít nhất cũng trình bày họ với hình ảnh những người nhiệt thành tin tưởng vào một chủ nghĩa. Bây giờ, Chủ Nghĩa Cộng Sản đã chết, không ai có thể chối cãi được. Kẻ nào còn tuyên dương giáo điều Cộng Sản, như Nguyễn Phú Trọng bắt buộc vẫn phải làm, thì chỉ khiến mọi người nhìn mình như một anh không “lú” cũng “khùng.”
Một người chính trị không thể dùng thủ đoạn dối trá nếu không chứng tỏ mình còn tin vào một lý tưởng hay khát vọng nào đó, một niềm tin được nhiều người chia sẻ.
Vladimir Putin vẫn dối gạt dân chúng và đang thành công, vì ông ta không còn dính dáng gì đến chủ nghĩa Cộng Sản nữa. Putin đã “cải đạo,” bây giờ dân Nga nhìn ông như một lãnh tụ cố gắng tái lập địa vị huy hoàng của nước Nga như thời các hoàng đế cũ. Các lãnh tụ Cộng Sản ở Bắc Kinh cũng không còn nói đến chủ nghĩa Mác-Lê Nin cũng như Mao Trạch Đông nữa. Họ thay thế cái áo khoác đó bằng niềm hy vọng vào một đế quốc Đại Hán mới. Còn những lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thì chưa dám xé bỏ ngọn cờ Mác Xít! Cho nên những thủ đoạn dối trá sẽ không hiệu nghiệm!
Mất cái áo khoác của một chủ nghĩa, các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang chỉ còn lo tranh giành quyền lực với nhau, lộ nguyên hình là những tay hoạt đầu chính trị. Những thủ đoạn chính trị kiểu Machiavelli không thể dùng được nữa. Bọn họ cũng không thể bắt chước Putin hay Tập Cận Bình, tự khoác cho mình những cái áo khoác mới. Vì người dân Việt đã thấy cả tập đoàn lãnh đạo đảng “hèn với giặc, ác với dân” như thế nào.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=205665&zoneid=7#.VSz1NumJi70

zaterdag 11 januari 2014

1 Triệu đô la Phạm Quý Ngọ nhận của Dương Chí Dũng để mang 'đập vào mặt' Trưởng ban Kiểm tra TƯ cứu 'CHÚA X'!

Saturday, January 11, 2014

1 Triệu đô la Phạm Quý Ngọ nhận của Dương Chí Dũng để mang 'đập vào mặt' Trưởng ban Kiểm tra TƯ cứu 'CHÚA X'!

 - Việc Dương Chí Dũng khai Phạm Quý Ngọ nhận 1.5 triệu đô la trước toà 'phụ' tức là toà xử em trai, có thể nói là một đòn vô cùng bất ngờ nên đã có nhiều người trở tay không kịp...

Thực chất Dương Chí Dũng đã khai từ khi Nguyễn Văn Hưởng và Phạm Văn Ngọ còn đang dọc ngang tung hoành nào biết trên đầu có ai. Vì vậy mà để giư 'cái gáo' của mình Dương Chí Dũng đã phải rút lại lời khai, viết thư xin lỗi Ngọ theo 'mách nước' của chính cán bộ điều tra dược điều từ Thái Bình ra đảm trách!
Nếu Dương Chí Dũng mở miệng tại phiên toà xử ông ta thì có thể chưa hết câu ông đã bị 'xơi' ngay một mũi thuốc độc dành cho tử tù mà ai đó đã chỉ đạo chuẩn bị sẵn!!!

Nhưng tại toà 'phụ' này không ai ngờ rằng Dương Chí Dũng bất ngờ lại trở thành 'kép chính'... NHờ vậy mà ông ta đã thoát chết!

Cả Ngọ và Hưởng đề là ân nhân của đồng chí X...
Chính từ miệng Ngọ trong bất cứ bên chén chè tửu nào đều khoe rằng chính ông ta đã 'cứu' Thủ Tướng một bàn thua trông thấy khi đang bị Trưởng ban kiêm tra Đảng Nguyễn Đức Chi 'truy sát' gần đến đường cùng trước Đại hội Đảng XI... 

Ngọ hào hứng kể rằng chính ông ta đa có sáng kiến mang 'cục gạch' 1 triệu đến 'đập vào mặt ông Chi với tối hậu thư "Nhận cục gạch này và rút lui trật tự không tấn công Thủ Tướng nữa hay tôi sẽ bắt vợ ông ngay lập tức..."!!! Nếu Ngọ không huyênh hoang thì chẳng ai biết được cái câu chuyện 'kỳ bí' này....Bởi quen thói du thủ du thục của tên cảnh sát 'đứng đường' từ mấy chục năm trước nên chính Ngọ lại tự vỗ ngực khai ra chính mình....

Ngọ nổi tiếng trong giới quan trường là loại ăn bẩn, nhưng 1 triệu đô la Dương Chí Dũng giao cho Ngọ, lần này Ngọ bấm bụng mang đến 'đập vào mặt' Trưởng Ban kiểm tra Đảng theo lời hứa với Chúa X! Ngay sau khi làm xong 'đập cục gạch vào mặt Chi' chính Ngọ đã cho tài xế 'phi' ngay đến báo cáo Chúa X cứ việc ăn ngon ngủ kỹ, phen này bọn Trọng Lũ và Tư móm sẽ bị ăn quả đắng Juda phản nghịch ở phút 89 thì trở tay không kịp.... Kịch bản đã diễn ra trước Đại hội XI đúng như lời 'tiên đoán' của Ngọ với Chúa X!

Cũng nhờ công trạng này mà Ngọ thay vì đến tuổi về hưu thì đã một bước lên Thứ Trưởng rồi Thượng Tướng ngon ơ...

Là người tính nhẩm rất giỏi, Ngọ tính ngay ra phép tính: Chỉ 'mất' một triệu đô phục vụ quan thầy, nhưng đổi lại không phải về nghỉ hưu, được lên chức, lên lon, vừa oai, vừa tiền vào như quân nguyên mà chẳng ai có thể đụng được lông chân Ngọ... 

Nhưng chẳng ai học được chữ NGỜ! Chính cái 1 triệu đô - đã không được 'ăn' để liều mình 'cứu CHÚA X' lại khiến Ngọ đang phải đối mặt với án tử hình- kể ra lần này Ngọ cũng đang phải chịu 'oan khuất'! Thế mới biết ăn trộm hàng ngàn lần không chết mà lại chết 'oan' bởi  cái lần 'làm nghĩa'!

Thám tử Quan
 

dinsdag 22 oktober 2013

Việt Nam : Tranh chấp quyền lực

Thứ ba, 22/10/2013



Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Tranh chấp quyền lực

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
CỠ CHỮ- +
Lâu nay, ở Việt Nam cũng như ở ngoại quốc, hầu như ai cũng biết sự mâu thuẫn gay gắt giữa ba người đứng đầu bộ máy cầm quyền tại Việt Nam: Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng; Trương Tấn Sang, chủ tịch nước; và Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng. Những mâu thuẫn ấy được bộc lộ rõ rệt qua các cuộc tranh chấp quyền lực kéo dài nhiều năm, thậm chí, như trong trường hợp giữa Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng, kéo dài nhiều thập niên, lúc cả hai còn là những cán bộ lãnh đạo cấp địa phương. Chúng không có gì bí mật cả. Mọi người đều biết.

Tuy nhiên, liên quan đến các mâu thuẫn ấy, có một khía cạnh đáng chú ý hơn: Cách xây dựng và củng cố quyền lực của mỗi người. Có lẽ, một lúc nào đó, khi những người trong cuộc lên tiếng, chúng ta sẽ có bức tranh đầy đủ hơn về điều này. Còn bây giờ, nhìn từ bên ngoài, điều chúng ta có thể thấy được là những chiến lược chung.

Chiến lược ấy, ở Nguyễn Phú Trọng, là nhắm đến việc tập hợp các lực lượng bảo thủ và giáo điều trong đảng, những người còn tin tưởng vào sức mạnh và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội (so với chủ nghĩa tư bản); ở Nguyễn Tấn Dũng, là ban phát ân huệ để mua sự trung thành của quân đội và công an (bằng nhiều cách, trong đó, có cách phong tướng cho thật nhiều người, ví dụ, riêng cuối năm 2012, có đến 49 tướng công an mới!)  và các giám đốc công ty quốc doanh, những nơi làm ăn béo bở nhất hiện nay.

So với Nguyễn Phú Trọng, chiến lược củng cố quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng coi bộ có hiệu quả hơn. Điều đó có thể thấy dễ dàng qua các cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai bên trong mấy năm vừa qua: Nguyễn Phú Trọng chỉ thắng ở vòng tranh chấp thuộc Bộ Chính trị (gồm, trước, 14 người; hiện nay, 16) nhưng lại thua Nguyễn Tấn Dũng ở cấp Trung ương đảng (bao gồm 175 người). Thua từ cuộc vận động thi hành kỷ luật đối với Nguyễn Tấn Dũng trong hội nghị Trung ương 6 (tháng 10/2012) đến cuộc vận động đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị trong Hội nghị Trung ương 7 (tháng 5/2013).

Thế còn Trương Tấn Sang? Trước, khi còn là Thường trực Ban Bí thư Trung ương đảng, có vẻ như ông khá được lòng giới trí thức. Nhiều người cho ông có tâm huyết và viễn kiến, khao khát làm một cái gì đó hữu ích cho đất nước. Tuy nhiên, từ sau Đại hội XI, khi ông lên làm chủ tịch nước, dường như niềm tin ấy dần dần nguội lạnh. Người ta không còn hy vọng hay chờ đợi gì ở ông nữa. Trương Tấn Sang cũng không thể cạnh tranh với Nguyễn Phú Trọng trong việc tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng giáo điều vốn từ lâu vẫn nghi ngờ ông. Ông càng không thể cạnh tranh với Nguyễn Tấn Dũng ở hai mặt trận: một, với các cán bộ trong quân đội, công an và doanh nghiệp vì trong tư cách chủ tịch nước, vốn chỉ là hư vị, ông không có gì để ban bố ân huệ cho họ; và hai, với dân chúng miền Nam, quê gốc của ông, ông cũng bị Nguyễn Tấn Dũng, cũng là người miền Nam, tranh giành quyết liệt. Ngay cả khi Trương Tấn Sang có liên minh với Nguyễn Phú Trọng, ông cũng không thể thắng.

Bởi vậy, không có gì lạ khi mấy năm gần đây Trương Tấn Sang chuyển hướng sang vận động quần chúng, những người dân bình thường. Ông thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ với cử tri, chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh. Ở các cuộc gặp gỡ ấy, bao giờ ông cũng tập trung vào một đề tài chính: chống tham nhũng. Khi hô hào chống tham nhũng, có lúc ông không ngần ngại chĩa mũi dùi thẳng vào Nguyễn Tấn Dũng, dưới cái tên đã đi vào lịch sử: “đồng chí X”. Hơn nữa, hầu như bao giờ ông cũng kêu gọi quần chúng chủ động và tích cực hơn nữa trong trận chiến chống lại tham nhũng – đôi khi được hiểu là chống lại “đồng chí X”.

Với những mục tiêu và chiến lược củng cố quyền lực khác nhau như vậy, khẩu khí của ba người lãnh đạo Việt Nam cũng khá khác nhau. Nguyễn Phú Trọng thường xuất hiện trong các hội trường với thính giả là các đảng viên, ở đó, ông lè nhè đọc các bài diễn văn cũ rích vốn thường được nghe trong mấy thập niên về trước, lúc chế độ Cộng sản chưa bị sụp đổ ở Liên xô và Đông Âu. Nguyễn Tấn Dũng thường xuất hiện trong các hội nghị với các cán bộ vừa có quyền vừa có tiền để huênh hoang báo cáo về các thành tích họ đã đạt được. Còn Trương Tấn Sang thường xuất hiện trong các cuộc họp mặt ở địa phương với áo sơ mi trắng có vẻ rất hiền lành và giản dị để nói về những thao thức của ông trước những vấn đề nghiêm trọng của đất nước.

Thật ra, trong cái gọi là “những vấn đề nghiêm trọng của đất nước” ấy, Trương Tấn Sang hoàn toàn né tránh những vấn đề bức thiết như quan hệ với Trung Quốc và vấn đề dân chủ hay nhân quyền ở Việt Nam. Ông chỉ tập trung chủ yếu vào một khía cạnh: tham nhũng.

Đóng vai tiên phong trong mặt trận chống tham nhũng, Trương Tấn Sang thường lặp đi lặp lại một số điểm: Một, ông hiểu và thông cảm với những bức xúc của quần chúng; hai, bản thân ông cũng bức xúc và sẽ sẵn sàng vứt bỏ mọi chức tước, trở về làm dân thường, sống một cách giản dị như mọi người khi ông cảm thấy không có cách nào thực hiện được ý nguyện của mình; và ba, kêu gọi mọi người tiếp sức với ông bằng cách can đảm tố giác bọn tham nhũng.

Nhắm vào các điểm ấy, có khi Trương Tấn Sang khá thành thực. Thành thực ít nhất ở hai điều. Thứ nhất, thừa nhận nạn tham nhũng đang tràn lan ở Việt Nam. Hình ảnh không phải chỉ một con sâu mà là “cả một bầy sâu” tham nhũng là của ông. Cách nói “làm gì cũng ăn hết trọi, loang lổ chỗ nào cũng có tiêu cực” cũng là của ông. Thứ hai, thừa nhận là đảng đã bế tắc trong việc chống tham nhũng: Họp hành, rất căng; chỉ thị, rất nhiều, nhưng tham nhũng vẫn hoàn tham nhũng; cuối cùng, ông kêu gọi: “mọi người cũng cần phải ra tay, chứ không còn cách nào”.

Dĩ nhiên, việc chuyển giao trách nhiệm chống tham nhũng từ các cơ quan chức năng sang quần chúng chỉ là một hình thức mị dân. Dân chúng tố cáo tham nhũng nhưng không có ai giải quyết hết thì sao? Hơn nữa, làm sao bảo vệ những người dân dám tố cáo tham nhũng? Thấp cổ bé miệng, mỗi lần tố cáo là một lần đối đầu với tai họa. Trương Tấn Sang cũng thừa biết, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cơ chế nào để bảo vệ người dân trong nỗ lực chống tham nhũng cả. Biết vậy, tại sao ông vẫn kêu gọi dân chúng vào một mặt trận mà ông biết chắc chắn sẽ vô hiệu? Thật ra, ông chỉ cần được lòng dân chúng mà thôi. Điều ông nhắm tới không phải là chống tham nhũng mà là tập hợp lực lượng cho ông.

Trước, không phải trong nội bộ giới lãnh đạo đảng không từng có các cuộc tranh giành quyền lực. Có. Hầu như lúc nào cũng có. Nhưng phần lớn chỉ tập trung trong nội bộ đảng viên, đặc biệt đảng viên cao cấp. Do đó, chúng nằm ngoài tầm mắt của dân chúng. Còn bây giờ, phạm vi để tranh thủ rộng hơn, không chỉ giới hạn trong Trung ương đảng mà lan ra mọi đảng viên, và thậm chí, cả quần chúng. Khi phạm vi tranh thủ mở rộng như thế, các thủ đoạn chính trị cũng trở thành lộ liễu hơn.

Trong chính trị, các thủ đoạn càng lộ liễu bao nhiêu càng mất tác dụng bấy nhiêu. Trong đó, cái mất lớn nhất là niềm tin.

  * Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
 

woensdag 2 oktober 2013

Vận mệnh của TT Nguyễn Tấn Dũng qua chữ ký

Vận mệnh của TT Nguyễn Tấn Dũng qua chữ ký
Vô Chiêu (Danlambao) - Sau bài “Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ”, Vô Chiêu nhận được nhiều email có kèm theo chữ ký của ông Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng và các câu hỏi về vận mệnh của ông ta. Bài viết thô thiển này xin được trả lời các câu hỏi đó và hy vọng có thêm nhiều góp ý của quý độc giả.

*

Là người ai cũng có tên,
Ký thành một chữ, vận liền hiện ra.
Mai sau, lành dữ đều là,
Hiện trên nét chữ, ấy là mệnh thân.

Vận mệnh là vận khí và sinh mệnh. Vận có lúc thịnh lúc suy, có khi bị bế tắc, khi thì hạnh thông. Vận chỉ tính ở giai đoạn trưởng thành (tuổi đôi mươi). Mệnh thường được đánh giá ở chữ thọ hoặc yểu, sinh hay tử. Thông thường hai chữ vận mệnh đi đôi là hàm ý nói về cát hung họa phúc, bao gồm giàu, nghèo, vinh, nhục, buồn, vui trong cuộc đời của mỗi người. Vận mệnh như một sức mạnh vô hình của tạo hóa, con người khó nắm vững hay chi phối được nó, mà ngược lại nó định sẵn và chi phối cuộc đời của con người.

Cổ nhân nói “Dân có Tuần, Nước có Vận”. Vận nước là vận khí của một quốc gia. Theo Kinh Dịch thì mọi việc trên đời đều biến đổi không ngừng. Có những việc xảy ra ngày hôm nay được bắt nguồn từ hôm qua và đó là nguyên nhân cho những việc xảy ra ở ngày mai. Lên đến đỉnh cao, tất phải rơi xuống. Xuống điểm thấp nhất, tất phải trồi lên. Cho nên, vận nước thịnh hay suy là tùy vào sự biến dịch theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ, hễ Âm thịnh thì Dương suy, nhưng khi Âm thịnh đến cực điểm của Thái Âm thì sẽ nhường chỗ trả lại cho Dương, khi Dương đến cực điểm của Thái Dương thì cũng sẽ nhường lại cho Âm (thuyết "Phản Phục" của Dịch lý).

Hiện nay, nhiều dấu hiệu cho thấy Âm (chế độ CSVN) đã và đang suy thoái trầm trọng, ngày càng xuống dốc thật sự, rất khó cứu vãn… ắt sẽ phải trả lại cho Dương. Quy luật tự nhiên “Âm cực Dương hồi”, mỗi sự vật khi đi đến cực độ phải biến là như vậy.

Vận mệnh con người cũng giống như vận nước, đều có những chu kỳ thịnh hay suy, tùy theo tuổi mà tính theo tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu. Vận nước theo chu kỳ của mỗi quốc gia đều khác nhau tùy theo yếu tố địa lý. Riêng vận nước Việt Nam thay đổi theo chu kỳ Tý Ngọ Mẹo Dậu (những năm giữa của 4 tam hợp).

Chu kỳ Tý Ngọ Mẹo Dậu

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, những biến chuyển và thay đổi chính trị quan trọng đều rơi vào chu kỳ những năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu.

Năm Tý

- Năm 1672 (Nhâm Tý), cuộc chiến Trịnh - Nguyễn kết thúc.

- Năm 1792 (Nhâm Tý), vua Quang Trung băng hà.

- Năm 1804 (Giáp Tý), nhà Nguyễn đặt quốc hiệu là Việt Nam.

- Năm 1840 (Canh Tý), vua Minh Mạng băng hà.

- Năm 1888 (Mậu Tý), hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Đốc Tích, Lưu Kỳ... nổi lên khiến giặc Pháp điêu đứng.

- Năm 1912 (Nhâm Tý), cụ Phan Bội Châu và Cường Để lập "Việt Nam Quang phục hội".

- Năm 1924 (Giáp Tý), Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Đông Dương tại Sa Điện (Quảng Châu), gây tiếng vang lớn trong công cuộc chống Pháp.

Năm Ngọ

- Năm 1054 (Giáp Ngọ), nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt, nói lên niềm tự hào dân tộc.

- Năm 1078 (Mậu Ngọ), đức Lý Thường Kiệt đại thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt. Bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà" là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên ra đời.

- Năm 1258 (Mậu Ngọ), quân dân Đại Việt chiến thắng quân Nguyên - Mông lần thứ nhất, quét sạch 30 vạn quân xâm lược ra khỏi đất nước.

- Năm 1282 (Nhâm Ngọ), nhà Trần mở Hội nghị Bình Than, bàn kế hoạch chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai.

- Năm 1426 (Bính Ngọ), đức Lê Lợi chiến thắng vẻ vang tại Tốt Động - Chúc Động.

- Năm 1786 (Bính Ngọ), cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi, anh hùng Nguyễn Huệ thống nhất đất nước.

- Năm 1930 (Canh Ngọ), Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm Mẹo

- Năm 1075 (Ất Mẹo), đức Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm.

- Năm 1459 (Kỷ Mẹo), vua Lê Nhân Tông bị người anh giết chết.

- Năm 1627 (Đinh Mẹo), Trịnh - Nguyễn bắt đầu phân tranh.

- Năm 1735 (Ất Mẹo), vua Lê Thuần Tông mất.

- Năm 1759 (Kỷ Mẹo), vua Lê Ý Tông mất.

- Năm 1771 (Tân Mẹo), Nguyễn Nhạc chiêu binh chống nhà Nguyễn.

- Năm 1783 (Quý Mẹo), Nguyễn Ánh thua trận phải lánh nạn ở Phú Quốc. 

- Năm 1819 (Kỷ Mẹo), vua Gia Long mất.

- Năm 1867 (Đinh Mẹo), cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết. Pháp tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc lãnh địa của nước Pháp.

Năm Dậu 

- Năm 937 (Đinh Dậu), đức Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc 1000 năm Bắc thuộc, mở đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc.

- Năm 1009 (Kỷ Dậu), Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý.

- Năm 1285 (Ất Dậu), đức Trần Hưng Đạo đánh bại 50 vạn quân Nguyên Mông xâm lược.

- Năm 1789 (Kỷ Dậu), vua Quang Trung thắng trận Đống Đa, đại phá 20 vạn quân Thanh xâm lược

- Năm 1885 (Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết tấn công giặc Pháp ở kinh thành Huế, đưa vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, phát động “Phong trào Cần vương” chống Pháp.

Lịch sử VN thời cận đại 

- Nạn đói năm 1945.

- Ngày 11/3/1945 (Ất Dậu), Nhật đảo chính Pháp và trao trả độc lập cho Việt Nam. Vua Bảo Đại ra "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre, khôi phục chủ quyền Việt Nam và chính phủ Trần Trọng Kim ra đời.

- Ngày 25/8/1945, Bảo Đại đọc Thuyên ngôn Thoái vị

- Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

- Hiệp định Geneve năm 1954 (Giáp Ngọ), chia cắt đất nước.

- Ngày 16/6/1954, ông Ngô Đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ tướng.

- Ngày 1/11/1963 (Quý Mẹo), Tổng thống Ngô Đình Diệm bị phe đảo chánh sát hại.

- Hồ Chí Minh qua đời ngày 2/9/1969 (Kỷ Dậu).

- Biến cố ngày 30/4/1975 (Ất Mẹo).

- Năm 2011 (Tân Mẹo), Nguyễn Phú Trọng lên làm Tổng bí thư, Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch Quốc hội và Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng thêm nhiệm kỳ 2.

Ấn tín

Ngày xưa chưa có chữ ký, chỉ có vua chúa và các quan lại mới dùng ấn tín mỗi khi phê duyệt một tờ trình hay công văn quan trọng. Ấn là dấu, là vật bảo chứng. Tín là tin, xác nhận. Ấn tín là con dấu chứng minh, có tác dụng xác nhận mệnh lệnh hoặc sự đồng thuận của vua chúa hay quan lại. Ấn tín của vua có loại đúc bằng vàng, bằng ngọc và gọi chung là bảo tỷ (quốc bảo ấn). Bảo tỷ được xem là trọng vật của quốc gia, như Bảo tỷ triều Nguyễn là loại ấn tín tượng trưng cho đế quyền của các vị vua.

Các ấn tín của nhà Nguyễn được chia làm hai loại: Loại ấn bằng vàng gọi là "kim tỷ" và loại ấn bằng ngọc gọi là "ngọc tỷ". Mỗi loại ấn đều có cách sử dụng riêng và dùng cho một loại công văn được chỉ định. Từ thời Nguyễn Phúc Chu đã có ấn bằng vàng, sau khi Gia Long lập ra triều Nguyễn, việc đúc ấn bằng vàng mới được chú trọng.

Tổng cộng trong thời Nguyễn (1802- 1883), nhà Nguyễn đã làm ra hơn 20 chiếc ấn bằng vàng và bằng ngọc, loại đúc bằng vàng chiếm đa số. Theo sử sách, các vua Nguyễn có nhiều ấn nhất trong lịch sử, 13 đời vua nhà Nguyễn có hơn 46 ấn. Trong đó, triều Gia Long có 6 ấn bằng vàng, triều Minh Mạng chế thêm 8 ấn, tất cả được xếp vào loại Quốc bảo.

Nếu căn cứ theo bản Dụ năm 1847 của vua Thiệu Trị, nhà Minh có 24 ấn, nhà Thanh có 25 ấn, thì số lượng ấn của triều Nguyễn cũng tương đương với 2 triều đại này. Trong 20 ấn đúc thời đầu nhà Nguyễn, có 6 ấn đúc thời vua Gia Long và 14 ấn đúc dưới thời vua Minh Mạng.

Chữ ký

Sau thập niên 1950, người biết đọc biết viết, nhất là giới trí thức khoa bảng đều có riêng một chữ ký. Chữ ký được xem như là một dấu ấn đại diện cho người ký. Còn xấu hay đẹp là tùy theo trình độ học vấn của mỗi người. Trong phạm vi vận mệnh, chữ ký xấu hay đẹp không đặt thành vấn đề, điều cần nhất là nét ký có tốt cho cuộc đời của người ký hay không.

Dưới mắt của nhà tướng học hay nhà chiết tự thì chữ ký của mỗi người như một cẩm nang, trong đó chỉ rõ quá khứ, vị lai về cuộc đời người ký. Tuy nhiên tùy theo trường phái, sự hiểu biết và kinh nghiệm, mỗi nhà chiết tự không nhất thiết phải xem giống nhau, mỗi người đều có phương pháp khác nhau nhưng tựu trung chỉ với mục đích tìm ra vận số của người ký.

Bà Huỳnh Liên Tử đánh giá người cầm viết ký như sau:

- Người cầm viết ký tên mà không cần biết cây viết còn mực hay không, hoặc đặt viết xuống ký liền, thì đó là người nhẹ dạ, chủ quan, khó làm việc lớn. Ngược lại, người cầm viết gạch thử một vài nét trước khi ký, đấy là người cẩn thận, chu đáo, thường thành công trong công việc.

- Người cầm viết ký tên mà đè rất mạnh gần rách tờ giấy, nét ký in hằn qua đôi ba lớp giấy bên dưới, đó là người có tánh nóng nảy, ưa gây gỗ, thích dùng bạo lực.

- Người cầm viết trước khi ký mà đưa viết qua lại để ướm thử, đấy là người có tánh đa nghi, thiếu chân thật, thích vẻ hào nhoáng bên ngoài.

- Người cầm viết thì không dựng đứng, khi ký lại dựng đứng cây viết để ký, đó là người tự cao tự đại, có tánh “thượng đội, hạ đạp”.

- Người cầm viết ký tên nhẹ nhàng như sợ hư giấy, đấy là người có tấm lòng vị tha bác ái, bình đẳng và biết thương người.

- Người chỉ dùng một cây viết để ký tên, đó là người khó tánh, ít bạn bè nhưng lại là người chung thủy, sẵn sàng giúp bè bạn trong cơn nguy khốn.

Luận chữ ký của ông Dũng


Chữ ký cần rõ nét, bình thường (không lập dị), không dài quá, không ngắn quá, không có nét cao quá hoặc thấp quá và cần nhất là quân bình so với lằn gạch bên dưới (nếu có).

Không biết ông Dũng bắt đầu chữ ký này từ lúc nào, nhưng cho dù bao lâu đi nữa thì nét ký vẫn hiện ra cho thấy quá khứ và vị lai vận vào cuộc đời ông. Người viết xin phân tích như sau:

- Chữ D đầu cao ráo, cho biết đường công danh sự nghiệp rất hạnh thông, có quới nhân giúp đỡ nên qua được những hiểm cảnh và bĩ cực của thời trẻ tuổi.

- Nét từ đầu chữ D kéo ngang qua phải cho thấy ông là người khôn ngoan. Loại người này khi đã có quyền lực thì sẽ không bao giờ để cho quyền lực bị chi phối hoặc quyền lợi bị xâm phạm.

- Nét chữ từ trên cao xuống quá thấp, nét nhỏ và không đều, thường là người có tâm địa nhỏ nhen, tỵ hiềm đố kỵ, luôn tạo sự nghi kỵ và chia rẽ trong hàng ngũ những người đồng cấp.

- Nét nhỏ đi xuống, kéo ra và bật lên theo đường gãy (như chữ v), cho thấy ông là người thích được nịnh, thích mua quan bán tước và nặng phần trình diễn.

- Nét đi lên như chữ L cho thấy rõ ông là người giàu có. Thay vì đá nét cong lên cao luôn thì quá vẹn toàn, nhưng lại ngưng bất thường (giai đoạn này là lúc gần 70 tuổi). Đây là nét xấu nhất trong chữ ký của ông Dũng.

Nguyên tắc chiết tự, khi nét chữ bị ngưng bất ngờ thì phải tính ngược lại chữ đầu, mà ngược lại chữ đầu thì thấy số 8 ngược và có chữ thập (đại hung). Tuổi cao niên như ông Dũng, chưa chắc những quới nhân thời trước còn sống để giúp ông thoát cảnh tù tội hay hiểm cảnh như cụ Diệm vào phút cuối.

Nếu ông Dũng nhận biết và thay đổi chữ ký thì ít nhất 6 tháng sau mới có hiệu quả. Tuy nhiên ông Dũng phải làm một việc lớn giúp dân, giúp nước thì may ra mới vượt qua hiểm cảnh. Nhưng thay đổi chữ ký vào những năm tháng cuối đời sẽ khiến ông thay đổi nơi cư ngụ, có thể phải sống lưu vong nơi xứ lạ quê người.


 

zaterdag 28 september 2013

Biểu tình chống lại Thủ tướng chính phủ Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng ở New York

Biểu tình chống TT Nguyễn Tấn Dũng ở New York

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-09-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

bt-305.jpg
Người Mỹ gốc Việt biểu tình chống sự có mặt của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sáng ngày 27 tháng 9 tại NY.
RFA



Vào lúc 11 giờ sáng ngày 27 tháng 9 (theo giờ Đông bộ Hoa Kỳ), hơn hai trăm người Việt Nam thuộc nhiều tiểu bang đã tập trung trước tòa nhà Liên Hiệp Quốc ở New York biểu tình chống sự có mặt của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.
Mặc Lâm được ông Nguyễn Văn Tánh, người điều hành cuộc biểu tình này tường trình tại chỗ như sau:
Nguyễn Văn Tánh: “Tôi là Nguyễn Văn Tánh, cựu chủ tịch cộng đồng người Việt Quốc gia tại Hoa Kỳ và cũng là New York. Tôi điều hành tổng quát cuộc biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng  ngày hôm nay. Xin trân trọng chào toàn thể quí vị.
Ngày hôm nay vào lúc 11 giờ sáng ,thứ sáu ngày 27 tháng 9, 2013, tất cả các phái đoàn đã tập trung tại địa điểm trước tòa nhà Liên Hiệp Quốc giữa đại lộ 1 và 2 để biểu tình chống lại Thủ tướng chính phủ Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng.
Quý vị cũng biết là cộng sản Việt Nam luôn luôn không tôn trọng, chà đạp quyền tự do của con người, đàn áp dã man các nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước. Vì lẽ đó, tất cả các cộng đồng miền Đông Hoa Kỳ đứng ra tổ chức cuộc biểu tình để chống Nguyễn Tấn Dũng.
bt-250.jpg
Người Mỹ gốc Việt biểu tình chống sự có mặt của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sáng ngày 27 tháng 9 tại NY.

Hôm nay có sự hiện diện của phái đoàn từ Canada, phái đoàn từ Texas, từ Bắc Cali và Nam Cali, Phái đoàn từ Georgia, Florida, Maryland, Virginia, phái đoàn New Hampshire, phái đoàn Massachuset, Connecticut, phái đoàn New York, Philadelphia và phái đoàn DC.... Tất cả các phái đoàn khắp mọi nơi qui tụ về đây để thực hiện cuộc biểu tình ngày hôm nay.
Chúng tôi nói lên tiếng nói về việc  Cộng sản Việt Nam vi phạm trầm trọng vấn đề nhân quyền và vi phạm tất cả các quyền làm người. Vì vậy, chúng tôi thưc hiện cuộc biểu tình để chống lại Nguyễn Tấn Dũng ngày hôm nay.”
Mặc Lâm: Xin anh cho biết tình hình biểu tình có trật tự hay không và cảnh sát có can thiệp vào đồng bào hay không?
Nguyễn Văn Tánh: “Thưa anh Mặc Lâm và thưa quí vị khán thính giả, hôm nay có nhiều quốc gia như Tây Tạng chẳng hạn và một số các đại diện như Pháp Luân Công đến đây biểu tình. Do vậy họ ngăn chận và chỉ cho mình một khoảng bề ngang chừng 2 mét rưỡi, bề dài chừng 40 mét và có hàng rào ngăn chặn để mình đứng trong cái vòng đó một cách trật tự.
Họ không cho mình ra ngoài vòng đó. Quý vị cũng biết tuần lễ này là tuần lễ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bởi vậy việc họ ngăn chận và khám xét. Họ không cho đem từ những cái cán  cờ nhỏ, tất cả những gì gây ảnh hưởng, gây thương tích thì họ đều cấm. Chỉ được đem những vật bằng giấy, nhựa hoặc bằng vải mà thôi.
Bởi vậy việc chúng tôi di chuyển bánh mì, nước uống cũng như tất cả thực phẩm để bà con tạm dùng bữa trưa tại đây gặp nhiều trở ngại nhưng chúng tôi cũng đã hoàn tất. Bà con cô bác về đây đã hô vang những khẩu hiệu và nói lên tiếng nói đại diện các phái đoàn cũng đã lên tường trình diễn biến cuộc biểu tình ngày hôm nay.”
Mặc Lâm: Thưa quí vị vừa rồi là tường trình trực tiếp cuộc biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng đang có mặt tại New York. Xin cảm ơn quí vị đã theo dõi.

vrijdag 16 augustus 2013

Hoàng Dũng, Cán bộ VPTƯ : Những bí ẩn về Nguyễn tấn Dũng – Võ văn Kiệt

Những bí ẩn về Nguyễn tấn Dũng – Võ văn Kiệt
Hoàng Dũng, Cán bộ VPTƯ, 09/10/2006
Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.
Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sĩ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ- Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng ông đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Ông ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm ông vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, ông ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
Hồi ấy phương tiện đưa đón ông chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của ông đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe ông nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ“, ông biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều ông lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi ông xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy ông mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của ông viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải ông đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho ông biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như ông thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, ông càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp ông tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của ông. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái ông, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà ông chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
Sau này khi Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với ông nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm ông, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp ông lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Ông tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của ông tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, ông ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm, thấy ông có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm ông vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng ông bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là ông muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
Vừa ngồi xuống là ông hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Ông lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
Bỗng ông ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất: Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
Theo ông Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng bác Hồ đang gặp những thiếu thốn khó khăn về tình cảm cá nhân và tình dục sinh lý, vì không muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ Tăng Tuyết Minh ở Trung quốc (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm).Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên bác Hồ đã có một mối tình với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ“), do vậy bác Hồ có một ấn tượng và ưa thích đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ ????. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam, giao liên…. một số cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được ông Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ ma cô kiếm gái đặc biệt này. Trong số các cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, ông Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là ông lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo ông Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và ông còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sĩ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
Sau buổi tối hôm ở nhà ông Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng bác Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá!
Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây.
Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sao đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp!
Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của ông Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó!

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
Những sự việc ông Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
Hà nội ngày 09 tháng 10 năm 2006
Hoàng Dũng, Cán bộ VPTƯ, 09/10/2006
(Nguồn: Thúy Nga Online)

http://danlambaovn.blogspot.nl/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-16-vo.html#more