Posts tonen met het label nhạc. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nhạc. Alle posts tonen

maandag 23 maart 2020

Tại sao phim, nhạc Nam Hàn chinh phục cả thế giới?

Tại sao phim, nhạc Nam Hàn chinh phục cả thế giới?

WESTMINSTER, California (NV) – Làn sóng văn hóa đại chúng của Nam Hàn (K-pop) tràn ngập khắp thế giới không phải là ngẫu nhiên. Đây là kế hoạch có tính toán kỹ lưỡng của chính phủ nước này, theo phóng viên Christine Ro của đài BBC. K-pop còn xâm nhập được cả quốc gia “khét tiếng kín cửa”: Bắc Hàn.
Geum Hyok Kim rất mê xem phim Nam Hàn, nhất là những phim cổ trang như “Dae Jang Geum.” Trước đây, ngày nào anh cũng xem. Ngoài ra, anh cũng thường xem video ca nhạc của các nhóm nhạc pop Nam Hàn như Girls’ Generation.
Nếu như ở những nước khác, sở thích này là bình thường, thì ở đất nước của Kim, đây là bất hợp pháp. Kim là dân Bình Nhưỡng, Bắc Hàn, nơi mà ai bị bắt đang xem hoặc buôn lậu băng đĩa nhạc, phim ngoại quốc thì có thể bị đưa đi trại cải tạo lao động, hoặc nặng hơn, là xử tử công khai.
Trường hợp của Kim là một trong rất nhiều bằng chứng cho thấy văn hóa Nam Hàn đã thực sự lan tỏa khắp thế giới.
Girls Generation là nhóm nhạc nữ Châu Á đầu tiên có năm video đạt hơn 100 triệu lượt xem trên YouTube. (Hình: Chung Sung-Jun/Getty Images)
Văn hóa Nam Hàn chinh phục cả thế giới
Chỉ trong vài chục năm, văn hóa Nam Hàn chinh phục cả thế giới. Kể từ khi nước này dân chủ hóa vào cuối những năm 1980, thì tất cả những việc như nới lỏng kiểm duyệt, giảm bớt hạn chế đi lại, và nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế đều góp phần giúp văn hóa Nam Hàn trở nên phổ biến toàn cầu. Chuyện này xảy ra không hề ngẫu nhiên.
Từ lâu, “hallyu,” nghĩa là “làn sóng Nam Hàn” về văn hóa, là công cụ xây dựng sức mạnh mềm (soft power) của chính phủ nước này. Không chỉ có Nam Hàn, nhiều quốc gia khác cũng đầu tư thành lập hội đồng văn hóa và các viện trao đổi văn hóa một phần là nhằm thực hiện những mục tiêu ngoại giao. Nhưng nỗ lực xây dựng sức mạnh văn hóa của chính phủ Nam Hàn đã gặt hái thành công nhanh đáng nể.
Có thể nói, Nam Hàn tham gia nền văn hóa đại chúng hiện đại từ mấy chục năm trước. Chẳng hạn, năm 1959, nhóm tam ca Chị Em Nhà Kim đến diễn lần đầu tiên ở Las Vegas, Nevada, và quay lại đây diễn nhiều lần nữa sau đó. Nhóm cũng từng xuất hiện 22 lần trong “The Ed Sullivan Show,” chương trình truyền hình tạp kỹ nổi tiếng trên đài CBS của Mỹ. Chị Em Nhà Kim được xem là “đại sứ văn hóa” của Nam Hàn và “những ngôi sao K-pop đầu tiên ở Mỹ.”
Nhưng “hallyu” chỉ mới thực sự bắt đầu sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cuối những năm 1990. Theo quyển sách mới, tựa đề “Ảnh Hưởng của Văn Hóa Đại Chúng Nam Hàn với Bắc Hàn,” chính phủ Nam Hàn “lấy mục tiêu xuất cảng văn hóa truyền thông đại chúng làm công cụ phát triển kinh tế, một trong những nguồn doanh thu từ nước ngoài mang tính sống còn, giúp nền kinh tế tồn tại và phát triển.”
Nhóm tam ca Chị Em Nhà Kim rất “ăn khách” ở Mỹ đầu những năm 1960. Trong hình, ba chị em đứng cùng danh ca Dean Martin. (Hình: en.wikipedia.org)
Năm 1998, ông Kim Dae-jung, người tự nhận mình là “Tổng Thống Văn Hóa,” tuyên thệ nhậm chức tổng thống Nam Hàn. Chính quyền của ông bắt đầu nới lỏng lệnh cấm sản phẩm văn hóa nhập cảng từ Nhật, mà Nam Hàn ban hành trước đó để trả đũa chuyện Nhật đô hộ Nam Hàn nửa đầu thế kỷ 20. Đầu tiên, truyện tranh “manga” được cấp phép trở lại. Năm sau, chính phủ đưa ra Luật Cơ Bản về Quảng Bá Kỹ Nghệ Văn Hóa, đồng thời, chi $148.5 triệu cho kế hoạch này.
Về âm nhạc, nhiều nhóm nhạc pop Nam Hàn nở rộ trong nước vào đầu những năm 1990. Nhóm Seo Taiji & Boys ra mắt khán giả lần đầu tiên trong chương trình tìm kiếm tài năng Nam Hàn năm 1992. Đây có thể được coi là sự khởi đầu của nền K-pop hiện đại, vì nhóm này kèm tiếng Anh vào lời bài hát và nhảy hip hop. Đến giữa những năm 1990, làn sóng K-pop đã lan tỏa khắp Nam Hàn.
Tuy nhiên, chính phủ muốn đưa văn hóa nước này ra khắp thế giới – và mọi chuyện bắt đầu từ cái mà họ không ngờ tới. Đó là phim truyền hình nhiều tập, còn gọi là K-drama. Ban đầu, loại phim này chỉ dành cho khán giả trong nước, nhưng sau đó, bất ngờ “hớp hồn” người xem ở nhiều quốc gia Châu Á và xa hơn nữa. Năm 2002, bộ phim “Bản Tình Ca Mùa Đông” trở thành hiện tượng toàn cầu, một phần là nhờ chính phủ Nam Hàn đạt được thỏa thuận với các đài truyền hình ở những điểm chiến lược, như Iraq và Ai Cập, chiếu bộ phim này để người dân ở đó có thêm cảm tình với Nam Hàn.
Thành công của K-drama ở hải ngoại giúp Nam Hàn nghĩ đến việc tính toán kỹ lưỡng để đưa K-pop ra thế giới. Vậy là hệ thống đào tạo ngôi sao K-pop ra đời, trong đó, người ta tuyển ca sĩ, huấn luyện nhiều năm trời, rồi cho đi diễn có tính toán cẩn thận. Phương pháp này đã đem lại thành công vang dội, nhiều nhóm K-pop bắt đầu nổi tiếng ngoài nước, như EXO. Nhóm nhạc nam này lên truyền hình lần đầu tiên năm 2011. EXO được đào tạo là nhóm Hàn-Trung, hát được cả tiếng Hàn lẫn tiếng Trung Quốc và trình diễn ở cả hai nước. Một năm sau, video ca nhạc “Gangnam Style” của nghệ sĩ Nam Hàn Psy trở thành video đầu tiên đạt một tỷ lượt xem trên YouTube (và còn khiến cả thế giới “điên cuồng” với điệu nhảy ngựa). Ông Ban Ki-moon, vị tổng thư ký Liên Hiệp Quốc người Nam Hàn thời đó, hết lời ca ngợi “Gangnam Style,” xem đây là con đường dẫn đến sự hiểu biết văn hóa.
Seo Taiji & Boys được xem là nhóm mở đầu nền K-pop hiện đại. (Hình: en.wikipedia.org)
Theo Liên Đoàn Kỹ Nghệ Ghi Âm Quốc Tế (IFPI), boy-band BTS của Nam Hàn là nhóm kiếm tiền nhiều thứ hai thế giới năm 2018, và là nghệ sĩ duy nhất không hát tiếng Anh lọt vào bảng xếp hạng này. Tính đến năm 2019, BTS chiếm $4.65 tỷ trong GDP của Nam Hàn, và là nhóm nhạc Châu Á đầu tiên vượt qua mức năm tỷ lượt nghe trên Spotify.
Nước này cũng đạt thành công trong lĩnh vực điện ảnh. Đặc biệt, năm nay, bộ phim “Parasite” của đạo diễn Nam Hàn Bong Joon-ho trở thành phim đầu tiên không nói tiếng Anh giành giải Phim Hay Nhất ở lễ trao giải Oscar của Mỹ, và đến nay, đã thu được hơn $50 triệu tiền vé tại các rạp chiếu phim ở Mỹ.
Điện ảnh, truyền hình, âm nhạc Nam Hàn được ưa chuộng nhiều đến mức các lĩnh vực khác cũng được “ăn theo,” như du lịch, ẩm thực, dạy và học tiếng Hàn. Xuất cảng mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc da cũng tăng vọt. Năm 2015, Nam Hàn xuất cảng đến $2.64 tỷ mỹ phẩm. Và năm 2017, Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-In công bố mục tiêu đưa điện ảnh, truyền hình và âm nhạc của nước này đến 100 triệu người trong vòng năm năm.
Với thế giới thì như vậy, còn với người anh em Bắc Hàn thì sao?
“Bản Tình Ca Mùa Đông,” bộ phim lấy nước mắt của biết bao khán giả khắp thế giới. (Hình: themoviedb.org)
Từ “làn sóng Nam Hàn” đến “làn gió phương Nam”
Bắc Hàn xem “hallyu” là thứ “vũ khí văn hóa” mà họ gọi là “nampung,” nghĩa là “làn gió Phương Nam.” Vì Bắc Hàn hầu như đóng cửa với thế giới, nên thông tin về văn hóa Nam Hàn ở Bắc Hàn chủ yếu là từ những người đào tị khỏi nước này, trong số đó có Geum Hyok Kim. Nhờ gia đình thuộc tầng lớp cao cấp, được hưởng một số đặc quyền nhất định, nên Kim được phép tiếp cận văn hóa ngoại quốc. Hồi anh còn học chuyên ngành Anh Ngữ ở đại học, các giáo sư của anh thường chiếu những bộ phim “bom tấn” của Hollywood trong lớp, như “Top Gun” và “Armageddon.”
Về phần mình, Kim thường cho bạn bè “xem ké” phim Nam Hàn. Có lúc, chuyện này khiến anh gặp rắc rối. Năm 15 tuổi, Kim bị thẩm vấn hai lần về tội “tàng trữ văn hóa ngoại quốc.” Cha anh phải chi tiền hối lộ các giới chức để cứu anh khỏi bị trừng phạt. “Văn hóa làm người ta can đảm,” anh nhớ lại. “Văn hóa cũng làm người ta tò mò về sự khác biệt giữa nước họ với nước khác, chẳng hạn như ở Bắc Hàn. Vậy là người dân bắt đầu không tin những gì chính quyền nói nữa,” Kim giải thích.
Boy-band EXO hát nhiều thứ tiếng, và được tôn vinh là “Những ông vua K-pop.” (Hình: Chung Sung-Jun/Getty Images)
Và một điều quan trọng, Kim được cho du học ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Bạn bè chung lớp của anh đều từ nhiều nước khác nhau đến. Họ thường cho anh xem phim tài liệu, sách vở về Bắc Hàn. Kim sửng sốt. “Giống như có vụ nổ big bang trong đầu tôi vậy,” anh kể. “Lúc đó tôi mới thấy những gì mình biết về Bắc Hàn là hoàn toàn dối trá.” Cuối cùng, Kim đành quyết định đào tị, mặc dù anh biết làm như vậy là coi như không những cắt đứt với gia đình mà còn khiến gia đình gặp nguy hiểm.
Xem phim lén lút kiểu như Kim là con đường chính để văn hóa Nam Hàn cũng như phương Tây xâm nhập Bắc Hàn. Nạn đói kinh hoàng ở nước này những năm 1990, năm Kim còn nhỏ, khiến người dân bớt tin tưởng chính quyền. Trong lúc tuyệt vọng, dân Bắc Hàn phải tìm đường buôn lậu để kiếm tiền mua thức ăn. Vậy là các mạng lưới buôn lậu quốc tế tuồn vô Bắc Hàn những món mà người dân có thể bán kiếm sống. Trong số đó có ổ USB chứa phim ảnh Nam Hàn, mà nếu bán được là đủ tiền chợ một tháng.
Hiện nay, vì Bắc Hàn có quan hệ thân thiết với Trung Quốc, nên nếu bị bắt gặp xem phim Trung Quốc thì cũng ít nghiêm trọng hơn bị bắt gặp đang xem boy-band BTS, chẳng hạn. Vậy mà dân Bắc Hàn vẫn cứ xem phim ảnh ngoại quốc ầm ầm. Có người kéo rèm cửa lại để xem hoặc giảm “volume” một bên tai nghe để coi chừng lỡ có người đi kiểm tra.
Văn hóa Nam Hàn xâm nhập Bắc Hàn cũng nhờ có công nghệ hiện đại. Những gia đình giàu có sắm được năng lượng mặt trời, giúp họ xem phim ảnh ngoại quốc liên tục, không bị gián đoạn do cúp điện, vốn là chuyện thường ở nước này. Một số ít người may mắn thì có điện thoại di động. Mặc dù chính quyền Bắc Hàn cấm phát sóng chương trình ngoại quốc trong nước, nhưng có người vẫn thưởng thức được, nhất là ở những vùng biên giới. Và ổ USB ngày càng trở nên phổ biến ở nước này, vì dễ buôn lậu hơn những sản phẩm kỹ thuật số khác như DVD.
Kể từ khi phát hành năm 2013 đến nay, “Gangnam Style” thu hút 3.5 tỷ lượt xem trên YouTube. (Hình: Ozan Kose/AFP via Getty Images)
“Làn gió phương Nam” đã tạo ra một số ảnh hưởng bất ngờ, chẳng hạn như với ngôn ngữ. Dân Bắc Hàn nào mà hay xem phim Nam Hàn thì giờ cũng xài tiếng lóng và giọng nói như diễn viên Nam Hàn. Một số lễ cưới ở Bắc Hàn bây giờ có hai phần: phần đầu chơi nhạc đã được chính phủ “duyệt,” phần sau bí mật đưa vào những nghi thức giống trong phim Nam Hàn. Kiểu trang điểm và thời trang Nam Hàn rất được dân Bắc Hàn ưa chuộng dù chính quyền chỉ cho phép để vài kiểu tóc và mặc vài kiểu quần áo nhất định. Nhưng quy định này gần đây dường như cũng trở nên lỏng lẻo, một phần là do ảnh hưởng của vợ Chủ Tịch Kim Jong-Un là bà Lee Seol-Ju, một người rất mê thời trang.
Văn hóa đại chúng làm mở mang trí óc
Phim ảnh, âm nhạc phương Tây cũng rất được yêu thích ở Bắc Hàn. Cũng như K-pop, những người đào tị cho biết những bộ phim như “Titanic,” và những ban nhạc như Westlife ngày càng giúp họ hiểu biết những điều mà chính quyền không nói cho họ biết. Thưởng thức văn hóa ngoại quốc dường như tác động đến lòng trung thành của dân Bắc Hàn đối với đất nước. Hầu hết những người Bắc Hàn đào tị gần đây đều nói là do bị phim ảnh hoặc âm nhạc Nam Hàn ảnh hưởng. Nhưng khi đến Nam Hàn, họ có thể “vỡ mộng” vì nhận thấy không phải ai cũng giàu có và không có lo toan. Vai trò nam, nữ trong xã hội Nam Hàn rất khác với Bắc Hàn cũng là chuyện phải mất thời gian để làm quen. Thời gian qua, dân Bắc Hàn đào tị gặp rất nhiều khó khăn hòa nhập với xã hội Nam Hàn. Tỷ lệ tự tử ở Nam Hàn đã cao, mà với dân đào tị, thì còn cao hơn gấp ba lần. Có người đành phải quay lại Bắc Hàn.
BTS là ban nhạc đầu tiên sau The Beatles có ba album đứng đầu các bảng xếp hạng ở Mỹ trong chưa đầy một năm. (Hình: Kevin Winter/Getty Images for iHeartMedia)
Ảnh hưởng của văn hóa, nhìn chung, vẫn còn hạn chế. Việc dân Bắc Hàn xem phim ảnh ngoại quốc “chỉ chứng tỏ họ bất mãn chính trị, nhưng chưa đến mức chuyển thành sự phản đối chính trị công khai,” bà Sunny Yoon, giáo sư ngành truyền thông Đại Học Hanyang ở Seoul, nhận xét. Bài hát, truyện tranh, chương trình truyền hình và phim ảnh chỉ giúp mở rộng kiến thức chứ không tạo ra thay đổi về chính quyền.
Như anh Kim nói, “trong phim ảnh, chúng ta có thể nhìn thấy những xã hội rất khác. Nhưng cũng có hạn chế. Chẳng ai nói đến dân chủ trong phim. Lúc nào cũng là chuyện yêu đương.” Nhưng phim ảnh cũng có vai trò rất quan trọng. “Văn hóa tuy mềm, nhẹ, nhưng có sức mạnh truyền thông tin đến mọi người,” Kim, hiện là sinh viên ngành chính trị và quan hệ quốc tế ở Seoul, nhấn mạnh. “Tôi tin vào sức mạnh của văn hóa.” (Thanh Long)
https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/phim-anh-va-am-nhac/tai-sao-phim-nhac-nam-han-chinh-phuc-ca-the-gioi/

dinsdag 18 februari 2014

Valentine: Người Pháp nghe nhạc gì khi làm "chuyện ấy"

Thứ bảy 15 Tháng Hai 2014
Valentine: Người Pháp nghe nhạc gì khi làm "chuyện ấy"
Người Pháp rất mê bản tình ca "L'Été Indien" của Joe Dassin (DR)
Người Pháp rất mê bản tình ca "L'Été Indien" của Joe Dassin (DR)
Tuấn Thảo
Hôm qua là ngày Valentine và nhân Ngày lễ Tình yêu, kênh âm nhạc Spotify cùng với trang web hẹn hò eDarling đã thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến : Bạn thích nghe tình khúc nào khi đang làm ‘‘chuyện ấy’’ ? Câu hỏi này không chỉ dành riêng cho người Pháp mà còn được đặt với cư dân mạng ở các nước Ý, Đức, Thụy Sĩ, Áo, Ba Lan hay Tây Ban Nha …
Kết quả thăm dò cho thấy, khi có người yêu thì thầm bên tai, thủ thỉ mơn trớn, vuốt ve tỏ tình, bản nhạc mà người Tây Ban Nha thích nhất vẫn là tình khúc "How Deep Is Your Love" của nhóm Bee Gees. Oldies but goldies : Nhạc xưa mà nhạc vàng. Hoá ra, dân Tây Ban Nha vẫn mê các tình khúc chưa phai mòn với thời gian. Thời buổi khó khăn nên không có gì bằng "ăn chắc mặc bền".
Người Đức thì say đắm với giai điệu "Someone Like You" của Adele, hiểu theo nghĩa một người nào đó giống như em (giống như anh). Điều này cho thấy dân Đức rất thời thượng : một tình khúc lãng mạn không nhất thiết phải là nhạc xưa, mà có thể rất tân kỳ trong giai điệu, mới lạ trong phong cách. Người Áo thì thiên về nhạc jazz với ca khúc "Come Away With Me" của Norah Jones : một lời nhắn nhủ, một tiếng gọi mời đôi tình nhân vào cõi thiên thai.
Còn về phía người Pháp, thì họ lại thích nghe hai nhạc phẩm : bài tiếng Anh Sexual Healing của Marvin Gaye, bài tiếng Pháp là "L'Été Indien" của Joe Dassin. Trong trường hợp thứ nhất, bài Sexual Healing theo bình chọn của cư dân mạng, cho thấy là thị hiếu của người Pháp giống như người Mỹ vì có hai giọng ca cực kỳ trầm ấm, nóng bỏng gợi tình thường được nhắc đến : đó là Marvin Gaye và ông hoàng nhạc tình Barry White.
Trường hợp thứ hai là bài "L'Été Indien" mà nguyên tác là một ca khúc tiếng Ý của tác giả Toto Cutugno. Người Pháp thích nghe bài này qua phần trình bày bằng tiếng Pháp của Joe Dassin, mà trong chương trình hôm nay RFI vừa hoà âm lại hai phiên bản tiếng Anh và tiếng Pháp thành một.   
Đó là trường hợp của những người đang yêu hay vừa mới quen nhau, nhưng còn đối với những người không còn yêu hay sắp chia tay nhau thì sao ? Trong số các bài hát được bình chọn về đầu vẫn là nhạc phẩm "With or Without You" của nhóm U2, kế đến có "Pour que tu m'aimes encore" của Céline Dion và "Goodbye My Lover" của nam ca sĩ James Blunt.
Người Pháp đặc biệt yêu chuộng bản tình ca "L'Été Indien" một phần cũng vì họ yêu mến giọng ca của Joe Dassin, mà gần đây được sống lại nhờ album song ca ảo với Hélène Ségara. Người Pháp thích nghe tình khúc "L'Été Indien" có lẽ cũng vì bài hát có điệp khúc cực kỳ lãng mạn với những câu như sau : Chỉ cần em muốn nơi đâu, đôi ta sẽ đi nơi đó. Tình ta muôn thưở sống mãi, cho dù yêu thương đã chết, cho dù ngày mai có hết.
Ngày trở lại của dòng nhạc rock U2
Nhóm U2 trở lại trên tột đỉnh ! Ban nhạc người Ai Len vừa tung ra video clip mới cho bản nhạc "Invisible " (Vô Hình), đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ 13 ghi âm trong studio, chuẩn bị phát hành vào ngày 31/03/2014. Chỉ vài ngày sau khi ra mắt ca khúc mới trên mạng trực tuyến, nhóm U2 trình làng một video clip để minh họa cho ca khúc này.
Những hình ảnh đầu tiên đã được công bố trên sóng truyền hình nhân kỳ tranh giải Super Bowl tại Hoa Kỳ vào đầu tháng Hai. Được đưa lên mạng phát hành trực tuyến ngay sau đó, ca khúc này đã được tải về ba triệu lần chỉ nội trong 24 tiếng đồng hồ.
Sở dĩ bài hát được các fan nhiệt tình hưởng ứng, là vì nhóm U2 đã cam kết là mọi số tiền thu về sẽ được tặng cho tổ chức phi chính phủ RED, nhằm quyên góp tài trợ Quỹ toàn cầu chống bệnh AIDS, bệnh lao và sốt rét. Bản nhạc "Invisible " là phần tiếp nối album trước của ban nhạc U2, về mặt ý tưởng cũng như sắc thái, không có gì khác bịêt cho lắm so với tập nhạc "No Line On Horizon ", phát hành vào tháng Hai năm 2009.
Bài hát cũng giúp cho ban nhạc rock khai thac đà thành công của họ vì cách đây vài tuần, phiên bản hoà âm lại của bài ca khúc "Ordinary Love" đã đọat giải Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất, do bài hát đã được phối lại cho bộ phim Đường dài đến tự do (Long Way to Freedom), kê rlại cuộc đời và sự nghiệp của Nelson Mandela. Thành công đó mở đường cho nhóm U2 đi tranh giải Oscar vào ngày đầu tháng Ba năm 2014, vì ca khúc cũng được đề cử trong hạng mục ca khúc nhạc phim hay nhất.
Kylie bị kiểm duyệt vì quá sexy !!!
Ca sĩ người Úc Kylie Minogue phải chăng quá sexy ? Dù gì đi nữa hình bìa CD mới của cô đã bị kiểm duyệt trong tuần này tại Ả Rập Xê Út. Ca khúc vừa được phát hành của cô mang tựa đề "Into the Blue" chỉ có một chữ Kylie mài nâu in trên phong nền trắng. Các nước vùng Vịnh khác nếu có đăng hình thì chỉ đăng chân dung, chụp cận ảnh, thay vì đăng hình chụp nguyên người.
Đây không phải là lần đầu tiên các quốc gia hồi giáo, trong đó có các nước vùng Vịnh Ba Tư, hay các nước châu Á theo đạo Hồi như Indonesia và Malaysia kiểm duyệt hình ảnh của các diva nhạc pop. Ảnh chụp Rihanna ngực trần trên bìa tập nhạc gần đây nhất của cô "Unapologetic" bỗng nhiên biến mất, Katy Perry cũng bị kiểm duyệt với album "One of the Boys", Mariah Carey buộc phải thay đổi hình bià tập nhạc "Rainbow", ảnh khỏa thân của Christina Aguilera cũng bị xóa , trên tập nhạc " Lotus"…
Giới trẻ Tây phương thích phong cách của Kylie mà họ cho là rất sexy, trong khi các nước vùng Vịnh thì không chấp nhận một cách ăn mặc mà họ cho là quá hở hang. Bài hát "Into the Blue" là trích đọan đầu tiên của album thứ 12 hợp tác với nhóm Skylar Grey mà Kylie chuẩn bị phát hành đầu tháng Ba.
Bài hát "Into the Blue" coi vậy mà ‘‘hiền hơn’’ các bài hát khác ghi âm trên cùng một abum với tựa đề là Kiss Me Once (Hôn ta một lần), vì chủ đề mà cô ca sĩ người Úc đề cập đến lần này là tình yêu của mọi giới : bản "Sexy Love" nói về sự cám dỗ của dục vọng, "Sexercize" đề cập trực tiếp đến chuyện chăn gối, còn "Les Sex" thì nói về quan hệ đồng tính nữ. Không biết là một abum và các bài hát có tựa đề táo bạo như vậy có thóat khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt hay không ?
Giải Victoires de la Musique 2014
Hôm qua 14/02/2014 là Ngày Valentine. Làng nhạc Pháp đã chọn Ngày Lễ Tình Yêu để trao giải thưởng âm nhạc thường niên Victoires de la Musique. Kỳ trao giải thưởng âm nhạc của Pháp lần thứ 29 đánh đấu sự thành công của hai ca sĩ Stromae và Vanessa Paradis.
Stromae đã thành công ngoạn mục nhờ ba giải thưởng quan trọng, dành cho giọng ca nam, album và video clip xuất sắc nhất. Sự thành công đó không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì đã được dự báo từ trước. Bất ngờ hay chăng là sự thành công của Vanessa Paradis, bởi vì đây là lần thứ ba trong vòng 20 năm sự nghiệp cô được trao giải và mọi người đều nghĩ rằng nữ ca sĩ Zaz và nhóm Lili Wood có nhiều triển vọng đoạt giải hơn cả. Dù gì đi nữa thì giải Victoires de la Musique 2014 sẽ giúp cả Stromae lẫn Vanessa Paradis khai thác đà thành công.
Tập nhạc Racine Carrée của Stromae tính đến nay đã bán hơn một triệu rưỡi album, trong khi tập nhạc Love Songs của Vanessa hợp tác với Benjamin Biolay đã xấp xỉ nửa triệu bản. Ngày Valentine, nhiều đôi tình nhân ở Pháp thường rủ nhau đi chơi xa. Venise thành phố thơ mộng trên nước là một trong những địa điểm lý tưởng. Cổ thành Roma cũng vậy như trong nhạc phẩm Week End à Rome qua phần thể hiện của Vanessa Paradis, tiếng hát dịu dàng của Cánh chim địa đàng.
TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa
 

zaterdag 28 september 2013

Nhạc Việt Nam : Đong đưa cùng Nhạc Muồi

Đong đưa cùng Nhạc Muồi (phần 1)
Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - Không thể có một áng văn hay, không thể có một lời nhạc bay bổng mà thiếu tự do trong đó... Đó là sự thật, chí ít 38 năm qua, kể từ ngày "đảng đã cho em cuộc đời mới", "đảng chỉ cho em đường đi tới" (!) Chính thể cộng sản đã bóp nát tâm hồn và tính sáng tạo của tuổi trẻ ngay từ những bài học đầu đời, trước khi họ trở thành một nhà soạn nhạc tự do đúng nghĩa của nó. Trong số các nhạc sĩ, ca sĩ hiện nay, quá khó để tìm ra một người nghệ sĩ của nhân dân, chứ không phải loại "nghệ sĩ nhân dân" của tư tưởng bố thí!...

*

Tôi không muốn gọi dòng nhạc mà chúng ta bàn luận ở đây với cái chữ "nhạc sến". Nó trở nên miệt thị một cách thiếu hiểu biết về âm nhạc nói riêng và nền văn hóa - nghệ thuật nói chung của Việt Nam. Do vậy, tôi xin phép gọi dòng nhạc này là: Nhạc Muồi - như nhiều người hay gọi.

Chữ "Muồi" thường gắn liền với trái cây chín. Chín một cách ngọt ngào, thơm mát tới tận ruột gan người dùng và nó chín một cách tự nhiên theo quy luật tạo hóa, không phải là "chín ép" (trong miền Nam gọi là chín "dú") hay dùng hóa chất như ngày nay chúng ta thấy vì mục đích lợi nhuận trên hết. 

Cũng nên phân biệt "chín muồi" với "chín rục".

Nhạc Muồi, Cải Lương và Tân Cổ Giao Duyên

Khi người nghệ sĩ Cải Lương cất giọng cho bản Vọng Cổ người ta thường khen giọng hát đó: "Hát muồi quá!". Đó có phải làm cho Nhạc Muồi thật gần gũi với Vọng Cổ như cái tên của dòng nhạc này nên được trân trọng hơn là chữ "nhạc sến"? 

Tôi là người miền Nam, cụ thể hơn: người Sài Gòn, nên không rành rẽ về văn hóa miền Bắc. Nói như thế không có nghĩa phân biệt hay kỳ thị vùng miền, bởi văn hóa miền Bắc mà tôi cảm nhận, hấp thụ và thích thú, học theo hầu như do những người miền Bắc di cư từ những năm 1954 mang lại. Tôi có vài người bạn như thế mà tôi rất quý trọng. 

Chúng ta đều biết, nhạc cổ truyền Việt Nam dựa trên "ngũ cung" thay vì "thất cung" như nhạc phương Tây.

Miền Bắc có Chèo Cổ thì miền Nam có Cải Lương [1], tất nhiên Chèo Cổ có từ rất xưa so với Cải Lương. 

Cải Lương mà thiếu Vọng Cổ, không còn là Cải Lương nữa. Bên cạnh Vọng Cổ, trong Cải Lương còn các bài bản khác [2]: Nam Ai, Nam Xuân, Khốc Hoàng Thiên v.v... Nền tảng của Vọng Cổ xuất phát từ bài "Dạ Cổ Hoài Lang" của nhạc sĩ Cao Văn Lầu [3]. 

Dù không biết chắc chắn khoảng thời gian nhạc phương Tây du nhập vào Việt Nam, nhưng có lẽ nó xưa như... thời những người Pháp đầu tiên vừa đặt chân lên mảnh đất này? 

Tuy nhiên, điều tôi muốn sẻ chia ở đây: người "mang nặng đẻ đau" loại hình "Tân Cổ Giao Duyên" là nhạc sĩ đáng kính - Viễn Châu [4]. Ông hiện đang sống tại Sài Gòn như "Cây Đại Thụ Vọng Cổ" với tuổi 90.

Lịch sử của bài "Tân Cổ Giao Duyên" đầu tiên hình thành như Nhạc Sĩ Viễn Châu cho biết [5]: 

Lúc ấy, ở Sài Thành có hàng chục hãng đĩa ra đời để sản xuất đĩa ca vọng cổ phục vụ cho giới mộ điệu. Các hãng đĩa trong những năm cuối 1950, đầu 1960 cạnh tranh với nhau gay gắt nên soạn giả thời đó rất uy tín, được các hãng đĩa săn đón nồng nhiệt. Chính sự cạnh tranh đã khiến các soạn giả phải suy nghĩ để tìm ra cái mới cho bài vọng cổ của mình. Sau nhiều đêm ấp ủ, bài tân cổ giao duyên đầu tiên "Cô hàng chè tươi" [*] của ông ra đời. Khi viết bài tân cổ giao duyên, ông đã mạnh dạn rút ngắn phần vọng cổ (bỏ câu 3 và 4) để đưa tân nhạc vào, tạo thành bài tân cổ giao duyên hoàn chỉnh. Khi ông viết xong bài tân cổ giao duyên Cô hàng chè tươi (khoảng năm 1960) thì vẫn chưa biết đặt tên nó là gì. Mãi sau này, ông mới đặt tên cho nó là tân cổ giao duyên.

Không ngoa ngôn để nói: không có Nhạc Muồi không thể có Tân Cổ Giao Duyên. 

Có thể nói, loại hình Tân Cổ Giao Duyên đã làm nên một cuộc "tân cách mạng" Cải Lương một lần nữa, sau cái tên "Cải Lương" vốn có như Giáo Sư Trần Văn Khê đã phân tích trên nhiều diễn đàn từ lâu.

Như trích dẫn nêu trên, nhạc phẩm "Cô Hàng Nước" (thể loại tân nhạc, nhưng mang âm hưởng dân ca Quan Họ rất nhiều) của nhạc sĩ Vũ Huyến (một nhạc sĩ người miền Bắc) đã tạo cảm hứng cho Nhạc Sĩ Viễn Châu sáng tạo ra loại hình Vọng Cổ mới vào lúc bấy giờ. Dù có một số người trong giới có phần thủ cựu chê bai khi nó ra đời, nhưng loại hình này nhanh chóng được chấp nhận như là một sáng tạo hết sức độc đáo, tân kỳ đánh đúng vào nhu cầu người thưởng thức vào lúc đó.

Trên tinh thần giao thoa văn hóa hai miền Bắc - Nam, văn hóa Đông - Tây, "Cây Đại Thụ Vọng Cổ" Viễn Châu đã để lại trong lòng giới chuyên môn và cả công chúng một nét son cho âm nhạc Việt Nam không phai nhạt theo thời gian.

Hầu như không nhạc sĩ nào "dám" viết Tân Cổ Giao Duyên với "Nhạc Kích Động" [**], bởi nó quá "chỏi" nhau, đặc biệt về tiết tấu, nó tỏ ra khó hòa hợp, nếu không nói, nó sẽ bị biến thành "tân cổ vô duyên".

Dù loại hình Cải Lương hiện nay gần như bị suy vong như Chèo Cổ hay Hát Bội, nhưng Tân Cổ Giao Duyên vẫn còn chỗ đứng trên sân khấu, dù rất ít trong thời đại hiện nay. Điều đáng nói, loại hình này lại được gìn giữ và phổ biến từ các trung tâm ca nhạc hải ngoại như: Thúy Nga, Asia, Vân Sơn trong các kỳ đại nhạc hội, chứ nó không rộng rãi ngay tại Sài Gòn [***]. 

Cải Lương chỉ có vài chục bài bản quanh đi quẩn lại, người soạn lời cứ thế mà theo để đặt lời mới. Đó phải chăng là một trong những hạn chế lớn của Cải Lương làm cho khán giả nhàm chán? Nhịp điệu có phần lê thê, chậm buồn và phần lớn bài bản nghe não nuột, làm cho Cải Lương có lẽ như là đặc trưng để phản ánh và phù hợp với nền văn hóa nông nghiệp lạc hậu? 

Cải Lương đứng trước nguy cơ "diệt vong", có lẽ vì không còn đáp ứng nhu cầu hiện nay, đặc biệt giới trẻ. Nó chắc rồi sẽ chịu chung số phận với Chèo Cổ, Hát Bội cũng như Kinh Kịch của Trung Quốc. Có chăng, nó sẽ tồn tại ở dạng "bảo tồn" như là một nét văn hóa truyền thống để giới thiệu với nước ngoài về một thời hoàng kim trăm năm của nó?!

Nhắc đến Cải Lương không thể không nhắc đến những giọng ca một thời, vừa sang trọng mà nồng nàn, vừa ấm áp lại giản dị: Phùng Há, Thành Được, Hữu Phước, Út Trà Ôn, Thanh Sang, Mỹ Châu, Thanh Nga, Phượng Liên, Ngọc Giàu v.v... 

Đa số những nghệ sĩ tên tuổi thời bấy giờ, do nhiều yếu tố, đặc biệt do xuất thân từ các vùng miền Tây Nam Bộ khi xưa với gia cảnh khốn khó, làm cho họ không có được một đời sống học hành tới nơi tới chốn như nhiều người cùng thời bấy giờ. Không biết quá khứ đó có trở thành "phiên bản" như một "cô thôn nữ", dù đẹp mặn mà, nhưng thiếu sự "kiêu sa", "đài các" đối với những nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ tự cho rằng mình "sang"... "như tây"? 

Lực lượng nghệ sĩ Cải Lương kế thừa ngày càng vơi dần và hụt hẫng nghiêm trọng, không còn gì cứu vớt nổi. Từ thanh cho đến sắc, từ lương tâm nghề nghiệp cho đến say mê cống hiến, cứ ngày càng rơi rụng và nhạt nhòa. Hiện nay, một khi giới trẻ có giọng hát như các "tiền bối" một thời, chắc chắn họ chẳng bao giờ "đầu quân" vào... Cải Lương, bởi nó đồng nghĩa đi vào ngõ cụt cho tương lai. 

Đó là quy luật không tránh khỏi, khi gắn Cải Lương với vấn đề tiến hóa xã hội và hội nhập quốc tế ngày nay.

Một số người, cả dân trong giới "chơi" nhạc, đặc biệt dạo sau này trong nước (những năm 1990 trở lại đây) có vẻ có thành kiến và xem rẻ Nhạc Muồi? Nói đến Nhạc Muồi đối với bộ phận này, nó có vẻ gần với sự quê mùa, lạc hậu, nghèo hèn, thậm chí pha lẫn một chút "sự thương hại" trong ánh nhìn của họ? Thấp thoáng sự hợm hĩnh, kiêu căng của thói "trưởng giả học làm sang", khi họ không nghiên cứu thấu đáo để hiểu rằng: giáo dục tử tế không có nghĩa được tính qua "bằng cấp", đặc biệt "bằng cấp" của Liên Xô và các nước trong phe cộng sản của những năm còn mạnh cũng như vừa sụp đổ?! Tôi không có ý coi thường người dân Liên Xô ngày xưa và các nước Đông Âu, mà chỉ muốn lên án, vạch trần tác hại của chế độ cộng sản ảnh hưởng thế nào đến lĩnh vực nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng.

Không ai dám viết Tân Cổ Giao Duyên bằng cách kết hợp Chèo Cổ - Nhạc Muồi hay Hát Bội - Nhạc Muồi và cũng không thể gắn Quan Họ Bắc Ninh hay Ca Trù với Nhạc Muồi. Do đó, có thể nói Nhạc Muồi là sản phẩm độc đáo của miền Nam (không có nghĩa nhạc sĩ và ca sĩ người Bắc không viết và ca được, thậm chí họ viết và ca rất... muồi là đằng khác). Ở đây ý nói, Nhạc Muồi là "đặc sản" có một không hai của Việt Nam, sản sinh từ cái nôi miền Nam. 

Có một số nghệ sĩ hát Tân Cổ Giao Duyên bằng giọng Huế (cặp Minh Vương - Vân Khánh với bài "Chiếc nón bài thơ"), tạm chấp nhận được, nhưng nó không phổ biến rộng rãi bằng giọng thuần Nam Bộ.

Đoàn cải lương Chuông Vàng của miền Bắc, tôi không nghiên cứu thành lập từ khi nào, nhưng có dạo những năm đầu sau 1975, có nghệ sĩ hát Vọng Cổ bằng giọng thuần Bắc, thật khó làm người nghe chấp nhận, do đó nó mau chóng bị bỏ qua. Sau này có nghệ sĩ Thanh Thanh Hiền ca Vọng Cổ bằng giọng Nam Bộ có thể tạm chấp nhận được, nhưng giọng vẫn khá "cứng", không thể che giấu với đôi tai người Nam Bộ. Thanh Thanh Hiền so với các nghệ sĩ người miền Bắc như: Bích Sơn - giải Thanh Tâm 1960 [6], Thanh Vy (nghệ sĩ miền Bắc hát Cải Lương sau 1975), vẫn còn khoảng cách lớn về cảm thụ Vọng Cổ để hát mềm mại, uyển chuyển hơn.

Trong vở tuồng nổi tiếng Tô Ánh Nguyệt, khi tranh luận giữa hai người cha về "tống cựu nghinh tân" và "thủ cựu bài tân", có câu: Nước biển dùng làm muối, nước ngọt dùng trồng lúa, còn nước lợ thì người ta không biết làm gì.

Học hỏi là tính tốt, nhưng trong nghệ thuật nói chung cũng như âm nhạc nói riêng, nó có những khắc nghiệt riêng, nếu không hiểu ra thì dễ bị mang tiếng đua đòi, đèo bồng, đặc biệt "dây thanh đới" là của trời cho, đúng nghĩa. Không ai giống ai và không gì có thể thay thế dây thanh đới giữa người này với người khác, bất chấp có rèn luyện bao nhiêu năm, có cố bắt chước cỡ nào đi chăng nữa. 

Tạo hóa vẫn giữ độc quyền về sáng tạo những điều con người không lý giải được, khi thượng đế ban cho người này dây thanh đới kiểu này và phát cho người khác dây thanh đới kiểu khác. Do đó, có người trở thành ca sĩ chuyên về Rock, Jazz, có người chuyên về Nhạc Muồi v.v... có người hát "được" nhưng không bao giờ trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Tất nhiên để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, không chỉ có một dây thanh đới phù hợp mà còn nhiều yếu tố khác, trong đó không thiếu điều mà người ta hay gọi là "Nghiệp".

Những thú vị của Nhạc Muồi.

Có thể nói Nhạc Muồi là nỗi cứu rỗi cho Vọng Cổ (bài bản chính của Cải Lương). Hơn 50 năm trước, nếu Nhạc Sĩ Viễn Châu không sáng tạo "Tân Cổ Giao Duyên", có lẽ Cải Lương nói chung và Vọng Cổ nói riêng đã nói lời "chia tay" trên diện rộng với khán giả sớm hơn?

Nhạc Muồi khá gần gũi với Cải Lương bởi giai điệu, tiết tấu (nghĩa là đa số bài hát chậm, buồn). Nó cũng chỉ vài điệu nhạc, chủ yếu là Boléro, Rumba, hiếm "cao trào" trong bài hát, với "tone thứ" làm chủ đạo. Đôi khi người ta bắt gặp những điệu chachacha, tango được "đánh" lả lơi một chút cũng tạo ra một bản Nhạc Muồi rất muồi mẩn và mê ly, làm đắm say lòng người.

Hình như những bài "tone trưởng" khó làm bật lên cái đặc trưng của "Nhạc Muồi"?

Ai đó đã nói: Một bản nhạc buồn chưa chắc đã đi vào lòng người, nhưng một bản nhạc đi vào lòng người thường là một bản nhạc buồn. Điều này có lẽ đúng cho không chỉ riêng Nhạc Muồi.

Việt Nam, cho đến ngày nay vẫn chưa thoát khỏi nỗi buồn. Một nỗi buồn lớn lao của cả dân tộc dưới ách cai trị bạo ngược cùng chính sách ngu dân của cộng sản!

"Nhạc buồn" trở thành nơi cho "Nhạc Muồi" thỏa sức vẫy vùng sáng tạo. 

Nét đặc biệt thú vị của "Nhạc Muồi" không hẳn ở điệu nhạc mà phần cốt lõi chính là lời hát mang lại cho khán giả. Lời trong các bản Nhạc Muồi bảng lảng, bồng bềnh mà lại thiết tha, sâu lắng xen lẫn nỗi bùi ngùi, tiếc nuối; bất chấp đó là một nỗi nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ bạn, nhớ tình nhân đã bỏ ra đi, nhớ về tuổi hoa niên hay nhớ người yêu của lính hoặc hoài vọng về quê cũ - nơi ta lớn lên và buộc phải rứt ruột chia lìa, cùng nhiều tâm trạng khác. Một số người nhìn Nhạc Muồi dưới góc độ "ủy mị", "bi quan", thiếu tinh thần..."lạc quan cách mạng" (!) có lẽ từ đó tạo ra "phong trào" đả kích và giết chết nhạc vàng nói chung và Nhạc Muồi nói riêng, sau ngày "giải phóng"?

Viết "Nhạc Muồi", về phần nhạc không phải quá khó, nhưng phần lời đòi hỏi người soạn nhạc phải vô cùng tinh tế và phải đong đầy cảm xúc chân thật. Điều này liên quan đến văn chương rất lớn. 

Nhạc Muồi và văn chương.

Văn chương trong Nhạc Muồi, ngoài năng khiếu trời cho, nó đòi hỏi một sự trải nghiệm, gọt giũa, chắt lọc cùng tính nhạy bén của một tâm hồn nhân ái để sao cho hòa quyện phần lời thật "ăn ý" với phần nhạc. Người nhạc sĩ chuyên sáng tác dòng nhạc này, tuyệt đại đa số, họ là những người "văn hay chữ tốt". 

Nói đến văn chương là nói đến giáo dục. Ở đây, chúng ta đề cập đến nền giáo dục khai phóng và nhân bản. Một nền giáo dục như thế mới có tự do làm nền cho mọi sáng tác (sáng tạo) thăng hoa. Vậy là, "đụng đến" giáo dục "nhồi sọ" mang tính khuôn mẫu, công thức, đặt nặng về kỹ thuật viết và đạo đức giả khi còn ngồi trên ghế nhà trường từ những năm đầu trẻ làm quen với văn chương. 

Khái niệm "văn mẫu" - một khái niệm quái dị và phi nhân tính - mà lớp trẻ sau này hứng chịu gây tác hại to lớn; không chỉ về việc hình thành nhân cách, đạo đức mà còn tác động lên cả lĩnh vực âm nhạc (không chỉ Nhạc Muồi) mà chúng ta đang bàn luận ở đây. Văn chương ngày nay hầu như không còn là nơi nuôi dưỡng, vun bồi tâm hồn hiền lương và trung thực cho thế hệ trẻ. Đó là điều vô cùng đau xót cho Việt Nam hiện nay!

Có vẻ người cộng sản chưa bao giờ nhận thấy họ tàn phá - mà tôi gọi (nhẹ nhất) là "ác hồn nhiên" - văn chương một cách... "vô tư" từ (ít nhất) 38 năm qua. 

Giới cầm quyền cộng sản hình như chưa bao giờ chịu chiêm nghiệm, đúc kết và rút ra những bài học cay đắng khi nhiều năm sau "giải phóng" họ đã xem rất nhẹ vai trò văn chương mà chỉ chú tâm và "lèo lái" nó đi vào "con đường trụy lạc" mang tên "chính trị". 

Cao hơn, cai thứ "văn chương" sau "giải phóng" đã lần hồi làm tha hóa tâm hồn người Việt và nô dịch cho "lý tưởng cộng sản" - một lý tưởng không tưởng, mơ hồ, phi nhân tính. 

Thế hệ trẻ ra đời, lớn lên, tiếp nối "tiền bối" cộng sản bằng những tâm hồn xơ cứng, khô cằn, đua chen, đố kỵ, giành giựt chỗ đứng trong "làng" và họ đầy hận thù, nhỏ nhen, bẩn chật thông qua nhiều "nhà văn", "nhà thơ", nhiều "nhạc sĩ", "ca sĩ", "diễn viên", "đạo diễn" sống trong sự "nuôi nấng" và "chăm sóc" từ "vòng tay" "đảng ta" (!). Lớp người này không thể nào là "hạt từ tâm" như Trịnh Công Sơn đã viết. 

Nhạc Muồi góp một phần không nhỏ cho "hạt mầm từ tâm" đâm chồi vươn lên đón ánh dương ban mai buổi sớm. Nhẹ nhàng và thanh thoát. Thánh thiện mà giản dị như "Chiếc Áo Bà Ba", như một "Cây Cầu Dừa" và đôi khi như" Lối Thu Xưa" cho tâm hồn bảng lảng để hoài niệm, trầm tư và cũng để biết ăn năn là gì sau những việc đã xảy ra.

Giá như giới cầm quyền hiểu được tầm quan trọng của văn chương ảnh hưởng không chỉ trong âm nhạc mà nó còn tác động mãnh liệt đến thế hệ trẻ hiện nay ra sao thông qua cái gọi là... "văn mẫu" (!) Thật khốn khổ cho nhi đồng, đến cả thanh thiếu niên ngày nay với vị "cứu tinh" - "văn mẫu" đối với nền văn học nước Việt (!).

Không thể có một áng văn hay, không thể có một lời nhạc bay bổng mà thiếu tự do trong đó. Nhiều độc giả chắc không khỏi thở dài khi chúng ta cùng nhắc thêm... "tính định hướng" trong viết văn, viết nhạc. Đó là sự thật, chí ít 38 năm qua, kể từ ngày "đảng đã cho em cuộc đời mới", "đảng chỉ cho em đường đi tới" (!) [****].

Chính thể cộng sản đã bóp nát tâm hồn và tính sáng tạo của tuổi trẻ ngay từ những bài học đầu đời, trước khi họ trở thành một nhà soạn nhạc tự do đúng nghĩa của nó. Trong số các nhạc sĩ, ca sĩ hiện nay, quá khó để tìm ra một người nghệ sĩ của nhân dân, chứ không phải loại "nghệ sĩ nhân dân" của tư tưởng bố thí!

Những dẫn giải nói trên, có phải góp thêm để lý giải tại sao hiếm có nhạc sĩ trẻ ngày nay viết lên những lời nhạc đậm đà chất thơ, đẹp như một bức tranh, so với ngày trước? 

Bất giác tôi nghĩ, Quốc Trung, Huy Tuấn, và một số nhạc sĩ trẻ có tiếng hiện nay có thể nào viết ra một bản Nhạc Muồi không? Hoàn toàn được, nhưng chắc chắn nó nặng về kỹ thuật và khô... như ngói, tựa những giọng hát thời thượng hiện nay mà Nhạc Sĩ Nguyễn Ánh9 đã phê bình.

(còn nữa)



___________________________________

Bài tân cổ này, dựa trên nhạc phẩm "cô hàng nước" của nhạc sĩ Vũ Huyến. [*]

Trước 1975, loại nhạc người miền Nam hay gọi là "Nhạc Kích Động" mà nhắc đến nó không thể thiếu tên tuổi "chuyên trị": Mai Lệ Huyền, Hùng Cường, Carol Kim v.v... Nhưng thể loại Hiphop, Rap, R&B, Hard Rock chưa thịnh hành như sau này. Nhạc trẻ bấy giờ thuộc về tên tuổi nhóm "Phượng Hoàng" với Elvis Phương, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang v.v... và một số tên tuổi khác như "nữ hoàng" nhạc twist Túy Phượng, "nữ hoàng" nhạc Jazz Tuyết Loan[**]

Sau những nỗ lực của đài Truyền hình Tp.HCM với những chương trình "Vầng Trăng Cổ Nhạc", "Chuông Vàng Vọng Cổ" ngày càng đuối dần vì hầu như không còn có nhiều khán giả và các nhà tài trợ không mặn mà cho lắm! [***]

Lời bài hát thiếu nhi "Ai cho em tiếng hát tình thương" của Trương Quang Lục [****]
 
 
Đong đưa cùng Nhạc Muồi (phần 2)
Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - ...Vai trò âm nhạc ngày nay thật cần để cải hóa, cảm hóa người Việt Nam biết mềm lòng hơn với đồng loại, biết thương cảm hơn, san sẻ cho nhau hơn. Đó là vai trò "nghệ thuật vị nhân sinh" kết hợp với "nghệ thuật vị nghệ thuật" mà hiện trạng Việt Nam đang quá thiếu thốn và hẫng hụt. 

Không có "nhạc sến" chỉ có người không thể hát Nhạc Muồi hoặc chỉ có người viết nhạc nghèo văn chương để chuyển hóa thành lời ca cho người hát đồng cảm chuyên chở các dòng nhạc đến người nghe mà thôi...

*
"Nhạc trẻ" và "nhạc... lạ" 

Để không mang tiếng là thổi phồng Nhạc Muồi quá đà và cũng để không bị "lạc hậu" với "nhạc trẻ", mời quý độc giả cùng thử nghe bài hát có tên "Chạy Mưa"[1] để xem "nhạc trẻ" là như thế nào. 

Lý do tôi đề nghị quý độc giả nghe và xem bài hát này: 

- Cuộc thi The Voice 2013 vẫn còn đang rất nóng với những người ngồi ghế huấn luyện viên đều nổi tiếng trong làng nhạc hiện nay: Mỹ Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Hồng Nhung và Quốc Trung cùng những chuyên gia giúp họ về chuyên môn như: Thanh Bùi (một người Úc gốc Việt), Huy Tuấn, Hoài Sa, Phương Uyên (nhóm Ba Con Mèo) v.v... 

- Đây là bài hát do chính tay nữ ca sĩ Hồng Nhung chọn cho 2 thí sinh tham gia cuộc thi. 

- Trong màn thi gọi là "đối đầu", Quốc Trung đã nhấn nút cứu một nữ thí sinh do Hồng Nhung loại. 


Thú thật, với một chút hiểu biết về thanh nhạc, sau khi ráng... lóng tai nghe bài hát này, quả thật không đọng gì lắm trong tôi về lời nhạc, ngoài những chữ "chạy mưa", "ướt nhẹp" v.v... Một cuộc "chạy mưa" không phải vội vàng mà là giành giựt một cái gì đó, nó giống như một cuộc "chạy đua" xem ai hét to hơn, ai gằn giọng "dữ" hơn, ai khoe giọng cao hơn, ai "phá cách" (hay phá phách?) bài hát "lạ" hơn. Một cuộc "chạy đua" thật... "lý thú" (!). Ở đây, giám khảo Hồng Nhung chọn người hát "quai quái". 

Tuy nhiên, tôi thật "tâm đắc" với hình thức sân khấu được biến hóa ước lệ thành một "sàn đấu... boxing" cùng hai nữ boxer đang... "đánh lộn" bằng... "âm nhạc".
"Nhạc trẻ" là vậy chăng? Với cách trình diễn của hai cô bé chỉ trỏ vào nhau, chỉ trỏ vào khán giả, nhăn nhó mặt mày, gào thét hết cỡ, lắc đầu, xõa tóc, như gằm ghè ăn thua đủ với nhau, đi qua đi lại đổi chỗ đứng, tôi không thể nào không gọi đó là một "trận đô vật", hay nhẹ hơn, đó là "cách hát sỉ vả". Sỉ vả lẫn nhau và sỉ vả khán giả. Điều "thú vị" hơn, các vị ngồi ghế chấm thi và khán giả cổ vũ hò hét một cách hào hứng đúng như một trận đấu võ đài hơn là một cuộc thi hát. Chỉ tiếc, giá như micro được thay bằng đôi găng chuyên nghiệp, với trang phục hiện đại và động tác của hai thí sinh dẻo dai hơn một chút thì đó là màn trình diễn của 2 "đả nữ" rất thú vị xen lẫn "mắng" nhau bằng vần điệu khi cao khi thấp (!). Có vẻ chủ đề đã bị lạc đề mất rồi!
Ngoài "nhạc trẻ" được tán thưởng như màn trình bày nói trên, mời quý độc giả tiếp tục kiên nhẫn bỏ ba phút để xem một ca sĩ được mệnh danh là diva Việt Nam - Thanh Lam, trình bày nhạc phẩm "Phượng Yêu" [2] của nhạc sĩ Phạm Duy. Một nhạc phẩm qua giọng ca Lệ Thu [3], hoàn toàn có quyền xếp vào dòng Nhạc Muồi, đúng nghĩa của nó.


Cô Thanh Lam được một khán giả nhận xét trên youtube: "...xử lý bài hát theo một cách mới, đầy thông minh và sáng tạo, không đi theo lối mòn của những người đi trước đã từng hát...".

Có thể là như thế, nhưng "mới", "thông minh", "sáng tạo" gì đi nữa, người ca sĩ nên hiểu, họ có quyền truyền tải mọi cảm xúc đến cho khán giả, nhưng nhất định không bao giờ được truyền nỗi sợ hãi cho người xem, đó là điều tối kỵ, vì âm nhạc không phải là phim... kinh dị, dù phim kinh dị vẫn cần "cầu viện" âm thanh và đôi khi cả âm nhạc để đạt hiệu quả. Âm thanh không phải là âm nhạc. 

Với phục trang áo dài màu tối, cô Thanh Lam đứng... "chàng hảng", lắc lư, gồng mình, vung tay, nhăn mặt và... tru tréo hơn là bày tỏ nỗi thất vọng về tình yêu, dù đó là một tình yêu thiết tha, chung thủy và bị bội phản. Cô như đang điểm mặt và đe dọa người đã bỏ rơi cô bằng cách gào lên: "Tôi yêu anh đấy! Anh có yêu tôi không thì... bảo(!)". Nếu cô hóa trang thêm bằng một mái tóc giả dài lòa xòa để biểu diễn bài hát này, khi cô cất giọng tới đoạn "yêu như loài ma quái", nhất định cô phải được thừa nhận "đỉnh của đỉnh" về nghệ thuật... rùng rợn có một không hai mà nhạc sĩ Phạm Duy có thể bật dậy để "lóng tai" "thưởng thức" (!). Dù sao cũng phải công nhận giọng cô trầm nhưng... ồm, làn hơi đầy và dài, kỹ thuật thanh nhạc quá tốt, âm vực rộng, nếu như cô đừng khoe giọng như nhạc sĩ Nguyễn Ánh9 từng phàn nàn thì... "đỡ" hơn biết bao nhiêu.
Càng ê chề hơn với cụm từ rất phổ biến mà các "diva", "ông hoàng", "bà chúa" nhạc Việt ngày nay hay dùng: "Giọng ca đầy nội... lực". À ra thế! Chỉ xin nhắc các vị, âm nhạc cần "nội tâm" chứ không cần khỏe như vâm, dùng cổ họng, dùng dây thanh đới để "sỉ vả nhau" hay "hét vào tai nhau", vì các vị đang... hát, đang truyền cảm xúc cho khán giả, chứ không phải hù dọa, đe nẹt hay đuổi khán giả "chạy có cờ"! Hơi dài thì tốt, nhưng các vị đang hát chứ không phải thổi bong bóng! Giọng người ca sĩ thường được ví như chim, nhưng người đời cần: họa mi, sơn ca hay hoàng oanh chứ không cần đại bàng, kền kền hay diều hâu, mặc dù chúng cũng thuộc họ... chim! Người nghe cần thánh thót chứ không cần lảnh lót; người nghe cần trầm ấm chứ không cần ầm oàm (như tiếng đại bác); người nghe cần nghe tiếng saxophone, trumpet chứ không cần nghe còi xe cứu thương, xe chữa cháy (!).
Có phải "nhạc trẻ" và cái gọi là "làm mới" như cô Thanh Lam đã góp thêm điều cần lý giải trong "tình yêu" ngày nay của lớp trẻ?: tại sao họ yêu nhau thật... "dễ", tại sao họ có thể đâm chém nhau một cách... "thoải mái" rồi khóc hu hu, tại sao họ có thể "sống thử", có thể rủ nhau tự tử dễ dàng, có thể tạt acid vào nhau, có thể phá thai như phá một mụm cóc, có thể vứt lăn lóc những trẻ sơ sinh như vứt một bọc rác, có thể rủ bạn bè bề hội đồng ngay chính người mà họ gọi là "người yêu" (!), có thể vừa âu yếm làm tình xong thì giết... ngay, có thể rủ nhau cùng buôn ma túy, có thể rủ nhau cùng giết người phi tang, có thể rủ nhau cùng cướp của ngay chính cha mẹ họ v.v... Họ là "sản phẩm" của "dây chuyền sản xuất" nào đây?! Chẳng lẽ "muốn xây dựng CNXH cần có con người XHCN" là thế này(?!).
Nguyễn Phú Trọng chê trách tuổi trẻ Việt Nam [3a] "phai nhạt lý tưởng, thờ ơ với thời cuộc, thích sống hưởng thụ, đua đòi", nhưng ông ta không biết hay vì hèn nhát nên không dám nhận và chỉ ra, ở đó, còn có cả một vũng lầy tội ác ngập ngụa trong tuổi trẻ đi kèm với tính nhẫn tâm và phớt lờ trước nỗi đau của ngay chính người thân ruột thịt như các con của tù nhân lương tâm: Trần Anh Kim, Nguyễn Kim Nhàn [3b] đang đối xử với cha của họ (!) Nguyên nhân từ đâu tuổi trẻ Việt Nam ngày nay như thế (?!).
Điều đáng ghê sợ hơn, ông Trọng nói Đoàn TNCSHCM cần: "...làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng hơn nữa cũng như chăm lo xây dựng tổ chức vững mạnh, các phong trào hành động". Tuyệt nhiên, người đọc không hề nhận thấy một lời nói nào thể hiện một chút tâm hồn hiền lương của một người cha, người thầy cần phải có khi đứng trước nhân cách suy đồi, tâm hồn trống rỗng cùng tấm lòng nhân ái bạc thếch của một phần tuổi trẻ ngày nay, ngay trong đoàn TNCSHCM mà cô Nguyễn Phương Uyên đã bị bỏ rơi, khi cô bị bắt cóc trước đây bởi cái "tội" Yêu Nước!
Rất đau! Đau lắm! 

Blogger Cánh Cò có bài "Côn đồ cầm đá và côn đồ cầm viết" gây tai họa rộng lớn trong dân chúng, có vẻ còn thiếu một loại, đó là loại "côn đồ cầm micro" cho "đủ bộ" chăng? Hình như trong giới văn nghệ sĩ hiện nay đang dần "tập hợp" gần đủ loại côn đồ này?
Trở về với dòng Nhạc Muồi

Nói đến dòng nhạc này mà nhắc tới những tên tuổi đã đi vào lòng khán thính giả hàng chục năm qua như: Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Hương Lan v.v... thì không còn gì nói thêm nữa. Hãy thử nói về những người mà thiên hạ tưởng họ quá "cao sang" nên luôn tránh xa cái gọi là "nhạc sến"; nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một trong số đó.
Những ai xem rẻ dòng Nhạc Muồi có biết rằng [4]:
"...với Bảo Yến, tôi (Trịnh Vĩnh Trinh - em gái nhạc sĩ Trịnh Công Sơn) và anh Sơn có một kỷ niệm. "Hồi đó, tôi mới ở nước ngoài về, anh Sơn có kể cho tôi đôi điều về Bảo Yến và bảo "Trinh lại đây anh cho nghe thử bài này hay lắm". 

Tôi hỏi: Bài gì thế anh? "Trinh cứ nghe đi thì biết". Lâu quá rồi tôi không còn nhớ tên bài, chỉ biết rằng hai anh em cứ ngồi ấn đi ấn lại để nghe mà không biết chán. Điều đáng nói là ca khúc đó thuộc dòng nhạc mà người ta hay gọi là "nhạc sến", không phải gu thường nghe của anh Sơn. Có lẽ vì sức hấp dẫn đến từ giọng ca của Bảo Yến. Sau này biết nhau, tôi nhận thấy Bảo Yến có chất giọng trời cho, là một trong số ít ca sỹ có thể hát được nhiều dòng nhạc". 
Đó là chủ đề nhạc gọi là "Nhạc Gò Công", trong đó có nhiều nhạc phẩm với tên tuổi nhạc sĩ Hoàng Phương [5] (1943 - 2002), bấy giờ nó trở thành một phong trào nghe và hát từ giữa thập niên 80' thế kỷ trước.
Nữ ca sĩ Bảo Yến đã gây ngạc nhiên cho không chỉ Trịnh Công Sơn mà cô đã khẳng định trước công chúng, ngoài các dòng nhạc mệnh danh là "sang", cô vẫn có đủ khả năng và cảm xúc dạt đào khi truyền đến người yêu nhạc những ca khúc Nhạc Muồi qua chủ đề "Nhạc Gò Công" thời bấy giờ.
Có thể nói, giọng ca Bảo Yến muốn "sang" thì rất "sang", cần "muồi" thì "muồi tới bến". Giọng ca của cô cho đến nay, chưa có một ca sĩ nào thuộc thế hệ trẻ có thể vượt qua về sức lay động, lan tỏa mà sâu lắng về Nhạc Muồi cho đến nhạc "sang", cũng như gây ấn tượng mãnh liệt qua các thể loại "nhạc kích động". Bảo Yến không chỉ là "viên ngọc" âm nhạc quý hiếm của Việt Nam mà cô còn xứng đáng để gọi là đại diện tiêu biểu cho giọng hát tân nhạc Việt Nam sau 1975. Qua giọng ca, Bảo Yến đã khẳng định chân lý: không có cái gọi là "nhạc sến".
Chỉ có "người hát sến" với quần áo màu mè, tóc tai "hai lai, ba lai", phục sức tùm lum, phong thái ỏng ẹo, lời ăn tiếng nói giả tạo, chọn bài không quan tâm đến chất giọng như nhiều người đã thấy ngày nay. Dù cho những ca sĩ đó huyễn hoặc và tự ru ngủ bằng hàng hàng lớp lớp "fan" vây quanh với cái mà họ gọi là đang hát "nhạc trẻ", "nhạc sang", "nhạc hiện đại", "nhạc" rất ư là... "tây", rất ư là "hàn", kể cả "làm mới" các loại nhạc theo kiểu "tả pí lù" (!)
Có thể đối với một số khán giả trong nước, cái tên Dalena nghe thì biết ngay là người... "tây", nhưng bài viết này muốn giới thiệu tới những ai chưa biết cô gái người Mỹ 100% này, vì cô hát Nhạc Muồi rất... muồi qua nhạc phẩm nổi tiếng hàng chục năm qua của cố nhạc sĩ Y Vân - "Lòng Mẹ" [6]. Nhìn cô gái Mỹ, tóc vàng, mặc đầm, lại nhẹ nhàng cất lên tiếng hát ngợi ca người mẹ Việt Nam mà bùi ngùi xúc động và xấu hổ khi nghĩ về những đứa con "thời hiện đại" hôm nay!

************************

Nữ ca sĩ Khánh Ly, một người nổi tiếng đến nỗi không cần phải nói gì thêm về chị, đã viết [7]:
"Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”..." 
Với đoạn trích trên cho thấy, ngay cả những ca sĩ không chuyên về dòng Nhạc Muồi, họ cũng đánh giá cao dòng nhạc này và các ca sĩ hát dòng nhạc này ngang hàng với bất kỳ dòng nhạc nào khác, dù cho đó là của Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn, dù cho đó là của Lê Hựu Hà hay Quốc Dũng cho đến những nhạc phẩm của Pháp, Mỹ gần như không ai không biết, qua giọng hát: Thanh Lan, Julie Quang, Jo Marcel, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Khánh Hà v.v...
Nếu bạn đọc không lạ với tên tuổi Bạch Yến qua nhạc phẩm "Cho Em Quên Tuổi Ngọc" với tư cách nữ ca sĩ được nhạc sĩ Lam Phương trao đầu tiên để trình diễn, thì khán giả cũng biết chính ông là người viết nhạc phẩm này bằng cả tiếng Pháp. Khi lời Pháp được cất lên, nếu không nói ca khúc này của người Việt viết, bạn hoàn toàn bất ngờ vì nó vô cùng... Tây, đúng với nghĩa này.
Tuy nhiên điều đáng nói về nhạc sĩ Lam Phương, ông viết Nhạc Muồi lại vô cùng muồi mẩn bằng những ca từ sang trọng và nặng trĩu tình quê trước thời cuộc. "Chuyến Đò Vĩ Tuyến" [8] là một trong số đó, kể về nỗi niềm chia đôi đất nước, dù ông sinh trưởng và thành danh tại miền Nam. Ca khúc này do nữ ca sĩ Hoàng Oanh, người đầu tiên kết hợp Nhạc Muồi và ngâm thơ, tạo nét mới lạ và thấm đẫm nỗi niềm biệt ly của người đi kẻ ở.


Ngoài Lam Phương, còn những nhạc sĩ tài năng khác, có thể viết nhiều thể loại nhạc trong đó có những bản Nhạc Muồi đầy ắp chất thơ và lung linh như một tuyệt phẩm bằng hình, ví dụ: Anh Bằng (Căn Nhà Ngoại Ô), Trầm Tử Thiêng (Đưa Em Vào Hạ), Quốc Dũng (Lối Thu Xưa) v.v...
Nói về nhạc sĩ "thời ngụy", có vẻ dễ bị cho là thiên vị. Vậy thì hãy cùng nghe thử "Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ", "Thư Tình Cuối Mùa Thu" của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ thi sĩ Xuân Quỳnh (vợ nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ), để thấy hết tình tứ trong nét nhạc; mộng mơ trong ca từ, lại không thiếu sự khắc khoải của những tâm hồn trong sáng, thủy chung, lung linh như ánh sao trong đêm tối.
Âm nhạc là tâm hồn con người, chở nặng suy tư, chất chứa tâm tình cho mình, cho đời, cho quê hương, dân tộc. Cho cả những hẹn hò tình yêu, nhưng buồn vui theo mệnh nước nổi trôi, cho náo nức và vui mừng của ngày mùa đơm hoa kết trái. Cho cả những vết thương lòng dù nông hay sâu cần chăm sóc, xoa dịu. Cho cả những ngợi ca anh hùng dân tộc như là khúc ca bi tráng để người dân mãi không quên sự hy sinh của họ.
Âm nhạc không nên dung chứa sự hận thù, đố kỵ, bon chen hay chém giết. Thậm chí không thể nào hiểu nổi một "bài hát" của một ông mang danh "nhạc sĩ", có tên Nguyễn Đình Thi còn đưa vụ "giết bầy chó" vào trong nhạc qua bài "Diệt Phát Xít" [9] (!). Quá kinh hãi! Không biết bài gọi là "nhạc" này có ám ảnh người dân cho đến ngày nay với nạn trộm chó và giết người trộm chó không nữa (!). Hy vọng là không phải như thế, nhưng nhiều người có lẽ vẫn bị ám ảnh với "Tiến Quân Ca" trong đó người ta đòi đi trên "đường vinh quang xây xác quân thù" nghe khá hung tợn và man rợ?!
Cao hơn, vai trò âm nhạc ngày nay thật cần để cải hóa, cảm hóa người Việt Nam biết mềm lòng hơn với đồng loại, biết thương cảm hơn, san sẻ cho nhau hơn. Đó là vai trò "nghệ thuật vị nhân sinh" kết hợp với "nghệ thuật vị nghệ thuật" mà hiện trạng Việt Nam đang quá thiếu thốn và hẫng hụt.
Không có "nhạc sến" chỉ có người không thể hát Nhạc Muồi hoặc chỉ có người viết nhạc nghèo văn chương để chuyển hóa thành lời ca cho người hát đồng cảm chuyên chở các dòng nhạc đến người nghe mà thôi.
(còn nữa) 
_______________________________________________