Posts tonen met het label mối tình. Alle posts tonen
Posts tonen met het label mối tình. Alle posts tonen

vrijdag 25 oktober 2013

Những mối tình phòng trà, vũ trường Sài Gòn xưa: Tướng quân và vũ nữ

Tuesday, October 22, 2013

Những mối tình phòng trà, vũ trường xưa: Tướng quân và vũ nữ

QLB -Phòng trà và vũ trường xưa không chỉ là nơi thành danh của những giọng ca, đây còn là nơi nảy nở những mối tình đình đám của tướng tá và các cô ca sĩ, vũ nữ.

Những ai đã từng lui tới phòng trà- vũ trường của đất Sài Gòn trước năm 1975, đều phải công nhận rằng: Dạo đó, vũ nữ chỉ đứng dưới ca sĩ một nấc thang giá trị trong xã hội. Không ít tướng, tá, những chàng phi công, sĩ quan hoa tiêu… một số luật sư, bác sĩ, kỹ sư trẻ, có được một người tình ca sĩ, hay vũ nữ là lấy làm hãnh diện lắm, coi đó như là đẳng cấp của một tay chơi thượng lưu, trí thức! Điều này cũng chẳng có gì làm lạ. Ngày trước, ngay cả cựu hoàng Bảo Đại, ông vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng một thời dính chặt với các vũ nữ Mộng Điệp, Lý Lệ Hà. Sau này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn chết mê, chết mệt cô ca sĩ Kim Loan đến quên ăn bỏ ngủ thì đã làm sao?

Ca sĩ Kim Loan – người tình của Nguyễn Văn Thiệu
“Nhắc đến những chuyện tình nổi đình, nổi đám trong giới ca sĩ và vũ nữ Sài Gòn trước năm 1975, người ta thường nghĩ đến bi kịch của vũ nữ Cẩm Nhung và trung tá Trần Ngọc Thức. Thật ra, chuyện tình này được dân gian truyền tụng nhiều là do sau khi bị trận đòn ghen, do vợ ông Thức thuê người tạt nguyên một ca a-xit đậm đặc, tàn phá hết dung nhan. Vũ nữ Cẩm Nhung đã phóng to tấm hình chụp chung với ông Thức một thuở mặn nồng, đeo trước ngực để đi ăn xin khắp các tỉnh, thành miền Nam, kéo dài gần 3 thập kỷ. Trong khi đó, có những chuyện tình khác, trong giới này, xem ra ly kỳ và tàn bạo không kém, nhưng đã bị lãng quên theo năm tháng. Ví như, chuyện thiếu tá Minh gài lựu đạn để giết chết vợ, được ngụy trang bằng một vụ ám sát, để tự do chung sống với ca sĩ T.P. Hay trung tướng Vĩnh Lộc bỏ vợ con để chạy theo ca sĩ Minh Hiếu. Tệ hơn nữa là tướng quân Lê Văn Tư, phải chịu cảnh thân bại, danh liệt chỉ vì mê mệt nhan sắc cô vũ nữ Ánh Hoa của vũ trường Văn Cảnh.

Bài báo về Vũ nữ Cẩm Nhung những ngày cuối đời

Trung tướng Vĩnh Lộc và ca sĩ Minh Hiếu

Trung tướng Vĩnh Lộc có tên đầy đủ là Nguyễn Phước Vĩnh Lộc, sinh năm 1926 tại Huế. Ông là anh em họ của Vĩnh Thụy, tức là vua Bảo Đại. Vốn dòng dõi hoàng tộc, lại được sinh ra trong một gia đình giàu có nên Vĩnh Lộc quen với nếp sống hưởng thụ, xa hoa. Từ nhỏ đã được ăn học tử tế, ông nói tiếng Pháp chẳng thua gì tiếng mẹ đẻ. Tháng 6.1965, Vĩnh Lộc được cất nhắc lên làm tư lệnh Quân đoàn 2, kiêm tư lệnh Vùng 2 chiến thuật. Lãnh thổ do ông cai quản, bắt đầu từ đèo Bình Đê, giáp ranh hai tỉnh Quãng Ngãi-Bình Định, chạy dọc duyên hải Nam Trung bộ, đến hết tỉnh Bình Thuận và cả một vùng Tây Nguyên rộng lớn. Bản doanh của ông đặt tại Pleiku. Đến thời điểm này Vĩnh Lộc đã có một vợ, 4 con, nhưng khi phải lòng ca sĩ Minh Hiếu, ông đã rũ bỏ tất cả để rước nàng về dinh.

Theo hồi tưởng của ông Phán Ba, nguyên trưởng ty Kinh tế tỉnh Bình Long thời đó, và là bác ruột của nữ ca sĩ Mai Lệ Huyền, thì Minh Hiếu tên thật là Đỗ Thị Lài, chào đời vào khoảng năm 1936, trong một gia đình lao động nghèo tại vùng đất đỏ cao su nắng bụi mưa buồn này.

Thân sinh của Minh Hiếu làm chủ một quán hớt tóc xập xệ ở dốc chợ cũ, gần ngã 3 Quản Lợi. Ông ta là người thích ca hát, nên tài sản quý giá nhất trong quán chỉ là cây đàn guitar cũ kỹ treo trên vách, và Minh HIếu bắt đầu sự nghiệp từ đó. Vốn được trời phú cho giọng hát khàn đục, khá đặc biệt, nên nhiều khách đến hớt tóc thường yêu cầu Minh Hiếu hát một vài bài theo nhịp đờn của cha. Trong số khách đó có nhạc sĩ Mạnh Giác, lúc bấy giờ là trưởng ban văn nghệ của ty Thông tin Bình Long. Nghe Minh Hiếu hát cũng khá, nhạc sĩ Mạnh Giác đã thu nạp làm đệ tử để luyện âm rồi tìm cách đưa về lập nghiệp ở phòng trà Anh Vũ.

Ngoài Minh Hiếu ra, tại Bình Long, nhạc sĩ Mạnh Giác còn đào tạo 2 học trò nữa, đều lấy nghệ danh có chữ Minh đứng đầu, nhưng không mấy thành công. Đó là ca sĩ Minh Thanh của ban văn nghệ LLĐB ở Nha Trang và ca sĩ Minh Trí của đoàn văn nghệ Chí Linh. Ca khúc đầu tiên đưa giọng ca Minh Hiếu lên đài danh vọng là Mảnh tình thương của Mạnh Giác, chứ không phải là bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long sau này, như nhiều người lầm tưởng.

Năm 1965, nhân một chuyến lên Pleiku biểu diễn, Minh Hiếu đã gặp Vĩnh Lộc tại câu lạc bộ Phượng Hoàng của quân đoàn 2. Ngay lần đầu tiên, thấy đôi mắt lẳng lơ của Vĩnh Lộc nhìn mình một cách say đắm, Minh Hiếu biết ngay Vĩnh Lộc đã lọt vào bẫy tình. Quả nhiên, sau khi về Sài Gòn được mấy hôm, Minh Hiếu đã thấy Vĩnh Lộc kéo theo một đám quần thần đến tận phòng trà mà cô đang cộng tác. Ông ta tỏ ra là một tay chơi hào sảng, coi tiền như giấy và hết mực ga lăng, đã làm cho Minh Hiếu rúng động tâm can.

Cuối đêm vui, Vĩnh Lộc đã đem quân đoàn của ông ta ra làm quà tỏ tình bằng lời hứa như đinh đóng cột, sẽ phong cho Minh Hiếu cấp bậc hạ sĩ danh dự của quân đội. Ông ta nói về Pleiku sẽ ký quyết định và thông báo với Bộ Tổng tham mưu. Đồng thời yêu cầu Minh Hiếu chuẩn bị sẵn, khi nào được thông báo sẽ lên Pleiku làm lễ gắn lon. Ông ta sẽ cho một máy bay C.47 đón.

Chỉ bấy nhiêu là Vĩnh Lộc đủ hạ gục Minh Hiếu ngay tối hôm đó. Chưa kể trong đầu cô ta đang vẽ ra giấc mơ trở thành mệnh phụ với giàu sang, phú quý đang chờ đợi ở ngày mai. Đúng như thế, sau đó Minh Hiếu là ca sĩ đầu tiên được phong hàm hạ sĩ danh dự của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Không dừng lại ở đó Minh Hiếu không muốn mình chỉ là một thứ phòng nhì, mà đã buộc Vĩnh Lộc phải bỏ vợ con để nâng mình lên vị trí chính thức là phu nhân tư lệnh quân đoàn.

Tết Mậu Thân (1968) đánh hơi được tình hình bất ổn Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho chỉ huy các đơn vị trên toàn lãnh thổ miền Nam không được rời nhiệm sở để đề phòng bất trắc. Thế nhưng vì quá mê mệt Minh Hiếu, Vĩnh Lộc đã bất chấp, ngang nhiên bay về Sài Gòn ăn tết với người đẹp. Giống như hầu hết những đô thị khác, Pleiku cũng bị quân Giải phóng tấn công trong chiến dịch này.

Người tình của Vĩnh Lộc, Minh Hiếu, ca sĩ đầu tiên được phong hàm hạ sĩ danh dự của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Sau mấy ngày ăn tết hả hê, Vĩnh Lộc quay trở lại Pleiku trong mệt mỏi. Ông ta không vào ngay nhiệm sở mà về tư dinh dưỡng sức. Đang ngon giấc, thì viên đại tá Mỹ J.W.Barnes, cố vấn trưởng Quân đoàn 2 cho người đến mời Vĩnh Lộc vào để cùng giải quyết nhiều vấn đề cấp bách. Bị đánh thức, Vĩnh Lộc đã nổi nóng, đuổi viên sĩ quan liên lạc ra ngoài và nói ông ta không nghe lệnh ai hết ngoài tổng thống Thiệu. Nói thế, nhưng Vĩnh Lộc cũng vội vàng chạy vào quân đoàn. Như chưa đã cơn giận, lại thấy đại tá Barnes không chào hỏi mình trước, ông ta hằn học nói bằng tiếng Anh: “Tôi không phải là một trung sĩ, tôi là tướng tư lệnh Quân đoàn 2”. Rồi đi thẳng lên lầu. Một bản báo cáo đã được Barnes gởi lên Bộ tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam ngay sau đó. Lập tức Vĩnh Lộc bị cách chức, cho về Sài Gòn làm Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng quốc phòng.

Năm 1973, Vĩnh Lộc lại bị Nguyễn Văn Thiệu tước sạch mọi chức vụ vì trong một chuyến công du Thổ Nhĩ Kỳ ông ta đã tự ý bay sang Pháp để liên hệ với người anh họ là cựu hoàng Bảo Đại.

Vũ nữ Ánh Hoa và chuẩn tướng Lê Văn Tư

Năm 1971, khi mang hàm đại tá, Lê Văn Tư được giữ chức vụ tỉnh trưởng Long An, nằm sát bên cạnh Sài Gòn hoa lệ. Sẵn tiền của trong tay, không tuần nào Lê Văn Tư không về thành phố một hai hôm để du hí. Ông ta có mặt ở hầu hết những vũ trường sang trọng, nơi tập trung những vũ nữ trẻ đẹp nhất. Ở đâu, Lê Văn Tư cũng vung tiền ra như nước, lại có một vài quân lính theo hầu, oai phong lẫm liệt, nên nhiều vũ nữ đã coi ông ta như thần tượng. Ấy vậy mà cuối cùng Lê Văn Tư lại phủ phục dưới gót chân vũ nữ Ánh Hoa của vũ trường Vân Cảnh đến nỗi thân bại danh liệt.

Dạo đó, Ánh Hoa vừa tròn 23 tuổi. Bên cạnh nhan sắc lộng lẫy, cô ta còn có một thân hình bốc lửa, đầy quyến rũ. Ánh Hoa không chỉ là đào nhất của Vân Cảnh mà còn được đồng nghiệp xếp loại vũ nữ hạng nhất của Sài Gòn dạo đó. Kể ra thì Lê Văn Tư cũng đã rất dày công săn đón và lấy lòng người đẹp bằng những món quà đắt giá mà những cô gái bình thường có nằm mơ cũng không thấy.

Ví như, những chuyến du lịch Hong Kong, Tokyo, để rồi mang về những vòng vàng, xuyến ngọc, hột xoàn không dưới 7 ly… Dĩ nhiên, Ánh Hoa không tài nào thoát được cái mạng lưới vô hình nhưng đầy uy lực này. Có điều, cô ta dám chơi trò bắt cá hai tay. Bên cạnh Lê Văn Tư là người tình chung chi, Ánh Hoa còn có một người tình trẻ để tung tăng phố xá.

Tháng 1.1972, Lê Văn Tư được điều về làm tư lệnh sư đoàn 25 bộ binh, bản doanh đóng tại căn cứ Đồng Dù, bên cạnh Củ Chi, rồi được thăng hàm chuẩn tướng. Bấy giờ, ông ta đã là vua một cõi. Ngang nhiên gạt vợ con ra ngoài để rước vũ nữ Ánh Hoa về làm áp trại phu nhân. Biết mình được tướng quân sủng ái, muốn gì cũng được đáp ứng, Ánh Hoa coi trời bằng vung. Nhiều buổi chiều, Ánh Hoa thỏ thẻ với Lê Văn Tư muốn lên trực thăng bay một vòng thư giãn. Ngay lập tức, tướng quân cho gọi viên phi công lái máy bay riêng cho ông ta, luôn túc trực ngoài bãi, chở Ánh Hoa đi chơi.

Đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi, Q.1) là nơi tập trung nhiều quán bar

Có lần, bay gần đến Tây Ninh, bị súng phòng không dưới đất bắn lên viên phi công phải bay vòng trở lại. Từ đó, Ánh Hoa không còn dám chơi trò này nữa. Đám lính hầu của Lê Văn Tư kể lại, lâu lâu Ánh Hoa thèm ăn ngỗng quay Hong Kong, Lê Văn Tư vội cho người tháp tùng máy bay dân dụng sang tận bên đó, chỉ để mua 2 con ngỗng quay mang về trong ngày. Nhiều đêm, không ngủ được. Ánh Hoa thấy nhớ tô mì La-Cai ở Chợ Lớn mà trước đây, khi còn làm vũ trường cô ta vẫn thường ghé ăn khuya. Thế là Lê Văn Tư lệnh cho một xe quân cảnh lên đường ngay. Đi về hơn trăm cây số giữa khuya, nhưng khi mang được mì về thì áp trại phu nhân đã say giấc nồng, đành bỏ vào tủ lạnh. Sáng mai mang ra thì người đẹp lắc đầu: “Không muốn ăn mì La-Cai nữa mà chỉ thèm bồ câu quay Thiên Nam”. Xe quân cảnh lại lên đường.

Một bước thành bà, vài ba tháng Ánh Hoa lại rủ bạn bè thân thiết sang tận Paris mua sắm cho ngang tầm với đẳng cấp của mình. Tất nhiên là mọi chi phí đã có Lê Văn Tư bao trọn gói. Để cung phụng cho người đẹp tiêu xài còn hơn cả bà hoàng, Lê Văn Tư trượt dài trên con đường tha hóa. Ông ta tổ chức lính ma, lính kiểng, có tên nhưng không có người để lãnh lương của họ, đút túi riêng. Cho thuộc cấp bán quân trang, quân dụng và nhu yếu phẩm (ăn chặn của lính) ra ngoài thị trường. Lê Văn Tư còn nhắm mắt cung cấp thuốc tây, gạo, xăng nhớt…cho những đường dây mà ông ta biết chắc là tiếp tế cho chiến khu.

Lê Văn Tư vơ vét quá lộ liễu. Bất cứ việc gì hái ra tiền là tướng quân đều hăng hái tham gia. Cuối cùng Nguyễn Văn Thiệu đã đem Lê Văn Tư ra làm vật tế thần. Tháng 11.1973, Lê Văn Tư bị cách chức và giáng cấp, đành ngậm đắng nuốt cay nhìn vũ nữ Ánh Hoa ca bài từ biệt để ra đi không hẹn ngày trở lại.

Theo Tạp chí Duyên Dáng Việt Nam
 

donderdag 10 oktober 2013

Hai mối tình theo suốt cuộc đời đại tướng Võ Nguyên Giáp


Chủ nhật, 6/10/2013 05:00 GMT+7

Hai mối tình theo suốt cuộc đời đại tướng Võ Nguyên Giáp 

Mối tình đầu thủa 20 trong sáng, lý tưởng của vị danh tướng huyền thoại là với liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái, còn tình yêu sau - sâu sắc, bình dị nối dài theo năm tháng tới cuối đời là với phó giáo sư Đặng Bích Hà - con gái cụ Đặng Thai Mai. 

Hai người phụ nữ ấy đã gắn bó, song hành với cuộc đời vì dân, vì nước của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Mối tình đầu của ông là liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái, em gái liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai. Ông và bà gặp nhau lần đầu tiên năm 1929, trên chuyến tàu Vinh - Huế. Trước đó, tướng Giáp từng nghe các đồng chí cùng chi bộ nhắc tới tên Quang Thái, cô em gái còn rất trẻ nhưng hoạt động hăng hái của đồng chí Minh Khai.
"Mẹ Thái mặc áo dài, tóc để xoã, da trắng hồng, gương mặt rất sáng, đặc biệt là đôi mắt, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng ba. Ba khi ấy ông đóng vai một nhà báo khá ăn diện. Về sau mẹ nói lại cho ba ấn tượng đầu tiên của mình: Một chàng thư sinh với vẻ “công tử bột”, chỉ khi nghe tự giới thiệu là nhà báo thì mẹ mới dịu lòng và bắt chuyện", giáo sư Võ Hồng Anh, con gái duy nhất của đại tướng Võ Nguyên Giáp và bà Nguyễn Thị Quang Thái, hình dung về buổi gặp gỡ đầu tiên của ba mẹ mình qua lời kể của cha, trong một buổi phỏng vấn của báo chí năm 2003. (Giáo sư Hồng Anh đã mất năm 2009).
Lần gặp thứ hai của tướng Giáp và người vợ đầu là tại một ngôi nhà khuất nẻo trong thành nội Huế. Khi đó, Quang Thái đến xuất trình giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng. "Một cô học sinh xinh xắn, giọng nói nhẹ nhàng, âm ấm. Cô có dáng mảnh dẻ, hai con mắt to rất sáng. “Đôi mắt này mình đã gặp ở đâu nhỉ?”. Anh Giáp thầm nghĩ", cuốn sách "Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ" của trung tướng Phạm Hồng Cư ghi lại.
Sau đó, Quang Thái vào Huế học và tìm bắt liên lạc với tổ chức để nhận công tác với đoàn thể. Hai người có cơ hội gặp nhau vài lần, nhưng Quang Thái chưa nảy nở tình yêu đáp lại tấm chân tình của người đồng chí. Thời gian qua đi, trong quá trình hoạt động, đấu tranh, tình yêu của họ nảy nở từ những lý tưởng chung về cách mạng...
Hai người kết hôn khi bà Quang Thái 20 tuổi, nhưng mãi đến gần chục năm sau họ mới sinh con vì muốn “giữ” để được thoát ly hoạt động cùng nhau.
tuonggiap-1135-1380961971.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và người vợ đầu - liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái. Ảnh tư liệu.
Vào cuối năm 1939, thực dân Pháp khủng bố mạnh. Lúc này, chiến sĩ cách mạng Võ Nguyên Giáp phải rút vào hoạt động bí mật. Sau đó ông được cử sang Trung Quốc hoạt động. 
Trước sự phân vân, lo lắng vì hai vợ chồng không thể ở bên nhau khi con gái Hồng Anh còn quá nhỏ, bà Quang Thái động viên chồng: “Đây là một thời cơ lớn, trên đã muốn anh thoát ly thì anh nên quyết tâm. Mẹ con em tự lo được mà. Chờ con lớn thêm chút nữa em gửi con cho ông bà nuôi, em sẽ đi sau”. Cả hai vợ chồng bà Quang Thái không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn giữa hai người.
Năm 1942, bà Quang Thái bị bắt và bị kết án 16 năm tù. Trong thời gian bị giam giữ, bà thường xuyên bị tra tấn nhưng vẫn kiên trung không tiết lộ thông tin của tổ chức. Năm 1944, bà Quang Thái mất do kiệt sức khi chăm sóc bệnh nhân trong nhà lao Hỏa Lò và bị nhiễm phong hàn.
Do điều kiện phải hoạt động bí mật nên mọi thông tin về việc bà Quang Thái bị bắt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không hề hay biết. Chỉ đến khi trở về nước và tham dự hội nghị Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) vào tháng 4/1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mới nhận được tin dữ. Khi nghe tin người vợ yêu thương đã hy sinh, người Đội trưởng Đội Tuyên truyền Giải phóng quân Võ Nguyên Giáp bàng hoàng đi sang buồng bên, bỏ dở cuộc họp… 
n Zing NewsMối tình thứ hai, gắn với đại tướng Võ Nguyên Giáp tới cuối đời, là với người vợ sau, bà Đặng Bích Hà - con gái giáo sư Đặng Thai Mai - người phụ nữ đã  đồng hành ông từ những ngày sau Cách mạng Tháng Tám đến nay. 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp vốn là đồng chí, đồng nghiệp với cụ Đặng Thai Mai từ những ngày Đảng Tân Việt mới đi vào hoạt động.  
Nguyên Giáp biết Bích Hà từ lúc còn là cô bé tóc để chỏm, hay nghịch đất với em ngay trước sân nhà ông ngoại. Ông rất quý gia đình cụ Đốc Mai và được hai cô con gái cụ quý mến như một người anh cả. Trong suốt thời gian hoạt động và làm việc từ 1931 đến 1941 tại Vinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sống tại nhà của Giáo sư Đặng Thai Mai. Lúc nào ông cũng xem cô bé Bích Hà như một người em nhỏ nên rất cưng chiều và chăm bẵm.
Khi mới ra Hà Nội, ngày nào đi luyện tập thể thao, ông cũng cho Hà đi cùng. Trên đường đi, thi thoảng ông cũng kể cho cô bé nghe về cô Quang Thái (khi đó là người yêu và sau này là vợ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và cô lắng nghe rất chăm chú.
Ngày ấy, cả gia đình cô, nhất là cụ Đặng Thai Mai, rất quý cô Quang Thái và mọi người đều xem cô như người thân trong nhà. Sau khi cưới, Võ Nguyên Giáp ra ở riêng và tiếp tục hoạt động ở Hà Nội rồi sang Trung Quốc, còn cô Bích Hà học ở Hà Nội một thời gian. Đến năm 1943 cô theo trường tản cư về Thanh Hóa cho đến 1945 mới quay về Hà Nội.
doithuong-9056-1380961971.jpg
Bữa cơm của đại tương Võ Nguyên Giáp và người vợ thứ hai - giáo sư Đặng Bích Hà. Ảnh tư liệu.
Bà Bích Hà từng kể, khi 6-7 tuổi, bà hay được ông Giáp đèo đi chơi đến sân vận động Hàng Đẫy (khi ấy gọi là Septo) tập thể thao. Một hôm bỗng dưng ông nói: “Anh sẽ cưới Hà bằng một đĩa xôi và một con gà”. Không ai ngờ câu nói đùa ấy hơn mười năm sau lại trở thành sự thật.
Năm 1945, khi hai người gặp lại nhau, Võ Nguyên Giáp đang phải gánh chịu mất mát lớn, khi biết tin người vợ - người đồng chí Nguyễn Thị Quang Thái đã bị bắt và mất trong nhà tù Hỏa Lò từ đầu năm 1944. Từ sự kính phục và ngưỡng mộ, Bích Hà lại càng muốn được cùng ông chia sẻ mọi gian khó trên con đường cách mạng và đường đời.
Vào cuối năm 1946, gia đình cụ Đặng Thai Mai đồng ý tổ chức lễ cưới cho Võ Nguyên Giáp và Đặng Bích Hà. Đám cưới của hai người được tổ chức rất giản dị. Suốt mấy chục năm làm bạn đời, Bích Hà vẫn luôn bên cạnh động viên chồng với tâm hồn bình thản qua những lời giản dị và lạc quan. 
Bà Bích Hà từng kể lại, trước đây, trong vườn có một cây bơ rất ngon, một loại quả mà Đại tướng rất thích ăn. Đặc biệt cây bơ ấy thường ra quả rất muộn, đúng vào dịp sinh nhật Đại tướng, nên năm nào bà cũng hái những quả to nhất, ngon nhất để dành cho ông.
Những năm gần đây khi cây bơ ấy không còn nữa, các con đã ươm một cây mới thay thế. Ngày ngày bà vẫn chăm sóc cho cây chóng lớn để cây sớm ra quả và lại hái vào để dành cho ông vào dịp sinh nhật như mọi khi.
dan-3917-1380961971.jpg
Mấy năm trước, lúc rảnh rỗi, đại tướng Võ Nguyên Giáp thường ngồi thư giãn bên chiếc đàn piano. Bà Bích Hà ân cần bên cạnh chồng. Ảnh tư liệu. 
Về phần mình, dù hay vắng nhà, Đại tướng chưa bao giờ để vợ con phải có cảm giác lo lắng, hụt hẫng vì bị “lãng quên”, mà ông vẫn cố dành thời gian mấy phút để viết những dòng thư ngắn gọn gửi ra cho bà và các con để hỏi thăm sức khỏe và động viên tinh thần học tập, công tác.
Với cương vị là Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân, là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, từ khi đang còn đương chức cho đến khi về nghỉ hưu, ngày nào Đại tướng cũng rất bận rộn. Dù vậy, chưa năm nào Đại tướng quên ngày cưới của hai người. Hàng năm, cứ đến ngày 27/11, Đại tướng lại nhờ con gái mua một bó hoa hồng nhung - một loài hoa mà bà Bích Hà rất thích để tặng bà. Sau này, khi nghe nói hoa hồng nhung chứa nhiều thuốc rất độc, lại không có mùi thơm như trước nữa, ông lại dặn con vẫn mua hoa hồng để ba tặng mẹ nhưng phải là hoa hồng có mùi thơm. 
Đến những năm gần đây, khi sức khỏe ngày càng yếu, hầu hết thời gian của Đại tướng là ở trong viện, tuần nào bà Bích Hà cũng vào thăm chồng, cùng ông chuyện trò. Hôm nào mệt bà không vào được, ông thể nào cũng hỏi các con: “Mẹ thế nào?”. Khi nghe các con nói: “Mẹ vẫn khỏe, mẹ bình thường ạ!” thì ông mới gật gật đầu: “Bảo mẹ giữ gìn sức khỏe!”. Tình yêu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phó giáo sư Đặng Bích Hà là như vậy, bình dị nhưng sâu đậm cho đến suốt cuộc đời.
Vương Linh (tổng hợp)
http://vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/hai-moi-tinh-theo-suot-cuoc-doi-dai-tuong-vo-nguyen-giap-2890565.html
 



Thứ năm, 10/10/2013 10:04 GMT+7

Những cánh thư yêu thương từ người vợ đầu của Đại tướng

Gần 10 năm tình nghĩa vợ chồng, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và người vợ đầu Nguyễn Thị Quang Thái luôn sống trong xa cách.

Những bức thư ấy được một người lính già thân cận với Đại tướng biết đến. Ở đó, toát lên một góc khác, rất con người và rất đời thường của Đại tướng mà ít người biết được...
Đó là những lá thư được liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái gửi cho người yêu, người chồng Võ Nguyên Giáp từ năm 1933 cho đến năm 1936. Đây là giai đoạn hai người bắt đầu yêu nhau rồi kết hôn. Căn cứ vào ngày tháng và những nội dung trong thư cho thấy, hầu như ngày nào hai người cũng có liên lạc. Khi ấy, bà Quang Thái ở Vinh (Nghệ An) còn ông Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội.

Gần như toàn bộ số thư được bà Quang Thái xưng hô bằng tên gọi là “Giáp” với “Thái”, chỉ một số ít thư bà Quang Thái gọi người yêu, sau này là chồng, bằng “anh”. Bà kể những chuyện diễn ra xung quanh mình một cách chân tình và nói về  tình cảm đôi lứa với tư duy khá hiện đại.
canh-thu-2-31722-2678-1381372975.jpg
Trong một bức thư bà viết: “Giáp đi phen này, Thái ở nhà nỗi nhớ nhung khó lòng khuây khỏa lắm…”. Hay một thư khác, bà viết: “Nhờ 6 ngày nay mà Thái hiểu Giáp hơn và có ái tình mật thiết hơn xưa. Bây giờ mới đúng là ái tình chứ không phải ái tình 6 tháng trước kia…”.

Có bức thư khi hai người đã kết hôn, bà kể đến cô con gái đầu lòng bằng câu chữ vừa yêu thương vừa có ý hờn trách: “... Con Anh đã ngủ từ lúc 8h. Nó vừa giở mình nằm nghiêng như người lớn… Giáp có biết lúc ở ga về Thái nghĩ gì không?... Nhớ những lần Thái tiễn Giáp ở Vinh ra Hà Nội, vừa đi như đi 'trong mộng'. Thái không biết ai đi chung quanh mình nữa. Về ẵm con, tắm cho con rồi Thái bế nó đi rong trong nhà mãi. Nhà vắng, trời chiều, mẹ bế con rươm rướm nước mắt”.

Bức thư nào cũng thể hiện sự nhớ nhung, quan tâm của người vợ trẻ với người chồng phương xa. Vì thế, đa phần những bức thư ấy mang âm hưởng buồn mà người viết cũng tự nhận ra điều đó.
quangthai-4004-1381372975.jpg
Liệt sĩ Quang Thái - người vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp  và cô Hồng Anh, con gái hai người. Ảnh tư liệu
Một bức thư gửi chồng, bà Quang Thái viết: “Tối hôm qua viết dài đọc lại thấy không vui Thái lại xé bỏ. Giáp sẽ trách Thái… làm gì cũng không nhất định. Hôm nay không viết dài nữa… Ruột Thái đang rối lên đây. Óc loạn lên đây… Cơn buồn kéo đến!... Sao không bao giờ tôi viết được một bức thư vui? Buồn cười!”.
Tuy nhớ nhung, buồn thương nhưng người vợ ấy luôn một lòng hướng về chồng. Trong một lá thư hiếm hoi bà gọi chồng mình là “anh”: “Anh đã khỏe hơn chưa? Anh có mang theo gương không đấy? Hãy thử soi xem nước da có tốt hơn không?”. Một bức thư bà viết thể hiện rõ tấm lòng son sắt với chồng: “Tương lai với chúng mình khổ ư? Chúng ta có như ai mà mê giàu sang? Tinh thần, lý tưởng thì quyết bền vững, không như những thứ ái tình xốc nổi, yêu vì danh, lợi, tài, sắc”.
Người thủ thư đặc biệt
Hơn 100 bức thư của liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái gửi người chồng Võ Nguyên Giáp được Đại tá Nguyễn Huy Văn (Ban liên lạc Việt Nam Giải phóng quân) lưu giữ. Đại tá Huy Văn tuy không phải là cán bộ trong Văn phòng Đại tướng nhưng ông khá thân cận với tướng Giáp. Những năm Đại tướng còn khỏe mạnh, ông thường qua Văn phòng Đại tướng giúp việc sắp xếp tài liệu và đồ đạc.

Ông kể: “Bên ấy tài liệu nhiều quá. Một lần Đại tướng bảo tôi xếp lại tài liệu ở một cái tủ thì tôi tìm thấy những bức thư này. Đại tướng bảo tôi xếp lại và giữ cẩn thận cho ông. Tôi đã đi sao chép chúng ra và gửi lại bản gốc cho cô Hồng Anh (con gái đầu của Đại tướng và liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái, đã qua đời năm 2009) vì tôi nghĩ bản gốc nên để cô ấy giữ là phù hợp nhất”.
Nói về những bức thư này, Đại tá Nguyễn Huy Văn nhận xét: “Tôi thấy thư có lời văn rất hiện đại. Bức nào cũng chan chứa tình yêu đôi lứa. Thế nhưng, tôi đọc kỹ thì hiểu rằng không chỉ có tình yêu đôi lứa trong đó mà hai người còn trao đổi cả công việc. Tôi đã lưu giữ chúng rất cẩn thận trong nhiều năm qua”.

Đại tá Huy Văn xúc động nói về mối tình của Đại tướng với người vợ đầu: “Họ đã sống trong xa cách. Sau này, Đại tướng đi Trung Quốc, bà Quang Thái hoạt động cách mạng phải gửi cô Hồng Anh về quê. Họ chia tay nhau bên đường Cổ Ngư và xa nhau mãi mãi, vì sau đó bà Thái bị thực dân Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi hy sinh trong tù. Bà Thái mất, Đại tướng sốc lắm! Khi về nước ông cũng rất vất vả trong việc đi tìm nơi chôn cất của bà, vì thời đó người chết trong tù (có thông tin cho rằng bà mất tại nhà thương) như thế chẳng biết phần mộ ở chỗ nào. Mãi sau Đại tướng mới tìm thấy và đưa hài cốt của bà về nghĩa trang”.
Đại tá Huy Văn cho biết, Đại tướng vốn rất quý những bức thư ấy và ông thường nói chuyện về người vợ đầu trong trăn trở. Đại tướng thi thoảng lại thở dài nói: “Anh thương chị Thái lắm!”. Câu nói ấy, tình cảm ấy với người vợ đầu được Đại tướng nhắc lại nhiều lần trong những năm sau này.
Theo Giadinh.net
 
 
 Thứ sáu, 4/10/2013 21:51 GMT+7

Đời thường của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua ảnh

Kết thúc ngày làm việc khi trời đã tối mịt, đại tướng còn dành nhiều thời gian cho những gia đình có công với cách mạng, thăm lại chiến trường xưa. Ông thích chạy bộ, thi thoảng chơi đàn piano.

Khi còn làm việc tại Văn phòng Đại tướng, mỗi khi tướng Giáp dứt khỏi công việc, trời đã đều tối mịt. Tấm ảnh chụp lúc Đại tướng 83 tuổi.
Khi còn làm việc tại Văn phòng Đại tướng, mỗi khi tướng Giáp dứt khỏi công việc, trời đã đều tối mịt. Ảnh chụp lúc Đại tướng 83 tuổi.
tuong-513666-1368798728_500x0.jpg
Ông dành nhiều thời gian thăm hỏi các gia đình có công với cách mạng. Trong ảnh, Đại tướng hỏi thăm sức khỏe bà Nguyễn Thị Vĩnh (thọ 108 tuổi) ở Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) năm 1996.
vo-nguyen-giap-5-726882-1368798728_500x0
Đại tướng và mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Hồi năm 1996.
vo-nguyen-giap-272017-1368798728_500x0.j
Ông trò chuyện với người lính chăn ngựa (Nguyễn Hùng) của chiến khu Việt Bắc năm xưa.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975-1995).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp dự lễ kỷ niệm 20 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975-1995). Đứng cạnh ông là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
vo-nguyen-giap-6-942392-1368798728_500x0
Năm 1996, ông ngồi chờ tàu ở ga Geneva để đến Zurich (Thụy Sĩ).
vo-nguyen-giap-12-127689-1368798729_500x
Ông chụp ảnh kỷ niệm với các cựu chiến binh quận Hai Bà Trưng năm 1999.
vo-nguyen-giap-19-343115-1368798728_500x
Với ông Lê Giản (nguyên Giám đốc Tổng nha Công an thời kỳ 1946-1954) trong dịp chúc thọ Đại tướng tròn 90 tuổi, năm 2000.
vo-nguyen-giap-11-221508-1368798729_500x
Nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu tới thăm và chúc thọ đại tướng tại nhà riêng năm 2000.
Khi Đại tướng thăm đền Hai Bà Trưng (Phúc Thọ, Hà Tây cũ), một lão nông tặng ông đĩa bánh trôi tượng trưng cho lòng kính trọng của dân làng.
Khi đại tướng thăm đền Hai Bà Trưng (Phúc Thọ, Hà Tây cũ), một lão nông tặng ông đĩa bánh trôi tượng trưng cho lòng kính trọng của dân làng.
Ảnh tư liệu
 
 
Thứ sáu, 4/10/2013 21:51 GMT+7

Đời thường của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua ảnh (2)

vo-nguyen-giap-4-488756-1368798728_500x0
Các thiếu nữ dân tộc Thái đón chào đại tướng trở lại thăm chiến trường xưa sau nửa thế kỷ (2004).
Năm 2004, trong dịp trở lại Điện Biên Phủ, Đại tướng đã đi thăm hầm tướng De Castries - Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Đây là dịp ông trở lại Điện Biên Phủ, thăm hầm tướng De Castries - Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ... thường xuyên tới thăm hỏi Đại tướng. Trong ảnh, ông Trương Tấn Sang (nay là Chủ tịch nước) thăm Đại tướng năm 2008.
Các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ... thường xuyên tới thăm hỏi Đại tướng. Trong ảnh, ông Trương Tấn Sang (nay là Chủ tịch nước) thăm đại tướng năm 2008.
vo-nguyen-giap-9-227917-1368798728_500x0
Đại tướng tập thể dục trên bãi biển.
 
vo-nguyen-giap-8-355890-1368798728_500x0
Hoa bạch trà trước sân nhà riêng 30 Hoàng Diệu của đại tướng, loài hoa ông ưa thích.
Dù có tuổi nhưng Đại tướng vẫn miệt mài viết sách, làm việc.
Dù có tuổi nhưng đại tướng vẫn miệt mài làm việc...
Đại tướng nghỉ trưa trong lần thăm di tích Địa đạo Củ Chi (TP HCM).
Ông nghỉ trưa trong lần thăm địa đạo Củ Chi (TP HCM).
Bữa cơm của hai ông bà.
Bữa cơm của hai vợ chồng Đại tướng.
Lúc rảnh rỗi, ông ngồi chơi piano.
Lúc rảnh rỗi, ông ngồi thư giãn bên cây đàn piano.
Ảnh tư liệu

woensdag 2 oktober 2013

Sách kể mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương

Thứ tư, 2/10/2013 13:46 GMT+7

Sách kể mối tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương

Năm đó, Nguyễn Du 24 tuổi, ưu tư, thâm trầm; còn Xuân Hương đang tuổi 17 căng tràn sức sống và thông minh, sắc sảo. Mối tình của họ được viết trong cuốn sách "Nguyễn Du trên đường gió bụi".
Cuốn sách của tác giả Hoàng Khôi vừa xuất bản giữa tháng 9. Cuộc đời Nguyễn Du đầy thăng trầm theo những biến động thời thế, chính trị. Nguyễn Du trên đường gió bụi miêu tả 10 năm gió bụi trong cuộc đời tác giả Truyện Kiều, từ 1786 đến 1796.
Nguyễn Du sinh ra trong gia đình đại quý tộc, nhưng 10 tuổi thì mất cha, 13 tuổi mất mẹ, rơi vào cảnh mồ côi phải ở cùng anh cả, có lúc làm con nuôi của một vị quan, cũng có khi đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc.
body-chuan-4779-1380615248.jpg
Sách Nguyễn Du trên đường gió bụi của tác giả Hoàng Khôi
 
Năm 1790, Nguyễn Du ở tại gác tía gần Hồ Tây của anh Nguyễn Khản (lúc đó đang làm quan Tham tụng). Làng Nghi Tàm hồi ấy có gia đình thầy đồ Diễn trú ngụ. Gia đình thầy đồ có cô con gái duy nhất tên Xuân Hương. Xuân Hương đang ở tuổi 16 - 17, là cô gái xinh xắn, nghịch ngợm và có phần hiếu thắng do được ông bà thầy đồ Diễn chiều chuộng. Cô học chữ Hán, chữ Nôm rất nhanh, lại biết làm thơ, ứng đối thông minh, sắc sảo. Vì thế rất nhiều người trong đám học trò cảm mến Xuân Hương, nhưng nàng vẫn chưa thấy phục và yêu ai.
Theo Hoàng Khôi, Xuân Hương gặp Nguyễn Du trong một lần bơi thuyền đi hái sen. Họ kết bạn và nhanh chóng cảm mến nhau. Hoàng Khôi viết trong sách: “Xuân Hương gặp Nguyễn Du, thấy chàng vừa sâu sắc vừa thông minh hóm hỉnh nên ngày càng cảm mến. Còn Nguyễn Du trong nỗi cô đơn dằng dặc mấy năm trời, nay gặp được một cô gái trẻ sắc sảo, tài hoa lại mạnh mẽ nên tự nhiên thấy mình như có sự bù đắp. Dù chưa ai nói gì với ai, cả hai đều ngầm cảm nhận một tình cảm lạ đang nhen nhóm trong mình”. Hoàng Khôi còn kể chi tiết mối tình giữa Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, những khi họ quan tâm, chăm sóc nhau, cùng nhau đi chơi, thăm thú bạn bè hay luận thi ca.
Đặc biệt, cả hai hồn thơ lớn đều mượn thơ để nói hộ lòng. Với tính cách chủ động, Hồ Xuân Hương làm thơ tặng Nguyễn Du, bài thơ Hỏi trăng mà bà viết cũng là lời của một cô gái ướm hỏi ý người yêu: “Trải mấy thu nay vẫn hãy còn / Cớ sao khi khuyết lại khi tròn / Hỏi con bạch thỏ đà bao tuổi / Lại chị Hằng Nga đã mấy con? / Đêm tối cớ chi soi gác tía? / Ngày xanh còn thẹn với vừng son / Năm canh lơ lửng chờ ai đó? / Hay có tình riêng với nước non?". Với tâm hồn thi ca, đại thi hào cũng bày tỏ nỗi lòng sâu kín của mình qua bài thơ Thạch Đình tặng biệt. Bài thơ sau này được đưa vào tập “Lưu Hương Ký” của Hồ Xuân Hương: “Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời / Nước non sầu nặng muốn đi về / Cung hoàng diệu vợi đường khôn lọt / Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê / Đã chắc hương đâu cho lửa bén / Lệ mà hoa lại quyến xuân đi / Xanh vàng chẳng phụ lòng nhân ái / Tròn trặn gương tình cũng khó khi”.
Mối tình kéo dài trong ba năm, cho tới khi Nguyễn Du phải về lại Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh đề xây từ đường cho dòng họ. Sau đó, mỗi người đi một con đường. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn, cả hai lần lấy chồng đều làm lẽ.
Bên cạnh mối tình giữa Nguyễn Du với "bà Chúa thơ Nôm", cuốn sách Nguyễn Du trên đường gió bụi còn cung cấp nhiều tư liệu quý về cuộc đời đại thi hào, như chuyện Nguyễn Du theo Gia Long, hay thời điểm và hoàn cảnh ông sáng tác Truyện Kiều, giải thích tại sao những bài thơ tả cảnh vật, con người Trung Hoa nhưng lại không trùng với con đường mà ông đi sứ…
Trước Hoàng Khôi, đã có nhiều giai thoại, sách viết về cuộc đời Nguyễn Du, nổi bật trong số đó là Ba trăm năm lẻ (tác giả Vũ Ngọc Khánh, xuất bản năm 1988) và cuốn Nguyễn Du (tác giả Thế Quang, xuất bản năm 2010). Tuy nhiên cả hai cuốn trên đều nói sơ lược, thậm chí còn không nhắc tới khoảng thời gian 10 năm lưu lạc, vốn được coi là điểm mờ trong niên biểu về Nguyễn Du. 
Tác giả Hoàng Khôi tên thật là Vũ Ngọc Khôi, hiện nghiên cứu, giảng dạy văn học tại Hà Nội và là thành viên Hội Kiều học. Ông đã xuất bản 12 cuốn sách là những sáng tác văn học, sách nghiên cứu, bút ký. Để viết cuốn Nguyễn Du trên đường gió bụi, Hoàng Khôi đã tiếp xúc với nhiều công trình nghiên cứu có tính phát hiện mới về Nguyễn Du. Ông cũng gặp gỡ nhiều nhà khoa học, những chuyên gia ở Hội Kiều học để tìm hiểu cho cuốn sách này. Hoàng Khôi cho biết ông “dựng một chân dung Nguyễn Du theo cách mình hiểu” bằng tình yêu dành cho đại thi hào cùng với mong muốn được góp một chút gì đó cho quê hương Nghi Xuân của ông.
Hiền Đỗ