Posts tonen met het label Du Tử Lê. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Du Tử Lê. Alle posts tonen

zondag 3 april 2016

Du Tử Lê viết về "40 năm văn học Việt 1975-2015"


PHAN TẤN HẢI - Du Tử Lê viết về "40 năm văn học Việt 1975-2015"
(06/24/2015 11:59 AM) (Xem: 2229)
Tác giả : Phan Tấn Hải

(Việt Báo ngày 23-6-2015)Nói chính xác, nhà thơ Du Tử Lê chỉ viết sơ lược thôi, vì trước cả khối thông tin tràn ngập của thời sau 1975 với cuộc cách mạng Internet, không ai có thể viết đầy đủ hoặc chi tiết về các sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt từ 1975 tới 2015.
Nhưng 40 năm là một dấu mốc tốt, dấu mốc quan trọng, vì Du Tử Lê đã trải qua dài hơn 40 năm cầm bút, nơi đây ông ngắt khoảng ra để nói về những người sinh hoạt văn nghệ ông quan sát, trong và ngoàì nước -- những người có tác phẩm mà ông đã đọc, có sáng tác âm nhạc mà ông đã nghe, có phim hoặc biên đaọ vũ mà ông đã thưởng thức, có triển lãm tranh mà ông đã xem, có những thành công khi hòa nhập vào dòng chính văn học tiếng Anh hay tiếng Pháp mà ông chứng kiến, có thơ và truyện mà ông đã trân trọng theo dõi.

Cho dù gom trọn 40 năm vào một công trình lớn như thế, ông vẫn bày tỏ cảm nhận về tính bất toàn.

Du Tử Lê tự trình bày về tác phẩm biên khảo của ông có tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật (1975-2015)” rằng, trích:
“Cách đây nhiều năm, khi khởi sự viết tập sách này, vì không hề có tham vọng làm công việc giống như “tổng kết” hay “tổng quan” một giai đoạn VĂN HỌC NGHỆ THUẬT quá rộng lớn nên, chúng tôi đã giới hạn nội dung bằng cách minh thị ngay nơi tựa sách là: “Sơ lược 40 năm VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT (1975- 2015)”.
Chúng tôi cũng không hề có tham vọng đóng vai nhà phê bình văn học mà, chỉ là người thu thập, ghi nhận một số những tác giả hiện diện trong sinh hoạt VĂN HỌC NGHỆ THUẬT giai đoạn vừa kể, không phân biệt hải ngoại hay trong nước.
Việc phê bình, lượng định giá trị tác phẩm của giai đoạn này, tôi trộm nghĩ, là công việc của các nhà phê bình văn học.
 
Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh, những tác giả không có tên trong cuốn sách này, không phải vì đóng góp của họ không đáng kể (đôi khi trái lại) - Tuy nhiên vì những lý do chủ quan hay khách quan, như:
- Thiếu tư liệu. (Hoặc)
- Chúng tôi đã viết xuống, nhưng vì giới hạn số trang do công ty Amazon quy định, nên chúng tôi buộc lòng phải để dành cho một lần in khác.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm cho rõ:

- Có những tác giả khởi nghiệp tự trước thời điểm tháng 4- 1975, như các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Tường Giang, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Thánh Thư...; các nhà báo như Đỗ Ngọc Yến, Lê Thiệp, Vũ Ánh, Lê Đình Điểu...; hoặc các nhạc sĩ như Đăng Khánh, Trần Duy Đức, Trần Quảng Nam... Nhưng họ chỉ được quần chúng biết đến nhiều kể từ ngày định cư tại hải ngoại...

Do đấy, chúng tôi chọn ghi tên họ trong giai đoạn VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT 1975- 2015.

- Cũng có những tác giả hiện diện ở nhiều hơn một lãnh vực, thí dụ từ văn xuôi, thi ca tới phát thanh, báo chí như Trần Trung Đạo, Phạm Quốc Bảo, Việt Dzũng... thì, chúng tôi chọn ghi tên họ nơi chương mục mà, dư luận chung cho rằng họ nổi bật nhất.

- Chúng tôi chọn viết, giới thiệu một số tác giả, có thể còn xa lạ với đám đông. Nhưng trong ghi nhận của tôi, họ đã vượt được chính họ về nội dung hay hình thức... Hoặc ở nơi họ, có đôi nét đặc biệt nào đó mà, tôi không thấy ở các tác giả khác.

- Vì hoàn ảnh địa lý / chính trị đặc biệt của đất nước, trong cuốn sách này, chúng tôi cũng thêm một chương tạm gọi là “Những văn, nghệ sĩ vào được dòng chính”, như các nhà văn Lan Cao, Thuận, họa sĩ Nguyễn Việt Hùng, nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường, hay biên đạo múa Thắng Đào...

- Lại nữa, tên tác giả được sắp xếp theo alphabetic, căn cứ vào chữ đầu, mà không y cứ theo thời gian bài viết được phổ biến.

Ngoài ra, mọi khiếm khuyết khác không thể tránh khỏi, thuộc trách nhiệm của cá nhân chúng tôi.
Dám mong bạn đọc rộng lòng lượng thứ.”(hết trích)

Chỗ này xin nói thẳng với nhà thơ Du Tử Lê và nơi đây là nhà biên khảo văn học:

-- Ông nói rằng ông “không hề có tham vọng” nhưng công việc của ông đã rất mực công phu, chưa ai vượt qua được khi nói về thời kỳ 40 năm văn học nghệ thuật này;

-- Ông nói rằng ông không đóng vai nhà phê bình văn học, nhưng ngay việc ông lựa chon tác giả để đưa vào bộ sách văn học nghệ thuật – thí dụ, chọn người làm thơ để đưa vào sách, không chọn người làm vè – cũng là một tiến trình sàng lọc cuả nhà phê bình;

-- Việc chọn người đưa vào sách cũng không dựa theo đám đông, mà chọn vì, theo ông, “họ đã vượt được chính họ về nội dung hay hình thức” cũng là một phê bình công phu rồi vậy.

Sự khiêm tốn của Du Tử Lê thực sự chỉ để dè dặt nói về những thiếu sót có thể có. Và dĩ nhiên, ai cùng có thể có thiếu sót.
Phải chăng, Du Tử Lê muốn để giành các thiếu sót trong sách này cho các nhà nghiên cứu khác?

Thí dụ, trong Chương Một về Âm Nhạc,” Du Tử Lê không bàn về cổ nhạc, không nói về vọng cổ hay đàn tranh, đàn bầu… Một phần có thể hiểu, vì riêng chương này đã nói về 12 nhạc sĩ có ảnh hưởng lớn trong thời kỳ 1975-2015. Nếu chọn theo tiêu chuẩn “ảnh hưởng” sẽ thấy rằng chỉ có sáng tác tân nhạc là sức mạnh lớn và có những dấu mốc lịch sử thấy rõ.

Đó là lý do, Du Tử Lê viết về các ca nhạc sĩ: Đăng Khánh, Đào Nguyên, Trọng Nghĩa và Mộng Lan, Nguyên Bích, Phạm Anh Dũng, Trần Duy Đức, Trần Quảng Nam, Trúc Hồ, Tuấn Anh, Việt Dzũng…

Vâng, đúng là có nhiều nơi Du Tử Lê không phải là nhà phê bình văn học. Thí dụ, khi viết về một dòng nhạc rất riêng, Du Tử Lê nhìn bằng cặp mắt ngó suốt một cõi thâm sâu, để thấy nhạc và thơ đã trở thành thịt xương trộn lẫn mang tên Trần Duy Đức, trích:

“Họ Trần muốn đi tới những chân trời mà, điểm gặp cũng là chỗ giao thoa giữa thơ và nhạc. Họ Trần muốn đi tới phần ngọn nguồn tinh ròng hay, thẳm cùng đáy sâu thử thách. Nơi những rung động cảm thức không chia hai. Chỉ là một. Sự là-một, rốt ráo của thi-ca vốn chưa từng phân, ly. Chưa từng ngăn cách.

Hôm nay, giữa quê người, ở tuổi ngoài sáu mươi, với hơn hai mươi năm ăn ở thủy chung với thi-ca, chân dung âm nhạc của họ Trần, là chân dung Thi-Ca. Diện mạo đó, không phải là diện mạo song sinh của hai giọt nước, hai cõi đời văn chương và nghệ thuật - - (Mà,) nó đã là một. Một định hình, duy nhất. Một thịt xương, trộn lẫn, duy nhất.

Chính tính bất khả phân kia, nơi đời kiếp âm nhạc mang tên Trần Duy Đức, đã làm thành một Trần Duy Đức, riêng. Rất riêng.”(trang 59)

Trong Chương 2 về Xuất Bản, Du Tử Lê viết về Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Lê Thiệp, Ngụy Vũ, Phạm Quốc Bảo, Vũ Ánh, Vũ Quang Ninh.

Dĩ nhiên là thiếu sót, có thể hiểu được. Tất cả các nhân vật ngành xuất bản này (duy Vũ Quang Ninh có đỉnh cao riêng về sự nghiệp phát thanh) đều là người hải ngoại, không ai trong nước.

Trong đó, có người cựu tù cải tạo nổi tiếng là Vũ Ánh, người khi còn trong trại tù cộng sản đã cùng một số bạn tù làm báo chui, lấy tên báo Hợp Đoàn, và khi bị lộ, riêng Vũ Ánh bị thêm 6 năm cùm và biệt giam. Tới khi sang Hoa Kỳ, Vũ Anh lao vào một say mê mới: tìm đọc hồ sơ mật về chiến tranh Việt Nam do Bộ Ngoaị Giao Mỹ và Ngũ Giác Đài giảỉ mật. Đọc như thế, vừa phải giỏi tiếng Anh, vừa phảỉ có kiến thức rộng để đối chiếu các hồ sơ mật.

Do vậy, Vũ Anh cũng là một hiện tượng làm Du Tử Lê khâm phục, và đã viết trong bài “Kẻ sĩ thời nhiễu nhương / Vũ Ánh/ không còn nữa” nơi Chương 2, trích:

“…Ngồi với nhau chung một ghế salon nơi phòng khách nhà Khánh Hòa, tôi nói với bạn tôi về tài liệu bí mật chiến tranh VN, Ngũ giác đài mới giải mật mà, bạn tôi đang dịch từng kỳ cho báo Sống. Tôi cũng nói với bạn tôi rằng, tôi có theo dõi loạt hồi ký 13 năm tù cải tạo của bạn, hàng tuần... Trước khi có nhiều khách tới, tôi còn kịp nói với ông, lòng khâm phục của cá nhân tôi và, lập trường bất thối chuyển của ông về các vấn đề lớn của đất nước..." (trang 158-159)

Nơi Chương 3 là “Điện Ảnh, Sân Khấu”… Dĩ nhiên, Du Tử Lê không viết đầy đủ về lĩnh vực này. Ông không viết về các vở cải lương. Nhưng chỉ riêng về những người ông đưa vào tuyển tập, hẳn là cũng đủ cho quan tâm nhiều thành phần trong công chúng.

Trong chương này, Du Tử Lê viết về đạo diễn Đinh Anh Dũng, về Lê Đình Ysa người dựng rạp VAALA cho các đạọ diễn gốc Việt chiếu phim trong các dịp đaị hội điện ảnh hàng năm, về Thắng Đào người biên đạo vũ Ballet trên sân khấu Mỹ, và về “những đạo diễn trẻ và Trần Anh Hùng trên màn ảnh thế giới.”

Du Tử Lê trong chương này đã viết về Lê Đình Ysa, trích:

“…Nhưng, những gì Ysa đã làm, theo tôi, nó còn bắt nguồn từ một trái tim lớn. Trái tim của một người trẻ ở quê người, muốn nâng hai chữ Việt Nam lên tầm cao hơn, xa hơn nữa, giữa quảng trường Văn Học Nghệ Thuật thế giới, (từ đôi vai nhỏ bé, gầy guộc của mình!).

Chính điều này, khiến tôi thấy, đóng góp của Ysa cho Việt Nam, đáng trân trọng như bất cứ một đóng góp to lớn nào ở các lãnh vực khác, của những người trẻ Việt khác, nơi quê người, 40 năm qua.

Tôi tin, những đóng góp đó, của Ysa, sẽ còn ở lại với Việt Nam nhiều lần 40 năm, không chỉ nơi quê người mà, luôn cả ở quê nhà, nữa.”(trang 192)

Trong Chương Bốn về Hội Họa, Du Tử Lê viết về các họa sĩ Khánh Trường, Lê Tài Điển, Lê Thánh Thư, Lê Thiết Cương, Vũ Hối. Như thế, nếu nói về điạ lý, các họa sĩ này ở nhiều quốc độ khác nhau ở toàn cầu và có nét vẽ ở các trường phái dị biệt nhau.

Trong bài tựa đề "Khánh Trường, ám ảnh bất toàn trong văn chương và đời sống" nơi Chương 4, Du Tử Lê đã viết, trích:

"Nếu phải chọn một nhà văn tiêu biểu cho trường hợp hay, hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn, trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại hơn một phần tư thế kỷ qua, tôi sẽ chọn Khánh Trường. Nguyễn Khánh Trường.

Tôi chọn Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường không phải vì ông là họa sĩ, cùng lúc nhà văn, cùng lúc nhà thơ và cùng lúc nhà báo.

Nơi quảng trường sinh hoạt văn nghệ của chúng ta trong nước, cũng như hải ngoại, không chỉ có một Khánh Trường vừa vẽ, vừa làm thơ, viết văn, lại còn làm báo nữa. Chúng ta có khá nhiều nghệ sĩ, ở trường hợp này. Đó là những lãnh vực, tự nó, có những mối tương quan liền lạc hữu cơ.

Tôi chọn Khánh Trường có dễ bởi Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường tiêu biểu cho ý niệm khá buồn thảm: Người là con vật bị ngộ nhận.”(trang 209-210)

Nơi Chương 5 về “Những Tác Giả Nhập Được Vào Dòng Chính,” Du Tử Lê viết về:

- Lan Cao, cây bút Việt vào được dòng chính văn chương Hoa Kỳ;
- Nguyễn Mạnh Cường, thành công với nỗ lực đem nhạc tới với th1nh giả Hoa Kỳ;
- Tính nhất thể nghệ thuật nơi tranh Nguyễn Việt Hùng;
- Thuận (Paris), nhà văn thận trọng từng dấu phẩy, dấu chấm.
Trong bài “Tính nhất-thể-nghệ-thuật nơi tranh Nguyễn Việt Hùng” Du Tử Lê viết, trích:

“…Tuy nhiên, ở vị trí người thưởng ngoạn, tôi cho căn bản, cõi giới tranh Nguyễn Việt Hùng vốn là một cõi giới mang tính biểu cảm mạnh mẽ, dữ dội - - Không chỉ qua màu sắc mà, nó còn lung linh nơi những hình tượng, những họa tiết vi tế, tỉ mỉ, công phu… Như những nỗ lực xuyên thấu độ sâu cảm thức. Ông thường dùng nhiều màu nóng, cho những bức tranh sôi động nhiệt hứng của mình. Nhưng ngay cả khi ông dùng màu lạnh để dẫn dắt người xem chìm vào cõi tĩnh lặng thì, độ “nóng” nơi những game màu này của Nguyễn Việt Hùng, cũng vẫn hất ngược người xem vào những địa giới vô thức, nhục cảm.

Lại nữa, với tôi, dường như tương quan giữa thiên nhiên và nhục cảm trong hội họa Nguyễn Việt Hùng cũng đã trộn lẫn, cũng đã hòa tan, để trở thành nhất-thể.

Nói cách khác, cuối cùng, thiên nhiên hay bất cứ tâm thái nào khác, một khi đã đi vào cõi giới hội họa Nguyễn Việt Hùng, cũng đều trở thành nhất thể. Đó là nhất-thể-nghệ-thuật mang tên Nguyễn Việt Hùng, vậy.”(trang 267-268)

Trong Chương Sáu về Thi Ca, Du Tử Lê đã viết về: Nguyễn Tuyết Lộc, Nguyễn Đông Nhật, Nguyễn Thanh Văn, Bùi Vĩnh Hưng, Cao Đông Khánh, Đa Mi, Đặng Hiền, Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Tấn Đạt, Đoàn Minh Châu, Hà Duy Phương, Hồ Minh Tâm, Hoàng Thượng Dung, Lê Nguyên Tịnh, Lê Phương Châu, Miên Di, Ngô Tịnh Yên, Ngọc Hoài Phương, Ngưng Thu, Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Hoàng Anh Thư, Nguyễn Lâm Thắng, Nguyễn Phương Thúy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Phạm Chu Sa, Phan Tấn Hải, Phương Uy, Trần Kiêm Thêm, Trần Mộng Tú, Trần Thi Ca, Xuyên Trà.

Chúng ta thử lật ra một trang bất ngờ, thí dụ, bài “Vai trò thi-nhãn trong thơ Ngô Tịnh Yên,” trong này Du Tử Lê nhận định:

“Đúng như ghi nhận của nhà thơ Luân Hoán, “Lục bát năm 2000” của Ngô Tịnh Yên, xuất bản năm 2002, đã đem họ Ngô ra khỏi hàng ngũ những người nữ làm thơ cùng thời. Lục bát Ngô Tịnh Yên qua thi phẩm này, cũng đem lại cho họ Ngô một vị trí riêng. Một chỗ ngồi khác.” (trang 391)

Và nơi đây, chúng ta có thể trích thơ Ngô Tịnh Yên:

“Gió đem sợi tóc chẻ hai
Mưa chẻ những giọt ngắn dài vấn vương
Tình yêu chẻ những vết thương
Biệt ly chẻ những con đường lá bay
Hoa hồng chẻ mấy nhánh gai
Đường ngôi chẻ một, bàn tay chẻ mười
Con sông chẻ sóng bồi hồi
Nỗi buồn chẻ nhỏ, nỗi vui chẻ ngàn
Củi ngo còn dóm bếp than
Lòng tôi ai chẻ những tàn tro bay?”(trang 393)

Và thử mớ ra một trang bất kỳ khác, thí dụ, bài "Khi văn chương Nguyễn Thị Khánh Minh hắt bóng trên dặm trường nhân thế" Du Tử Lê nhìn về nhà thơ nữ họ Nguyễn:

“Nhưng điều tôi biết được, cho đến ngày hôm nay thì, Thi Ca và Nguyễn Thị Khánh Minh chính là một hôn phối lý tưởng. Mỗi phía đã tìm được nửa phần trái tim thất lạc của mình.

Tôi gọi đó là một hôn phối lý tưởng vì, khởi tự cuộc phối ngẫu này, những con chữ đằm đằm chân, thiết ra đời.

Những con chữ được sinh thành từ tình yêu Thi Ca / Nguyễn thị Khánh Minh, khoác nơi tay nó những hình tượng mới mẻ, hắt bóng trên dặm trường nhân thế, những chiếc bóng lấp lánh thương yêu và, những nhịp chuyển, dịch mới, tách, thoát hôm qua.

Dù cho đôi lúc, nghỉ chân nơi dọc đường gập ghềnh trí tuệ cam go, Nguyễn Thị Khánh Minh chợt thấy: “Thương niềm đau từng mặt chữ long lanh…”…”(trang 454)

Cũng nơi đây, xin mời đọc mấy dòng thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh:

“Thơ,

Có khi Nó cõng tôi qua một cơn phiền muộn
Có khi Nó cho tôi một giấc mơ bình yên
Với những lãng quên cần thiết
Đôi khi Nó khiến tôi thành con bé
Nhìn mọi điều với con mắt mơ mộng cả tin
...
Cho tôi bay cao
Chỉ riêng nỗi đau từ chính Nó gây ra
Nó lại không làm gì cả
Chỉ thản nhiên bóc ra từ tôi những hạt lệ..."(trang 456-457)

Nơi Chương Bảy về “Văn Xuôi” Du Tử Lê viết về các nhà văn, nhà phê bình, với: Cao Xuân Huy, Đặng Phú Phong, Đặng Thơ Thơ, Đào Hiếu, Đỗ Vẫn Trọn, Hà Quang Minh, Kha Thị Thường, Lê Đình Đại, Lê Lạc Giao, Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Tường Thiết, Phạm Xuân Đài, Trần Hoàng Trúc, Trần Thu Miên, Trần Trung Đaọ, Trần Yên Hòa.

Trong bài “Cao Xuân Huy, tính lương thiện của một nhà văn,” tác giả Du Tử Lê ghi lại suy nghĩ về nhà văn họ Cao:

“Nếu có những người dành cả một đời để viết văn, xuất bản hàng chục tác phẩm chỉ với mục đích mong muốn được đời nhìn nhận là nhà văn mà, thực chất không đạt được thì, Cao Xuân Huy, ngược lại. Ông được văn giới nhìn như một nhà văn đúng nghĩa với tác phẩm “Tháng Ba Gẫy Súng,” ấn hành lần thứ nhất năm 1985....

... Tôi cũng không biết có phải định mệnh đã chọn Cao Xuân Huy làm một (trong vài) nhân chứng chiến tranh ở phía khác của chiến tranh? Phía của những sự thật trần truồng và, những vinh quang tự thân không cần thêm son phấn?” (trang 527-582)

Đặc biệt, trong bài viết “Lê Lạc Giao, tính điềm tĩnh trong cõi-giới truyện ngắn,” Du Tử Lê đã nhận ra một văn phong lạ ở họ Lê, trích:

“Tôi thấy, tôi cần phải nói ngay rằng, tôi thích lắm cái phong thái điềm tĩnh của họ Lê, trong truyện “Nụ cười buồn mùa hè” và, “Bên này ước vọng”.

Tôi hằng nghĩ, thước đo chuẩn xác nhất tài năng một nhà văn, ở lãnh vực truyện kể là, tính điềm tĩnh.

Vẫn theo tôi, nhà văn chỉ làm chủ được ngòi bút (những xung động) của mình, khi y có được cái phong thái điềm tĩnh. Để không bị lôi tuột, cuốn trôi theo cường lực thủy triều của những đột biến tình cảm lúc sáng tác.

Nếu cần phải cho điềm tĩnh một tên gọi thì, tôi muốn gọi đó là những dấu lặng, cần thiết. (Như những dấu lặng trong âm nhạc).
Chúng cho nhà văn cơ hội nhìn ra, ghi xuống nhiều chi tiết. Những chi tiết giúp Truyện có được sự giầu có. Thậm chí, chiều sâu.
Đọc truyện ngắn Lê Lạc Giao hôm nay, tôi lại trộm nghĩ, có dễ cũng từ phong thái điềm tĩnh kia mà, Lê Lạc Giao đã làm mới được những mô tả, trong cõi-giới truyện ngắn của mình.”(trang 618-619)

Nhìn tổng quan, hơn 700 trang sách nhìn về 40 năm văn học nghệ thuật 1975-2015, nhà thơ Du Tử Lê đã làm một việc rất là cực nhọc, công phu, hy hữu.

Hoàn toàn không dễ để ghi lại như thế, công việc vừa là của nhà biên khảo văn học sử, vừa là giữ vai trò của người thưởng thức nghệ thuật, đánh giá và phê bình.

Trong 4 thập niên qua, đây là tác phẩm công phu nhất để giữ vị trí gần như một Tự Điển Bách Khoa về Các Tác Giả Văn Học Nghệ Thuật.
Độc giả muốn tìm mua sách có chữ ký của tác giả, xin liên lạc với: phanhanhtuyen@gmail.com / Tel: (714) 383.4937
Độc giả cũng tìm mua qua Amazon.com

_
_________

Phụ chú: 
Bạn đọc khắp nơi, có thể order thẳng từ công ty ấn hành sách Amazon, hay nhà sách Tự Lực, Email: buybooks@tuluc.com.
Nếu muốn có chữ ký tác giả, xin vui lòng liên lạc Email: phanhanhtuyen@gmail.com
Hoặc thư về Phan Hạnh Tuyền, địa chỉ: 12751 Lucille Ave., Garden Grove, CA 92841-4711. 
* Tại Việt Nam, chúng tôi có nhận giao sách tận nhà: Liên lạc với Cô Sóc 0902604722

http://dutule.com/D_1-2_2-150_4-7056_5-10_6-1_17-45_14-2_15-2/phan-tan-hai-du-tu-le-viet-ve-40-nam-van-hoc-viet-1975-2015.html

ĐẶNG PHÚ PHONG - Điểm, Sơ Lược 40 Năm Văn Học Nghệ Thuật Việt (1975- 2015) quyển 2.
(09/12/2015 12:17 PM) (Xem: 2048)
Tác giả : Đặng Phú Phong

Nhà thơ Du Tử Lê vừa mới cho phát hành 40 Năm Văn Học Việt (1975-2015) cuốn 2, tiếp theo tập 1 phát hành trong thàng 4/ 2015. Sách gồm 5 chương: Âm nhạc, Báo chí & Xuất bản, Hội họa, Thi ca và Văn xuôi, viết về 45 tác giả trong và ngoài nước:
Chương 1: Âm nhạc:
- Bản ngã nhị trùng và tố chất nhạc sĩ: Hải Nguyên,
- Nhất Chi Vũ và, những biến đổi nhạc thuật hôm nay (PV).
- Ngọc Uyên, hát như một hành trình đi tìm chính mình.
- Nguyễn Cao Nam Trân, tiếng hát chở quá khứ vào lấp lánh mai sau.
- Nguyên Long: “Thi ca món quà đặc biệt trong lãnh vực văn chương” (PV).
- Phạm Gia Cổn, từ âm nhạc tới Hoàng Hạc.
- Quỳnh Giao, hát, viết như đi tìm chân dung mình qua học thuật.
- Thái Xuân, nữ đại-sứ-tân-nhạc-Việt-xứ-người.
- Trần Dạ Từ và, cuộc cách mạng xanh cho ca khúc.

Chương 2: Báo chí, xuất bản:
- Đoàn Thạch Hãn / Đoàn Kế Tường: Hai tên gọi, một kiếp đời oan nghiệt.
- Phương Dung, và sự tái sinh của các Lạt Ma Tây Tạng.

Chương 3: Hội Họa
- Ann Phong, người đem được sắc màu Việt Nam tới quảng trường hội họa thế giới.
- Những nẻo đường văn chương, hội họa quyết liệt của Võ Công Liêm.

Chương 4: Thi Ca
- Hư-ảo-hình, làm thành hư-ảo-thơ Đoạn Trường.
- Từ Vương Kim Vân tới Lê Giang Trần: bập bùng những hơi thở buồn!
- Nguyễn Khắc Nhượng, thơ như một cứu rỗi.
- Nguyễn Khôi, Hà Nội, một nhan sắc khác.
- Nguyễn Ngọc Hưng, tấm gương lớn của một nhà thơ vượt cao, trên số phận.
- Nguyễn Ngọc Hạnh, “một đời lụy với câu thơ”.
- Nguyễn Phương Thúy, “Ba mươi nỗi buồn em cổ điển”, một nhan sắc thi ca ẩn hương.
- Tính dịu dàng Việt trong thơ Nguyễn Thị Bích Thoa.
- Những dặm đường xốn xang chữ, nghĩa Nguyễn Thiên Ngân.
- Nguyễn Xuân Thiệp, xương rồng nở hoa cùng “gió mùa”.
- Phạm Thị Ngọc Liên, ngọn pháo bông thi ca, ngày tới.
- Phạm Ngọc, người từ chối xài tiền giả trong thi ca.
- Trả lại chỗ đứng cho thơ Phượng Trương Đình.
- Tạ Tự, thi sĩ đến từ thế giới khác.
- Thiên Giang, những câu thơ mang tính định đề.
- Trần Lê Sơn Ý, những công án thi ca khôn giải đáp?
- Trịnh Sơn, người sớm tìm được cho thơ, cách-nói-khác.
- Nhan sắc mới cho thơ Trúc Thanh Tâm.
- Trương Thị Bách Mỵ, bản lãnh chữ, nghĩa của một người làm thơ trẻ ở VN.
- Tính siêu thực trong lục bát Trương Xuân Thiêm
- Chia tay và, trở về lục bát, qua thơ Sỹ Liêm.
- Võ Chân Cửu, con đường lênh đênh thiết tha chữ, nghĩa.

Chương 5: Văn xuôi:
- Bùi Bích Hà, trong cõi văn chương nữ giới, quê người.
- Châu Thụy, tái hiện bi kịch vượt biển trong “Vực Xoáy”.
- Lê Minh Hà, Nam Cao thời hiện đại?
- Lữ Thị Mai, trên dặm trường chữ, nghĩa nong chặt ám ảnh và, nỗi niềm trong thơ, văn.
- Những con chữ hân hoan búng mình trên mặt sông chữ, nghĩa Lữ Quỳnh.
- Nam Dao, cái đẹp, ân sủng của đời sống.
- Nguyễn Ngọc Bảo, ngày xuân đỏ đen cùng chữ nghĩa với hội VHKHVN và, trò chơi thả thơ với thơ Du Tử Lê.
- Những tiếng kêu thảng thốt trong văn Nguyễn Chính.
- Nguyễn Hồng, thế hệ nhà văn không có trong tay la bàn!
- Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt.
- Nguyễn Xuân Tường Vy, “mắt thuyền”. Trôi tới.
- Những ngọn nến văn chương mang tên Phan Thị Vàng Anh.
- Võ Thị Xuân Hà, trầm tích chữ nghĩa, văn chương một thời.

Xem cách Du Tử Lê dùng những tiểu tựa để tóm tắc về mỗi tác giả, người đọc không khỏi thích thú tính chất văn chương gần gũi phù chú của ông. Hình như có một người nào đã nói là ”Nhà thơ Du Tử Lê là một phù thủy chữ nghĩa”, xem ra câu nói này, nếu ta thay vào là Nhà văn Du Tử Lê thì cũng sẽ không làm thay đổi nghĩa của nó..
Để nhấn mạnh thêm đề tựa “ Sơ lược…” tác giả viết trong phần mở đầu:” chúng tôi không phải, (sẽ không bao giờ) tự nhận là một nhà phê bình văn học - Mà, chúng tôi chỉ là người ghi lại ít, nhiều cảm nghĩ của mình về một giai đoạn VHNT Việt phong phú, đa dạng, nhiều hứa hẹn tương lai rực rỡ...”
Về tiêu chí chọn các tác giả trong cả 2 tập, Du Tử Lê cho biết, giống như tập 1 “ chọn giới thiệu một số tác giả có mặt trong sinh hoạt 20 năm VHNT Miền Nam (1954-1975). Nhưng sau 1975 họ mới xuất bản tác phẩm hoặc, được độc giả biết đến một cách rộng rãi hơn. Như nhà văn, nhà thơ Lữ Quỳnh, Võ Chân Cửu, Nguyễn Khắc Nhượng, nhà báo Đoàn Thạch Hãn (tức Đoàn Kế Tường) v.v... “ Ngoài ra, ông cũng cho biết ông: “ đặc biệt chú ý tới những người trẻ. Những người mới cầm bút. Tên tuổi của họ, có thể còn xa lạ với đa số bạn đọc. Nhưng, nếu cá nhân chúng tôi tìm thấy ở nơi họ một hay vài đặc điểm, ít thấy nơi những tác giả khác; hoặc họ cho thấy đã vượt qua được chính họ thì, chúng tôi cũng rất hân hoan dành ưu tiên, cụ thể là một số trang sách đáng kể, cho họ... Như lời chào mừng những dòng nước VHNT đang sung mãn quăng mình về chân trời...”.
Trong suốt hai tập Sơ Lược 40 Năm Văn Học Việt (1975-2015), qua hàng trăm tác giả, “ngòi bút” Du Tử Lê đã bình nhiều hơn phê bằng một bút pháp thật đặc biệt: thoáng, nhẹ nhàng, trang trọng và nhất là có tính chất khẳng định qua những cụm từ (khá nhiều) hết sức là khiêm nhường như : “Tôi e rằng…”, “Trộm nghĩ rằng… ” , “Phải chăng vì thế mà…” trước khi đưa ra nhận định của ông về một tác giả nào đó. Những nhận định hoàn toàn có cơ sở và khoa học. Tôi nghĩ rằng, nếu không nghiên cứu cẩn trọng, nếu không có sự hiểu biết sâu sắc về tác giả viết đến, Du Tử Lê không thể gửi đến người đọc những tác giả văn, thơ những nghệ sĩ về âm nhạc, hội họa mà trong đó ngoài những tên tuổi quen thuộc còn có những tác giả hãy còn khá mới mẻ trong giới văn học nghệ thuật. Trong những tác giả “mới” này, qua sự chắt lọc kỹ lưỡng của mình, và, cẩn thận hơn nữa, Du Tử Lê đã đem cả kinh nghiệm của mình để giới thiệu tác giả đó bằng bài phỏng vấn với những câu hỏi không “dễ “ chút nào.( Nhất Chi Vũ và, những biến đổi nhạc thuật hôm nay). Với khả năng bay lượn với câu thơ, vận dụng kỹ thuật tinh tế cho thơ của mình, Du Tử Lê đã có thể chỉ ra những sắc thái thật tiêu biểu của những nhà thơ trẻ, mới xuất hiện như khi viết về nhà thơ Phượng Trương Đình : “Điều tôi ngạc nhiên, chú ý và thấy được là, chỉ trong một thời gian ngắn, tiếng thơ Phượng Trương Đình đã làm một cuộc hóa thân ngoạn mục. Thơ Trương Đình như diều gặp gió: Bay bổng tới những vùng trời cao rộng hơn: Từ khả năng vận dụng chữ nghĩa ở khía cạnh Tu từ học ( Rhetoric) , qua tới những kỹ thuật mang tên Ẩn dụ (Metaphor), Hoán dụ(Metonymy), Biểu dụ (Synecdocher) hay Nghịch dụ (Irony)...” Hay viết về nhà thơ Nguyễn Phương Thúy: “Người đọc sẽ thấy rất nhiều trong ‘con đường thơ Nguyễn Phương Thúy’ những so sánh, liên tưởng thông minh và, ý thức.
Thí dụ, khi một trong những chủ-ngữ của bài thơ ‘Khi ta ba mươi’” là ‘nước biển’. Nguyễn Phương Thúy viết: ‘Chắt từ biển có đôi dòng nước mặn’ (ngụ ý đôi dòng lệ). Rồi ‘Nắng gửi cho em sấy thành hạt muối trắng’.
Chỉ với hai câu thơ này thôi, chúng ta đã thấy ‘liên tưởng của liên tưởng’ đuổi bắt nhau, thành một đoạn phim ba chiều, liên tục. Và, khi muối (hay nước mắt) chất vào quang gánh đi dọc hành trình đời sống thì: ‘Đôi quang gánh đong đưa theo chiếc bóng/Lặng thinh mà như kể hết gian truân’.
Nói cách khác, rõ hơn, Nguyễn Phương Thúy đã không liên tưởng ‘nước biển’ với đất, đá, chim muông hay bất cứ một hình ảnh không tương thích nào khác.
Về phương diện kỹ thuật, theo tôi, cao hơn một bậc, là kỹ thuật nhân cách hóa. Trong “Con đường thơ Nguyễn Phương Thúy” hay thi phẩm “Ba mươi, nỗi em buồn cổ điển”, Nguyễn Phương Thúy không chỉ nhân cách hóa những sự vật cụ thể, mà, Nguyễn còn cho thấy khả năng nhân cách hóa cả những sự kiện trừu tượng, vô hình nữa.
Thí dụ:
Ba mươi năm đủ dài để chăm bẵm giấc mơ”
Hoặc:
Ở phía cuối chân trời hạnh ngộ ốm chênh chao”
(Trích “Nỗi buồn em cổ điển”)
Bên cạnh đó không thiếu những dí dỏm và sâu sắc như khi viết về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư:
Đôi người có ý so sánh văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư với hai nhà văn tiền bối Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam.
Riêng tôi, tôi không thấy một tương cận nào giữa ba tác giả ở hai giai đoạn văn chương, khác nhau quá xa này. Họ chỉ có một điểm đồng quy là sử dụng tối đa ngôn ngữ Nam Bộ. Ngoài ra, nếu Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam gặp nhau ở bối cảnh Nam Bộ thời khai hoang, đất phèn chưa lắng thì, Nguyễn Ngọc Tư lại giới thiệu vùng quê Nam Bộ trong giai đoạn đầu của nỗ lực hiện đại hóa, với tất cả những chông chênh, lệch pha của một thứ tư bản... mới.
Lại nữa, là phụ nữ, nên cách xử dụng động từ, tính từ... của Nguyễn Ngọc Tư, như những cái liếc mắt sắc lẻm dao cau - Một ưu thế khác của Nguyễn trong cuộc trường chinh chữ, nghĩa. Thí dụ:
Cho dù người đàn ông ấy có quá nhiều nốt ruồi, cho dù chẳng cao ráo, đầu ít tóc... nhưng với chiếc ghe chở đầy vải vóc, những người đàn bà lam lũ quê tôi vẫn thường trông ngóng ông ta. Tất cả họ đều trở thành trẻ thơ khi bước chân lên ghe, họ tíu tít, háo hức, họ thèm muốn đến bồn chồn rồi dùng dằng trở lên bờ với tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi, thấy mình già khi ngang qua bồ lúa vừa hót bớt một lỏm, thằng cha bán vải lấy mấy giạ mà như khứa một ít tuổi xuân đi. Cả đời, cái bồ lúa luôn làm lòng họ đau đáu, khi nghĩ tới bệnh tật, chuyện cất lại cái nhà, hay dựng vợ gả chồng cho con cái.
Bồ lúa nhà tôi đã cạn từ sau Tết. Điều đó làm má tôi hơi buồn, nhưng người bán vải xăng xái bảo, ‘Cô Hai cứ coi đi, không mua cũng được - rồi ông ta sửng sốt khi thấy má rạo rực khi ướm thử những khúc vải rực rỡ lên người - Chèn ơi, coi nó bình thường vậy mà khoác lên mình cô Hai lại thấy sang quá trời... ’
(Với tôi, động từ “khứa” trong ngữ cảnh “... thằng cha bán vải lấy mấy giạ mà như khứa một ít tuổi xuân đi...” Là một chữ không thể “đắt” hơn mà, ngay với thi ca, chúng ta cũng ít gặp).
Cũng vậy, ở đoạn văn ngắn sau đây, những tính từ được Nguyễn chọn dùng, cũng đậm tính thi ca. (Một thiếu vắng trầm trọng nơi văn xuôi của những cây bút trẻ, hôm nay):
... Những bữa ăn nối tiếp nhau trong im lặng. Lúc và cơm, tôi hay bị ảo giác, tưởng mình đang ngồi trên cánh đồng của chín năm trước. Một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khói nắng héo xèo, một nhúm mây rất mỏng và rời rạc bay tha thểu trên cao. Đường chân trời mờ mờ xa ngái. Một vài gò mả loang lổ dưới chòm trâm bầu. Tiếng chim kêu nhỏ từng giọt thiu thỉu. Mùi rạ mới quyện với bùn tanh tanh. Bầy vịt rúc đầu vào nách, ngủ ơ hờ dưới bóng cây tra treo từng chùm bông vàng tuyệt vọng lay như những chiếc chuông câm...”
Trên đây chỉ là một ít ví dụ điển hình cho một núi nhận định của Du Tử Lê qua hai tập sách dày cộm, dày hơn 1200 trang với hàng trăm tác giả. Mỗi người một vẻ, một sắc thái mà Du Tử Lê đã dày công nghiên cứu để cống hiến cho người yêu văn chương nghệ thuật tìm đọc cũng là những tài liệu quý giá dành cho các nhà nghiên cứu, phê bình một giai đoạn văn học dài 40 năm. Tuy chưa đầy đủ, nhưng đây là một bộ sách giới thiệu được nhiều gương mặt khá tiêu biểu trong 40 năm văn học Việt. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên ghi nhận và cảm ơn công lao của một người thiết tha với văn học của ông. Và, tôi cho rằng, nhiệm vụ của một người làm văn học là chú tâm vào sáng tác, vẫn chưa đủ, mà còn phải có trách nhiệm tìm kiếm, giới thiệu những người có khả năng về văn học nghệ thuật khác nữa.
Nhà thơ Du Tử Lê đã, đang và sẽ tiếp tục làm công việc này, và còn làm tốt!
Đặng Phú Phong
(Nguồn: Nhật báo Việt Báo Online, đề ngày 12 tháng 9-2015)
________
- Độc giả muốn tìm mua sách có chữ ký của tác giả, xin liên lạc với: phanhanhtuyen@gmail.com / Tel: (714) 383.4937
- Độc giả cũng có thể đặt mua thẳng từ Amazon.com hoặc, nhà sách Tự Lực: tulucbooks, Tel.: +17143834937.
   Ở VN, xin liên lạc với cô Sóc:
090-260-4722.

http://dutule.com/D_1-2_2-150_4-7252_15-2/dang-phu-phong-diem-so-luoc-40-nam-van-hoc-nghe-thuat-viet-1975-2015-quyen-2.html

Bộ sách “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” (Du Tử Lê)

Đã tái bản “PHÁC HỌA TOÀN CẢNH SINH HOẠT 20 NĂM VHNT MIỀN NAM 1954-1975”
(01/19/2016 12:00 PM) (Xem: 415)

dutule.com (ngày 18 tháng 1 -2016): Đáp lại sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc khắp nơi: Bộ sách “Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975” của Du Tử Lê, cuốn # 1, cơ sở HT Productions đã cho tái bản lần thứ nhất cuốn sách vừa kể.
Ở lần tái bản này, ngoài phần hiệu đính, cơ sở HT Productions còn có phần hình ảnh trên dưới 50 tác giả được đề cập trong sách.
Được biết, sách dày 650 trang, khổ lớn (liên kết với công ty ấn hành sách Amazon.)
Tác phẩm “Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975” cuốn 1, TÁI BẢN, đã được nhà sách Tự Lực tổng phát hành: Email: buybooks@tuluc.com.
Ngoài ra, nếu quý bạn đọc muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với cô Sóc, Tel.: 090-260-4722.
Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email: phanhanhtuyen@gmail.com.
Bạn đọc cũng có thể order thẳng với công ty ấn hành sách Amazon (Hoa Kỳ).
Dưới đây là mục lục tác phẩm chia theo từng bộ môn, với tên tác giả căn cứ theo chữ thứ nhất của bút hiệu hoặc tên gọi:
Phác Họa Toàn Cảnh Sinh hoạt
20 Năm Văn Học, Nghệ Thuật Miền Nam
(1954 - 1975) - QUYỂN 1- Tái Bản.

Lời nói đầu ............................................................................................................ 9
CHƯƠNG MỘT: ÂM NHẠC (Nhạc sĩ và ca sĩ) .... 13
-Đất nước và tình khúc Anh Bằng ... 15
-Bạch Yến, tiếng hát mở tung cánh cửa Hollywood... 29
-Châu Kỳ và ảnh hưởng của bản năng “Tìm về”… 43
-Hiện tượng Cung Tiến trong nhạc Việt… 55
-Hoàng Trọng, “Ông Hoàng Tango” Việt Nam… 63
-Hoàng Thi Thơ, xuất hiện như cơn lốc… 71
-Hoàng Quốc Bảo, Dòng  Nhạc  Như Chiếc Cầu Tâm Linh  Nối Liền Đời Thường Và Nẻo Đạo… 83
-Khánh Ly, tiếng hát bất hoại,  như nhan sắc Mona Lisa… 89
-Tính hai mặt của đồng tiền định mệnh, trong cõi giới âm nhạc Lam Phương… 93
-Lâm Tuyền, bất hạnh gắn liền  với “Hình ảnh một buổi chiều”… 107
-Minh Trang, định mệnh  và những vòng nguyệt quế (hay từ Nhạc Dương Thiệu Tước  tới tiếng hát Minh Trang)… 119
-Tình ca Ngô Thụy Miên,  thơ Nguyên Sa và, cách nói khác… 131
-Nhạc Phạm Ðình Chương, hạnh phúc và nỗi buồn của tân nhạc Việt… 143
-Thái Thanh / Khúc / Năm Bảy… 159
-Những Mảng Tối Cuối Đời  nhạc Sĩ Tài Hoa Thanh Bình…161
-Trầm Tử Thiêng,  “Những Đêm Nằm Mộng Biển”… 173
-Trần Thiện Thanh “tình ca” cho những tử sĩ… 179
-Trúc Phương, vị ‘hoàng tử  của những tình khúc chia lìa… 187
-Tuấn Khanh,  thơ mộng trong giai điệu… 195
-Từ Công Phụng, Sứ Giả Thương Yêu  Của Tuổi Trẻ Miền Nam… 205
-Đời Nhạc Vũ Thành An,  Những Dấu Ấn Thời Đại Đậm Né…t 215
-Y Vân, huyền thoại và sự thật… 225

CHƯƠNG HAI:  BÁO CHÍ, TRUYỀN THANH  VÀ XUẤT BẢN 235
-Ai là cha đẻ của cụm từ  “Xin đừng gọi anh bằng chú”?... 237
-Nguyên Sa chia tay Sáng Tạo  vì những ngộ nhận… 251
-Báo chí và hiện tượng  văn nghệ học sinh (Phỏng vấn nhà báo Ngọc Hoài Phương)… 257
-Trần Phong Giao, người gác cổng  văn học, tạp chí Văn… 263
-Thế Nguyên: Cây ách chuồn  của phong trào "văn Chương dấn thân"… 275
Văn nghệ sĩ và “sân chơi” xuất b n  của miền Nam, 20 năm… 287

CHƯƠNG BA:  ĐIỆN ẢNH, SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG
-Người đem vinh dự  về cho tập thể Việt: Tài tử Kiều Chinh… 299
-Sơ lược lịch sử thành hình  bộ môn nghệ thuật Cải Lương (Phỏng vấn soạn giả Yên Lang)… 315

CHƯƠNG  BỐN:  HỘI HỌA, ĐIÊU KHẮC
-Duy Thanh, người họa sĩ cuối đời  chỉ… nguệch ngoạc… 337
-Đinh Cường,  Thi Sĩ Của Mầu Sắc Và, Đường Nét… 353
-Mai Chửng, tài năng và nhân cách… 363
-Nghiêu Đề,  Người Khước Từ Tác Phẩm Mình… 369
-Nguyên Khai: “Màu sắc là dầu  được thắp lên bởi trái tim”… 375
-Tạ Tỵ, người mở những cánh cửa lớn cho hội họa Việt Nam… 383

CHƯƠNG NĂM:  THI CA
-Lục Bát Cung Trầm Tưởng,  Một Đóng Góp Lớn… 389
-Văn Giới Nghĩ Gì Về Thơ Đỗ Quý Toàn?... 403
-Kim Tuấn, chiếc cầu nối huy hoắc  giữa thi ca và, âm nhạc… 411
-Nhã Ca, thơ: một xuất hiện rực rỡ  của văn học miền Nam… 421
-Nguyên Sa vị trí  và ảnh hưởng trong văn học Việt… 433
-Nguyễn Lương Vỵ, Bi Kịch Và Thi Ca… 449
-Thành Tôn, Nhà Thơ…"Sống Đẹp”… 455
-Thanh Tâm Tuyền,  Con Ngựa Chứng Của Thi Ca Hôm Nay… 463
-Trần Dạ Từ, một tuổi thơ dữ dội và, những thành tựu quyết liệt… 479
-Tình yêu, bảng chỉ đường  cho một Tuệ Mai, khác… 503

CHƯƠNG SÁU: VĂN XUÔI
-Nhà văn Bình Nguyên Lộc,  “Tam kiệt Việt Nam”… 515
-Doãn Quốc Sỹ, nỗi buồn  và niềm vinh dự, hân hoan lớn…529
-Dương Nghiễm Mậu,  Trước, Sau Chói Gắt Ý Thức  Chọn Lựa Tự Do, Nhân Bản… 535
-Mai Thảo Và Thế Giới Đèn Màu,  Sài Gòn, Trước 1975… 545
-Nhã Ca, nhà văn nữ nói “không”  với dục tính… 549
-Nguyễn Thị Hoàng,  từ “Vòng tay học trò” tới đời thường… 559
-Hành trình trở thành nhà văn  của nhà giáo Nguyễn Xuân Hoàng… 571
-Trần Hoài Thư, Ngọn cờ đầu:  Nỗ lực xiển dương 20 năm  văn chương miền nam… 577
-Trần Thị NgH, Nhà Văn,  Như Một Kẻ-Xa-Lạ… 597
Quan niệm văn chương và, người lính qua tiểu thuyết Văn Quang… 609
-Võ Phiến, qua tâm bút  “Bắt trẻ đồng xanh”… 619
- Vũ Khắc Khoan, nhà văn,  trí tuệ lớn của văn học miền Nam… 631
.
Mặt khác, nguồn tin từ công ty Amazon cho hay, ngày 21 tháng 1-2016, sẽ giao cho cơ sở HT Productions số sách đầu tiên của tác phẩm “Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975”, cuốn thứ 2. (Cuốn thứ 2 này, cũng sẽ do nhà sách Tự Lực tổng phát hành).
Do đó, kể từ hôm nay, chúng tôi cũng bắt đầu nhận order sách từ quý bạn đọc.

http://dutule.com/D_1-2_2-150_4-7570_5-10_6-1_17-48_14-2_15-2/da-tai-ban-phac-hoa-toan-canh-sinh-hoat-20-nam-vhnt-mien-nam-1954-1975.html

Những tác giả nào có trong “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975”, cuốn thứ hai?
(01/24/2016 01:54 PM) (Xem: 591)


dutule.com (ngày 21 tháng 1- 2015): Cuối cùng, cuốn thứ hai của bộ sách “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” được ấn hành bởi cơ sở HT Productions kết hợp với công ty Amazon, cũng đã hoàn tất và phát hành khắp nơi. (*)
Cũng như “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” cuốn thứ nhất (mới được tái bản), với trên dưới 50 tác giả chọn lọc, tiêu biểu cho dòng VHNT miền Nam 20 năm;  cuốn thứ hai này, là công trình biên soạn công phu của nhà thơ Du Tử Lê, trong vòng 7 năm, với hình ảnh các tác giả ở tất cả mọi lãnh vực - - Từ Âm nhạc, Báo chí, Điện ảnh, Hội họa qua tới Thi ca và Văn xuôi, được dư luận trong và ngoài VN, ghi nhận như thể lần đầu tiên, tái hiện nền VHNT miền Nam phong phú bị chính quyền Hà Nội chôn vùi từ nhiều chục năm qua, sau biến cố tháng 4-1975. Đáng nói là bộ biên khảo này, được viết theo dạng “Nhận định / Tùy bút” với rất nhiều chi tiết đời thường, giai thoại liên quan tới cá nhân của các tác giả được đề cập mà, chưa một tác phẩm cùng loại nào, đề cập. 
Sách dày 612 trang, khổ lớn.
Sau đây là danh sách những tác giả của 20 năm VHNT miền Nam, ghi nhận theo chữ thứ nhất của bút hiệu hoặc tên gọi:
Theo thứ tự của từng bộ môn mà, tên tác giả được ghi .

MỤC LỤC
PHÁC HỌA TOÀN CẢNH SINH HOẠT 20 NĂM VHNT MIỀN NAM
1954-1975
(CUỐN # 2)
- Lời nói đầu.
- Chương 1: Âm nhạc
- Những xuân khúc trong nhạc Việt.
- Anh Việt
-Anh Việt Thu
- Chung Quân & Phạm Trọng Cầu.
- Duy Trác.
- Đan Thọ.
- Đỗ Kim Bảng.
- Hoàng Nguyên.
- Lê Trọng Nguyễn.
- Lê Uyên Phương.
- Ngọc Bích.
- Nhật Bằng.
- Nguyễn Đình Nghĩa.
- Nguyễn Vũ.
- Nguyễn Văn Đông.
- Thanh Sơn.
- Trịnh Công Sơn.
- Văn Phụng.
- Vũ Thành.

- Chương 2: Báo chí, truyền thanh.
- Phạm Việt Tuyền
- Phan Lạc Phúc.
- Thái Thủy.

- Chương 3: Hội Họa.
- Vai trò của các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật miền Nam.
          (Phỏng vấn họa sĩ Nguyễn Đình Thuần).
- Bé Ký.
- Lê Tài Điển.
- Ngọc Dũng.
- Lê Thánh Thư.
- Trịnh Cung.

- Chương 4: Ký sự, phóng sự.
- Phan Nhật Nam.
- Phan Nghị.

- Chương 5: Thi ca.
- Diễm Châu.
- Luân Hoán.
- Hồ Đình Phương.
- Mai Trung Tĩnh.
- Nguyên Sa.
- Nguyễn Bắc Sơn.
- Nguyễn Quốc Thái.
- Thái Tú Hạp.
- Tô Thùy Yên.
- Vũ Hữu Định.

- Chương 6: Văn xuôi.
- Vài nét đặc thù của văn chương Nam Bộ.
- Cung Tích Biền.
- Doãn Dân.
- Đinh Phụng Tiến.
- Hồ Minh Dũng.
- Mai Thảo.
- Nguyên Vũ.
- Nguyễn Đình Toàn.
- Nguyễn Thị Thụy Vũ.
- Sâm thương.
- Thảo Trường.
Nếu cộng chung cả hai cuốn 1 và 2 thì bộ “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” gồm có trên 120 tác giả, trải dài trong gần 1,400 trang in. Họ là những tên tuổi xứng đáng tiêu biểu cho dòng VHNT chói lọi tính nhân bản và khai phá về mặt nội dung cũng như hình thức.
Muốn có Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” cuốn thứ hai, hoặc luôn cả cuốn thứ nhất, bạn đọc có thể Order thẳng từ công ty Amazon; hoặc nhà sách Tự Lực tổng phát hành: Email: buybooks@tuluc.com

Trường hợp muốn có chữ ký tác giả để lưu niệm, ở Việt Nam, xin liên lạc với Cô Sóc, tel.: 090-260-4722. Ngoài Việt Nam, xin liên lạc với Ms. Phan Hạnh Tuyền, Email:phanhanhtuyen@gmail.com
________
(*) Bộ sách “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm VHNT Miền Nam 1954-1975” cuốn 1 và 2 được dư luận gọi tắt là “20 Năm VHNT miền Nam” Một và Hai.
http://dutule.com/D_1-2_2-150_4-7586_15-2/nhung-tac-gia-nao-co-trong-phac-hoa-toan-canh-sinh-hoat-20-nam-vhnt-mien-nam-1954-1975-cuon-thu-hai.html

Cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà: Tin yêu giữa thảm kịch (Du Tử Lê)

Lê Hựu Hà: Tin yêu giữa thảm kịch.
(03/22/2016 03:54 PM) (Xem: 427)
Tác giả : Du Tử Lê

Tới bây giờ, người ta vẫn không thể giải thích, tại sao có nhiều tài năng xuất sắc ở nhiều lãnh vực, nhất là lãnh vực sáng tạo, lại chết khi còn rất trẻ? Đôi khi, bao nhiêu năm sau, cái chết của họ còn được dư luận đề cập tới vì tính bi thảm của nó! Trong khi tư chất của họ, vốn là những người có một sức sống mãnh liệt, sung mãn! Cụ thể như trường hợp của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Ông có khá nhiều những ca khúc một thời, từng gây nên những trận bão yêu thích, không chỉ trong giới trẻ mà, luôn cả những người lớn tuổi, thuộc mọi thành phần.


Ban nhạc Hải Âu (Từ trái qua: Lê Hựu Hà, Huỳnh Bá Thảo, Trần Đăng Chí 

Ngay bây giờ, sau gần 50 năm, những ca khúc của Lê Hựu Hà, sáng tác vào đầu thập niên 1970’s, vẫn còn được các nhạc sĩ nhắc tới, và chúng vẫn còn giữ một vị trí ưu ái, trong ký ức người thưởng ngoạn.
Sau gần nửa thế kỷ, hôm nay, ở hải ngoại, một số trung tâm ban nhạc lớn, cũng vẫn còn được thu băng của họ Lê, để đáp ứng nhu cầu người tiêu thụ.
Những ca khúc nổi tiếng, trong sáng của họ Lê, hiện ra như những bình minh mới giữa mưa dầm gió buốt, đầy những tình yêu đổ vỡ, chia lìa và, nước mắt than oán của dòng tân nhạc Việt, trước tháng 4-1975.
Thí dụ với ca khúc “Hãy yêu như chưa yêu lần nào”, ở phần ca từ họ Lê viết:
Hỡi anh yêu xin anh đừng buồn
Có đôi khi em hay giận hờn
Để cho anh quên đi ngày dài
Với bao đêm suy tư miệt mài.

“Mắt môi đây xin anh đừng chờ
Chiếc hôn kia mong anh từng giờ
Ngón tay kia xin chớ hững hờ
Dắt em đi về trong đợi chờ.
(…)
“Hãy cho em môi hôn nồng nàn
Lỡ mai sau duyên ta muộn màng
Sẽ không ai cho ta vội vàng
Mới yêu đây nay sao phũ phàng

“Hãy yêu như chưa yêu lần nào
Hãy cho nhau môi hôn ngọt ngào
Hãy đưa em về nơi cuối trời
Giấc mơ yêu cùng anh trọn đời.

(Nguồn Wikipedia-Mở)
Hoặc như nội dung của một ca khúc nổi tiếng khác, Lê Hựu Hà đã mang được vào trong cõi-giới âm nhạc của ông, những cảm nhận thực tế xã hội, đời thường như:
Cười lên đi em ơi
Dù nước mắt rớt trên vành môi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn tha nhân ta buông tiếng cười
Ta không cần cuộc đời
Toàn những chê bai và ganh ghét
Ta không cần cuộc đời
Toàn những khoe khoang và thấp hèn

“Cười lên đi em ơi
Cười để giấu những dòng lệ rơi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn đổi thay ta vang tiếng cười
Ta không thèm làm người
Thà làm chim trên rừng hoang vắng
Ta không thèm làm người
Thà làm mây bay khắp phương trời…
” (1)
Với những câu như: “Ta không cần cuộc đời / Toàn những chê bai và ganh ghét
Ta không cần cuộc đời / Toàn những khoe khoang và thấp hèn”, trước và sau Lê Hựu Hà, chúng ta không hề thấy trong ca từ của hầu hết các nhạc sĩ nổi tiếng. Tuy nhiên, không phải vì vạch trần những “thói đời” như vậy mà tác giả sinh lòng oán than, thù ghét. Trái lại, ông còn nhắc nhở người yêu của ông hãy cứ “cười lên đi em ơi”… Dù cho tiếng cười đó, chỉ để che dấu “…nước mắt rớt trên vành môi”. Và hãy mở rộng tấm lòng rộng thương yêu bằng cách “…ngước mặt nhìn đời”; và ,“nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
Để giải thích cho tinh thần yêu người, yêu đời của mình, qua ca khúc “Nắng vàng, biển xanh và anh”, Lê Hựu Hà viết:
Nắng lên rồi đêm vội đi ngày đang tới
Đất với trời bắt tay nói câu chào nhau
Gió tung tăng đùa vui bay làn tóc rối
Cả thiên nhiên cũng hân hoan đón mặt trời

“Biển trong xanh nhẹ hôn bờ cát trắng
Sóng lao xao mơn man vuốt ve bàn chân
Khẽ trao nhau nụ hôn thật êm ái
Khép đôi mi để chiếc hôn ngắn được dài

“Có anh rất hiền, có em yếu mềm
Cho đôi ta nghe trái tim mình
Dịu dàng lên tiếng
Men tình ngây ngất, hương tình lâng lâng
Còn chờ đợi chi anh ơi hãy ôm em vào lòng

Trái tim nồng sẽ không quay lưng lại
Dẫu cho bao thăng trầm đổi thay
…” (2)
Ngoài những câu như thơ, rất mới: “Đất với trời bắt tay nói câu chào nhau” hoặc: “Khép đôi mi để chiếc hôn ngắn được dài” thì: “Trái tim nồng sẽ không quay lưng lại / Dẫu cho bao thăng trầm đổi thay…”- - Đã tựa như một xác quyết, khẳng định cho tâm-thái hay, bản chất nhân ái của họ Lê trước mọi “khoe khoang và thấp hèn” của con người trong đời thường!!!
Nhưng, Lê Hựu Hà không chỉ có những đóng góp cá nhân, bằng vào tài năng của riêng mình. Ông còn là người mở rộng sân chơi, cho những bằng hữu đồng trang lứa với ông, một thời nữa.
Theo tiểu sử được Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư – Mở thì, ngay từ năm 1965, khi mới bước vào con đường âm nhạc, Lê Hựu Hà đã đứng ra thành lập ban nhạc Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu nhân Đại hội Nhạc trẻ của Trường trung học Lasan Tabert. Chính
Từ ban nhạc này là bệ phóng của tiếng hát Thanh Lan, nổi tiếng, sau này.
Nhưng, phải đợi tới đầu thập niên 1970, khi ban nhạc Hải Âu không còn nữa, thì cũng họ Lê phối hợp với Nguyễn Trung Cang, Elvis Phương, thành lập ban nhạc Phượng Hoàng. Chính tại sân chơi Phượng Hoàng này, nhiều tài năng nhạc trẻ, đã cất cánh bay cao trong vòm trời âm nhạc Việt.
Nhắc tới ban nhạc Phượng Hoàng, mười hai năm sau cái chết của Lê Hựu Hà (2005), một người bạn thân của mình, nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong một bài viết, phổ biến trên Tuấn Khanh’ Blog, ghi lại nhận định của cố nhạc sĩ Phạm Duy về ban nhạc Phượng Hoàng, như sau:
“…Nhạc sĩ Phạm Duy, lúc sinh thời không phải là người dễ tính, cũng đã phải thốt lên rằng âm nhạc của Phượng Hoàng đầy chất tâm hoặc (psychedelic culture) và phản ánh một tâm thức của thế hệ trẻ không lối thoát trong một xã hội chiến tranh, bất an không hồi kết…” (3)
(Kỳ sau tiếp)
________
Chú thích:
(1), (2), (3): Nđd.

http://www.dutule.com/D_1-2_2-105_4-7733_15-2/le-huu-ha-tin-yeu-giua-tham-kich.html

Lê Hựu Hà, bi kịch cuối cùng của một tài năng âm nhạc! (Kỳ 02)
(03/29/2016 01:10 PM) (Xem: 176)
Tác giả : Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)
Nếu sự nghiệp âm nhạc của Lê Hựu Hà ngày một thăng hoa thì, đời sống hàng ngày của ông, theo mô tả của nhiều người, lại là con đường ngược chiều đầy khó khăn, nếu không muốn nói là u ám! Dù cho ngoài việc viết ca khúc, ông cũng làm nhiều công việc khác, như đặt lời Việt cho hàng trăm ca khúc ngoại quốc (trong số đó, có khá nhiều bài nổi tiếng) hoặc, làm nhạc quảng cáo cho những công ty ngoại quốc, đặt hàng ông. Nhưng thực tế phũ phàng là các bầu show đã lần lượt quay lưng lại với họ Lê!
Tuy nhiên, cái chết của ông, mới thực sự là đỉnh ngọn u ám, bi kịch của tài hoa này.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà (người thứ nhất bên trái) và ban nhạc Phượng Hoàng
Trong một bài viết trên báo NLĐ, số đề ngày 12 tháng 5- 2003, hai tác giả HT – TN ghi lại những chi tiết đầu tiên về cái cái chết của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, như sau:
Khoảng 8 giờ sáng qua (11-5), Công an quận 1 nhận được tin báo có dấu hiệu khả nghi ở nhà 89 đường Hồ Hảo Hớn, P. Cô Giang, Q.1 - TPHCM, mấy hôm nay không thấy chủ nhân ra vào. Công an đã đến xem xét và phát hiện ông Lê Hựu Hà, nhạc sĩ, sinh năm 1946, nằm chết trong phòng, xác đã bắt đầu phân hủy. Trong nhà đèn vẫn sáng, tivi vẫn mở, quạt máy vẫn hoạt động, ngoài sân có chiếc xe Honda.
Những người dân ở gần nhà ông Hà cho biết: Ông Hà có hai đời vợ. Người vợ thứ nhất cùng các con đã định cư ở Mỹ; người vợ thứ hai là ca sĩ Nhã Phương. Cách đây không lâu, ông Hà tâm sự với nhiều người hàng xóm rằng mình đang ly dị vợ và chỉ một mình ông ở căn nhà này.
Chiều cùng ngày, Cơ quan giám định pháp y Công an TPHCM đã có kết quả điều tra. Sau khi giải phẫu tử thi, các bác sĩ khẳng định nhạc sĩ Lê Hựu Hà chết vào chiều 9-5 (thứ sáu). Theo ca sĩ Nhã Phương, nhạc sĩ Lê Hựu Hà bị bệnh huyết áp đã hai năm nay. Do cả hai đã ly thân cách đây bốn tháng nên đời sống của anh khép kín với thế giới bên ngoài...”
Những chi tiết liên quan tới cái chết của tác giả ca khúc “Hãy yêu như chưa yêu lần nào”, như xác đã bắt đầu phân hủy hoặc, họ Lê chết từ nhiều ngày trước đó, đã khiến dư luận xôn xao, xúc động...
Người được dư luận nhắc tới nhiều nhất là nữ ca sĩ nổi tiếng, Nhã Phương vì cô là người bạn đời sau cùng (trong số 4 người vợ) của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Dù hai người đã ly thân từ bốn tháng trước đó và, họ Lê sống khép kín trong căn nhà cũ của họ.
Chi tiết hơn, tác giả Hương Giang trong một bài viết trên báo Người Đưa Tin, ghi rằng:
“… Người nhạc sĩ từng được coi là đã mang một dòng nhạc mới và tươi trẻ đến cho Tân nhạc Việt Nam đã được phát giác qua đời vào ngày 11/05/2003 khi mới 53 tuổi do tai biến mạch máu não. Theo biên bản khám nghiệm, Lê Hựu Hà qua đời từ ngày 05 nhưng phải đến ngày 11 mới được phát hiện trong tư thế nằm ngửa dưới sàn nhà, ngay cạnh giường ngủ, trong khi đồ đạc vẫn còn ngổn ngang trong phòng và ti vi vẫn còn đang bật… Tiền sử bệnh tai biến đã khiến một con người tài hoa ra đi khi tuổi vẫn còn trẻ và đặc biệt là ra đi trong sự hoài nghi, luyến tiếc của hàng triệu những người ‘muôn năm cũ’.”
Tôi nghĩ, do áp lực của dư luận, cuối cùng, bảy năm sau, ca sĩ Nhã Phương đã phải lên tiếng và, sự bộc bạch của cô về cuộc hôn nhân giữa hai người, được báo Theo Mốt và Cuộc Sống, số đề ngày 19 tháng 10 năm 2010 ghi thuật đại ý:
-Cái chết của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, đối với Nhã Phương là một biến cố quá to lớn. Cô phải cố gắng kiềm chế đau khổ của mình, để đem sự bình thường trở lại cho hai con của cô, một 15 tuổi và, một 9 tuổi!
-Nhã Phương cũng cho biết, cô phải nén đau thương tiếp tục đi hát bất cứ nơi nào, khi được mời để có tiền nuôi con. Trong bài viết kể trên, Nhã Phương tâm sự:
“…Khi sống với anh Hà, đôi khi nghĩ lại, tôi thấy mình đã làm việc quá sức. Có những lúc ốm đau, tôi chẳng được nghỉ ngơi, cứ lao vào đi hát và kiếm tiền trả tiền nhà, trang trải cuộc sống. Tôi làm việc như một cái máy, tất tả chạy từ miền Trung ra Hà Nội rồi lại xuống tận Rạch Giá, Cà Mau… Có lúc rất mệt, người không còn chút sức lực, tôi cũng không được nghỉ ngơi. Anh Hà cứ nói: ‘Thôi em ráng hát nhé, hát để có tiền trả tiền nhà’. Thế là những lúc bệnh, tôi vẫn đi hát.
Có một điều sai lầm với nhiều người làm nghệ thuật, trong đó có cả anh Hà là cứ sống trong mơ tưởng hão huyền. Họ cứ ngỡ mình là nhân vật gì đó quan trọng lắm, nổi tiếng lắm, tên tuổi lắm… Thật hoang tưởng!”
Dù vậy, Nhã Phương vẫn không quên nhận chân sự thật:
“Anh Hà mất đi, tôi xót xa hiểu được đời này là vô thường. Không khí gia đình lúc ấy tang tóc, buồn bã bao trùm. Tôi phải luôn dỗ dành, trấn an các con, tạo cho chúng niềm vui trong từng ngày, từng ngày…”
Nói về nguyên do sâu xa đưa sự kết thúc của cuộc hôn nhân đã kéo dài tới 23 năm với cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà, ca sĩ Nhã Phương cho biết:
Tôi đến với anh Hà và chấp nhận cuộc sống đơn giản, an phận, vượt qua mọi gian nan trong cuộc sống. Danh tiếng hay tiền bạc, giàu có, tôi không màng đến, chỉ muốn sống vui và hạnh phúc bên chồng. Quan điểm cổ hủ ngày xưa chồng chúa vợ tôi cứ ăn sâu trong tâm thức mọi người thời đó. Người đàn ông đối xử với vợ thiếu tôn trọng, gần như áp bức vậy. Và cũng chính điều này đã đánh mất đi hạnh phúc tốt đẹp của nhiều cặp vợ chồng.
Nhưng phải nhìn nhận rằng, sống với anh Hà thật thú vị. Anh ấy như một người thầy, một người anh dạy dỗ cho tôi biết bao điều. Trong những bài hát, lời văn ý nhạc anh Hà viết, đối với tôi là cả sự khâm phục. Anh ấy đã hỗ trợ rất nhiều trong nghề nghiệp của tôi, nhưng giá như anh Hà đừng yêu tôi nhiều quá, như vậy sẽ tốt hơn…”
Nhìn lại cuộc tình và hôn nhân của mình với tác giả “Hãy ngước mặt nhìn đời”, Nhã Phương xác nhận, thực ra, cô yêu nhạc sĩ Lê Hựu Hà ở một con người khác; không phải con người “chồng chúa vợ tôi”. Cô nói:
Ở ngoài, anh ấy thật dễ thương, hiền hòa, cởi mở. Nhưng về nhà lại là một người cứng rắn, bảo thủ và hay nóng giận vô cớ. Cứ mỗi lần nóng giận, anh Hà thường quát nạt, lớn tiếng, làm tôi cảm thấy sợ hãi và buồn chán. Lúc ấy, tôi chỉ muốn chia tay mà thôi. Nhưng cuộc sống cứ ràng buộc hết điều này đến điều khác, anh Hà lúc quát nạt, lúc đầy yêu thương, cứ như vậy, tôi đã kéo dài cuộc hôn nhân của mình như mong chờ một sự thay đổi từ phía chồng cũ.” (Nđd)
Bốn năm, sau khi nhạc sĩ Lê Hựu Hà từ trần, ca sĩ Nhã Phương mới đi bước nữa với David, một khán giả người Mỹ, ái mộ cô từ những ngày cô còn hát ở các bar, phòng trà như Yesterday, Feeling Rex, Lido… Cô và hai con, hiện sống tại Hoa Kỳ.
Cuộc hôn nhân thứ hai của Nhã Phương đã là dấu chấm hết chuyện tình đẹp, dẫn tới hôn nhân - - Nhưng, tiếc thay, kết cuộc lại là một bi kịch cho cả hai tài hoa âm nhạc Việt: Nhã Phương / Lê Hựu Hà!
(Còn tiếp 1 kỳ)  

http://www.dutule.com/D_1-2_2-105_4-7755/le-huu-ha-bi-kich-cuoi-cung-cua-mot-tai-nang-am-nhac-ky-02.html