Posts tonen met het label đại học. Alle posts tonen
Posts tonen met het label đại học. Alle posts tonen

donderdag 15 juni 2017

Đại học Mỹ tìm cách đối phó tình trạng hơn 1,000 sinh viên tự tử mỗi năm

Đại học Mỹ tìm cách đối phó tình trạng hơn 1,000 sinh viên tự tử mỗi năm

Lê Tâm (theo NY Times)
Các túi đeo lưng trải đầy mặt đất tượng trưng cho hơn 1,000 sinh viên tự tử mỗi năm. (Hình: AP)
Hailey Kim, một sinh viên Nam Hàn, theo học ngành Dược tại đại học Rutgers University, New Brunswick, cứ đứng ngần ngừ trước cửa trung tâm y tế tâm thần của trường, không biết có nên bước vào hay không.
Cô đang học năm thứ nhì, bà mẹ cô ở Seoul đang bị bệnh, cha cô vừa mất việc, và cô vừa buồn vừa lo lắng, đến nỗi phải đi cấp cứu tại bệnh viện vì tức ngực.
“Tôi ngần ngừ ngay trước cửa trung tâm,” theo lời cô Kim, 20 tuổi. Nhưng sau cùng cô quyết định bước vào, vì tôi “biết rằng mình cần có sự giúp đỡ tâm thần.”
Việc con số các sinh viên đại học gặp tình trạng khủng hoảng về tâm thần đang đều đặn gia tăng không phải là điều mới lạ. Điều mới là các đại học nay nhận ra vấn đề và chú trọng hơn vào việc tìm hiểu làm thế nào có biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa sinh viên tự tử.
“Sự kiện sinh viên phải đối đầu với sự lo sợ và trầm cảm là điều rất thật,” theo lời giám đốc đặc trách sinh viên Thomas C. Shandley tại đại học Davidson College ở North Carolina. “Phải mất một thời gian để giới chức đại học nhận ra, và bây giờ ai cũng thấy.”
Theo cuộc thăm dò thường niên, có từ năm 1966, và nhắm vào sinh viên năm đầu của viện nghiên cứu ở đại học UCLA, thì có tới con số kỷ lục là 11.6% sinh viên mới vào trường năm 2016 cho hay họ “thường xuyên cảm thấy buồn bực trong năm vừa qua,” và có 13.9% nói rằng “có nhiều phần là họ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp tâm thần tại đại học.”
Và cũng lần đầu tiên trong lịch sử của cuộc thăm dò, chỉ có chưa được một nửa (khoảng 47%) sinh viên được hỏi cho hay là mức độ vững chắc về tinh thần của họ cao hơn trung bình, so với các bạn học khác.
Tại Đại Học Penn State, trung tâm sức khỏe tâm thần sinh viên nơi này cho hay số sinh viên cố ý gây thương tích (thí dụ như tự cắt chính mình) tăng 26% trong niên khóa 2015-2016 so với mức độ 21.8% trong niên khóa 2010-2011.
Tình trạng gia tăng này có thể giải thích bởi nhiều lý do, như các bác sĩ có khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh tâm thần cao hơn trước; hay trước đây các sinh viên có thái độ “kỳ quặc” hay tự gây thương tích cho mình thường bị bỏ lơ hay đuổi khỏi trường.
Nhưng nay tình hình khác hẳn.
“Chúng ta có thêm nhiều sinh viên ngoại quốc, có thêm nhiều sinh viên da màu, đời sống gia đình cũng phức tạp hơn,” theo lời ông Larry Moneta, phó giám đốc đặc trách Sinh Viên Vụ tại đại học Duke University. “Sinh viên ngày nay thường có cha mẹ lớn tuổi hơn khi trước, do đó chúng ta thường thấy có nhiều vụ cha mẹ sinh viên qua đời hơn,” ông Moneta cho hay.
Ông nói rằng, khi trước, nhiều sinh viên đang đi học hiện nay có thể bị loại ngay từ đầu vì tình trạng tâm thần của họ. Nhưng nay, với phương cách điều trị cải tiến, nhiều trẻ có thể vào được đại học. Và vấn đề là sau khi chúng vào đại học thì phải có cách để giúp tiếp tục được việc học hành, theo ông Moneta.
Ngoài ra, sự lo sợ về tình hình kinh tế tương lai và chi phí đại học quá cao khiến tạo thêm nhiều áp lực lên sinh viên, với lo ngại là nếu “chỉ có được điểm B” sẽ phá hỏng dự tính tương lai hay làm buồn lòng cha mẹ đang phải trả các món tiền lớn cho con đi học.
Hiện nay, với sự tài trợ từ Duke Endowment, bốn trường đại học là Duke, Davidson, Johnson C. Smith University ở North Carolina và Furman University ở South Carolina, đang tiến hành cuộc nghiên cứu nhắm vào các tân sinh viên cho tới khi họ tốt nghiệp năm 2018 tới đây, để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên.
Các dữ kiện vẫn còn tiếp tục được thu thập và phân tích, nhưng các đại học này cũng khởi sự áp dụng những gì họ học hỏi được. Một trong những khám phá bất ngờ là có những sinh viên khi còn nhỏ từng gặp phải những biến cố khiến họ đau buồn nhưng không ai để ý rằng những điều đó không được giải tỏa và tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống của các sinh viên này.
Diane Dalton, một giáo sư tại đại học Boston University, cho hay quan niệm mới về sức khỏe tâm thần của sinh viên cũng thay đổi cái nhìn của người giáo sư.
Bà cho hay trước đây, khi thấy một sinh viên ngủ trong lớp của mình bà rất khó chịu. Nay, bà để chút thời giờ để tìm hiểu xem đó là do thức khuya ăn chơi bè bạn hay có điều gì đáng lo ngại hơn.
Bà kể lại trường hợp của một sinh viên, có cha ở vùng miền Tây và đang trong tình trạng sức khỏe suy kiệt, trong khi đó anh này là một sinh viên bậc cao học và chịu nhiều áp lực khó khăn về việc học.
“Chúng tôi cũng có những người khác phải đối phó với tình trạng bạo hành trong gia đình khi đang phải chú tâm vào việc học,” Giáo Sư Dalton cho hay.

http://www.nguoi-viet.com/hoa-ky/dai-hoc-tim-cach-doi-pho-tinh-trang-hon-1000-sinh-vien-tu-tu-moi-nam/

donderdag 24 oktober 2013

Việt Nam: Khi lịch sử được viết theo ý Đảng

Khi lịch sử được viết theo ý Đảng

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-10-21
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

000_SAPA990218235100-305.jpg
CT Hồ Chí Minh (thứ 2 từ phải) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trên, trái) bàn về một chiến dịch quân sự ở Việt Nam vào năm 1950
AFP photo



Tình trạng học sinh VN hiện nay “quay lưng với môn Sử” hẳn là điều không những đáng buồn mà còn tai hại vì, theo nhận xét của TS Sử học Nguyễn Văn Khoan thuộc Hội Khoa học Lịch sử VN, “Không biết lịch sử dân tộc, không biết lịch sử đất nước mình thì tất yếu sẽ không biết được niềm tự hào đất nước, tự hào dân tộc là gì. Học Lịch sử là để học tinh thần yêu nước, mà tinh thần yêu nước là động lực quan trọng nhất để bảo vệ và xây dựng đất nước”.
Nhưng câu hỏi được nêu lên là nếu lịch sử dân tộc, lịch sử đất nước bị bóp méo hay bị xóa sổ thì sao?

Không thể viết lại quá khứ

Qua bài “Bàn về tẩy não”, blogger Trần Trung Đạo lưu ý rằng “Lịch sử một dân tộc được viết bằng sử quan của đảng CS và được giải thích phù hợp với đường lối, chính sách của đảng CS trong từng thời kỳ chứ không phải là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ thăng trầm, vinh quang và thống khổ của dân tộc”, và “Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc”.
Sử gia Trần Gia Phụng từ Toronto, Canada khẳng định rằng hai câu viết này của nhà văn Trần Trung Đạo “hoàn toàn đúng với thực tế”. Theo Sử gia Trần Gia Phụng thì “những người viết sử của đảng CSVN luôn luôn sửa lại quá khứ một cách trắng trợn cho phù hợp với chủ trương đường lối của đảng trong từng giai đoạn, nhằm luôn luôn giành lẽ phải và chính nghĩa về cho đảng CSVN”; và ông nhấn mạnh:
Tôi xin nhấn mạnh là mọi người có thể thay đổi tương lai, nhưng không một ai có thể sửa đổi quá khứ. Lịch sử là những câu chuyện của con người đã xảy ra trong quá khứ. Khi con người đã “in dấu” trong quá khứ, thì không thể kéo quá khứ trở lại để tẩy xóa dấu in, tẩy xóa quá khứ.  Cộng sản có thể nhất thời làm nhiễu xạ quá khứ, nhiễu xạ lịch sử nhưng không thể nào thủ tiêu quá khứ, thủ tiêu lịch sử. Ví dụ cụ thể là mấy chục năm nay, những nhà viết sử CS ra công tô son điểm phấn cho lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh, nào là ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nào là cuộc sống độc thân giản dị, nào là  Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh…

Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc
- Blogger Trần Trung Đạo
Thực tế cho thấy năm 1911, khi đến đất Pháp được hai tháng, Hồ Chí Minh xin vào học trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp, đơn xin nhập học còn sờ sờ ra đó.  Vậy là ông ta ra đi để mưu sinh chứ không phải ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh là một điệp viên CSQT, tranh đấu không phải để giải phóng dân tộc mà để đưa dân tộc vào vòng chủ nghĩa CS, làm tay sai cho CSQT.  Hồ Chí Minh vợ con đùm đề, lại còn tàn bạo giết luôn bà Nông Thị Xuân là người đã sinh cho ông ta một người con trai, sao gọi là sống độc thân được?  Hồ Chí Minh không bao giờ được UNESCO vinh danh, như mấy vị giáo sư CS ca ngợi. Ví dụ còn nhiều lắm kể không thể hết…
Theo nhà văn Trần Trung Đạo thì “Lịch sử thế giới chỉ riêng từ thế chiến thứ hai cho đến nay có nhiều anh hùng đã đóng góp trí tuệ hay máu xương vào công cuộc bảo vệ tự do cho đất nước họ hay giải phóng dân tộc họ khỏi ách thực dân. Vài trường hợp điển hình như Mahatma Gandhi (Ấn Độ), Winston Churchill (Anh), Charles de Gaulle (Pháp), Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân Quốc), Franklin D. Roosevelt (Mỹ). Nhưng khi họ qua đời, ngoài tang quyến, không có cảnh ‘Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa’ như khi  ông Hồ Chí Minh mất và ‘ôm thật chặt cột nhà khóc cho thỏa nỗi xót thương’ như khi ông Võ Nguyên Giáp vừa qua đời ở Việt Nam. Bởi vì những lãnh đạo thế giới nêu trên là những anh hùng thật, con người thật, có thành công và thất bại, có điểm tốt và điểm xấu và cuộc đời họ được phô bày trước dư luận chứ không phải là sản phẩm do nhà máy tuyên truyền sản xuất trong một xã hội bị bưng bít thông tin”.
Đó là chuyện viết sử “theo sử quan của đảng”. Thế còn chuyện “phớt lờ lịch sử” hay “xóa sổ lịch sử” thì sao?

Im lặng trước những sự kiện trọng đại

Trong thời gian gần đây, công luận trong và ngòai nước cảnh báo về việc hiện ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy nhà cầm quyền VN cùng giới truyền thông nhà nước hầu như im lặng trước những biến cố lịch sử trọng đại, như không còn công khai kỷ niệm ngày Vua Quang Trung đại thắng quân Thanh mà biến ngày đại thắng ấy thành ngày “trẩy hội Xuân” bình thường; thậm chí bia tưởng niệm công lao của Vua Quang Trung ở núi Dũng Quyết (Vinh, Nghệ An) cũng bị đục bỏ.
Rồi họ cũng lờ đi những thời điểm kỷ niệm các bộ đội VN hy sinh trong cuộc chiến đẫm máu chống quân TQ xâm lược tại vùng biên giới Việt-Hoa hồi năm 1979, trong cuộc chiến bảo vệ Hòang Sa chống TQ hồi năm 1974 khiến nhiều chiến sĩ VNCH tử vong, hay trong cuộc hy sinh khiến máu đào nhuộm đỏ biển Đông của hải quân VN ra sức bảo vệ đảo Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988.
002_1338-12-250.jpg
Ông Nguyễn Tất Thành (HCM) tại Pháp năm 1920. AFP photo

Thậm chí các vị học giả, trí thức, thanh niên yêu nước ra sức dâng hương, vòng hoa tưởng niệm những người đã hy sinh vì chống phương Bắc xâm lược cũng bị công an ngăn cản, gây khó khăn…Từ Hà Nội, GS Nguyễn Thanh Giang lên tiếng về chuyện “ phớt lờ lịch sử” này:
Lịch sử là những câu chuyện của con người đã xảy ra trong quá khứ. Khi con người đã “in dấu” trong quá khứ, thì không thể kéo quá khứ trở lại để tẩy xóa dấu in, tẩy xóa quá khứ.
- Sử gia Trần Gia Phụng
Những sự việc ông dẫn ra là sự việc có thật. Và điều đó làm cho nhiều người VN bây giờ rất bất mãn đối với những người lãnh đạo đảng CSVN…Nguy cơ hàng đầu đối với VN bây giờ là nguy cơ bị TQ xâm lấn và đặt ách đô hộ VN –ách đô hộ mềm, tức là thông qua điều lừa gạt gọi là ý thức hệ. Cho nên người dân VN bây giờ nói chung, mà lại càng những người trí thức hay những người từng đi làm cách mạng, mối băn khoăn và âu lo nhất của họ hiện giờ là sự xâm lấn, sự đô hộ của TQ. Nhưng người lãnh đạo đảng CSVN không nhìn thấy điều đó, và vẫn âm mưu xóa nhòa thực tế phũ phàng cùng sự lừa bịp của TQ.
GS Hà Văn Thịnh từ Huế cho rằng:
Đó là do cái chính sách ngọai giao “mềm dẻo, không nên kích động hận thù, xóa bỏ quá khứ, nhìn về tương lai”.v.v… Hiện nay, VN thể hiện quan hệ với TQ, theo tôi nghĩ, nó đi quá xa, bởi vì là bạn hay trên bạn hoặc dưới bạn một chút thì nguyên tắc vẫn là VN phải giữ vững độc lập, tự do. Còn chừng nào mà TQ còn chiếm đất của mình, chiếm biển, chiếm đảo của mình rồi hành hạ ngư dân mình, ngang tàng phách lối mời gọi đấu thầu dầu ở biển Đông v.v…, thì đó không phải là bạn.

Không biết nhận lỗi

Vừa rồi chỉ là một số biến cố lịch sử gần đây nhất bị “bỏ quên”. Còn nếu ngược dòng thời gian, thì người dân Việt hẳn còn nhớ vụ thảm sát Mậu Thân khiến nhà văn Nhã Ca có bài “Giải Khăn Sô Cho Huế” để “cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế” – biến cố bị giới cầm quyền chối bỏ trách nhiệm; Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc khởi xướng đầu năm 1955 đã chính thức bị dập tắt hồi tháng 6 năm 1958 - và từ đó cho tới giờ, giới cầm quyền hòan tòan “xóa sổ” biến cố lịch sử này. Rồi vô số đồng bào bị chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc hồi thập niên 1950 nhưng thân nhân không được dựng bia tưởng niệm…
Sử gia Trần Gia Phụng nhận xét về những biến cố này:
Trong thực tế, đảng CSVN chỉ xin lỗi một lần năm 1956 sau vụ Cải cách ruộng đất, nhưng đây chỉ là xin lỗi chiếu lệ để thoát tội trước phản ứng mạnh mẽ của dân chúng. Làm sao mà xin lỗi trên 170,000 người chết oan?
- Sử gia Trần Gia Phụng
Trong thực tế, đảng CSVN chỉ xin lỗi một lần năm 1956 sau vụ Cải cách ruộng đất, nhưng đây chỉ là xin lỗi chiếu lệ để thoát tội trước phản ứng mạnh mẽ của dân chúng. Làm sao mà xin lỗi trên 170,000 người chết oan? Cũng nên chú ý vào hoàn cảnh lịch sử lúc đó. Đảng CS mới cầm quyền ở các thành phố miền Bắc sau năm 1954, chưa ổn định được xã hội, còn lo ngại các thế lực còn lại, và nhất là đảng CS đang kiếm cách tổng tuyển cử với miền Nam sau hiệp định Geneve, nên mới giao cho Võ Nguyên Giáp đứng ra xin lỗi, vì lúc đó ông tướng nầy còn mang những hào quang chiến thắng.
Tôi nói xin lỗi chiếu lệ vì một khi xin lỗi, nghĩa là thấy ra lỗi thì phải hối lỗi, phải cải cách. Đàng nầy đảng CS đạt được mục đích áp đặt nền nông nghiệp chỉ huy, cướp hết đất đai dân chúng, rồi lùa dân chúng vào hợp tác xã, CS có sửa đổi gì đâu? Ngoài ra, CSVN không bao giờ xin lỗi vụ Nhân Văn Gia Phẩm, vụ Mậu Thân Huế. Để xóa sổ những tội ác trong CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, Mậu Thân Huế, thì CS bóp méo sự thật lịch sử, viết lại có bài bản làm cho người ta lầm tưởng là thật, nhưng dù làm cách gì đi nữa thì cũng không thể xóa được tội ác của CS. Ví dụ CCRĐ tàn bạo như thế, được các nhà viết sử CS sửa lại là thành công được bao nhiêu hợp tác xã, được bao nhiêu sản lượng thực phẩm …  Còn vụ Mậu Thân thì CS sửa đổi một cách trắng trợn, mà vụ mới nhất là có một nhà đạo diễn CS làm lại cuốn phim Mậu Thân bị nhiều người đả kích.  Tội ác của CS luôn luôn còn đó. “Trăm năm bia đá thì mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
Có một biến cố lịch sử nữa liên quan thảm cảnh thuyền nhân VN tại biển Đông cũng bị nhà cầm quyền VN ra sức xóa sổ.  Trong số mấy triệu người dân Việt bỏ nước ra đi tìm tự do sau khi Saigòn thất thủ hồi năm 1975, khỏang nửa triệu người trong số này đã nằm lại vĩnh viễn ở biển cả, rừng sâu núi thẳm hay gởi nắm xương tàn tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Nhưng rồi hai tấm bia tại đảo Bidong ở Malaysia và đảo Galang tại Indonesia do Văn Khố Thuyền Nhân VN thiết lập để tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên đường tìm tự do, để tri ân Cao Ủy Tỵ nạn LHQ cùng các nước sở tại đã cưu mang họ một thời, cũng bị Hà Nội vận động Malaysia và Indonesia “xóa sổ lịch sử”. Một cựu thuyền nhân VN nhận xét:
Chuyện này hết sức vô nhân đạo, vì mồ mả của những ngườiđi tìm tự do không may nằm lại rất đáng kỷ niệm. Nhiều khi gia đình nào cũng đều bị thiệt hại trong chuyến đi: Có người thì con chết, người thì vợ chết, thậm chí có trường hợp chết cả gia đình. Thì chuyện tưởng niệm thuyền nhân là việc nên làm, và là chuyện đương nhiên rồi. Bây giờ Việt Nam không cho tưởng niệm đó là quá vô nhân đạo.”
Đó là chưa kể trại tỵ nạn cũ của thuyền nhân tại Galang cũng bị VN áp lực Jakarta “xóa sổ”, khiến bà Nada Faza Soraya, Chánh Sự Vụ Phòng Thương Mại Batam của Indonesia phản ứng rằng, “địa điểm này hòan tòan có giá trị lịch sử và nhân đạo”.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/forgot-distort-history-tq-10212013104910.html

Việc sửa đổi lịch sử Việt Nam của đảng cộng sản

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-10-23
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Vụ thảm sát hồi Tết Mậu Thân ở Huế: Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích (Wikipedia)
Vụ thảm sát hồi Tết Mậu Thân ở Huế: Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích (Wikipedia)
Screen copy/LIFE

Nghe bài này
Qua bài tựa đề “Bàn Về Tẩy Não”, nhà văn Trần Trung Đạo cư ngụ tại Hoa Kỳ có nói rằng “ Lịch sử một dân tộc được viết bằng sử quan của đảng CS và được giải thích phù hợp với đường lối, chính sách của đảng CS trong từng thời kỳ chứ không phải là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ thăng trầm, vinh quang và thống khổ của dân tộc”, và “Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc”. Qua cuộc trao đổi với Thanh Quang, Sử gia Trần Gia Phụng từ Toronto, Canada nhận xét về chuyện đảng CSVN “vẽ ra” hay “thay đổi” lịch sử, như sau:
Sửa lại quá khứ một cách trắng trợn
Trần Gia Phụng:  Thưa ông, hai câu viết của nhà văn Trần Trung Đạo mà ông trích dẫn trên đây hoàn toàn đúng với thực tế.  Những người viết sử của đảng CSVN luôn luôn sửa lại quá khứ một cách trắng trợn cho phù hợp với chủ trương đường lối của đảng trong từng giai đoạn, nhằm luôn luôn giành lẽ phải và chính nghĩa về cho đảng CSVN.
Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh là mọi người có thể thay đổi tương lai, nhưng không một ai có thể sửa đổi quá khứ.  Lịch sử là những câu chuyện của con người đã xảy ra trong quá khứ.  Khi con người đã “in dấu” trong quá khứ, thì không thể kéo quá khứ trở lại để tẩy xóa dấu in, tẩy xóa quá khứ.  Cộng sản có thể nhất thời làm nhiễu xạ quá khứ, nhiễu xạ lịch sử nhưng không thể nào thủ tiêu quá khứ, thủ tiêu lịch sử.
Ví dụ cụ thể là mấy chục năm nay, những nhà viết sử CS ra công tô son điểm phấn cho lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh, nào là ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nào là cuộc sống độc thân giản dị, nào là  Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh…
Hồ Chí Minh là một điệp viên CSQT, tranh đấu không phải để giải phóng dân tộc mà để đưa dân tộc vào vòng chủ nghĩa CS, làm tay sai cho CSQT. Hồ Chí Minh vợ con đùm đề, lại còn tàn bạo giết luôn bà Nông Thị Xuân là người đã sinh cho ông ta một người con trai, sao gọi là sống độc thân được?
Sử gia Trần Gia Phụng
Thực tế cho thấy năm 1911, khi đến đất Pháp được hai tháng, Hồ Chí Minh xin vào học trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp, đơn xin nhập học còn sờ sờ ra đó.  Vậy là ông ta ra đi để mưu sinh chứ không phải ra đi tìm đường cứu nước.
Hình ảnh Cải cách ruộng đất và Tòa án Nhân Dân của ĐCS Việt Nam. Tài liệu: Franz Faber,1955 Kongress – Verlag Berlin
Hình ảnh Cải cách ruộng đất và Tòa án Nhân Dân của ĐCS Việt Nam. Tài liệu: Franz Faber,1955 Kongress – Verlag Berlin

Hồ Chí Minh là một điệp viên CSQT, tranh đấu không phải để giải phóng dân tộc mà để đưa dân tộc vào vòng chủ nghĩa CS, làm tay sai cho CSQT.  Hồ Chí Minh vợ con đùm đề, lại còn tàn bạo giết luôn bà Nông Thị Xuân là người đã sinh cho ông ta một người con trai, sao gọi là sống độc thân được?  Hồ Chí Minh không bao giờ được UNESCO vinh danh, như mấy vị giáo sư CS ca ngợi.  Ví dụ còn nhiều lắm kể không thể hết thưa ông.
Thanh Quang: Thưa ông, có những biến cố nổi bật trong dòng lịch sử VN như cuộc thảm sát năm Mậu Thân ở Huế, Phong trào Nhân văn Giai Phẩm, Cải cách Ruộng Đất ở miền Bắc trước kia khiến vô số người chết oan. Nếu có ý kiến cho rằng Hà Nội ra sức “xóa sổ” những biến cố này để chạy tội thì ông nghĩ sao về ý kiến như vậy (Vì thực ra, Hà Nội cũng có nhận sai lầm về Cải Cách Ruộng Đất) ?
Trần Gia Phụng:  Thưa ông, trong thực tế, đảng CSVN chỉ xin lỗi một lần năm 1956 sau vụ Cải cách ruộng đất, nhưng đây chỉ là xin lỗi chiếu lệ để thoát tội trước phản ứng mạnh mẽ của dân chúng.  Làm sao mà xin lỗi trên 170,000 người chết oan?  Cũng nên chú ý vào hoàn cảnh lịch sử lúc đó.  Đảng CS mới cầm quyền ở các thành phố miền Bắc sau năm 1954, chưa ổn định được xã hội, còn lo ngại các thế lực còn lại, và nhất là đảng CS đang kiếm cách tổng tuyển cử với miền Nam sau hiệp định Geneve, nên mới giao cho Võ Nguyên Giáp đứng ra xin lỗi, vì lúc đó ông tướng nầy còn mang những hào quang chiến thắng.  Tôi nói xin lỗi chiếu lệ vì một khi xin lỗi, nghĩa là thấy ra lỗi thì phải hối lỗi, phải cải cách.  Đàng nầy đảng CS đạt được mục đích áp đặt nền nông nghiệp chỉ huy, cướp hết đất đai dân chúng, rồi lùa dân chúng vào hợp tác xã, CS có sửa đổi gì đâu?
Còn vụ Mậu Thân thì CS sửa đổi một cách trắng trợn, mà vụ mới nhất là có một nhà đạo diễn CS làm lại cuốn phim Mậu Thân bị nhiều người đả kích. Tội ác của CS luôn luôn còn đó. “Trăm năm bia đá thì mòn - Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Sử gia Trần Gia Phụng
...Còn vụ Mậu Thân thì CS sửa đổi một cách trắng trợn, mà vụ mới nhất là có một nhà đạo diễn CS làm lại cuốn phim Mậu Thân bị nhiều người đả kích.  Tội ác của CS luôn luôn còn đó.  “Trăm năm bia đá thì mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
Ngoài ra, CSVN không bao giờ xin lỗi vụ Nhân Văn Gia Phẩm, vụ Mậu Thân Huế.  Để xóa sổ những tội ác trong CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, Mậu Thân Huế, thì CS bóp méo sự thật lịch sử, viết lại có bài bản làm cho người ta lầm tưởng là thật, nhưng dù làm cách gì đi nữa thì cũng không thể xóa được tội ác của CS.
Ví dụ CCRĐ tàn bạo như thế, được các nhà viết sử CS sửa lại là thành công được bao nhiêu hợp tác xã, được bao nhiêu sản lượng thực phẩm . Còn vụ Mậu Thân thì CS sửa đổi một cách trắng trợn, mà vụ mới nhất là có một nhà đạo diễn CS làm lại cuốn phim Mậu Thân bị nhiều người đả kích.  Tội ác của CS luôn luôn còn đó.  “Trăm năm bia đá thì mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
Ông Hồ Chí Minh
Ông Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Thông tin khoa học toàn cầu sẽ chứng minh lại sự thật
Thanh QuangThưa ông, nói chung thì công luận cáo giác rằng nhà cầm quyền CSVN luôn tìm cách xóa sổ những biến cố lịch sử nào gây bất lợi cho họ, dù đó là những sử kiện không thể chối cãi. Ông nhân xét như thế nào về vấn đề này ?
Trần Gia Phụng:  Thưa ông, như tôi đã trình bày ở trên, xóa sổ những biến cố lịch sử gây bất lợi cho họ là chủ trương của CSVN từ xưa tới nay, dù đó là những sử kiện không thể chối cãi.  Chẳng những thế, CS còn xóa bỏ hay chú thích sai cả những hình ảnh mà CS tự cho là bất lợi.  Nhà văn Vũ Thư Hiên trong hồi ký Đêm giữa ban ngày, có kể lại trường hợp hình ảnh phụ thân ông bị xóa sửa vì ông cụ bị quy chụp trong vụ chống đảng CSVN.  Một ví dụ điển hình nhứt là ngày 30-12-1999, CSVN ký hiệp định nhượng ải Nam Quan cho Trung Cộng.  Nếu ai theo dõi sách vở kỹ, thì sẽ thấy các sách địa lý hay lịch sử Việt Nam do CS xuất bản từ sau năm 2000 trở đi, hoàn toàn không còn có chữ Nam Quan nữa.  Cộng sản làm như thế để trẻ em Việt Nam sau nầy sẽ không còn thắc mắc về ải Nam Quan.  Đây là tội phản quốc trắng trợn của đảng CSVN sẽ bị dân tộc Việt chúng ta đời đời lên án.

Dần dần thời gian sẽ xóa đi những lớp bụi giả tạo của CS, sự thật sẽ tái hiện, nhất là trong hoàn cảnh thông tin khoa học toàn cầu tiến bộ như ngày nay. Khi đó, những tuyên truyền, bóp méo chẳng ích lợi gì mà còn bị phản ứng ngược rất mạnh mẽ.
Sử gia Trần Gia Phụng
Thanh Quang: Thưa ông, theo ông thì tại sao nhà cầm quyền CSVN làm như vậy,và những hành động đó có thể ảnh hưởng tới các sử gia về sau như thế nào trong việc viết nên một giai đọan lịch sử cho trung thực?
Trần Gia Phụng: Thưa ông, nhà cầm quyền CS theo châm ngôn “cùng đích biện minh cho phương tiện”, nên họ dùng tất cả các phương tiện, dù láo khoét, để phục vụ cùng đích của họ, là quyền lợi của đảng CS, làm thế nào cho đảng CS luôn luôn nắm phần chính nghĩa và thành công.  Hơn nữa, dưới chế độ độc tài toàn trị, chỉ có tài liệu của đảng CS được lưu truyền, mà không có tài liệu nào khác, nên các nhà viết sử CS múa gậy vườn hoang, vẽ rồng vẽ rắn tùy thích, không ai kiểm soát cả, không ai so sánh.  Đôi khi những nhà viết sử còn bóp méo lịch sử để lập công với lãnh đạo của họ.
Hầu hết các người có ruộng đất đưa ra xử đều bị đánh đến chết
Hầu hết các người có ruộng đất đưa ra xử đều bị đánh đến chết. Ảnh tư liệu

Còn về việc những hành động đó có thể ảnh hưởng tới các sử gia về sau như thế nào, thì thưa với ông, đơn giản chỉ tạm thời làm nhiễu xạ lịch sử, và chỉ một số người ở dưới chế độ độc tài toàn trị tin theo, vì họ không biết gì khác và cũng không thể suy nghĩ hay viết gì khác.  Tuy nhiên, như tôi đã trình bày ở trên, dần dần thời gian sẽ xóa đi những lớp bụi giả tạo của CS, sự thật sẽ tái hiện, nhất là trong hoàn cảnh thông tin khoa học toàn cầu tiến bộ như ngày nay.  Khi đó, những tuyên truyền, bóp méo chẳng ích lợi gì mà còn bị phản ứng ngược rất mạnh mẽ.  Đọc những Trần Độ, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Bùi Minh Quốc… thì thấy rõ điều nầy.
Thanh Quang: Cảm ơn Sử gia Trần Gia Phụng.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/his-distor-by-communis-10232013073302.html

Vì sao học sinh không thích học lịch sử?

Việt Hà, phóng viên RFA
2013-04-08
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

ls1-305.jpg
Học sinh trường PTTH Nguyễn Hiền ở Sài Gòn xé giấy được coi là đáp án thi sử ném xuống sân trường để ăn mừng hôm 30/3/2013.
Screen capture



Cuối tuần qua, trên mạng internet và báo chí lan truyền một đoạn video quay cảnh các học sinh trường PTTH Nguyễn Hiền ở Sài Gòn xé giấy được coi là đáp án thi sử ném xuống sân trường để ăn mừng thông báo của Bộ Giáo dục về việc không thi môn sử trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học năm nay. Đã có nhiều ý kiến chỉ trích của công luận xung quanh hình ảnh bị coi là phản cảm này, mặc dù đã có phản ứng từ học sinh Nguyễn Hiền nói rằng các em không xé đáp áp thi sử. Tuy nhiên hình ảnh  này cũng đặt ra nhiều câu hỏi về việc dạy và học sử ở các trường học tại Việt nam.

Tại sao xé giấy ăn mừng?

Ngày 7 tháng 4, trang VNexpress cho chiếu một đoạn video clip dài khoảng 2 phút cho thấy hình ảnh các em học sinh ở trường PTTH Nguyễn Hiền, Sài Gòn, đang reo hò vui sướng xé giấy, ném xuống trắng cả sân trường. Theo bài báo, đoạn video này được quay vào ngày 30 tháng 3 sau khi có thông báo của Bộ Giáo dục về 6 môn thi tốt nghiệp PTTH năm nay, trong đó không có môn sử. Các em học sinh trường Nguyễn Hiền đã reo hò, xét giấy được coi là đề cương thi môn sử để ăn mừng.
Ngay sau khi đoạn video clip được đưa lên mạng, đã có rất nhiều ý kiến chỉ trích hành vi này của các em học sinh. Sau đó đã có một số học sinh ở trường Nguyễn Hiền đính chính trên mạng rằng các em không xé đề cương thi môn sử như mọi người nghĩ mà chỉ là giấy nháp để ăn mừng việc không phải thi môn sử mà thôi.
Theo tôi thì người thầy cũng có trách nhiệm trong hiện trạng đau lòng là khi thấy không thi môn sử thì học sinh xé tan nát đề cương lịch sử.
Nguyễn Thượng Long
Mặc dù vậy, hành động xé giấy ăn mừng không phải thi môn sử của các em học sinh trường Nguyễn Hiền cũng cho thấy một thực tế về việc dạy và học sử tại Việt Nam.  Thầy giáo Đỗ Việt Khoa, một trong những giáo viên đã từng nhiều lần lên tiếng về các tiêu cực trong giáo dục ở Hà Tây, nhận xét:
“Giả sử các em có ném tài liệu môn sử, thì việc đó đối với tôi cũng không ngạc nhiên lắm vì từ thế hệ tôi từ xưa đến nay khi học môn sử thì chúng tôi cũng nắm được khá nhiều thông tin của nó, giải thích được phần nào tâm lý của học sinh không thích học sử lắm. Vì sách giáo khoa của Việt Nam viết quá nặng nề về các dữ kiện ngày giờ tháng năm, rồi thu được bao nhiêu đơn vị vũ khí, giết được bao nhiêu quân địch.”
Chi Lan, một học sinh học lớp 11 tại Sài Gòn nói em không thích học sử bởi cách dạy môn này tại các trường.
3-f3e6c-250.jpg
Học sinh trường PTTH Nguyễn Hiền ở Sài Gòn xé giấy được coi là đáp án thi sử ném xuống sân trường để ăn mừng hôm 30/3/2013. Screen capture.

“Em cảm giác sử mình đang học mà không có đam mê, người ta chỉ có đưa bài rồi dạy dạy, bao giờ kiểm tra thì đưa đề cương bắt học thuộc lòng chứ không có giải thích tận tình.”
Thầy giáo về hưu Nguyễn Thượng Long ở Hà Nội thì cho rằng, vấn đề người thầy cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho học sinh không có đam mê với môn sử.
“Người thầy dạy mà không có điều chỉnh sách vở mà chỉ như một máy ghi âm, phát âm lại những giáo điều đó trong lịch sử thì làm sao chuyển lửa đến cho học sinh. Theo tôi thì người thầy cũng có trách nhiệm trong hiện trạng đau lòng là khi thấy không thi môn sử thì học sinh xé tan nát đề cương lịch sử và trắng cả sân trường thì đó là một hình ảnh rất phản cảm.”

Một môn học tuyên truyền?

Trong việc dạy sử, vấn đề có lẽ đã được báo chí nói đến nhiều nhất vẫn là sách giáo khoa, giáo trình môn sử trong các trường học. Chưa kể chuyện sách sử in sai về các sự kiện, nhân vật lịch sử, theo các giáo viên, giáo trình sử trong trường hiện nay còn mang tính một chiều rất nặng. Nhà giáo Nguyễn Thượng Long cho biết:
“Nói về giáo trình lịch sử, chúng ta được học một giáo trình rất đồ sộ và giáo trình của chúng ta là một lịch sử chỉ có một chiều, ví dụ như ta thắng thì địch phải thua, ta chính nghĩa, địch phi nghĩa, ta tốt, kẻ thù là kẻ ác, trước sau thế nào thì ta cũng chiến thắng rực rỡ. Đó là một sự xói mòn. Lịch sử theo tôi không phải như thế. Lịch sử có thể có hùng ca có thể có bi tráng, có thành công, có thất bại, có cao thượng và lịch sử cũng chứng kiến sự thấp hèn của con người. Đó mới là chính sử.”
Theo thầy giáo Đỗ Việt Khoa, giáo trình sử gò bó, một chiều cũng góp phần làm cho chính các giáo viên dạy sử nản lòng, không tận tâm với việc giảng dạy.
Tôi nói chuyện với một số giáo viên dạy sử thì họ nói chúng em dạy sử cũng chán vì môn sử nói một chiều nhiều quá, toàn nói cái hay, trận nào Việt Nam cũng thắng, địch thua.
Đỗ Việt Khoa
“Tôi nói chuyện với một số giáo viên dạy sử thì họ nói chúng em dạy sử cũng chán vì môn sử nói một chiều nhiều quá, toàn nói cái hay, trận nào Việt Nam cũng thắng, địch thua mà trên thực tế thì ta chết nhiều hơn địch. Vậy mà người viết sử không đưa vào trong sách để học sinh có cái nhìn đa chiều để cho các thế  hệ sau này rút kinh nghiệm vì sao thua, thất bại thế nào, ai chịu trách nhiệm cái đó. Có như thế thì mới là cái nhìn đa chiều, dạy mới hấp dẫn, khách quan. Còn đến giờ sách sử chỉ như một tài liệu ca ngợi. đánh trận nào cũng thắng, chẳng thua. Người dạy không hứng thú.”
Chán sử, không muốn học sử đã dẫn đền tình trạng hàng ngàn bài thi sử của các em học sinh bị điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2011. Nhưng đứng trước thực tế đau lòng này, Bộ trưởng Giáo dục Phạm Vũ Luận, trong bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ đã nói rằng đây chỉ là điều bình thường. Câu trả lời này của người đứng đầu ngành giáo dục cũng khiến nhiều người lên tiếng phê bình, cho rằng ngành giáo dục đã không nhìn nhận vấn đề một cách đúng mực để có những cải cách kịp thời trong việc dạy và học môn sử. Nhà giáo Nguyễn Thượng Long chia sẻ:
“Lỗi của các lãnh đạo giáo dục, tôi cũng thấy có vấn đề và nó góp phần làm cho học sinh coi thường môn lịch sử. Tôi không thể tưởng tượng nổi Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận lại có thể có hàng nghìn bài thi sử có điểm 0 là rất bình thường. Thì làm sao học sinh còn thiết tha với môn sử nữa. Cái lỗi này không phải chỉ có tại học trò và thầy giáo, tôi nghĩ cả ban lãnh đạo giáo dục cũng không đạt chuẩn nên mới có vấn đề như vậy.”
Từ lâu nay, các lãnh đạo Việt Nam đã đề cập đến việc đổi mới giáo dục, tất nhiên trong đó có đổi mới việc giảng dạy môn sử. Tuy nhiên cho đến lúc này, người ta vẫn không thấy có những đổi mới nào thực sự được thực hiện. Theo thầy giáo Đỗ Việt Khoa, tư duy chính trị đã cản trở việc đổi mới giáo dục nói chung và dạy sử nói riêng.
“Tình hình lúc này ở Việt Nam nói để thay đổi là rất khó. Thay đổi cách dạy, cách nhìn đã khó rồi, thay đổi về tư duy chính trị là gần như không được. Không tiến hành được. Ai mở mồm nói bây giờ là bất lợi, người ta bảo là chống đối, hay có tư tưởng suy thoái, biến chất, nên người ta không thay đổi. Bản chất sách giao khoa viết không trung thực đã bị nhiều người lên tiếng, cách đây một tháng báo chí đồng loạt lên tiếng chỉ trích sách giáo khoa sử viết chưa trung thực, nhưng thử hỏi ai bây giờ dám thay đổi sách giáo khoa sử, ai dám viết lại. Bộ chưa dám, chưa thay đổi, bắt người học thì các em cũng chán.”
Việc học sinh trường Nguyễn Hiền xé giấy ăn mừng không thi môn sử rõ ràng là một hình ảnh rất phản cảm dù có được giải thích thế nào đi chăng nữa. Thế nhưng, theo thầy giáo Nguyễn Thượng Long, người đáng trách nhất trong sự việc này vẫn là những người làm giáo dục, những người viết sử, bởi học sinh chỉ là những trang giấy trắng đang chờ được viết lên.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/y-students-don-t-want-study-history-vh-04082013140925.html

Học sinh Việt Nam quá kém môn sử. Vì đâu?

Hàng ngàn bài thi lịch sử bị điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học năm nay là kết quả của nhiều năm lơ là và đối xử bất công với môn học lịch sử. Chuyện này đang là đầu đề của nhiều tờ báo trong nước. Trách nhiệm về đâu?

Hai bà Trưng trong sách sử Việt.
Hai bà Trưng trong sách sử Việt.
Photo courtesy nguoivietquocgia.worldnet.com


Ảnh vua Thành Thái trong trang sử Việt Nam trên mạng- vietlist.com photo
Ảnh vua Thành Thái trong trang sử Việt Nam trên mạng- vietlist.com photo
Trách nhiệm ở Bộ

Môn lịch sử từ nhiều năm nay xuống cấp trầm trọng trong nhà trường và nhiều người đã lên tiếng cách này hay cách khác. Đáng buồn là những phản ảnh này không được giới chức trách nhiệm chú ý. Sau nhiều năm lập đi lập lại sai lầm, kết quả của kỳ thi tuyển năm nay chỉ là hậu quả của nhiều năm về trước.
Người trong ngành giáo dục không phải  ai cũng bình thản với kết quả này, đặc biệt là những giáo viên trực tiếp dạy môn sử trong nhà trường. Không buồn sao được khi nhớ tới câu “mũi dại, lái chịu đòn” của cha ông còn đó. Giáo viên cố gắng dạy tốt bao nhiêu chăng nữa nhưng chương trình và giờ học được sắp xếp như đánh đố thầy cô lẫn học sinh, không chóng thì chầy chắc chắn sẽ mang lại kết quả này.
Theo những phản hồi trên báo chí, người ta thấy ngay lỗi này trứơc hết Bộ Giáo dục và Đào tạo phải chịu trách nhiệm còn giáo viên và học sinh chỉ là nạn nhân. Bộ máy cồng kềnh quan liêu này đã nhiều năm ra những chỉ thị, chương trình gỉảng dạy mà không cần biết hiệu quả của nó đối với cả người đứng lớp lẫn học sinh sẽ như thế nào.

Đem sử phục vụ chính trị.

Chỉ riêng chương trình Lịch sử lớp 4 các em phải học một lượng thông tin khổng lồ từ thời Văn Lang kéo dài đến đời Nhà Nguyễn thì không cần giải thích ai cũng có thể hiểu em học sinh ấy sẽ đối phó ra sao, và thầy cô phải dạy như thế nào.
Lớp 4 như vậy và tới khi em leo được tới lớp 12 chương trình lịch sử lại tiếp tục đeo bám em với những bài học chính trị được lồng trong bối cảnh lịch sử một cách gượng ép lại càng khiến cho học sinh chán nản thêm nữa. Nhiệm vụ chính trị trong sách giáo khoa trực tiếp làm cho đôi vai của các em đã yếu ớt nay lại càng nhỏ bé hơn. Các em phải học một cuốn sử dài ngoằng mà cách soạn cũng như lời văn dẫn rất bác học, không những khó cho học sinh mà cả thầy cô giáo cũng phải mày mò tự tìm hiểu lấy.
Tính hấp dẫn theo tôi là phải gắn với hai thuộc tính quan trọng của lịch sử đó là tính trung thực và sự công bằng
Sử gia đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc
 Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cũng đồng thời là một sử gia có ý kiến về vấn đề này như sau:
-"Tôi nghĩ đây là vấn đề nó tồn tại từ lâu rồi, hơn mười năm rồi. Có lúc nó trở thành điều bức xúc, nhất là trong một cuộc thi, mà một cuộc thi thì thế nào cũng liên quan đến câu hỏi, thế nhưng nền tảng của nó vẫn là vấn đề quan trọng nhất về vấn đề dạy sử đó là cái thách đố. Cái thách đố thứ nhất là tính hấp dẫn của nó.
Tính hấp dẫn theo tôi là phải gắn với hai thuộc tính quan trọng của lịch sử đó là tính trung thực và sự công bằng. Rõ ràng sử học Việt Nam trong thời gian rất dài nó phục vụ chính trị. Cái  nhiệm vụ chính trị tôi cho là không sai nhưng nó đã sơ cứng rồi, nó làm cho chương trình không tạo nên sự hấp dẫn cho bọn trẻ"

Sách giáo khoa gây chán nản

Cái ý thứ hai là vấn đề xã hội thì tôi nghĩ ngay cả các quốc gia phát triển, không biết ở Mỹ ra sao, nhưng tôi đọc báo tôi cũng thấy vấn đề này đó là việc tri thức lịch sử có ích gì cho các cháu trong cuộc sống hiện nay?
Mỗi ngày các cháu chỉ có 24 tiếng như mọi người khác thôi cháu phải chia sẻ thời gian ấy theo nhu cầu mưu sinh, phát triển nhất là ở xã hội như xã hội Việt Nam nói rất nhiều về lịch sử nhưng đối với sự học thì rất là khiêm tốn
Sách giáo khoa về lịch sử được soạn theo cung cách của tài liệu giống như trình luận án tiến sĩ, cho thấy tư duy của nhóm soạn giả có kinh nghiệm bao nhiêu trong lĩnh vực sách giáo khoa. Thầy cô giáo làm cách nào để thực hiện hết trách nhiệm của mình khi giảng dạy môn lịch sử trong lớp cho các em với một loại tài liệu khó hiểu và nhiêu khê như thế là câu hỏi mà nhiều phụ huynh đặt ra.
Thạc sĩ Đinh Kim Phúc hiện công tác trường Đại học mở TPHCM cho biết nhận xét của ông về chất lượng giáo dục trong môn lịch sử như sau:
"Chất lượng dạy và học lịch sử đã được báo động hơn 30 năm qua chứ không phải bây giờ mới báo động, và cái kết quả kỳ thi tuyển sinh năm nay nó là câu trả lời đối với bộ Giáo Dục và đào tạo.
Người ta đã biến một bộ môn khoa học trở thành một bộ môn chính trị để tuyên truyền, để minh hoạ cho đường lối chính sách của nhà nước chứ không phải cho một ngành khoa học.
Vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay đã bị bóp méo. Nó được xây dựng trên một nền tảng không khoa học. Chính vì vậy nên thầy thì không muốn dạy mà trò thì không muốn học"

Hình vẽ vua Hàm Nghi trong một trang sử Việt trên mạng- vietlist.com photo
Hình vẽ vua Hàm Nghi trong một trang sử Việt trên mạng- vietlist.com photo
Ông Bộ trưởng lạc quan!

Bên cạnh văn phong bác học, một điều hết sức phi lý vẫn đang tồn tại  hàng ngày trong mái trường xã hội chủ nghĩa ngày nay, đó là môn học lịch sử với những sự kiện và con số có thể so sánh với một thư viện bỏ túi, nhưng giáo viên chỉ có một tiết dạy mỗi tuần thì nhồi nhét cách nào cho hết những cuốn sách giáo khoa ấy trong 12 năm học?
Những con số 0 trong bài thi tuyển sinh vừa rồi là bằng chứng làm cho những người có trách nhiệm phải thở dài, thế nhưng chính ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận lại hết sức lạc quan khi nói với báo chí rằng những con số 0 này là bình thường vì các nước Âu Mỹ cũng đang có hiện tượng như vậy.
Nguyễn Tất Thành thuở nhò tính tình ngổ ngáo, hay trốn học đi biểu tình, bị thực dân bắt, đuổi học, bèn câm thù mà tìm đường cứu nước..."
một bài thi tuyển sinh đại học, môn sử
Thạc sĩ Đinh Kim Phúc hiện công tác trường Đại học mở TPHCM và cũng là chuyên gia nghiên cứu Biển Đông cho biết kinh nghiệm của ông khi đích thân chấm thi môn lịch sử
"Tôi tham gia chấm thi kỳ tuyển sinh vừa qua về môn sử. Tôi không biết ông Bộ trưởng Giáo Dục Phạm Vũ Luận sẽ nghĩ như thế nào khi nghe môt số bài luận văn như sau, Với câu một, nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nứơc của Nguyễn Tất Thành thì một em nó viết:"Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chứ có phải đi ngao du đâu?"
Một em khác viết "Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu nước vì người đã vứt bỏ tình yêu thương với một thiếu nữ cùng quê!" Rồi một em khác nữa nó viết "người không muốn đi theo vết xe đổ của đại thi hào Nguyễn Du!..."
Nhưng có lẽ cài bài làm sau đây tôi thấy nó phản ảnh nhất vấn đề dạy và học lịch sử khi một thí sinh viết như thế này: "Nguyễn Tất Thành (tên khai sanh là Nguyễn Sinh Cung) thuở nhỏ tình tình rất ngổ ngáo, người thường xuyên trốn học đi biểu tình, bị thực dân Pháp bắt được, đuổi học! Từ đó người căm thù thực dân, đế quốc mà ra đi tìm đường cứu nước
Nghe qua cái đoạn bài làm này có lẽ ông Bộ trưởng phải xin lỗi người dân cả nước với cái nhận xét của ông"

Giáo dục lòng yêu nước

Những con số 0 trong kỳ thi tuyển chưa phải là thảm họa cho ngành giáo dục như lời Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo tuyên bố với báo chí, nhưng nhìn tổng thể thì nó là nỗi đau cho cả quốc gia và chính điểu này đang huỷ hoại tinh thần yêu nước một cách rõ ràng nhất trong mỗi thanh niên ngày nay. Giáo sư Hồ Ngọc Đại cho biết ý kiến của ông như sau:
"Bây giờ cái đó là cái cần quan tâm. Cần phải chú ý đến lịch sử hơn nữa. Thứ hai nữa là phải hiểu cách khác chứ không theo cách cũ được. Những diễn biến của đất nước nó quan trọng hơn những cái khác.
Theo tôi sử phải biết những diễn biến của dân tộc, những nỗi đau và niềm vui của dân tộc, những bứơc thăng trầm của dân tộc. Quan trọng nhất của giáo dục là giáo dục lòng yêu nước.
Chính trị có cách làm của họ nhưng mình có cách làm lâu dài hơn, tức là đưa vào cái truyền thống yêu nứơc. Dân tộc Việt Nam có truyền thống bách chiến bách thắng chưa ai thắng đựơc Việt Nam cả!"
Quan tâm và khắc phục là hai chuyện có khoảng cách rất xa. Không phải vì không có đủ nhân tài để thực hiện nó nhưng hệ thống quan liêu sơ cứng của bộ giáo dục đã là lực cản lớn nhất cho những cố gắng đầy tâm huyết đó. Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết:
"Cái nỗi lo lắng ấy tôi thấy các nhà lãnh đạo lẫn người dân…thế nhưng đi vào thực tiễn thì nó không có tác động gì cả vì nền giáo dục hiện nay nó quá sơ cứng rồi. Từ việc đào tạo giáo viên cho đến môn học lịch sử trong nhà trường, đến tổ chức thi cử về lịch sử tôi cho đấy là cái phản ảnh đời sống học đường nhất"
...không biết vì lý do gì mà Bộ không triền khai trong khi ngược lại ở Trung Quốc người ta dạy cho học sinh của họ biết rằng Tây Sa, Nam Sa là của Trung Quốc
Thạc sĩ Đinh Kim Phúc
Kiến thức lịch sử mỏng manh của học sinh trong thi cử có thể làm cho các em thất bại trong kỳ thi tuyển, nhưng nếu so với việc mất nước vì ngây thơ không hiểu biết lịch sử là một việc lớn hơn ngàn lần.
Trong khi Việt Nam đối đầu với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, nếu làm một cuộc nghiên cứu tầm hiểu biết của sinh viên về nội dung tranh chấp hay chủ quyền biển đảo của Việt Nam thì kết quả sẽ không khó nhận ra, hàng ngàn con số 0 lại tiếp tục xuất hiện, Thạc sĩ Đinh Kim Phúc chia sẻ kinh nghiệm của ông như sau:
"Vấn đề này chúng tôi đã đề nghị rất lâu là nên đưa nội dung về Biển Đông, về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa vào sách giáo khoa, nhưng không biết vì lý do gì mà Bộ không triền khai trong khi ngược lại ở Trung Quốc người ta dạy cho học sinh của họ biết rằng Tây Sa, Nam Sa là của Trung Quốc.
Phần lớn học sinh hiện nay với trình độ phổ thông am hiều về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đào này, hay là tình hình nóng bỏng trên biền đông chì là một mớ kiến thức mờ nhạt va không hệ thống.
Tranh lịch sử Việt Nam. Photo thuvienbao.com
Tranh lịch sử Việt Nam. Photo thuvienbao.com


Cách đây vài tháng tôi đã đăng ký đề tài khoa học với Bộ về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng bộ Giáo dục đã bác thẳng thừng và không hề có một ý kiến trả lời vì sao đề tài không được phép thực hiện!
Người dân tin vào hệ thống giáo dục một cách gần như tuyệt đối, vì vậy sự thành công hay thất bại của con em họ tại nhà trường đồng nghĩa với cách dạy và chương trình sách giáo khoa mà họ hầu như không nắm được.
Môn lịch sử được xem là môn phụ trong chương trình như hiện nay chắc chắn sẽ khiến cho phụ huynh xem thường và hệ lụy thấy rõ nhất là không ai cảm thấy số điểm 0 của con em họ là quan trọng, nhất là khi chính ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã lên tiếng trấn an một cách hồn nhiên trên báo chí.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/75-percent-history-test-scores-below-2-tenths-why-08032011132201.html

Điểm thi môn Lịch sử thấp đến bất thường

Có đến gần 4400 bài thi môn Lịch sử của thí sinh thi vào Đại học Cảnh sát đạt dưới điểm 2. Đó là công bố vừa được đưa ra vào ngày hôm nay từ Trường Đại Học Cảnh sách Nhân dân.

Tình trạng kết quả điểm thi môn Lịch sử quá thấp bất thường không chỉ xảy ra ở trường Đại Học cảnh sách mà còn xảy ở nhiều trường đại học khác, trong đó có Đại học Sư phạm.
Theo đó, số thống kê thí sinh đạt yêu cầu chỉ đạt từ 0.3 – 5%, trong khi số thí sinh không đạt điểm thi yêu cầu lên đến 99% ở một số trường như Đại học Đà Nẵng, Đại Học Quảng Nam…
Một số ý kiến cho rằng điểm thi môn Lịch sử năm nay thấp bất thường là do nhiều nguyên nhân, trong đó ngoài việc thí sinh ghi nhớ một cách máy móc, còn có lỗi ở đề thi có nhiều câu hỏi mơ hồ, mắc sai phạm về kỹ thuật đo lường và đánh giá giáo dục.
Trả lời khi báo chí hỏi về việc này, Bộ trưởng bộ Giáo Dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận nói đây là kết quả bình thường vì các nước phương Tây cũng vậy. Câu trả lời này đang được báo chí trong nước khai thác.

donderdag 22 augustus 2013

“Triết học Mác-Lê”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: Môn bắt buộc ở đại học?

Thứ tư 21 Tháng Tám 2013
“Triết học Mác-Lê”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: Môn bắt buộc ở đại học?
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.
Trọng Thành
Trung tuần tháng 7/2013 vừa qua, sau khi các kỳ thi đại học trong nước kết thúc, chính phủ Việt Nam ra quyết định miễn phí cho một số chuyên ngành học để khuyến khích sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh một số chuyên khoa y tế đặc biệt (như lao, phong, tâm thần…), có mặt hai môn học miễn phí được công luận quan tâm: “Triết học Mác-Lênin” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tạp chí Khoa học của RFI xin chuyển đến quý vị một số tiếng nói của các giảng viên, sinh viên và nhà nghiên cứu xung quanh vấn đề này.
Sự quan tâm đến hai môn học này có nhiều lý do, nhưng một trong những điều chủ yếu là: Đây là hai môn đào tạo bắt buộc đối với mọi sinh viên, bất kể thuộc chuyên ngành nào, trong các năm học đầu tiên. Từ lâu nay, trên truyền thông Nhà nước tại Việt Nam, có nhiều quan điểm chỉ trích hai môn học này, ở mặt này mặt khác, vì tính chất nặng nề hay chất lượng giảng dạy kém… nhưng dường như chưa có cuộc tranh luận nào đi sâu vào một số vấn đề căn cốt như: Có nên giảng dạy bắt buộc hai môn học mang tính tư tưởng và chính trị này? Nội dung các môn học này có thực sự phù hợp với việc học tập ở bậc đại học?...
Để tôn trọng các quan điểm khác biệt, trong số các vị khách mời của tạp chí có cả những người ủng hộ, những người chống và những tiếng nói khác. Hy vọng những chia sẻ ban đầu từ các vị khách mời đến từ những chân trời khác nhau, có thể mang lại được cho quý vị một số hiểu biết bổ ích về chủ đề này.
Mở đầu tạp chí, mời quý vị nghe tiếng nói của bà Vũ Thị Phương Anh (từ TP Hồ Chí Minh), tiến sĩ chuyên ngành giáo dục học.
TS Vũ Thị Phương Anh : “Cái ngành này hiện nay đang được giảng dạy bắt buộc tại tất cả các trường. Nhu cầu có giáo viên khá cao. Vì trường nào cũng phải dậy, sinh viên nào cũng phải học. Nhưng số thầy cô giáo thì có lẽ là không đủ, cho nên Nhà nước mới có quy định miễn học phí cho các ngành này. Có nhiều ý kiến quanh việc đó. Mọi người cho rằng là ngành này là không cần thiết, nhất là sinh viên. Điều này phản ánh qua việc, ngay cả miễn học phí, thì ngành đó cũng khó tuyển được sinh viên.
Nhà giáo dục học Vũ Thị Phương Anh (1)
 
22/08/2013
 
 

Thí dụ gần đây có một phỏng vấn trên báo Thanh niên, anh Trưởng phòng Đào tạo trường Khoa học xã hội – nhân văn, trường đó có khoa triết, là một nơi đào tạo chính. Anh Trưởng phòng có phát biểu hàng năm chỉ tiêu ngành triết, chủ yếu là Triết Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là hơn 100, thì cũng không bao giờ tuyển đủ, mà bao giờ cũng phải có bổ sung tuyển thêm những em thi vào những ngành khác, rớt vì không đủ điểm. Với các hỗ trợ không phải đóng học phí, thì thường tuyển được các em ở tỉnh và nghèo khó. Đó (tức việc tuy miễn học phí nhưng không thu hút được thêm sinh viên năm nay. Vấn đề này cần được bổ sung thêm số liệu cụ thể - ndr) là chứng cớ là ngành này không hấp dẫn, trong khi nhìn khía cạnh nào đó, lẽ ra nó phải hấp dẫn, bởi vì sinh viên vào ngành này vừa không phải đóng học phí, vừa bảo đảm việc làm, vì đa số đi dậy cho các trường cao đẳng”.
Một chủ đề gây e ngại/một thực tế bị phủ nhận
Trong giới giảng viên, nghiên cứu, không phải ai cũng sẵn sàng trả lời câu hỏi của chúng tôi về chủ đề này như tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh. Trong quá trình liên hệ để tìm người phỏng vấn, chúng tôi có đề cập đến câu chuyện này với một giảng viên đại học tư, một nhà văn và một nhà nghiên cứu. Cuộc đối thoại với hai người đầu tiên để lại cho chúng tôi một cảm nhận về một nỗi e dè, nếu không muốn nói lo ngại rất lớn trước tình huống phải bày tỏ quan điểm về chủ đề này trên truyền thông.
Người thứ ba mà chúng tôi hỏi ý kiến là một cựu lãnh đạo Viện Xã hội học Việt Nam. Theo ông, đề tài này là “hết sức cũ kỹ”. Ông từ chối trả lời về chủ đề này, vì theo ông “có những vấn đề hiện nóng bỏng, đáng bàn hơn nhiều”. Trước khi kết thúc cuộc điện đàm ngắn ngủi, nhà nghiên cứu kịp cho chúng tôi biết cách đây hơn mười năm ông đã từng viết một tiểu luận với nhận định « không có cái gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin ». Về câu hỏi liên quan đến môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, không thấy ông cho biết ý kiến. Được biết cách đây không lâu, ông cũng từng là một trong những người giảng dạy và truyền bá khá sôi nổi cho “Tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin : Hệ tư tưởng chính thống của Liên Xô và Đệ tam Quốc tế
Nói về chủ nghĩa Mác-Lênin hay triết học Mác-Lênin rõ ràng không phải là một điều đơn giản, cho dù môn học này đang được chính thức giảng dạy ở tất cả các trường đại học. Chúng tôi tìm đến nhà nghiên cứu Lữ Phương (Sài Gòn), người đã dành nhiều công sức cho các nghiên cứu về sự du nhập của chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, để nhờ ông cho biết một đôi điều về triết học Mác-Lênin nói chung và triết học Mác-Lênin tại Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Lữ Phương : « Đây là đề tài mà ở Việt Nam, theo tôi biết chưa có nhiều người nghiên cứu đến nơi đến chốn, tức là đầy đủ, để chúng ta có một cái nhìn chi tiết, thấu đáo. Đề tài này rất là phức tạp. (…) Ở đây không phải là nơi tôi có thể trình bày điều đó được. (…) Tôi chỉ đặt vấn đề như thế này : Tại sao trong các xu hướng các tác gia rất khác nhau, cái nội dung của chủ nghĩa Mác mà do ông Nguyễn Ái Quốc đưa vào Việt Nam lại trở thành một cái … chủ đạo quan trọng, suốt từ mấy chục năm nay, đến ngày nay vẫn là một cái mảng chi phối toàn bộ đời sống triết học của Việt Nam ?
Nhà nghiên cứu Lữ Phương (1)
 
22/08/2013
 
 

Điều đơn giản là vì : Chủ nghĩa Mác của Nguyễn Ái Quốc không phải là chủ nghĩa kinh nghiệm hàn lâm, thuần túy triết học, mà là một ý thức hệ đấu tranh của đảng Cộng sản Việt Nam chống thực dân bấy giờ. Cuộc chống thực dân này của cụ Nguyễn Ái Quốc lại dính đến một phong trào quốc tế, gọi là Đệ Tam Quốc tế, do Liên Xô lãnh đạo và yểm trợ, coi chủ nghĩa Mác là ý thức hệ chính thống, để giải phóng toàn thế giới khỏi sự thống trị của chủ nghĩa tư bản… Sau này, chủ nghĩa Mác này qua một con đường khác đưa vào Việt Nam, đó là qua đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cái chủ nghĩa Mác này thường được gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là một khái niệm đặc biệt, mới ra đời từ thời Staline. Đây không chỉ là hệ tư tưởng chính thống của Liên Xô không, mà là toàn bộ phe Đệ Tam Quốc tế, do Liên Xô lãnh đạo. (…) Chủ nghĩa Mác qua Lênin là khác hoàn toàn. Người ta gọi chủ nghĩa xã hội mà Lênin xây dựng ở nước Nga là ‘‘tiên thiên bất túc’’. Nó là của các nước thứ Ba nghèo khổ, lạc hậu, không phát triển. Cộng sản bấy giờ là cuộc đấu tranh của những nước nghèo, chống lại những anh nhà giầu. Nó là một chủ nghĩa Mác được Lênin ‘‘vận dụng sáng tạo’’ để chống để quốc ở những nước thứ ba, đói khổ. Cái chủ nghĩa Mác mà cụ Hồ đưa vào là chủ nghĩa Mác của Lênin, nó hoàn toàn xa lạ. Nó hoàn toàn không dính gì đến chủ nghĩa Mác từ nguồn, từ cội cả. Cho nên khi đem ra thực hiện, đưa ra những kết quả trái hoàn toàn với những điều Mác đã giả định”.
Triết học Mác-Lênin mà nhà nghiên cứu Lữ Phương nói đến đã có tuổi đời gần một thế kỷ. Trong quá trình du nhập, triết học Mác-Lênin đã có nhiều thay đổi, đặc biệt trong các đào tạo ở đại học Việt Nam, những năm gần đây, trong bối cảnh chế độ từng là xứ sở thành trì của nền triết học này đã không còn tồn tại và xã hội Việt Nam đang trong quá trình mở cửa hội nhập chưa từng có. Vậy cụ thể các sinh viên Việt Nam hiện nay nhìn nhận như thế nào về môn học này và bên cạnh đó là môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh ?
Suy nghĩ của các (cựu) sinh viên
Trước hết mời quý vị nghe tiếng nói của chị Vũ Kiều Oanh, một sinh viên ngành tâm lý (Hà Nội):
Chị Vũ Kiều Oanh : « Em nghĩ là những bạn theo học khối xã hội, có lẽ sẽ cảm thấy nó rất là cần thiết và rất là gần gũi với mình. Em thấy những bạn học khối kỹ thuật hoặc nghiêng về kỹ thuật hơn bọn em thì có lẽ nó hơi khó hiểu so với bọn em. Em thấy một số bạn khối kỹ thuật được điểm khá là thấp với môn ‘‘Triết học’’ và ‘Tư tưởng’’. Em nghĩ là nắm được Triết thì sẽ hiểu được một cách lô-gíc và khoa học về tâm lý. Còn Tư tưởng Hồ Chí Minh thì khi em học, em không biết những người khác thì như thế nào, nhưng em cảm giác rất là ngưỡng mộ. Em đã được học từ cấp III, học khá là sâu về Sử. Những kiến thức của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là tiếp nối của những kiến thức thời cấp III với những người học khối C.
Khi mà dậy về Triết học Mác-Lênin hoặc là Tư tưởng Hồ Chí Minh thì bản thân các thầy cũng gợi mở cho bọn em rất là nhiều những trường phái khác và những lý thuyết khác. Và các thầy cũng có nói là việc của bọn em là sau đó tìm hiểu thêm. Các thầy luôn gợi mở cho em những hướng khác để tìm hiểu. Nói một cách hình ảnh, các thầy chỉ cho em những ô cửa, Triết học Mác-Lênin chỉ là một ô cửa đấy. Và việc đi theo cái nào, như một chuyên ngành hay một lý tưởng của mình đấy là việc của bọn em, chứ các thầy không bắt bọn em phải theo một cái gì đấy ».
Còn sau đây là quan điểm của anh Từ Anh Tú (nguyên quán Bắc Giang), từng là sinh viên hai chuyên ngành kỹ thuật và y tế, nhưng sau đó buộc phải thôi học, mà một trong những lý do là bất đồng quan điểm công khai với các giảng viên hai môn học triết học và chính trị nói trên :
Anh Từ Anh Tú : « Các chương trình học của sinh viên, thì em nghĩ rằng cần phải mang tính ‘‘giáo dục’’ hơn, còn trong khi những môn như Tư tưởng Hồ Chí Minh hay Lịch sử Đảng Cộng sản hay Chủ nghĩa xã hội, thì nó không mang nhiều tính ‘‘giáo dục’’ mà nhiều tính ‘‘đào tạo’’ hơn. ‘‘Đào tạo’’ có nghĩa là có thể xấu, có thể tốt. Em nghĩ rằng nó chỉ mang tính đào tạo một chiều, chỉ hướng người ta đến một cái gì đó theo Đảng Cộng sản, chứ nó không hướng người ta đến những suy luận riêng. (…) Trước mắt muốn cho con người ta có những suy luận mang tính chất cá nhân, suy luận riêng, thì phải bỏ lối đào tạo ấy đi. (…) Một vài ý thì em không thể nào nói được hết, bởi vì cái hệ thống giáo dục của Việt Nam bây giờ em nghĩ rằng quá là mục nát, quá là thối nát rồi. Tóm tắt lại, thì em nghĩ rằng cần phải thay đổi toàn diện, thay đổi những nền nếp giáo dục cũ, vì không thực chất, mang tính giả tạo nhiều.
Anh Từ Anh Tú - cựu sinh viên y tế và kỹ thuật
 
22/08/2013
 
 

Trước khi bị đuổi học, em đã những buổi tranh luận rất thẳng thắn với những cô giáo dậy những môn triết học ấy. Hầu hết những buổi tranh luận ấy, em luôn là người chiến thắng cuối cùng, em có thể tự tin mà nói lên điều ấy. Ví dụ như trong môn chủ nghĩa xã hội, người ta nói rằng yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, thì em cũng thẳng thắn nói với những giáo viên ấy là từ hàng nghìn năm nay, ông cha mình đã yêu nước, nhưng lúc ấy đâu đã có chủ nghĩa xã hội, vậy thì điều ấy là không thể chấp nhận được. (…) Em nghĩ mình bị đuổi học cũng một phần là như vậy. »
Có góc nhìn khá gần gũi với của anh Từ Anh Tú, chị Nguyễn Nữ Phương Dung (Sài Gòn), sinh viên ngành thiết kế đồ họa chia sẻ :
Chị Nguyễn Nữ Phương Dung : « Các môn Triết học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh khi sinh viên bắt đầu học, thì họ rất là ngán ngẩm, vì rất là lý thuyết và rất là giáo điều. Tất cả các sinh viên, và em nghĩ chắc chắn là, tất cả các thanh niên trong đoàn Thanh niên của trường, của bất cứ trường nào cũng đều ngán môn tư tưởng Mác-Lênin, chứ không phải chỉ là một sinh viên bình thường hoặc những người có nhận thức giống như tụi em.
Em thấy, một người bình thường (cũng) có thể có tư tưởng giống như ông, thì em nghĩ, tại sao người ta lại không có một tư tưởng riêng ? mà lại áp đặt một cái tư tưởng nào đó, bắt học tư tưởng của một con người (khác), mà mình không thể có một tư tưởng riêng, giành cho riêng mình ?
Chị Nguyễn Nữ Phương Dung - sinh viên thiết kế đồ họa
 
22/08/2013
 
 

Còn cái môn học chủ nghĩa Mác-Lênin thì hiện thời cả thế giới đã công nhận, giống như là cái môn đã bị cho vào sọt rác, cái môn đó không thể nào mà có thể áp dụng cho một đất nước. Cái lý thuyết đó nó không có thể tạo cho con người ta một cái gì đó để mình có thể học hỏi ».
Cũng về hai môn học này, anh Phạm Sơn Tùng, một giáo viên trẻ về môn giáo dục đặc biệt cho những người khuyết tật tâm lý (tại Sài Gòn), cho chúng tôi biết cảm nhận của anh:
Anh Phạm Sơn Tùng : « (...) Triết học Mác-Lênin là một tư tưởng mang tính đường lối của Đảng, Nhà nước. Triết học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, thì hai cái này nó theo cái đường hướng của Nhà nước, vì vậy nó là môn bắt buộc, là yêu cầu riêng. Vì đối với Đảng, thì khơi nguồn từ bác Hồ Chí Minh. Bác Hồ Chí Minh trên đường tìm đường cứu nước, gọi là được tiếp xúc, trải qua, được học, sống trong đường lối tư tưởng của Triết học Mác-Lê. Nên sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam thành lập, thì tất nhiên (tư tưởng này) là đường lối cách mạng của Đảng, đã đem lại sự thành công cho Đảng, Nhà nước và đem lại những cái gì mà chúng ta được tận hưởng, chúng ta được sống trong xã hội, nhờ triết học Mác-Lê. Người đưa hướng dẫn đường là bác Hồ, chúng ta sẽ phải học thêm là làm thế nào mà bác Hồ đã làm gì để vận dụng được triết học Mác-Lê vào trong cuộc sống, cũng như vào trong đường lối cách mạng, đưa cách mạng đi đến thành công…”
Anh Phạm Sơn Tùng - Giáo viên giáo dục đặc biệt
 
22/08/2013
 
 

Về thực tế học tập hai môn này ở Việt Nam, anh Tùng cho biết thêm :
Anh Phạm Sơn Tùng : « Hầu như là những môn này, em thấy ở Việt Nam hầu như là đọc cho chép, cái thứ hai là, có hiện tượng là hiện tượng đề mở, tức là để cho học sinh, sinh viên sử dụng các tài liệu, đề mở là để ‘‘qua môn'', để tiếp tục học các môn khác. Nếu như mà học môn này, càng sâu càng tốt, nhưng vấn đề là ở Việt Nam, không đi sâu vào thực tiễn được, học môn này chỉ mang tính hình thức mà thôi.
Môn triết học đặc biệt cần thiết cho cuộc sống, còn môn Tư tưởng Hồ Chí Minh không cần thiết cho lắm. (…) Nếu không được thực hành, không được mổ xẻ vấn đề, đi sâu vào nó, thì con người ta chỉ biết là học thế nào biết thế ấy, chứ không được như những môn kỹ thuật.
Nếu như một ngày nào đó, môn triết học và môn Tư tưởng Hồ Chí Minh được mổ xẻ như một môn máy móc, kỹ thuật nào đó như một môn cơ khí, ô tô chẳng hạn, thì khi đó cái suy nghĩ, cái đầu của mỗi người, mỗi sinh viên Việt Nam nó sẽ là rộng hơn và mở hơn rất nhiều ».
Cải cách môn Mác-Lê : “Cố gắng lớn” năm 2001
Thực tế giảng dạy hai môn học thuộc lĩnh vực tư tưởng và chính trị kể trên từ mươi năm trở lại đây đã có nhiều thay đổi, tiến sĩ triết học Hồ Bá Thâm (từ Sài Gòn), người từng nghiên cứu và giảng dậy trong lĩnh vực này trong hàng chục năm, cho chúng ta biết những thay đổi mà theo ông là đáng kể, kể từ đầu những năm 2000.
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm : « Năm 2001 ở Việt Nam đã ra đời Bộ giáo trình quốc gia (bộ giáo trình chuẩn tức là chương trình cơ bản) các môn Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, thay cho bộ giáo trình cũ. Và dựa vào đây, Bộ Giáo dục-Đào tạo vận dụng biên soạn các giáo trình giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng. Đó là một cố gắng lớn.
Trong thời gian này, so với trước, sách giáo trình các môn học này biên soạn có mấy điểm mới và ưu điểm : 1) bỏ các nội dung hiểu sai, lạc hậu, cực đoan, hoặc đã bị lịch sử vượt qua; 2) chỉnh lý hoặc bổ sung nội dung mới; 3) bám sát và cập nhật thực tiễn Việt Nam và thế giới đương đại…4) tinh gọn nội dung hơn và phổ quát hơn. Tức là theo tư duy lý luận mới mà giới khoa học Việt Nam tiếp thu và đổi mới (chẳng hạn, các nội dung kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, văn hóa và phát triển bền vững, dân chủ hóa, nhà nước pháp quyền, nhân quyền, cách nhìn nhận mới về thời đại, về các nền văn minh, về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội…).
Đặc biệt môn Triết học, cố gắng làm rõ hơn phương pháp 1uận và tư duy phê phán, đổi mới, làm cho triết học Marx là “triết học của cái có thể”. Trên tinh thần chung đó, cũng có bổ sung một số nội dung và cấu trúc lại một số chương mục, nguyên lý (trong quá trình hoàn chỉnh dần giáo trình).
Đáng chú ý, như phần khái quát lịch sử triết học, trong đó tư tưởng triết học Việt Nam, có vị thế xứng đáng hơn, và hiểu lại các nội dung này đúng hơn; bổ sung chứng minh tinh thân duy vật biện chứng bằng thành tựu khoa học hiện đại; bổ sung nhận thức phi lý tính (hay ngoài lý tính như vô thức, linh cảm, trực giác…) ; chính xác hóa về qui luật mâu thuẫn biện chứng, là điều dễ bị hiểu sai khi gắn với vấn đề đấu tranh giai cấp; và vấn đề đấu tranh giai cấp cũng được hiểu lại khái quát hơn, tránh (hạn chế những nội dung đặc thù của quốc gia này, quốc gia khác), đồng thời cũng giảm bớt nội dung về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội, và đặc biệt là bổ sung lý luận về khủng hoảng và cải cách xã hội (nhận thức rằng phát triển bao gồm cả cách mạng và cải cách tùy theo những hoàn cảnh lịch sử… xưa cải cách ta cứ cho là “cải lương”) ; bổ sung động lực nhu cầu - lợi ích và giá trị, động lực đoàn kết dân tộc, hợp tác, đồng thuận xã hội; bổ sung tiếp cận "nền văn minh" bên cạnh tiếp cận chủ yếu là “hình thái kinh tế xã hội”; bổ sung vấn đề nhân loại vào chương "giai cấp và đấu tranh giai cấp..." (trước đây thường nói nhiều về giai cấp, nhân loại không trình bày rõ lắm, thậm chí coi là cái gì “phi giai cấp”, nên không chú ý); bổ sung, làm rõ hơn vấn đề con người, giải phóng, phát triển con người; và có cách nhìn mới đối với triết học phương Tây hiện đại, chú ý hơn đến hạt nhân hợp lý của nó (trước đây chủ yếu là phê phán).
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm (1)
 
22/08/2013
 
 

Bản thân chúng tôi cho rằng, vấn đề con người, giải phóng, phát triển con người, chống “tha hóa”, suy thoái nhân cách, vấn đề chủ nghĩa nhân bản - nhân đạo - nhân văn triết học cần có vị trí và dung lượng nhiều hơn (mà tôi gọi là “chủ nghĩa duy vật nhân văn”), nhất là trong bối cảnh khủng hoảng văn hóa và nhân cách hiện nay.
Bên cạnh giáo trình biên soạn (quốc gia) nói trên còn được bổ sung bằng sách tham khảo Tìm hiểu về sự phát triển của học thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cuối thế kỷ XX (NXB Chính trị Quốc gia, 2004). Từ đó tạo nên dòng chảy tư duy triết học xưa - nay/ đông- tây khá toàn diện! Dù gọi là phần giáo trình triết học Mác–Lênin, hay giáo trình triết học nói chung thì trong đó, hiện nay vẫn có phần triết “trước Mác” và “sau Mác”. Nhưng cách gọi giáo trình “Mác –Lênin” là làm nổi bật phần chính, phần trọng tâm mà thôi.
Nhưng nhìn chung, các môn này, hiện nay, sau gần 30 năm đổi mới tư duy lý luận, cũng đang có nhu cầu thay đổi, tái cấu trúc hệ thống các môn học ở tầm thời đại, đương đại. để thực sự cung cấp lý luận khoa học tiến tiến nhằm đáp ứng giai đoạn mới của công cuộc cải cách, dân chủ hóa, hội nhập, hiện đại hóa, phát triển bền vững tiến cùng thời đại của Việt Nam.
Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và triết học nói riêng cũng là nằm trong một triết lý “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nghĩa là phải đổi mới, tự đổi mới, tự phê phán phát triển hơn nữa, (mà nền tảng là tư duy triết học), nếu không sẽ lạc hậu so với cuộc sống!
Gần đây ở Việt Nam có chủ trương xây dựng một “chủ thuyết phát triển mới”, khái quát, phát triển nhiều vấn đề của thời đại, trước đây các cụ không có điều kiện đề xuất, hoặc khái quát thành lý luận.
Trên đây là một số trình bày của chúng tôi về những nét, những điểm mới của giảng dạy các môn về chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và đặc biệt của triết học Mác-Lê nin. (…)”
Chủ nghĩa Mác-Lê đương đại : “Phản thực tế hoàn toàn” và là xiềng xích của tâm hồn
Những tâm sự của các bạn sinh viên hay cựu sinh viên kể trên cho thấy nhiều luồng suy nghĩ khác nhau xung quanh hai môn học cơ bản bắt buộc “Triết học Mác-Lênin” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Rất hào hứng như anh Phạm Sơn Tùng, người cho rằng nên duy trì như một môn học bắt buộc, cảm thấy thu được rất nhiều bổ ích như chị Vũ Kiều Oanh, nhìn thấy ở môn học này một cơ hội tìm đến những chân trời tư tưởng hết sức đa dạng, mà trong đó triết học Mác-Lênin chỉ là một… Bên cạnh đó là những người chán ngán và quyết liệt chỉ trích việc giảng dạy hai môn học kể trên như chị Nguyễn Nữ Phương Dung và anh Từ Anh Tú.
Sự thay đổi trong hai môn học bắt buộc với các sinh viên Việt Nam trong thời gian mươi năm trở lại đây, như tiến sĩ Hồ Bá Thâm mô tả, có vẻ như đã mang lại sức hấp dẫn nhất định cho các môn này. Tuy nhiên, có không ít ý kiến nghi ngờ về thực chất của sự thay đổi này như ý kiến nhà nghiên cứu Lữ Phương sau đây. Ông Lữ Phương cũng khẳng định với chúng tôi là sự thay đổi của việc giảng dậy môn triết học Mác Lênin tại trường đại học những năm gần đây không phải là đối tượng nghiên cứu của ông.
Nhà nghiên cứu Lữ Phương : « (…) Tôi thì tôi không có đảm nhận việc giảng dậy này, nhưng mà tôi cũng có con cháu, rồi sách vở, báo chí, tôi cũng đọc, thì tôi thấy đây là cái chủ nghĩa Mác mà người ta đem vào giảng dậy, đầu tiên ở các trường Đảng, trường Nguyễn Ái Quốc, các lớp chỉnh huấn, rồi các lớp đại học… là chủ nghĩa Mác-Lênin. Mà người ta khái quát lên là khoa học, là này khác, nhân danh ông Mác, nhưng là ông Mác không được nói đến đàng hoàng, mặc dù có xuất bản các sách vở của ông ấy, nhưng không ai nghiên cứu cả, mà cái chính là các giáo trình của Hàn lâm viện Liên Xô. Mác-Lênin đem ra giảng dạy không phải như một thứ triết học, mà giống như là một cái cẩm nang sửa xe đạp chẳng hạn. Mấy nguyên tắc, mấy phạm trù, mấy mâu thuẫn….
Nhà nghiên cứu Lữ Phương (2)
 
22/08/2013
 
 

Đấy không phải là triết học ! Bởi vì triết học, nó gợi cho người ta cái suy tưởng, cái vấn để bao quát, để mà nhìn lại mọi thứ một cách phê phán. Ở đây người ta dạy như một công cụ, một công cụ sửa xe, hay làm cách mạng…. Và cứ như thế áp từ trên áp xuống, không học cũng bắt phải học. Đầu tiên là gây ra một tình trạng phản thực tế hoàn toàn.
Bảo là giai cấp công nhân làm chủ, giai cấp công nhân bây giờ nó đói, nó khổ, nghèo nàn hơn tất cả các giai cấp khác, nó phải đấu tranh chống lại những người chủ mới, còn người nông dân – đồng minh chia sẻ chính quyền Xô viết -, thì bây giờ bị cướp đất, cướp nhà…còn người trí thức được hứa hẹn tự do tư tưởng, chúng tôi hồi đó là sướng lắm, mình mơ tưởng một ngày nào mình tự do, tư tưởng bay bổng lên, sáng tạo những điều tuyệt vời… nhưng bây giờ đây bị cấm đoán trăm điều… Tức là nó ngược lại hoàn toàn những gì mà sách vở nói. (…)
Đem giảng dậy những điều đó trong xã hội này chỉ phản tác dụng mà thôi, không ai nghe cả. Những người mà nghe là những người dùng nguyên lý này để xây dựng chế độ, để chống lại những tư tưởng tiến bộ.
Đây quả thật là một môn thừa thãi, không có giúp ích gì cho trí tuệ, không có khai phóng tư tưởng gì cả, mà chỉ biến thành một cái gông cùm, một xiềng xích tinh thần, để nô lệ hóa cả một lớp người đang nắm… tương lai. Bây giờ có đổi mới gì chăng ?
Theo tôi chẳng có gì cả, nếu có chỉ là râu ria. Bây giờ, người ta không nói là ‘‘vận dụng’’ chủ nghĩa Mác-Lênin, mà nói chủ nghĩa Mác-Lênin là ‘‘cái nền tảng’’ thôi, tức là trên đó mình bày biện chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia lăng nhăng cả, tín ngưỡng này kia, lăng nhăng cả…
Tôi có thể tóm lại là, đối với ‘‘cuộc cách mạng’’ Việt Nam, chủ nghĩa Mác đã bị biến thể thành chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành một công cụ thống trị, nhồi sọ và làm hư hỏng tâm hồn, không có tốt gì cả đối với nền giáo dục ».
Để hiểu « Mác-Lê » cần ra khỏi một cái nhìn « trừu tượng » về lịch sử
« (…) Mỗi dân tộc bước vào thời kỳ hiện đại một cách khác nhau. Việt Nam là thông qua chủ nghĩa Mác-Lê nin, do cụ Hồ đưa vào. Nếu theo dõi trên mạng, thì cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này là cực kỳ gay gắt. Thế thì, mình đặt vấn đề như thế nào cho nó thỏa đáng, hợp lý ? Theo những anh em có suy nghĩ về vấn đề này, mình tránh đặt vấn đề một cách trừu tượng.
Thí dụ như cho là chủ nghĩa Mác là thế này, chủ nghĩa cộng sản là thế này, thí dụ như là cái ác, là cái xấu chẳng hạn. Rồi đến khi nó đưa vào Việt Nam, thì nó đưa vào Việt Nam như một hệ thống từ đầu đến cuối y như nhau… kết tội một cách toàn bộ từ đầu đến cuối.
Nhà nghiên cứu Lữ Phương (3)
 
22/08/2013
 
 

Một version ngược lại, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là thời đại, là khoa học, là tất cả mọi thứ… Quan niệm này cũng là quan niệm trừu tượng. Tức là mình đưa một cái cụ thể, mang tính lịch sử đưa lên một vùng trừu tượng và như thế là cứ tranh luận với nhau. Cuộc tranh đấu như thế cứ liên tu bất tận. Anh nhân danh những giá trị trừu tượng, tôi nhân danh giá trị trừu tượng, chỉ cãi nhau muôn đời và chỉ có rút súng ra…
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hiện tượng cụ thể mang tính lịch sử. Nó có lý để ra đời, qua những giai đoạn này khác, nó có thể biến thái đi và có thể không thích hợp nữa... ».
Cần dạy triết như triết
Về vấn đề này, tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh đưa ra một cái nhìn khác :
Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh : « Ở một cái nước mà tuyên ngôn là theo lý luận của Mác, tức là nói chung là do đảng Cộng sản lãnh đạo, thì họ cho đó là điều quan trọng. Tôi sẽ không tranh cãi điều này. Nhưng tôi nghĩ là, ngay cả nếu như đồng ý với quan điểm là phải dạy Triết học Mác-Lênin cho người học, thì tôi vẫn nghĩa là cách làm hiện nay là không có hiệu quả. Và lẽ ra họ nên có những suy nghĩ để cho nó có hiệu quả hơn.
Nhà giáo dục học Vũ Thị Phương Anh (2)
 
22/08/2013
 
 

Tại vì tôi tin là học bằng ấy tiết học về Triết học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng thực sự người Việt Nam không hiểu về triết học Mác thì phải. Dư luận lâu nay đề nghị là bỏ được thì càng tốt, nhưng là chắc là không bỏ, nếu như đảng Cộng sản vẫn lãnh đạo. Nếu vậy thì cũng phải đổi cách dậy khác. Tại vì tôi cho là, nếu dạy triết đúng nghĩa, thì nó cũng sẽ phát triển được khả năng tư duy, suy luận, và nó cũng là một phần của kiến thức nhân loại cần biết. Tôi nghĩ là, nếu phải dậy, thì dậy đúng như môn triết. Trong đó, người dậy cuối cùng cũng có thể ủng hộ Các Mác đi chăng nữa, thì tôi nghĩ phải dậy nó đúng như môn triết, chứ không phải như một môn chính trị, với những giáo điều mà mình phải tin, phải trả lại giống như đi theo đạo, học kinh sách của đạo, mà không cần hiểu ».
Trở lại với vấn đề xây dựng tư duy độc lập là điều mà dường như đa số những người phản đối hay ủng hộ việc giảng dậy môn Triết học Mác-Lênin đều đồng ý là điểm then chốt của quá trình học tập trong nhà trường, chúng tôi đặt câu hỏi với tiến sĩ Hồ Bá Thâm, đồng thời với việc hỏi ý kiến ông về những hiện tượng áp đặt độc đoán trong quan hệ giữa các giảng viên Mác-Lênin với sinh viên ở Việt Nam (cụ thể qua trường hợp anh Từ Anh Tú kể trên). Sau đây là một số nhận định của tiến sĩ Hồ Bá Thâm :
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm : « Vấn đề tri thức của một dân tộc, của nhân loại, cần nhìn nhận như bầu sữa, như là một không khí, mỗi người cần hít thở, cần tiếp thu nó. Cố nhiên đây là quá trình sàng lọc. Nói như thế tức là chúng ta nghiên cứu, tiếp thu nó theo tinh thần dân chủ, tinh thần đối thoại sáng tạo. Đó cũng là tinh thần tự do ngôn luận trong quá trình học tập, đặc biệt là ở các nước phát triển thường được phát huy. (…)
Tiến sĩ Hồ Bá Thâm (2)
 
22/08/2013
 
 

Xét về phương diện văn hóa, Việt Nam có một cái Nho giáo, Tống Nho ngày xưa, hoặc ảnh hưởng ít nhiều của kiểu thần thánh hóa kinh điển, thần thánh hóa các tư tưởng của vĩ nhân. Đặc biệt đây là vấn đề nhiều khi lại gắn liền trực tiếp với đời sống chính trị, hết sức ‘‘nhạy cảm’’ – từ bây giờ thường dùng. Thường thường muốn trao đổi vấn đề này, thì người giáo viên phải có bản lĩnh, có trình độ, để nắm chắc bản chất vấn đề, có thể trao đổi thoái mái. (…)
Thông thường có một thời kỳ, nhiều khi bảo nói theo thầy, nói theo sách, đừng nói khác mất lập trường. Về mặt toàn bộ xã hội, thì đã qua rồi, nhưng mà trên lĩnh vực cụ thể, thời điểm cụ thể, thì vẫn còn tồn tại (sự áp đặt này – ndr). Thành thử ít nhiều cái môn học này, cần được nhìn nhận lại một cách dân chủ, đối thoại trao đổi để đi đến chân lý. Không nên trong quá trình tìm đến chân lý, thì quy kết về chính trị. Đụng chạm đến những vấn đề như thế, đúng là cần phải có thời gian, cần có phân tích cho cặn kẽ (…).
Phải học cách tranh luận, đối thoại, đặc biệt trong các lĩnh vực chính trị, lĩnh vực lý luận, lĩnh vực mà ta thường gọi là ''nhạy cảm'', dễ đụng chạm. Tin tưởng rằng những vấn đề như thế sẽ được giải quyết. Xã hội Việt Nam tiến lên ngày càng dân chủ hơn, bao dung hơn, càng khoa học hơn, càng tiến bộ hơn. Đấy là niềm tin của chúng tôi, mặc dù thử thách cũng còn rất lớn. »
Khảo sát về dạy-học Mác-Lê & Tư tưởng HCM : Một chủ đề « nhạy cảm »
Tạp chí Khoa hoc của RFI tuần này về chủ đề tranh luận tại Việt Nam về hai môn học về tư tưởng chính trị tại Việt Nam tạm khép lại với ý kiến của nhà xã hội học Trịnh Hòa Bình (từ Hà Nội), trả lời câu hỏi của chúng tôi về việc liệu có khả năng tổ chức các nghiên cứu khách quan về thực trạng giảng dậy và học tập hai môn học kể trên tại Việt Nam.
Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình : « Nói chuyện xung quanh chủ đề này, nó dễ ở chỗ nếu quan niệm nó như là một trong những bộ môn khoa học bình thường khác, thì dễ thôi, nhưng mà ở đây người ta lại nhìn nhận nó là ‘‘nền tảng’’, nó là tính chất gắn liền với ý thức hệ. Rồi cái gọi là ‘‘ưu việt’’, tính ‘‘hơn thua’’, '‘ai thắng ai’’ (chủ nghĩa cộng sản/chủ nghĩa tư bản), thì khi bình luận, khi đánh giá về nó thì lúng túng như gà mắc tóc. Không phân tích được đến nơi, đến chốn. Nói chung là, nó mắc, nó bị chặn đầu, chặn đuôi.
RFI : Phải chăng điều đó là một nguyên nhân khiến ngành Xã hội học tại Việt Nam không thể tiến hành một nghiên cứu đo lường về vấn đề này ?
Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình : Khoa học ‘‘Nhà nước’’ ở đây nói vui là phải được giao. Còn các nhà xã hội học hoạt đột với tính cách tư nhân, thì họ có nguồn lực ở đâu để họ triển khai những nghiên cứu đó là một. Thứ hai là, họ nhận tiền tài trợ ở đâu đó để nghiên cứu về những cái này, thì sẽ được nhìn nhận đánh giá như thế nào, về động cơ ? Có những vùng rất hạn chế, nếu chúng ta không tiện sử dụng chữ ‘‘vùng cấm’’, mà các nhà khoa học độc lập, nếu có làm, thì cũng chỉ tiếp cận cho vui ở bình diện cá nhân, còn ở bình diện có tính cách như một thiết chế, một cơ quan, thì chắc chắn không được làm.
Nhà xã hội học Trịnh Hòa Bình
 
22/08/2013
 
 

Không được làm, thì cũng không có văn bản cụ thể nào (cấm) cả. Nhưng cái không được làm rõ nhất là không được giao. Không được giao thì làm sao mà có mà làm. Bởi vì phạm vi nguồn lực của cá nhân thì không có. Thứ hai, anh vì động cơ gì mà anh làm ? Chẳng giải quyết được cái gì !
Có thể là người ta quan tâm đến những vấn đề có tính chất thời sự xã hội. Những vấn đề liên quan đến động thái, sự phát triển của xã hội, dưới dạng thức như là hành vi, như hoạt động xã hội… chứ còn những gì nghiên cứu liên quan đến tư tưởng, liên quan đến cái động lực hay là… thậm chí có những vấn đề người ta nói suốt ngày, cứ như là thoải mái lắm, quan tâm lắm, về dư luận chẳng hạn, thì cũng không phải là được làm một cách phổ quát, một cách rộng rãi. Phải là những cơ quan nào mới được phép làm.
Cơ quan được phép làm thì nói chung là các cơ quan của Đảng. Chứ tôi không bàn đến chuyện họ làm đến đâu và cách thức họ làm như thế nào và có đạt được chân lý khách quan không.
RFI : Dù sao đó cũng chỉ là những nghiên cứu nội bộ, vì không có những kiểm chứng của các phương pháp khác, cơ sở nghiên cứu khác ?
Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình : Nói chung là chẳng có phương pháp gì cả. Nhiều cái vẫn xưa cũ lắm ! Chả có thay đổi gì cả. Có một thay đổi duy nhất. Tức là đã nhìn nhận nó (hai môn học kể trên) nặng nề : Phải tìm cách giản lược. Nhưng còn từ bỏ nó với tính cách như phần cơ bản, phần nền tảng, thì không có chuyện đấy, và chắc cũng còn lâu mới là đối xử với các môn đó bình đẳng như là các môn khác.
RFI xin chân thành cảm ơn các anh chị Nguyễn Nữ Phương Dung, Vũ Kiều Oanh, Phạm Sơn Tùng, Từ Anh Tú, cùng các nhà nghiên cứu Vũ Thị Phương Anh, Trịnh Hòa Bình, Lữ Phương và Hồ Bá Thâm đã dành thời gian cho tạp chí.
Toàn bộ phần trao đổi với các vị khách mời, quý thính độc giả có thể tham khảo thêm trong phần âm thanh trong bài tạp chí “Triết học Mác-Lê”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: Môn bắt buộc ở đại học? trên trang mạng www.viet.rfi.fr
TỪ KHÓA : Khoa học - Tạp chí - Việt Nam