Posts tonen met het label nhân loại. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nhân loại. Alle posts tonen

dinsdag 27 augustus 2019

Hành trình lên Hỏa Tinh, tương lai nhân loại

Hành trình lên Hỏa Tinh, tương lai nhân loại

Việt Nguyên

Phi hành gia Neil Armstrong cắm cờ Mỹ trên mặt trăng. (Hình: NASA/Newsmakers)
Từ thành phố không gian Houston tôi đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn vào tuần lễ giữa Tháng Bảy mang theo thời tiết nóng của Houston. Một Hoa Thịnh Đốn với tình người và tình bạn, những người bạn già đã khiến tôi bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi” vẫn thấy mình còn trẻ và ở vào tuổi hứng xã giao đi tìm những người bạn mới.
Cựu Đại Sứ Bùi Diễm năm nay 96, qua email đôi khi nhắc tôi thăm ông già 96 sau khi tôi đi thăm thầy tôi – Giáo Sư Trần Ngọc Ninh 97 tuổi! Ở tuổi 96, ông vẫn tráng kiện về tinh thần lẫn thể xác với cụ bà 91 tuổi lúc nào cũng đi bên cạnh cuộc đời. Gặp ông, tôi nhớ lại bao kỷ niệm thoáng chốc hơn nữa thế kỷ, nhìn ông như một trang sử lật qua bao thời đại. Chín mươi sáu tuổi ông vẫn “ưu thời mẫn thế” vẫn theo kịp những trang sách giấy và trên máy điện tử. Ông vui mỗi lần tôi đến thăm ngược lại tôi xem ông như một tấm gương sáng trong cuộc đời.
Ông bạn già Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng đã trên 80 tuổi, một ông anh lớn đã đem đến cho tôi kiến thức và những ngày vui mỗi lần tôi đến thủ đô, mỗi người có một cái nhìn khác nhau về cuộc đời, đối xử với nhau như “tân khách.” Ông anh lớn đã mở cho tôi những cuốn sách ngoài khía cạnh y khoa. Một tuần lễ ở thủ đô tôi nhờ vậy được thêm nhiều bạn già đã vứt khỏi trên vai những gánh nặng và những tước vị, Bác Sĩ Giang, Dược Sĩ Thịnh, Chánh Án Thành, Bác Sĩ Thuấn, Sĩ Quan Hải Quân Toàn, những người vào tuổi bát tuần.
Một tuần ở Hoa Thịnh Đốn, thiếu hoa anh đào nhưng bên đường và ngoài vườn vẫn đầy hoa. Những bông hoa đẹp khiến tôi nhớ lại câu thơ của người bạn Tô Thùy Yên “Cám ơn hoa đã vì ta nở” và thầm cám ơn cuộc đời với những người bạn thân. Gặp các bạn già không còn câu nệ hình thức nhưng đôi khi trong những lần đàm thoại với người già thiếu những giác quan như mắt và tai, tôi lại có cảm tưởng như đang ở cung trăng nói chuyện trời trăng mây nước, chỉ vì không nghe rõ hay vì văn hóa khi nhìn qua bàn bên cạnh trong quán cà phê những người bản xứ nói chuyện bao giờ cũng nói nhỏ hơn người Việt?
Tuần lễ tôi lên thăm thủ đô cũng là tuần lễ kỷ niệm 50 năm phi thuyền Apollo 11 lên mặt trăng ngày 20 Tháng Bảy, 1969, lúc 11 giờ đêm ở Mỹ, 500 triệu người trên thế giới được xem truyền hình trực tiếp cảnh Neil Armstrong và Buzz Aldrin bước xuống mặt trăng trong khi Michael Collins điều khiển phi thuyền ngoài quỹ đạo.
Bước chân của Armstrong và Aldrin để lại với lời Neil Armstrong “Một bước nhỏ của người là một bước nhảy vọt vĩ đại của nhân loại.” Hai mươi hai kg đá mặt trăng đem về, lá cờ Hoa Kỳ được để lại cùng tấm bảng “Chúng tôi đến đây vì Hòa Bình của tất cả nhân loại.”
Khi Neil Armstrong trở về trái đất, ông quên những gì ông đã nói (quả như người trên cung trăng rớt xuống!). Được nghe lại chính tiếng nói ông mới nhớ lại rằng ông đã quên một chữ “một bước nhỏ của một (a) người…” khi đặt chân xuống “Đại Dương yên lặng” (danh từ do Armstrong đặt ra trước khi Apollo 11 bay).
Bước nhảy vọt vĩ đại xảy ra trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh năm 1969, vịnh con heo ở Cuba, biểu tình Stonewall ở Nữu Ước của phong trào đồng tình luyến ái, phong trào chống chiến tranh Việt Nam lên cao với John Lennon Beatles “give peace a chance,” cho Hòa Bình một cơ hội chấm dứt chiến tranh Việt Nam, “Yesterday,” “Hey Jude” những bài nổi tiếng đi vào lòng dân Mỹ.
Trong khi đó Nga và Trung Cộng cũng như Việt Cộng sau 30 Tháng Tư, 1975, đã tuyên truyền trong các lớp học tập chính trị “Một bước lớn” là một sự nói láo vĩ đại (one giant lie) của chính quyền Hoa Kỳ, lá cờ trên mặt trăng và bước chân trên mặt trăng là sự dàn cảnh trên ti vi. Về sau mới biết Bill Kaysing nhân viên hãng Rocketdyne năm 1956 đã tung tin fake news năm 1976: “Chúng ta không bao giờ lên mặt trăng” (tin này vẫn còn trên YouTube).
Chương trình không gian với Apollo 11 thành công là một đóng góp của tất cả công dân Mỹ, tượng trưng tinh thần tiên phong lập quốc của người Mỹ, tinh thần người Mỹ sẽ là người đầu tiên và đứng trên tất cả các quốc gia từ kinh tế đến khoa học.
Người Trung Hoa phát minh ra thuốc súng nhưng chỉ dùng để bắn pháo bông và ngồi làm thơ mơ đến Hằng Nga. Nhà văn tiểu thuyết khoa học giả tưởng Pháp Jules Verne năm 1865 trong truyện “Từ Trái Đất Đến Mặt Trăng” đã tiên đoán gần như đúng 100%, người Mỹ (Yankees) đi trước Nga sẽ bắn phi thuyền lên mặt trăng từ Florida mất bốn ngày, dùng sức mạnh của thuốc súng.
Ông viết đúng về quỹ đạo về khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng, ông tả về mặt trăng dựa trên tài liệu quan sát của kỹ sư người Scottland James Masnayth. Robert Goddard, kỹ sư người Mỹ là cha đẻ hỏa tiễn, người thành phố Worcester, Massachusetts, mê đọc sách từ nhỏ và làm những cuộc thí nghiệm áp dụng định luật Newton vào hỏa tiễn dùng nhiên liệu lỏng. Năm 1926, hỏa tiễn cao 41 ft  bay được 2.5 giây, rớt xuống 184 ft trên cánh đồng cải bị báo New York Times chế nhạo. Năm 1969, Apollo 11 đáp xuống mặt trăng tờ New York Times đã viết bài xin lỗi nhưng ông Goddard chết năm 1945 không nghe được tiếng xin lỗi!
Sau Goddard là kỹ sư Nga Tsiolkowsky người mê đọc Jules Verne. Năm 1944 Von Braun đảng viên Đức Quốc Xã, cha đẻ hỏa tiễn V2 cao 46 ft, vận tốc 3,580 dặm một giờ, nặng 27,000 lbs là hỏa tiễn đầu tiên với tốc độ gấp ba lần tiếng động phá bức tường âm thanh. Cuối năm 1944, V2 đã giết 9,000 người Anh và Bỉ cùng với 12,000 nô lệ trong các trại tập trung cải tạo, hơn 3,000 hỏa tiễn V2 đã phóng qua Anh.
Năm 1945, Von Braun bị bắt làm tù binh, đầu hàng Mỹ nhưng không bị xử tội phạm chiến tranh, trung thành với đất nước mới. V2 trở thành căn bản của hỏa tiễn Redstone của Hải Quân và bộ binh Hoa Kỳ. Lỡ cơ hội thập niên 1920 và 30 với hỏa tiễn Roddard nay Hoa Kỳ có cơ hội hỏa tiễn V2 nhưng thập niên 1950 không chú trọng vào không gian, chính quyền để Von Braun về dạy học và cộng tác với truyền hình Walt Disney trong khi Nga chế tạo hỏa tiễn với Sergei Koroley dựa trên kỹ thuật V2.
Stalin và Krushchev ngày 5 Tháng Mười, 1957, đã cho phóng phi thuyền Spunik lên không gian, bay quanh Hoa Kỳ bốn lần, gây cơn shock cho người Mỹ. Báo chí Hoa Kỳ chế nhạo dùng những chữ Flopnick, Kaputnik khi hai tháng sau đó hỏa tiễn Vanguard thất bại, dân Mỹ nhìn thấy trên ti vi, bốn tháng sau hỏa tiễn Vanguard 2 lại rớt. Ám ảnh Xô Viết sẽ bỏ bom Hoa Kỳ từ ngoài quỹ đạo đánh thức các chính trị gia hai đảng.
Năm 1957, Spunik 2 đem con chó Laika lên quỹ đạo, năm 1960 Spunik 5 đưa chó lên quỹ đạo và về lại an toàn trên mặt đất. Chương trình không gian Xô Viết thành công rực rỡ khi Yurin Gararin trên phi thuyền bay quanh trái đất năm 1961.
Lòng yêu nước đã đánh thức Hoa Kỳ, Tổng Thống Dwight D. Eisenhower quan tâm đến khoa học thành lập cơ quan không gian NASA. Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ chú trọng về khoa học. Sinh viên xem vật lý, hóa học gia hay khoa học gia không gian là bổn phận công dân. Thượng nghị sĩ trẻ tuổi John F. Kennedy, cùng quê Worcester, Massachusetts, với kỹ sư Robert H. Goddard, chỉ trích Tổng Thống Eisenhower thua kém Xô Viết về chương trình hỏa tiễn, kêu gọi Hoa Kỳ gởi người lên mặt trăng cuối thập niên 1960.
Thập niên 1960, Tổng Thống John F. Kennedy phải đối phó với Xô Viết trong thời Chiến Tranh Lạnh và những vấn đề nội bộ từ kỳ thị da màu, giáo dục, cùng chiến tranh Việt Nam. Đảng Cộng Hòa chủ trương phải mạnh về quân sự để đối phó với Xô Viết, chỉ trích chương trình không gian, nghi ngờ Tổng Thống Kennedy cộng tác với Xô Viết, yếu về quân sự khi ông mời Krushchev cộng tác chương trình không gian.
Ngay cả Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson lúc đầu cũng chống Tổng Thống Kennedy về chương trình không gian. Tổng Thống Kennedy chủ trương mạnh về quân sự nhưng đồng thời giáo dục và khoa học cũng phải mạnh để xây dựng xã hội tiến bộ. Francis Bacon, triết gia, nói: “Kiến thức là sức mạnh” nhưng Tổng Thống Kennedy nói: “Óc tưởng tượng và tò mò là sức mạnh” cho khoa học và giáo dục. Người sát cánh với Tổng Thống Kennedy là Wernher von Braun, ông tin tưởng tuyệt đối vào nhà bác học không hề nghi ngờ về quá khứ Đức Quốc Xã.
Vì Chiến Tranh Lạnh, Tổng Thống Kennedy tuyên truyền Hoa Kỳ đi sau Xô Viết về số hỏa tiễn liên lục địa ICBM, nhưng thật ra khi ông nhậm chức năm 1961 Hoa Kỳ đã có số hỏa tiễn ICBM nhiều hơn và mạnh hơn Xô Viết. Ngày 12 Tháng Tư, 1961, Yuri Gagarin là người Nga đầu tiên lên không gian, năm ngày sau xảy ra biến cố vịnh con heo ở Cuba, ba ngày sau Hoa Kỳ qua mặt Xô Viết, gởi phòng thí nghiệm lên không gian, bay quanh mặt trăng, hỏa tiễn đáp xuống mặt trăng rồi bay về trái đất.
Chú trọng vào chương trình không gian và Chiến Tranh Lạnh với Xô Viết, ông tổng thống Hoa Kỳ – người đã tuyên bố nơi nào có áp bức thiếu tự do Hoa Kỳ sẽ can thiệp bắt đầu giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hồi ký nhà ngoại giao lão thành Richard Holbrooke đã cho thấy Tổng Thống Kennedy quyết định phủi tay khi thế giới chứng kiến cảnh Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu và bà Ngô Đình Nhu tuyên bố “Barbecue Monk” là câu đưa đến quyết định của Tổng Thống Kennedy.
Chương trình không gian của Hoa Kỳ vào thập niên 1960 lúc đầu đã cho thấy kỳ thị chủng tộc. Khi Tổng Thống Eisenhower thành lập NASA, chương trình Mercury chọn bảy phi hành gia quân sự không có người da đen dù lúc ấy mục sư Martin Luther King và phong trào dân quyền được Tổng Thống Kennedy ủng hộ. Nhưng nhân tài sau đó được tuyển chọn với khoa học gia thiểu số.
Phi hành gia Edwin E. Aldrin, Jr., bước xuống mặt trăng từ phi thuyền Apollo 11 vào ngày 20 Tháng Bảy, 1969. Bức hình này do phi hành gia Neil A. Armstrong, chỉ huy tàu Apollo 11 chụp. (Hình: NASA/Newsmakers)
Trong “Hidden Figures” sau thành phim của William Morrow đã cho thấy bóng dáng các nữ khoa học gia da đen đằng sau sự thành công của NASA. Phi hành gia John Glenn, người Mỹ đầu tiên bay quanh quỹ đạo năm 1962 trong chương trình Mercury 6, Friendship 7, khi chuẩn bị đáp xuống địa cầu đã không tin vào hệ thống điện toán IBM 7090 của trung tâm không gian Greenbelt, Maryland. Ông chỉ tin vào Katherine Johnson, nữ khoa học gia 44 tuổi người da đen, thiên tài toán học về quỹ đạo, làm tính bằng tay kiểm chứng kết quả, mới chịu đáp Friendship 7 xuống.
Năm 1963 sau khi Tổng Thống Kennedy bị ám sát, Tổng Thống Johnson nhất định tiếp tục chương trình không gian với thành phố không gian Johnson Space Center ở Clear Lake City, Houston. Năm 1966 trong khi chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn gia tăng với chiến tranh lạnh Hoa Kỳ-Xô Viết, ngân quỹ NASA chiếm đến 5.5%, từ $4 tỷ lên đến $25 tỷ với 400,000 chuyên gia, kỹ sư, nhân viên các hãng công tư. Từ Mercury qua Gemini đến Apollo. Von Braun được gọi trở lại giúp chế tạo hỏa tiễn lớn nhất Saturn V cao hơn tượng Nữ Thần Tự Do, mang được 310,000 lbs vào quỹ đạo 75,000 mile thoát khỏi sức hút qủa đất.
Ngày 20 Tháng Bảy, 1969, Tổng Thống Richard Nixon đọc diễn văn chúc mừng phi hành gia Neil Armstrong đáp xuống mặt trăng. Khi Tổng Thống Nixon và Cố Vấn Henry Kissinger cầm cờ vẫy chào phi hành đoàn trên chiếc trực thăng đáp trên hàng không mẫu hạm USS Horne, người Mỹ nghe lời Tổng Thống Kennedy vang vọng “chúng ta sẽ gởi người lên mặt trăng 240,000 dặm xa mặt đất từ trạm kiểm soát không gian Houston với hỏa tiễn cao 300 ft vận tốc 25,000 mile/giờ.” Bài diễn văn đọc ở vận động trường Đại Học Rice Houston hồi Tháng Chín, 1962, với 40,000 người ủng hộ, háo hức. Chương trình không gian là vũ khí hữu hiệu của Chiến Tranh Lạnh chứng tỏ Hoa Kỳ có sức mạnh siêu việt về quân sự, giáo dục, khoa học và kỹ thuật trên hẳn Xô Viết về mọi mặt.
Với sức mạnh kinh tế gấp hai lần Xô Viết nhưng sau chương trình Apollo, Tổng Thống Nixon chấm dứt chương trình thám hiểm mặt trăng đế đối phó với chiến tranh Việt Nam và chiến tranh chống nghèo đói ở Mỹ. Năm 1972, 100,000 nhân viên NASA và các hãng liên hệ bị thất nghiệp trong đó có cả ông Von Braun.
Kinh tế quyết định tất cả từ giáo dục, khoa học đến kỹ thuật. Thập niên 1980, sau chiến tranh Việt Nam, chương trình không gian đổi qua chương trình Space Shuttle năm 1981, phi thuyền con thoi đậu trên trạm không gian quốc tế (ISS). Phí tổn cao, mỗi lần bay tốn $1 tỷ, phí tổn gửi hành lý lên không gian $40,000/lb. Sau các chuyến Challenger và Columbia với 14 phi hành gia chết, công chúng phản ứng kêu gọi chính quyền ngưng chương trình. Năm 2011, chính quyền Tổng Thống Barack Obama hủy chương trình không gian (phi thuyền con thoi, thám hiểm mặt trăng và Hỏa Tinh). Phi hành gia Mỹ đi “quá giang” trên phi thuyền Nga!
Sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, chương trình không gian công và tư trở lại với ý tưởng mới, quỹ mới và năng lực mới. Giấc mơ thám hiểm không gian vẫn còn nguyên vẹn trong thời đại vàng son mới. Kinh tế phồn thịnh, NASA hồi sinh, quỹ không gian tư đến từ thung lũng điện tử.
Ngày 8 Tháng Mười, 2015, NASA loan báo chương trình dài hạn gởi phi hành gia lên Hỏa Tinh. Mặt trăng như trạm không gian từ đó bước chân đi khắp các hành tinh và thiên thạch. Hệ thống hỏa tiễn mới với viên ORION dự tính bay ngang qua mặt trăng đến năm 2010. Hệ thống không giống phi thuyền con thoi mà giống hỏa tiễn Saturn V và Apollo chở phi hành đoàn không chở hành lý.
Orion với phi hành đoàn từ bốn đến sáu người khác với Apollo chỉ có ba phi hành gia. Tỷ phú Jeff Bezos, công ty Amazon với Blue Origin chế tạo hỏa tiễn mới, New Shepard (theo tên phi hành gia Alan Sheprd) chở du khách như du thuyền, phóng lên từ Van Horn Texas, đậu trên mặt trăng bằng dù. Tổn phí khoảng $200,000 mỗi người. Các hỏa tiễn khác như New Glenn (dựa theo tên John Glenn) đang được chế tạo và đến New Amstrong mạnh hơn.
Tổng Thống Donald Trump trong bài diễn văn Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 2019 tuyên bố Hoa Kỳ sẽ là người đầu tiên đặt chân lên hỏa tinh. Tỷ phú Elon Musk (công ty Pay Pal và Tesla) mê điện toán và hỏa tiễn, từ Nam Phi qua Canada, đến Hoa Kỳ tốt nghiệp Đại Học Stanford năm 1995, với Space X cách mạng kỹ thuật hỏa tiễn, giảm tốn kém, du hành với Space X Falcon năm 2012. Đầu năm 2017 hỏa tiễn mạnh hơn có thể sử dụng lại sau khi bay, ông Musk dự định bay lên Mars với phi hành đoàn trước cả NASA. Giấc mơ của Elon Musk là sẽ được chết trên Hỏa Tinh.
Boeing đang trục trặc vì phi cơ 737 nay đang có hợp đồng với NASA tạo hỏa tiễn SLS chở 130 tấn trong khi Falcon của Musk chỉ chở 64 tấn nhưng giá Falcon rẻ hơn.
Âu Châu, Nhật, Ấn, Nga, Trung Quốc cũng đang thi đua phóng phi thuyền lên mặt trăng nhắm đến Hỏa Tinh năm 2040-2060.
Mặt trăng sẽ là căn cứ thám hiểm thường trực của NASA. Trên mặt trăng đầu thập niên 1990, nước đá đã được tìm thấy một lượng lớn ở phía Nam. Mặt trăng sẽ như trạm xăng với Oxygen, Hydrogen. Một nhóm ở thung lũng điện tử nhắm đến khai thác nước đá và các chất đất hiếm và platinium cần thiết cho kỹ nghệ điện tử tránh được nạn Trung Quốc độc quyền đất hiếm hiện thời (97% đất hiếm của thế giới).
Năm 1967 Hoa Kỳ và Xô Viết ký hiệp định đồng ý không để quốc gia nào độc quyền chiếm các thiên thể, hành tinh. Hiệp định vẫn có hiệu quả nhưng hiệp định không đề cập đến tư nhân làm chủ đất hành tinh. Sống trên mặt trăng con người phải đối diện với nguy hiểm ung thư vì chất phóng xạ cao. Sống trên Hỏa Tinh ngoài chất phóng xạ còn bụi bặm, không khí độc CO, áp suất bằng 1% trái đất, nhìn lên Hỏa Tinh đầy bụi đỏ, phi hành gia dễ bị ngộp, máu sôi lên nhanh hơn trên trái đất. Một ngày Hỏa Tinh bằng một ngày trên trái đất, trọng lực Hỏa Tinh chỉ bằng 40% trọng lực trái đất, phi hành gia, giống như khi lên mặt trăng phải thể dục nhiều hơn để bắp thịt không bị teo.
Để tạo ra vườn Eden trên Hỏa Tinh, NASA dùng Utah là nơi nghiên cứu vì môi trường gần giống để tạo cây cối, sa mạc và súc vật. Phi hành gia được huấn luyện ở đây với người tình nguyện từ năm 2001.
Chương trình lên Hỏa Tinh là chương trình “hậu sự” cho nhân loại. Phi thuyền Apollo ngoài hình ảnh mặt trăng được gởi về còn cho thấy bức hình quý giá về địa cầu xanh biếc với bầu khí quyển và đại dương. Quả địa cầu xanh biếc ấy có ngày cũng sẽ biết mất. Tất cả rừng, cây, thiên nhiên và loài người một ngày sẽ biến mất với xác suất 99%. Trái đất đã trải qua năm lần diệt chủng. Nhân loại đang đối diện với lần diệt chủng thứ 6, núi lửa đang nằm yên dưới Yellow Stone Park có thể bùng nổ, xé mặt đất, hơi độc bốc đầy khí quyển con người ngộp thở chết. Sáu triệu rưỡi năm trước, thiên thạch giết loài khủng long, đá rộng 6 mile rớt xuống Yucatan Mexico phá lủng cả vùng. Đại họa xảy ra gần như mỗi 700,000 năm.
Bước đến thế kỷ 22 ngoài chương trình lên Hỏa Tinh, vườn địa đàng trên quả đất cũng cần các kỹ thuật tiến bộ về sinh hóa, thông minh nhân tạo, Nanotech… giống như phim Star Trek II nếu con người còn đủ nhân tính để tránh chiến tranh nguyên tử có thể xảy đến cho nhân loại trong thế kỷ 21. (Việt Nguyên, theo Stephen Hawking, Michio Kaku và NASA)
https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-hoa-ky/hanh-trinh-len-hoa-tinh-tuong-lai-nhan-loai/
Tim Dinh :
Xin góp ý một chút với tác giả : Thiên thạch tận diệt loài khủng long đã xảy ra cách nay 65 triệu năm (!) chứ không phải 6,5 triệu năm trong bài của tác giả ; va xác suất sảy ra một đại họa kinh khủng như vậy là vào khoảng 100 triệu năm . Còn xác suất 0,8 triệu năm là cho những đại họa như kiểu bùng phát núi lửa khổng lồ ở dưới Yellow Stone Park (USA) hay núi lửa Toba (Indonesia)  hoặc núi lửa Campina (Italia)… nếu chúng “chỗi dậy” thì có thể tiêu diệt một phần nhân loại !

Volume 90%
 

zaterdag 13 oktober 2018

Lịch sử nhân loại dưới tán "cây bồ đề"

Lịch sử nhân loại dưới tán cây bồ đề

  • 2 tháng 7 2017
The banyan tree can get very big Bản quyền hình ảnhAugust Muench/CC by 2.0
Hơn 2.000 năm trước, một nhánh từ thân cây đặc biệt quan trọng đã được chiết ra theo lệnh của quốc vương Ấn Độ Ashoka Đại đế. Nó nằm ngay dưới tán cây nơi được cho là Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã đắc đạo.
Ashoka ban tặng dấu ấn vương quyền lên cành cây rồi trồng nó trong một bình làm bằng vàng ròng, rồi đưa cành cây lên núi và rồi đưa xuôi Sông Hằng xuống Vịnh Bengal.
Tại đó, nàng công chúa con ngài đã rước nó lên tàu ra khơi, đem tới Sri Lanka cung tiến cho nhà vua nước này. Vua Ashoka yêu mến cái cây tới mức ngài đã nhỏ lệ khi nhìn cảnh nó được đưa đi.
Câu chuyện này, được trích từ sử thi The Mahavamsa của Sri Lanka, nói tới cây bồ đề, mà các khoa học gia gọi là Ficus religiosa. Đúng như tên gọi của nó, cây bồ đề nối về với quá khứ hàng ngàn năm, trước cả thời vua Ashoka.
Các trận lở đất khủng khiếp không phải luôn chỉ gây hại?
Nghĩa địa ngàn con tàu chìm nơi đáy biển
Những loài vật phàm ăn nhất thế giới
Thế nhưng bồ đề không phải là loại cây duy nhất. Nó chỉ là một trong số hơn 750 loại khác nhau trong chi họ sung. Không loài cây nào có sức mạnh hơn chi họ sung trong việc tác động tới trí tưởng tượng của con người.
Loài cây này xuất hiện trong mọi loại tôn giáo lớn, có ảnh hưởng tới các vị vua, các nữ hoàng, các nhà khoa học, và binh lính. Chúng đóng vai trò trong sự tiến hóa của loài người và trong thuở bình minh của văn minh nhân loại.
A Golden Buddha statue towers at the Rock Temple, also known as the A Golden Buddha statue towers at the Rock Temple, also known as the Rangiri Dambulla Rajamaha Viharaya, in Dambulla, some 150 kms north of Colombo, in Dambulla, some 150 kms north of Colombo Bản quyền hình ảnhAFP/Getty Images
Image caption Tượng Phật tại Chùa Đá, tức chùa Rangiri Dambulla Rajamaha Viharaya tại Dambulla, Sri Lanka
Những cái cây này không chỉ chứng kiến lịch sử mà chúng còn định hình lịch sử; nếu được nhìn nhận một cách đúng đắn thì có lẽ chúng thậm chí sẽ còn làm cho tương lai chúng ta trở nên phong phú hơn.
Hầu hết các loài cây có hoa đều nở bung cho thế giới chiêm ngưỡng, nhưng các loại cây thuộc chi họ sung lại giấu hoa bên trong những trái quả rỗng ruột. Và trong khi hầu hết các loài cây chôn vùi gốc rễ xuống đất, thì cây vả sống bám (strangler fig) lại khoe chúng trên phía trên.
Vả sống bám là loài cây thú vị, mọc lên từ những hạt cây do chim, thú thải ra, mắc lại trên các cây khác. Nhờ việc nảy nở từ tầng trên của những tán rừng rậm thay vì ở mặt đất tối tăm, hạt cây sống bám có đủ ánh sáng cần thiết để phát triển mạnh mẽ.
Giải mã các quái vật trong Thần Thoại Hy Lạp
Thoát hiểm an toàn sau khi bị ăn thịt
Trong quá trình phát triển, chúng mọc rễ dài từ trên không xuống dưới, và đám rễ ngày càng trở nên dày dặn, to cứng thêm, bao trùm và biến cây chủ thành một 'con mồi' sống. Chúng thậm chí còn có thể bóp nghẹt, làm chết những cây chủ to lớn, và phát triển mạnh mẽ, trở thành những khối cột cao lớn.
Có hai quốc gia đã dùng hình ảnh cây vả sống bám để trang trí trên phù hiệu.
Tại Indonesia, cây này biểu tượng cho sự thống nhất đến từ sự đa dạng, những cái rễ chằng chịt thể hiện cho vô số những hòn đảo tạo thành nước này.
Còn ở Barbados, nó được lấy cảm hứng từ cảnh nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Pedro a Campos được chào đón khi chiếc thuyền của ông cập đảo hồi 1536. Ông đã nhìn thấy nhiều cây vả sống bám mọc dọc bờ biển của đảo, loại cây có tên khoa học Ficus citrifolia. Từng chùm rễ khổng lồ màu nâu đỏ mạnh mẽ rủ từ những cành cây xuống trông giống như những lọn râu tóc được bện xoắn. A Campos đã đặt tên cho đảo là Los Barbados - "đảo râu dài".
Hơn 300 năm sau, nhà sinh vật học người Anh Alfred Russel Wallace đi khám phá các hòn đảo ở phía bên kia của Trái Đất. Ông nói các cây vả sống bám mà ông từng nhìn thấy trong hành trình odyssey kéo dài tám năm của mình trên khắp Quần đảo Malay là "những cái cây vô cùng độc đáo ở trong rừng". Việc chúng vượt qua được những trở ngại để tồn tại đã tạo cảm hứng để ông phát triển học thuyết tiến hóa nhờ sự lựa chọn tự nhiên, là thuyết hoàn toàn độc lập so với thuyết tiến hóa của Charles Darwin.
Nhưng vả sống bám đã bắt rễ được vào tâm trí con người từ rất lâu trước khi các nhà thám hiểm châu Âu bắt đầu hành trình trên biển.
Ta hãy nhìn vào cây bồ đề của Ashoka Đại đế. Những người theo Phật giáo, Ấn giáo và Gia-nai giáo (một loại tôn giáo phát xuất từ Ấn Độ) đã thờ phụng loại cây này trong suốt hơn hai ngàn năm qua.
Cây bồ đề cũng xuất hiện trong khúc chiến ca của giới Bà-la-môn hồi 3.500 năm trước.
Và trước đó nữa 1.500 năm, cây bồ đề xuất hiện trong các truyền thuyết, trong nghệ thuật của nền văn minh lưu vực sông Ấn (Indus Valley Civilisation).
AditiVerma/CC by 2.0 Bản quyền hình ảnhAditiVerma/CC by 2.0
Image caption Người dân ở Ấn Độ nắn rễ cây thành những cây cầu sống vững chắc
Tại các nơi khác ở châu Á - mà có thể nói là trên toàn các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, các nền văn hóa đã tiếp nhận cây đa, cây đề như những biểu tượng quyền lực và là nơi để người ta tới làm lễ cầu nguyện.
Những cây này được xuất hiện trong các câu chuyện kể, trong văn hóa dân gian, và trong cả các nghi lễ về sinh sản.
Được tôn kính nhất là cây bồ đề Ấn Độ (Ficus benghalensis), loại cây có thể lớn tới mức từ xa nhìn lại thì trông nó giống như một khu rừng nhỏ.
Cây bồ đề Ấn Độ có thể phát triển rất to bởi rễ của chúng thả xuống từ các cành có thể hợp lại với nhau thành các cột trụ to, chắc như các cây sồi, đỡ cho các cành khổng lồ của cây, cho phép các cành cây mọc ra dài hơn, rồi lại tiếp tục thả xuống nhiều rễ thêm nữa.
Có một cây bồ đề ở Uttar Pradesh được cho là bất tử. Một cây khác tại Gujarat được cho là đã lớn lên từ một nhánh con chỉ bé bằng cái bàn chải đánh răng. Một cái cây khác, cây thứ ba, được cho là đã mọc lên khi một thiếu phụ lao mình vào dàn hỏa thiêu xác người chồng quá cố để quyên sinh theo. Cây này, mọc tại Andhra Pradesh, lớn tới mức đủ chỗ trú cho 20 ngàn người.
Những người châu Âu đầu tiên được hưởng bóng mát của cây bồ đề là Alexander Đại đế và đội quân chinh chiến của ông, vốn đặt chân tới Ấn Độ vào năm 326 trước Công nguyên.
Những câu chuyện kể của họ về cây này nhanh chóng đến tai nhà triết học Hy Lạp cổ đại, Theophrastus, người đã đặt nền móng cho ngành thực vật học hiện đại.
Ông đã nghiên cứu loại cây vả cho quả ăn được, vả tây, có tên khoa học là Ficus carica. Theophrastus nhận thấy có những con bọ tí xíu chui ra chui vào quả vả. Điều này trở thành một trong những khám phá thú vị nhất của ngành sinh vật học.
Hơn 2.000 năm trôi qua cho tới khi các khoa học gia phát hiện ra rằng mỗi giống vả lại có một loại côn trùng thụ phấn riêng cho mình, và một số giống vả thậm chí còn có hai loài côn trùng 'đặc chủng' như thế. Tương tự, mỗi loại bọ vả chỉ có thể đẻ trứng vào hoa của những loài vả nhất định mà thôi.
Mối quan hệ này đã bắt đầu từ hơn 80 triệu năm trước, và nó đã định hình thế giới kể từ đó tới nay. Các giống thuộc chi họ sung Ficus phải đảm bảo ra quả trong cả năm để đảm bảo sự sinh tồn cho các giống bọ thụ phấn cho nó. Đây là điều tuyệt vời cho các loài động vật ăn trái cây vốn rất khó tìm được thức ăn trong phần lớn thời gian trong năm. Thực sự, các trái sung, vả giúp nuôi, duy trì sự tồn tại của nhiều loài động vật trong đời sống tự nhiên hơn bất kỳ loài trái cây nào khác.
Có hơn 1.200 giống loài động vật khác nhau ăn quả vả, trong đó có một phần mười toàn bộ các loài chim trên thế giới, gần như toàn bộ các loài dơi ăn hoa quả đã được con người biết đến, và hàng chục loài linh trưởng. Đổi lại, các loài động vật này cũng giúp phát tán hạt cây đi các nơi. Bởi vậy, các nhà sinh thái học đã gọi quả vả là "những nguồn tài nguyên chủ yếu". Và cũng giống như hòn đá trụ của một cây cầu, nếu như cây vả biến mất thì mọi thứ khác cũng bị phá hủy theo.
Cây vả không chỉ giúp nuôi dưỡng động vật. Việc quả vả chín quanh năm có lẽ cũng giúp cho sự tồn tại bền vững của tổ tiên loài người trong giai đoạn sơ khai.
Những quả vả chứa nhiều năng lượng có thể đã giúp cho tổ tiên chúng ta phát triển não bộ to hơn. Có giả thuyết cho rằng bàn tay chúng ta tiến hóa để trở thành công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá xem quả vả đã mềm chưa, tức là đã đủ ngọt, đủ dinh dưỡng, năng lượng để ăn hay chưa. Các loại quả vả nằm trong số những cây quả đầu tiên mà con người thuần hóa từ hàng ngàn năm trước.
The Egyptian goddess Hathor emerging from a fig tree to welcome the pharaoh's soul into the afterlife Bản quyền hình ảnhOther
Image caption Nữ thần Ai Cập Hathor hiện lên từ cây vả để chào đón linh hồn các vị vua pharaoh vào thế giới bên kia, theo tính ngưỡng của người A Cập cổ đại
Người Ai Cập cổ đại đã thuần hóa được một loài sung có tên gọi Ficus sycomorus (sung dại khô), là loài cây mà côn trùng thụ phấn cho nó hoặc đã tuyệt chủng, hoặc chưa từng có mặt tại vùng đất đó. Lẽ ra thì loài sung này sẽ không thể cho ra được nổi một quả sung chín. Thế nhưng những người nông dân đã tìm được cách 'đánh lừa' cây bằng cách dùng lưỡi dao vạch lên thân cây.
Trước đó rất lâu, quả sung đã là một nguồn thu chính của nông nghiệp Ai Cập. Các nhà nông thậm chí còn luyện cho khỉ biết trèo cây hái quả nữa.
Cây sung ở Ai Cập vừa là thực phẩm, vừa nuôi dưỡng những niềm tin tôn giáo. Các vị vua Ai Cập, Pharaoh, đem các quả sung khô vào hầm mộ của mình nhằm giúp linh hồn vua trên hành trình đi sang cõi bên kia thế giới. Các vị vua tin rằng nữ thần Hathor sẽ hiện lên từ một cây sung thần bí để đón họ vào thiên đường.
Từ phía bắc sang phía đông, loài họ hàng ngọt ngào hơn của sung dại khô Ai Cập là vả tây (F. carica) đã trở thành một loại thực phẩm quan trọng của một số nền văn minh cổ đại khác.
Vua Urukagina của nền văn minh lưu vực sông Ấn đã viết về loại quả này từ gần 5.000 năm trước. Vua Nebuchadnezzar II cho trồng chúng trong các khu vườn treo Babylon. Vua Solomon của Israel ca ngợi chúng trong một bài hát. Người Hy Lạp cổ đại và người La Mã nói quả vả là thứ hoa trái đến từ thiên đường.
Sức hấp dẫn của loài quả này có lẽ có thể được giải thích bằng một điểm quan trọng khác. Ngoài việc ngon ngọt, chúng còn có nhiều chất xơ, vitamin và các loại khoáng chất.
Figs are packed with fibre, vitamins and minerals Bản quyền hình ảnhBernard Dupont/CC by 2.0
Image caption Quả vả có nhiều chất xơ, vitamin và khoáng chất
Những lợi ích dinh dưỡng này đã được biết đến từ lâu. "Quả vả rất bổ dưỡng," nhà triết học La Mã hồi thế kỷ thứ nhất Pliny Già (Pliny the Elder) viết, "và là thứ thực phẩm ngon nhất mà những người bị ốm bệnh lâu ngày có thể ăn."
Một ví dụ nổi tiếng về sức mạnh trị bệnh của cây vả được nêu trong Kinh Thánh. Hezekiah, Vua vùng Judah, đã 'lâm bệnh đến chết' nhưng đã khỏe trở lại sau khi những kẻ tôi tớ đắp quả vả nghiền nhuyễn lên da ngài.
Khả năng trị bệnh của cây vả không chỉ nằm ở các quả cây. Các loại thuốc được phát triển qua hàng ngàn năm đã sử dụng cả vỏ cây, lá cây, rễ cây và cả nhựa cây nữa.
Việc dùng cây vả để chữa bệnh thậm chí còn có từ trước khi loài người hình thành. Tổ tiên còn sống gần gũi nhất với chúng ta là tinh tinh có vẻ như cũng biết cách dùng các loại cây này để chữa trị bệnh, cho thấy tổ tiên chung của loài người và tinh tinh cũng biết làm vậy.
Các nhà nghiên cứu làm việc tại Uganda thỉnh thoảng quan sát được các con tinh tinh ăn những thứ thức ăn khác thường, chẳng hạn như vỏ cây hoặc lá cây vả dại. Những con tinh tinh này có lẽ đang tự chữa bệnh, các nhà nghiên cứu kết luânh. Các xét nghiệm cho thấy thành phần lá và vỏ cây vả có tác dụng chống khuẩn, các loài ký sinh trùng, và các khối u.
Cây vả, cây sung không chỉ giúp cho các nền văn minh, các nền văn hóa của con người phát triển. Chúng còn chứng kiến cảnh lụi tàn nữa, và thậm chí còn giúp chôn vùi, che giấu những kết cục suy tàn đó.
Chẳng hạn như các thành phố vĩ đại của nền văn minh lưu vực sông Ấn từng phát triển rực rỡ trong thời gian từ năm 3300 đến 1500 trước Công nguyên, nhưng chúng đã biến mất khỏi lịch sử loài người cho tới tận năm 1827, khi một kẻ đào tẩu bỏ chạy khỏi Công ty Đông Ấn có tên là Charles Masson phát hiện ra.
Những cây sống bám khổng lồ hiện lên sừng sững át hết các loại cây khác. Những đống đổ nát nhô lên như những gò đống bí hiểm. Người dân địa phương nói với Masson rằng đó là những vết tích còn lại của một xã hội bị thần linh trừng phạt vì "những ham muốn và những tội lỗi của nhà vua". Thực ra, chính là một trận hạn hán kéo dài đã khiến nền văn minh lưu vực sông Ấn tàn lụi.
Các cây vả sống bám cũng thay thế chỗ của con người ở những nơi bị nạn khô hạn xóa sổ, như các kim tự tháp của người Maya ở Tikal thuộc Guatemala, hay các ngôi đền Khmer ở Angkor Wat của Campuchia.
Hulton Archive/Getty Images Bản quyền hình ảnhHulton Archive/Getty Images
Trong các trường hợp kể trên, các cây vả đã giúp rừng xanh trở lại, bao phủ lên các khối kiến trúc bị bỏ hoang. Các hạt cây nảy lên từ các vết nứt trong tường đá. Rễ cây công phá các vết vữa và bao cuốn, bóp nghẹt những bức tường. Cây vả thu hút vạn vật tới sinh sống, và rồi những sinh vật đó lại đem hạt cây đi phát tán xa hơn. Cứ thể, rừng xanh dần lấn hết các khối công trình do con người dựng lên.
Sức mạnh này cũng đã được chứng kiến tại các núi lửa như Krakatoa, nơi trận núi lửa phun trào hồi 1883 đã hủy diệt toàn bộ sự sống trên đảo. Các cây vả tái chiếm những nơi vốn chỉ còn mỗi lớp nham thạch, khởi đầu cho sự hình thành của những khu rừng mới.
Ở khắp các khu vực nhiệt đới, các khoa học gia nay đang dựng lại hiệu ứng này với việc trồng các cây vả để tăng tốc tái phát triển rừng ở các nơi cây cối đã bị đốn mất gần hết do nạn chặt phá bừa bãi.
Và điều này đồng nghĩa với việc cây vả có thể đem lại hy vọng cho tương lai trong bối cảnh có tình trạng biến đổi khí hậu.
Cây vả cũng có thể giúp chúng ta thích nghi được với những điều kiện khắc nghiệt.
Ở vùng đông bắc Ấn Độ, người dân nắn rễ cây vượt sông, tạo thành những cây cầu sống dày dặn, vững chắc, giúp việc qua lại được dễ dàng trong những mùa mưa lũ.
Tại Ethiopia, cây vả giúp nhà nông thích nghi với nạn khô hạn bằng việc cung cấp bóng râm vô cùng cần thiết cho hoa màu, và thức ăn khô cho dê. Đây là những tác dụng có thể có ích cho cả những vùng khác nữa.
Nhìn chung, cây vả có thể giúp chúng ta hạn chế bớt tình trạng thay đổi khí hậu, bảo vệ tính đa dạng sinh thái, và cải thiện đời sống nếu như chúng ta tiếp tục trồng và bảo vệ chúng, điều mà nhân loại đã làm từ cả ngàn năm qua.
Trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, việc chặt hạ các cây thuộc chi họ sung, như cây đa, cây đề, là điều cấm kỵ.
Câu chuyện lịch sử dài lâu của loài cây đặc biệt này nhắc nhở cho chúng ta rằng chúng ta chỉ mới xuất hiện trên Trái Đất này thôi, so với quá trình 80 triệu năm tồn tại của chúng. Tương lai của chúng ta sẽ an toàn hơn nếu như chúng ta đưa những loài cây đặc biệt này vào kế hoạch đồng hành với chúng ta tới tương lai.
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Earth.