Theo khảo sát, nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học thuộc Trường ĐH Y Hà Nội mới đây: có tới 98% mẫu thủy sản, đặc biệt là cua ở các ao hồ Hà Nội bị nhiễm kim loại nặng như chì, thủy ngân, asenic, cadmium… Cá chết ngày 3.10.2016 tại Hồ Tây vẫn được người dân ở đây cắt khúc đem về ăn100% mẫu cua không đạt chuẩn
Hiện nay ở Hà Nội, diện tích nuôi trồng thủy sản có hơn 17 nghìn ha, được phân bố chủ yếu tại các ao hồ như Hồ Tây, Yên Sở, khu vực phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai), xã Đại Áng và xã Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì)…
Nhưng trong đó tập trung nhiều nhất ở 9 huyện thuộc Hà Tây cũ và huyện Sóc Sơn. Với diện tích ao hồ như vậy, mỗi năm lượng thủy sản đánh bắt ở đây đạt 3 tấn/ha, đáp ứng chỉ 25-30% nhu cầu của người tiêu dùng thành phố. Tuy nhiên, điều đáng nói là các ao hồ này đều ô nhiễm nặng dẫn đến các thủy sản đánh bắt ở đây bị nhiễm kim loại.
Các nhà khoa học ở ĐH Y Hà Nội đã cho biết, trong tổng số 240 mẫu thủy sản gồm: cá chim, cá trôi, cá trắm, cá mè, trai, cua, ốc, rô phi lấy từ 16 hồ trên địa bàn Hà Nội thì hầu hết đều nhiễm chì, thủy ngân, asenic, nikel, chrome…
Đặc biệt đối với chrome, không có mẫu nào đạt tiêu chuẩn cho phép. Còn nikel chỉ có 0,8% số mẫu đạt tiêu chuẩn cho phép. ThS. BS Trịnh Bảo Ngọc, thành viên nhóm nghiên cứu nói: “Thủy sản ở tất cả các ao hồ được nghiên cứu đều nhiễm nikel, chrome vượt 10-15 lần tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Vào mùa khô, mức ô nhiễm này còn cao gấp 2-3 lần mùa mưa”. 100% mẫu cua nhiễm kim loại nặng nồng độ caoTrong đó nhiễm độc chì nặng nhất là ốc, cua, trai… do sống ở tầng đáy với nhiều lớp bùn đọng “ngấm” kim loại nặng, chỉ có 25% mẫu nghiên cứu đạt tiêu chuẩn. Còn lại cao gấp từ 150-250% tiêu chuẩn cho phép. Riêng cua thì 100% mẫu không đạt “chuẩn”. Trong khi cá chép, rô phi, mè được coi là “an toàn” thì cũng có tới 50-60% không đạt tiêu chuẩn do WHO đặt ra. Cách đây 10 năm cũng đã có một nghiên cứu cảnh báo về chất lượng cá tươi ở khu vực Định Công, Đầm Vực về hàm lượng arsenic, thủy ngân có trong thịt cá. Đến nay, không những các chỉ số này không được cải thiện mà thủy sản ở đây còn bị nhiễm nặng hơn và nhiễm nhiều kim loại hơn. Cụ thể, hàm lượng chì và thủy ngân đã tăng 200-300% so với mức ô nhiễm năm 2000. Sông hồ nào cũng ô nhiễm
Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và cộng đồng tại 120 hồ ao, đầm, thủy vực tại 6 quận trung tâm gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa… chỉ có 6 hồ đạt tiêu chuẩn cho phép. Còn lại ô nhiễm nặng trong khi, đó là nơi cung cấp thủy sản cho thị trường Hà Nội. Trả lời vì sao các ao hồ, thủy vực ấy bị ô nhiễm thì đại diện nhóm nghiên cứu của Trường ĐH Y Hà Nội nhận định với báo giới: chính là do nguồn nước cung cấp bắt đầu từ các sông ngòi bị ô nhiễm nên đã làm cho nước ở các ao hồ, thủy vực trong thành phố bị ô nhiễm theo.
Để chứng minh cho điều này thì một nghiên cứu, khảo sát của Trường ĐH Y Hà Nội đã cho thấy nước ở các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Nhuệ ô nhiễm nặng nhất đến mức mất cả khả năng làm sạch tự nhiên vốn có lại là nguồn nước cung cấp cho khu vực nuôi trồng thủy sản lớn nhất Hà Nội là Hoàng Mai, Thanh Trì.
Trung tâm Quan trắc phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Hà Nam sau khi phân tích mẫu nước sông Nhuệ tại khu vực này đã kết luận nước sông Nhuệ ô nhiễm trên mức báo động 3 với các chỉ số: nồng độ ammoni vượt 151 lần tiêu chuẩn cho phép, COD vượt 4 lần, nồng độ oxygen hòa tan chỉ đạt 1,18mg/l, thấp hơn 5 lần chỉ số chuẩn. Đó cũng là lý do vì sao tất cả các mẫu thủy sản ở hồ Yên Sở rộng 137ha thuộc quận Hoàng Mai, không có một mẫu nào đạt tiêu chuẩn cho phép và đây cũng là hồ nước bị ô nhiễm nặng nhất trong số 16 hồ khảo sát ở Hà Nội.
Theo các nhà khoa học sở dĩ nguồn nước ở các sông bị ô nhiễm nặng là do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp qua hệ thống cống và tiêu thoát ra các sông chính là Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Sét và sông Lừ… với khối lượng đã được Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội tính khoảng 500 nghìn m3/ngày. Lượng nước thải này chảy trực tiếp ra sông mà không thông qua một hệ thống xử lý nào, đặc biệt là nước thải công nghiệp. Trong khi đáng lẽ nước thải công nghiệp, theo quy định trước đi đổ ra sông phải xử lý để giảm sự độc hại. Ngay UBND TP Hà Nội cũng thừa nhận: Năm 2013, thành phố không hoàn thành chỉ tiêu xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung. Còn các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, chưa đến 10% trong số ấy được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Cụ thể trong tổng số có 83 khu công nghiệp và cụm công nghiệp, có 7 khu là có hệ thống xử lý nước thải.
Tuy nhiên, ngay cả hệ thống nước thải được đầu tư ở 7 khu công nghiệp ấy cũng có điều cần nói là chưa đạt chuẩn. Chẳng hạn khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải giai đoạn 1 với công suất 3.000m3/ngày đêm. Công suất đó được xem là quá thấp so với yêu cầu. Tại khu công nghiệp Nội Bài, huyện Sóc Sơn cũng vậy, nước thải công nghiệp đậm đặc dầu mỡ, kim loại nặng không được thu gom xử lý tập trung mà để cho các nhà máy tự xử lý rồi thải trực tiếp ra môi trường. Việc tự xử lý như vậy không có cơ sở để bảo đảm chất lượng nước thải đạt chỉ số cho phép.
Cùng với nguồn nước – môi trường sống của thủy sản nhiễm kim loại nặng thì việc nuôi trồng một cách cảm tính của người nuôi thủy sản lại càng làm cho sản phẩm của mình thêm độc hại. Ấy là họ không biết cách quản lý môi trường nước để bên cạnh phòng trừ dịch bệnh còn làm cho thủy sản giảm tình trạng nhiễm kim loại độc hại. Có sẵn môi trường nước như thế nào thì họ thả, nuôi trồng thủy sản thế ấy và chỉ quan tâm đến số lượng chứ không quan trọng chất lượng (trừ khi nuôi để ăn). Chưa kể đến họ còn cho ăn thêm thức ăn công nghiệp, bột tăng trọng như đối với cá, cua. Mà bột tăng trọng này hiện không quản lý được chất lượng do có nhiều người nuôi trồng mua không rõ nguồn gốc xuất xứ. Chỉ còn cách… nhịn!
Trước tình trạng thủy sản nhiễm kim loại như vậy, PGS.TS Phạm Duy Tường, thành viên nhóm nghiên cứu cảnh báo với hàm lượng nhiễm độc cao như chrome, nikel có thể gây nhiễm độc gan, thận đồng thời làm tổn hại hệ hô hấp. Còn đối với chì, theo TS Phạm Duệ, Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, vào cơ thể với mức nào thì chì cũng có hại cho sức khỏe. Bởi nếu tích tụ lâu dài, chì sẽ gắn chặt vào các tổ chức của cơ thể, đặc biệt là hệ cơ xương, khiến cho quá trình đào thải càng chậm dẫn đến suy thận, tổn thương thần kinh ngoại vi, giảm chức năng não bộ mà không thể hồi phục, vô sinh, sẩy thai… Riêng với trẻ em, chì có tỷ lệ nghịch với sự phát triển chỉ số thông minh, chỉ cần nồng độ trong máu là 100microgam/lít cũng đã ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ. Còn ở người lớn là 250microgam/lít, thận, hệ thần kinh… đã bị phá hủy, nếu cao hơn nữa, có thể hôm mê và tử vong. Một người dân sống gần khu vực hồ Tây, bắt được con cá chép 9 kg chết nổi lềnh bềnh gần bờ, liền đem xẻ thịt nấu ăn ngay mà không cần biết lý do vì sao cá chết !Cá chết bị trôi dạt vào khu vực đầy bùn tại hồ Tây ngày 3.10.2016.Trên 200 tấn cá đã chết từ hồ Tây chỉ trong 3 ngày 2-3-4.10.2016, nhiều nơi được vớt lên để la liệt trên vỉa hè, ruồi bâu nhằng nhịt xung quanh.Asenic cũng có tác hại tương tự. Do vậy, để tránh ngộ độc kim loại và bảo vệ sức khỏe không bị “nhiễm” chì, asenic, thủy ngân, không có cách nào khác ngoài “cạch” những thủy sản nhiễm kim loại ấy, nhất là trong hoàn cảnh môi trường sống của thủy sản chưa có cách xử lý, vệ sinh an toàn thực phẩm đang báo động nghiêm trọng như hiện nay!
Cùng với Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, rùa hồ Gươm trở thành một biểu tượng trong đời sống tinh thần người Hà Nội. Rùa hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết chống ngoại xâm của dân tộc nên luôn thu hút sự quan tâm của người dân. Đây cũng được cho là một trong bốn cá thể hiếm còn sót lại trên thế giới và được kêu gọi cần bảo tồn.
Hình ảnh rùa nổi lên ngay ngày đầu năm mới 2010, thu hút sự chú ý của hàng nghìn người dạo phố hoa.
Từ năm 2011, tần suất rùa nổi lên ngày càng nhiều, khiến cho người dân lo lắng về sức khỏe của rùa. Hình ảnh những vết thương trên mình, chân, cổ ngày càng lan rộng là dấu hiệu cho thấy rùa đang xuống sức.
Sau khi hình ảnh những vết thương lở loét trên mình rùa liên tục xuất hiện trên báo chí trong và ngoài nước, các nhà khoa học và dân chúng nhiều lần lên tiếng cần đưa rùa hồ Gươm lên cạn để chữa thương. Quyết định đưa rùa lên cạn được đưa ra từ giữa tháng 2/2011 với hai phương án: chờ rùa tự bò lên gò đất thuộc Tháp Rùa, hoặc đưa lên bằng lưới đánh bắt.
Cuối cùng, phương án hai được lựa chọn. Sau nhiều thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, sáng 8/3/2011, chiến dịch bắt rùa khai màn trước sự chứng kiến của hàng nghìn người dân.
Sau gần trọn ngày bủa vây với 2 lần bắt hụt, lực lượng chức năng đã đưa được rùa về gò đất ở Tháp Rùa giữa hồ để chữa trị.
Giới chuyên môn nhận định, tình trạng thương tích của rùa không quá lo ngại, mầu trắng trên chân và cổ rùa là do giảm sắc tố da sau khi vết thương đã thành sẹo. Một thành viên nhóm điều trị cho biết sau khi được đưa vào khu chăm sóc, rùa đã ăn cá, thái độ hiền lành và không có vẻ gì sợ hãi.
Công cuộc trị thương cho rùa kéo dài gần 3 tháng. Khi lành vết thương, rùa hồ Gươm được thả trở lại môi trường sống tự nhiên, cùng hàng chục nghìn con cá, được thả vào hồ làm thức ăn cho rùa.
PGS Hà Đình Đức tiếp cận rùa khi lên bờ phơi nắng. Lần nổi lên gần đây nhất của rùa hồ Gươm là vào trưa ngày 21/12/2015. Sau 20 năm nghiên cứu về rùa hồ Gươm, PGS Đức đề nghị thành phố Hà Nội trình lên Thủ tướng ra quyết định công nhận rùa hồ Gươm, tiêu bản rùa ở đền Ngọc Sơn và bộ xương rùa hồ Gươm ở bảo tàng là bảo vật quốc gia.
Người Hà Nội sẽ chẳng bao giờ còn được chứng kiến hình ảnh rùa hồ Gươm nằm phơi nắng gần chân Tháp Rùa. Thông tin từ cơ quan chức năng TP Hà Nội xác nhận rùa hồ Gươm đã chết chiều 19/1. Khoảng 17h xác rùa được phát hiện nổi lên tại khu vực trước báo Hà Nội mới. Hàng trăm người dân hiếu kỳ đã tụ tập theo dõi. Xác rùa được di chuyển tới khu vực đền Ngọc Sơn chờ phương án xử lý của nhà chức trách. Theo một chuyên gia động vật, do rùa hồ Gươm là cá thể cái nên chỉ còn phương án là làm tiêu bản để bảo tồn cho thế hệ mai sau.