Posts tonen met het label Hà Nội. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Hà Nội. Alle posts tonen

zondag 8 december 2013

Rượu nếp 29 Hà Nội có chất cực độc Methanol gây chết người

Sunday, December 8, 2013

Rượu nếp 29 Hà Nội có chất cực độc gây chết người

Rượu nếp 29 Hà Nội có chất cực độc gây chết người
QLB  - Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y tế) mới có công văn thông báo tới các tỉnh về việc xử lý khẩn cấp Rượu Nếp 29 Hà Nội vì có chất cực độc gây chết nhiều người.

Sau sự việc liên tiếp xảy ra các vụ ngộ độc rượu khiến 4 người tử vong tại Quảng Ninh, mới đây Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) đã có văn bản số 2741/ATTP-NĐ gửi Giám đốc sở Y tế các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức chỉ đạo và triển khai các biện pháp xử lý khẩn cấp đối với sản phẩm Rượu Nếp 29 Hà Nội.
Cục An toàn Thực phẩm yêu cầu nhà sản xuất dừng ngay lập tức việc sản xuất, lưu thông sản phẩm Rượu Nếp 29 Hà Nội sản xuất ngày 12/10/2013 tại cơ sở sản xuất.
Đơn vị sản xuất phải kiểm kê, niêm phong sản phẩm đang bảo quản trong kho, báo cáo ngay mạng lưới, địa điểm phân phối của công ty và thu hồi về trước ngày 12/12/2013. Đồng thời, công ty phải phối hợp với cơ quan chức năng tiêu hủy sản phẩm theo đúng quy định pháp luật.

Trước đó, lực lượng liên ngành của tỉnh đã bất ngờ kiểm tra tổng đại lý Rượu nếp 29 Hà Nội đặt tại phường Hà Khẩu, TP Hạ Long. Đại lý này vừa mới nhập 400 hộp rượu nếp mới Hà Nội 6 chai loại 2 lít từ công ty CP XNK 29 Hà Nội có địa chỉ tại 40 Vũ Văn Hiếu, Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội vào kho hàng.
Trong 6 mẫu rượu được lấy từ tổng đại lý này, kết quả phân tích có đến 5 mẫu chứa lượng Methanol vượt quá quy định gần gấp 2.000 lần. 5 mẫu loại 2 lít, lô sản xuất ngày 12/10/2013 đều cho kết quả dương tính với Methanol là 80,36 - 84,14 - 89,64 - 91,07 - 98,2. Trong khi, giới hạn tiêu chuẩn của methanol trong rượu chỉ nhỏ hơn hoặc bằng 0,05.
Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh đã thu hồi 6.000 can rượu nếp 29 Hà Nội loại 2 lít. Số rượu bị thu hồi cùng loại với số rượu liên quan vụ 4 người tử vong trước đó. Trong 6000 can rượu bị thu hồi, có hơn 4 nghìn can ghi lô sản xuất ngày 12/10/2013.

Lê Phương
 

donderdag 3 oktober 2013

Cựu Đại sứ Anh tại Hà Nội, ông Derek Tonkin: 'Việt Nam vẫn nên đòi chủ quyền'

'Việt Nam vẫn nên đòi chủ quyền'


Cập nhật: 11:25 GMT - thứ hai, 30 tháng 9, 2013

'90% chính sách đối ngoại VN là với TQ '
Cựu Đại sứ Anh Derek Tonkin khuyên Hà Nội vẫn nên đòi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm năm 1974.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Mặc dù tranh chấp chủ quyền trên biển Đông là phức tạp, không dễ giải quyết ngày một, ngày hai, Việt Nam vẫn nên đòi chủ quyền của mình, theo lời khuyên của cựu Đại sứ Anh từng làm việc tại Việt Nam trong giai đoạn 1980-1982.
Cựu Đại sứ Derek Tonkin cho rằng Anh quốc không ủng hộ bất cứ hành động quân sự hoặc xâm lược nào mà một quốc gia tranh chấp chủ quyền tiến hành với quốc gia khác.
"Nó có chiều hướng làm tăng nhiệt căng thẳng và có xu thế dẫn tới có thêm các cuộc giao tranh và các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu", nhà ngoại giao bình luận về cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc đối với Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1974.
"Tôi nhớ là đã được thông báo rằng tôi cần luôn chuẩn bị để rời tòa đại sứ trong vòng 24 tiếng đồng hồ... trong trường hợp quân đội Trung Quốc tràn xuống"
Về con đường cải tổ dân chủ của Việt Nam hiện nay, cựu Đại sứ Anh cho rằng mọi việc hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của nhân dân Việt Nam, vì theo ông mỗi quốc gia cần tự tìm kiếm một giải phảp riêng.
"Phần lớn những quy ước quốc tế, tôi nghĩ Việt Nam đều đã tham gia, nhưng điều mà tôi đặc biệt quan ngại là về tự do tôn giáo và tự do ngôn luận," ông Tonkin nói.
Trao đổi với BBC nhân dịp đánh dấu 40 năm thiết lập quan hệ giữa London và Hà Nội, cựu Đại sứ Anh cũng thuật lại kinh nghiệm của mình với tư cách nhà ngoại giao khi đặt chân tới Việt Nam vào thời điểm nước này vừa chịu cuộc tấn công của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc vào năm 1979.
Ông cũng đưa ra nhận xét cá nhân về một số một số chính trị gia, nhà ngoại giao hàng đầu của Việt Nam ở đầu thập niên 1980 như các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyễn Giáp, Nguyễn Cơ Thạch...
'Dân chủ ở VN sẽ do dân tự quyết định'
Cựu Đại sứ Anh Derek Tonkin nói giải pháp dân chủ cho VN phải để cho nhân dân Việt Nam tự quyết định.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Derek Tonkin: Tôi là đại sứ thứ năm của Anh quốc tại Việt Nam sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vào năm 1973. Vài đồng nghiệp của tôi trước đó chỉ đảm nhiệm 6 tháng. Nhưng một đồng nghiệp khác của tôi đã ở đó trong 2 năm, nên tôi quyết định là tôi cũng sẽ ở lại trong hai năm.
Tất nhiên tôi tới Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt khó khăn, những năm của thập niên 1980. Lúc đó Việt Nam đã chiếm đóng Campuchia với lý do mà tôi nghĩ là tôi hiểu rất rõ, dù có thể ở phương Tây một số người đã chưa rõ lắm.
Trung Quốc như quý vị biết trong năm 1979 đã tấn công Việt Nam, họ gọi đó là sự trừng phạt, nhưng đúng ra có thể coi là một cuộc tấn công xâm lược, dù Trung Quốc có giải thích theo cách khác được hiểu như là chiến thuật quân sự của họ.
Khi tôi tới nơi, một trong những điều đầu tiên tôi nhớ là đã được thông báo rằng tôi cần luôn chuẩn bị để rời tòa đại sứ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, và thông báo này cũng đã được đưa ra cho những người nước ngoài ở Việt Nam, trong trường hợp quân đội Trung Quốc tràn xuống.
Chiến tranh biên giới Trung - Việt 1979
Ông Tonkin tới Việt Nam vào lúc Trung Quốc vừa tiến hành chiến tranh ở biên giới phía Bắc
Tôi đã rất vui để nói rằng việc đó đã không xảy ra, thế nhưng ít nhất nó lại làm cho tôi ngay lập tức liên hệ với vấn đề mà Việt Nam khi đó đang đối diện.
Và vấn đề Campuchia đã thực sự bao trùm nhiệm kỳ hai năm của tôi ở Việt Nam, lúc đó có rất ít quan hệ thương mại song phương. Tôi cũng gặp rất ít khách thăm.
Nhưng ít nhất Anh quốc đã không tham gia ở phe của người Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi đã luôn cố gắng giữ một mức độ độc lập có thể được, mặc dù cũng có bằng chứng rằng một vài cá nhân người Anh có thể đã tham dự ở phía của người Mỹ.
Hòa đàm Paris
Nhiều quan chức chính phủ Hà Nội cho rằng VN đang ở 'đỉnh cao của thế giới' sau nhiều chiến thắng

"Cáo buộc" duy nhất về sự tham gia của người Anh trong cuộc chiến Việt Nam là một lần tôi trò chuyện thân tình với Ngoại trưởng Việt Nam ông Nguyễn Cơ Thạch rằng lá cờ của Anh quốc đã được đưa vào cùng với các lá cờ của một liên minh trong một bảo tàng ở Hà Nội, tôi nghĩ là Bảo tàng Cách mạng.
Đó là các lá cờ của liên minh các nước phương Tây được cho là giúp đỡ cho chính quyền "bù nhìn" Nam Việt Nam. Tôi nói rằng thực tế là chúng tôi đã không tham gia. Và tôi nói thêm rằng sẽ là một điều tốt nếu tên tuổi của nước Anh có thể được bỏ ra khỏi đó.
Bốn ngày sau đó, Nguyễn Cơ Thạch trở lại gặp tôi và nói: "Ông có thể nhận ra là chúng tôi đã gỡ bỏ lá cờ. Tuy nhiên, chúng tôi đã phát hiện ra rằng có một thời điểm vào năm 1968, chúng tôi tin rằng các ông đã gửi một số chó nghiệp vụ cảnh sát để huấn luyện ở Việt Nam."
Và ông ta nói: "Tôi có thể cho ông biết đó có lẽ là lý do vì sao mà chúng đã có mặt ở đó." Ông Thạch cũng cho tôi biết là có lẽ lá cờ đã được lấy ra từ tòa lãnh sự của Sứ quán Anh ở Sài Gòn.
Trên thực tế mối quan hệ của chúng tôi với Việt Nam luôn được đặt trên cơ sở lợi ích song phương và đặc biệt là tính độc lập. Điều duy nhất đặc biệt giữa Anh quốc và Việt Nam là giữa hai bên không bao giờ xảy ra chiến tranh. Không có bất cứ một cơ hội nào trong lịch sử mà trong đó quân đội của Việt Nam đụng đầu với quân lực Anh.
"Vì sao ư? chúng tôi đã đánh thắng Trung Quốc, chúng tôi đã chiến thắng người Pháp và chúng tôi đã chiến thắng người Mỹ, cho nên chúng tôi thực sự cảm thấy rằng chúng tôi ở đỉnh cao của Thế giới"
"Một điều khác nữa mà tôi nhớ về thời gian tôi ở Việt Nam là cuộc sống không dễ dàng gì. Lúc đó vẫn còn cấm vận toàn phần của Hoa Kỳ. Hàng hóa rất thiếu. Qua các mùa, chúng tôi có kha khá thực phẩm và rau quả, nhưng chúng tôi phải nhập khẩu rất nhiều thực phẩm từ Bangkok. Người dân sống rất khó khăn.
Nhưng có một điều mà tôi ấn tượng nhất là dù cuộc sống khó khăn thế nào, người dân vẫn luôn giữ một nụ cười.
Cuộc sống rất khó khăn, thiếu thuốc men, hầu như thiếu thốn đủ thứ, nhưng nếu bạn nhìn vào những gương mặt của họ, thì ở đâu họ cũng mỉm cười.
Những hình ảnh ấy gợi cho tôi nhớ lại thời kỳ chiến tranh ở nước Anh. Khi đó sức khỏe mọi người lành mạnh hơn bây giờ vì chế độ ăn uống của mọi người tốt hơn vì mọi người không bỏ nhiều tiền vào sô-cô-la và những thứ khác.
Trở lại với Việt Nam, lúc đó chiến tranh đã kết thúc, bốn năm sau khi đất nước thống nhất, tôi nghĩ mọi người cảm thấy hạnh phúc.
Và nhìn chung lúc đó trong chính phủ Việt Nam, mọi người có cảm nghĩ là Việt Nam đã chiến thắng: "Vì sao ư? chúng tôi đã đánh thắng Trung Quốc, chúng tôi đã chiến thắng người Pháp và chúng tôi đã chiến thắng người Mỹ, cho nên chúng tôi thực sự cảm thấy rằng chúng tôi ở đỉnh cao của thế giới."

'Sai lầm ở Campuchia'

BBC: Ông có còn giữ quan điểm cho rằng sau khi can thiệp vào Campuchia, quân đội Việt Nam ở lại Campuchia khoảng 10 năm và đó là một sai lầm lớn của chính quyền Việt Nam? Lúc đó, các đoàn ngoại giao ở Hà Nội khi gặp gỡ, có bình luận gì về việc này không?
Một trong những lý do mà tôi được cử tới Hà Nội làm Đại sứ là vì tôi có kinh nghiệm ở Campuchia, tôi đã từng ở đó trong ba năm hồi thập niên 1960. Và tôi cũng có thời gian ở Thái Lan. Do đó tôi có một sự hiểu biết rộng về khu vực.
Tôi nghĩ tôi hiểu khá rõ lý do của việc vì sao Việt Nam cảm thấy họ không còn có thể chịu đựng được hơn nữa mối đe dọa từ phía Khmer Đỏ. Các vị có thể nhớ rằng về gốc gác, lúc đầu Khmer Đỏ là đồng minh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cái tên Khmer Đỏ cũng là do Hoàng thân Sihanouk đặt, chỉ những người khuynh tả. Nhưng rồi Khmer Đỏ trở thành một phe chạy theo ý thức hệ mà tôi gọi là rất tàn ác. Họ có khát vọng trả thù Việt Nam, đặc biệt với những vùng đất mà trước đó 200-300 năm từng là lãnh thổ của người Khmer, điều gợi cho tôi nhớ tới cái được gọi là Khmer Krom.
"Thật đáng tiếc là họ đã ở lại quá lâu, trong 10 năm, và họ ở lại trong một thế như là sự thể này không thể đảo ngược. Tuy nhiên, Việt Nam đã rời khỏi Campuchia. Họ rời đi dưới áp lực, đặc biệt của các quốc gia còn lại ở Asean"
Nhưng còn đi xa hơn thế nữa, Khmer Đỏ muốn khích động việc lấy lại toàn bộ miền Nam Việt Nam, thậm chí cả Sài Gòn, mà theo họ chính đó cũng là một thành phố cũ của Campuchia, Pren Kor, hay là Thành phố ở trong rừng. Và đã có rất nhiều vụ khiêu khích ở dọc biên giới mà phía Việt Nam nghĩ là họ không còn có thể tha thứ được nữa.
Quý vị cũng có thể nhớ rằng khi Việt Nam xâm lược Campuchia, họ tiến vào với một nhóm người Campuchia khác mà về nguồn gốc cũng là Khmer Đỏ, được gọi là phe Tư lệnh cánh Đông của Pol Pot. Phe này cũng rất cứng rắn, nhưng không cực đoan quá khích như chính quyền Pol Pot ở phần còn lại của Campuchia, và cánh này biết họ là mục tiêu của việc bị Khmer Đỏ loại trừ.
Do đó, Thủ tướng hiện nay của Campuchia, Hun Sen và những người khác như các ông Heng Samrin, Chea Sim cũng đã phải chạy trốn thực sự để thoát hiểm. Trở lại thì ý định của Việt Nam là chấm dứt các hành động khiêu khích mà Việt Nam phải chịu đựng tới lúc đó. Tất nhiên, khi bạn xâm lược một quốc gia khác, sẽ có những hệ lụy quốc tế.
Và vào thời điểm đó chúng ta có thể nhớ rằng đã có quan ngại quốc tế về cuộc xâm lược của Liên Xô ở Afghanistan vào năm 1981, chúng tôi cũng quan ngại về cuộc xâm lược của Argentina ở quần đảo Falkland vào năm 1982. Do đó ý niệm rằng một nước có thể xâm lược một nước khác rất nhạy cảm đối với phương Tây. Do đó chúng tôi chỉ trích rất mạnh.
Nhưng đồng thời, nếu tôi có thể trở lại với Hoàng thân Sihanouk, chính ông nói rằng nếu Việt Nam rút khỏi Campuchia sau 12 tháng và để cho Campuchia tự giải quyết vấn đề của họ, thì họ đã rất được hoan nghênh, bởi vì đó chính xác là ý định ban đầu của cuộc can thiệp, vì dẫu sao một chế độ như của Khmer Đỏ là không thể chấp nhận được.
Tất nhiên, tôi không quá ngây thơ để tin rằng đó là lý do duy nhất Việt Nam đưa quân vào Campuchia, họ cũng có những lý do quan ngại về an ninh, về bất ổn định, và họ cũng luôn tự xem mình là quốc gia đứng đầu ở Đông Dương với Lào và Campuchia. Và nhìn lại từ góc độ này, tôi có thể hiểu vì sao họ tiến vào Campuchia.
Thật đáng tiếc là họ đã ở lại quá lâu, trong 10 năm, và họ ở lại trong một thế như là sự thể này không thể đảo ngược. Tuy nhiên, Việt Nam đã rời khỏi Campuchia. Họ phải đi dưới áp lực, mà đặc biệt từ các quốc gia còn lại ở khối Asean.


Thêm về tin này

vrijdag 2 augustus 2013

Mỹ ưu ái Hà Nội, coi nhẹ Phnom Penh?

Mỹ ưu ái Hà Nội, coi nhẹ Phnom Penh?


Cập nhật: 13:21 GMT - thứ sáu, 2 tháng 8, 2013

Ông Sang tới thăm Hoa Kỳ sau khi thăm Trung Quốc vào hè năm nay.
Tạp chí Anh, The Economist trong tuần này lại tiếp tục bàn về quan hệ Mỹ Việt nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Washington nơi lãnh đạo hai nước đưa quan hệ song phương lên mức “đối tác toàn diện”.
Tiếp theo bài báo vào tuần trước, bài viết vào tuần này mang Campuchia vào nhằm so sánh cách ứng xử của Washington với hai nước ở châu Á cùng chung đường biên, đặc biệt là trong mảng nhân quyền.
Khi ông Obama có cuộc họp duy nhất với Thủ tướng Campuchia, Hun Sen, tại Phnom Penh hồi năm ngoái, người phát ngôn phía Mỹ đã nói thẳng với báo giới rằng bầu không khí họp là "căng thẳng".
Lý do là vì ông Obama huấn thị ông Hun Sen về các trường hợp vi phạm nhân quyền xảy ra ở Campuchia.
Lập trường cứng rắn của tổng thống Hoa Kỳ được hậu thuẫn bởi các chính trị gia Mỹ vốn to tiếng vận động nhằm yêu cầu cắt giảm viện trợ của Mỹ nếu cuộc bầu cử ở Campuchia không "đáng tin cậy".
Thậm chí một số người còn muốn các tổ chức quốc tế như ADB, Ngân hàng Phát triển Châu Á , đã và đang giúp cấp vốn để Campuchia tái thiết, đưa ra các tuyên bố đe dọa Phnom Penh.
Bài báo đặt câu hỏi rằng liệu các nhà lãnh đạo của Việt Nam xứng đáng được [Hoa Kỳ] đón nhận trong khi Campuchia bị Hoa Kỳ giữ khoảng cách?
Xét về các tiêu chí dân chủ và nhân quyền, có lẽ là không, The Economist bình luận và tìm cách giải thích.

Chọn đồng minh

Một số dân biểu Hoa Kỳ ra sức vận động để Washington gây sức ép với Hà Nôi về nhân quyền.
Bài báo dẫn chiếu tại điều họ gọi là “Cuộc bầu cử của Campuchia là không hoàn hảo”, nhưng hầu hết các nhà quan sát nói rằng quá trình tranh cử cởi mở hơn và cạnh tranh hơn so với hai lần trước.
Trong khi đó Đảng Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam, báo này viết, chẳng hề bận tâm tới bầu cử và cũng không chấp nhận bất cứ hình thức cạnh tranh chính trị nào. Trấn áp là chuyện xảy ra như cơm bữa.
“Ở Washington một vài nhà lập pháp Mỹ, được cộng đồng người Mỹ gốc Việt góp giọng, phàn nàn về việc Washington nhẹ tay đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Tuy nhiên chẳng ai dường như đang lắng nghe.
“Lý do cho sự khác biệt trong cách đối xử của Washingon với Hà Nội và Phnom Penh được xem là nằm ở chỗ chính quyền ông Obama đã và đang đã chọn Việt Nam như một đồng minh trong chiến lược tái cân bằng về an ninh tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, nhất là trong bối cảnh Việt Nam tỏ ra không chịu bị lấn át trước đối thủ mới của Mỹ là Trung Quốc, trong các tranh chấp lãnh hải trong khu vực.
“Hoa Kỳ cũng muốn Việt Nam trở thành nước thành viên của liên minh thương mại tự do mới của họ, TPP, và dường như sẵn sàng bỏ qua cho Hà Nội nhiều thứ để giành được hai mục tiêu địa chiến lược.
“Campuchia, ngược lại, là đồng minh chính của Trung Quốc trong khu vực và sẽ không tham gia TPP trong thời gian ít nhất là trước mắt.
“Chính trị thực dụng, vốn thịnh hành trong những năm 1970, đã trở lại”, bài báo có tựa Bấm America, Vietnam and Cambodia, Realpolitik Redux (Tạm dịch là Hoa Kỳ, Việt Nam và Campuchia, sự trở lại của chính trị thực dụng) nhận định.
'Chưa ngã ngũ'
"Tuyên bố Chung sau cuộc họp bàn giữa ông Obama và ông Sang cho thấy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên vẫn là công việc còn đang trong giai đoạn chưa ngã ngũ"
Giáo sư Carl Thayer
Trong khi đó Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm, đã có bài lý giải điều ông gọi là "hai khả năng có thể lý giải vì sao Hoa Kỳ và Việt Nam chọn đối tác toàn diện thay vì đối tác chiến lược".
Trước tiên, các cuộc đàm phán bị bế tắc do thực trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tệ đi, cả hai phía cùng kết luận rằng có đồng thuận ở không cao hẳn vẫn tốt hơn là không đạt được thỏa thuận nào.
Lý do thứ hai, theo ông Thayer, là có tin nói phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phản đối sử dụng cụm từ “đối tác chiến lược” để mô tả quan hệ giữa nước họ với Hoa Kỳ.
Vậy câu hỏi đặt ra là liệu quan hệ đối tác toàn diện Hoa Kỳ - Việt Nam có nên được coi như đối tác chiến lược, nhưng dưới một tên gọi khác.
Theo nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm từ Học viện Quốc phòng Úc, nếu nhìn kỹ hơn, Tuyên bố Chung sau cuộc họp bàn giữa ông Obama và ông Sang cho thấy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên vẫn là công việc còn đang trong giai đoạn chưa ngã ngũ.
Trước tiên, phần lớn những gì được bao gồm trong Tuyên bố Chung gồm chín điểm chỉ đơn thuần nhắc lại những lĩnh vực và cơ cấu hợp tác đã tồn tại sẵn. Đó là: Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư, Ủy ban Hợp tác Khoa học và Kỹ thuật, Đối thoại Chính sách Quốc phòng, và Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng.
Tuy nhiên, quan hệ đối tác toàn diện đã tạo ra cơ cấu đối thoại mới về ngoại giao và chính trị giữa Ngoại trưởng Mỹ và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam.
"Thỏa thuận mới này [đối tác toàn diện] giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không đạt được những điểm giống các thỏa thuận đối tác chiến lược chính thức khác [mà Việt Nam ký với các nước] và hiện còn thiếu tầm nhìn chiến lược so với quan hệ đối tác toàn diện của Việt Nam đàm phán với Úc"
Thứ hai, không có bản Kế hoạch Hành động hiện đi kèm thỏa thuận đối tác toàn diện. Thay vào đó, Tuyên bố Chung ghi rằng hai chính phủ sẽ tạo ra cơ chế mới để hợp tác riêng theo chín lĩnh vực: quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ thương mại và kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và y tế, các vấn đề hậu quả chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và khuyến khích nhân quyền, và văn hóa, thể thao, và du lịch.
Tựu chung, quan hệ đối tác mới sẽ đẩy mạnh hợp tác đôi bên về các mảng mậu dịchi và kinh tế, trong đó có việc hoàn tất thỏa thuận mậu dịch tự do Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và đặt nền tảng cho các đối thoại cấp bộ giữa hai nước.
Tuy nhiên, giáo sư Thayer kết luận rằng, thỏa thuận mới này [đối tác toàn diện] giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không đạt được những điểm giống các thỏa thuận đối tác chiến lược chính thức khác [mà Việt Nam ký với các nước] và hiện còn thiếu tầm nhìn chiến lược so với quan hệ đối tác toàn diện của Việt Nam đàm phán với Úc
Câu chuyện về sự đón tiếp của ông Obama với Chủ tịch Việt Nam tiếp tục là đề tài bàn luận, kể cả ở châu Á.
Báo Taipei Timeshôm 1/8 có bài trích bình luận của US Today nói Tổng thống Mã Anh Cửu của Đài Loan, nước đồng minh của Mỹ, đã không được Nhà Trắng đón tiếp long trọng bằng ông Trương Tấn Sang.


Thêm về tin này

zondag 30 december 2012

Hà Nội bắn rơi bao nhiêu B-52 vào tháng 12/1972 ?

Hà Nội bắn rơi bao nhiêu B-52?


Cập nhật: 16:43 GMT - thứ sáu, 28 tháng 12, 2012


Mảnh của pháo đài bay B-52 ở bảo tàng tại Hà Nội ngày nay
Bốn thập niên đã trôi qua kể từ chiến dịch không kích tàn khốc của Hoa Kỳ vào Hà Nội và Hải Phòng vào tháng 12/1972 nhưng hiện vẫn còn nhiều đánh giá không đồng nhất về con số phi cơ B-52 bị bắn rơi.
Quan điểm ai đã 'thắng' sau trận oanh tạc làm chết nhiều thường dân Bắc Việt Nam cũng vẫn còn nhiều khác biệt như trong phần tổng hợp sau:

Nhìn từ Hà Nội

Tại Việt Nam từ trước tới nay đã có các chi tiết khác nhau về số pháo đài bay B-52 của Hoa Kỳ bị Bắc Việt Nam bắn rơi ngay trên báo chí nhà nước.
Một bài trên trang web của Đảng Cộng sản Việt Nam về ‘ Bấm Trận Điện Biên Phủ trên không‘ hôm 14/02/2004 viết:
"Qua 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường (từ 18 đến 30-12-1972) quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52,"
"Thất bại này của Mỹ không chỉ đơn thuần là thất bại quân sự, mà là thất bại chiến lược toàn diện cả về quân sự lẫn chính trị."
"Cùng với những thắng lợi giành được trước đó, đặc biệt là trong cuộc tiến công chiến lược 1972 ở miền nam, thắng lợi của trận 'Điện Biên Phủ trên không' trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng đã góp phần buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi miền nam Việt Nam.
Sau bài báo đó ba năm, số 34 pháo đài bay B-52 của bị bắn hạ tiếp tục được trang web của Đài Tiếng nói Việt Nam nhìn lại trận oanh kích vào Giáng Sinh trong bài có tựa đề tiếng Anh ‘The Christmas bombings of Hanoi in retrospect’.
Nhưng trong một bài đăng năm 2012, báo Bấm Quân đội Nhân dân đã giảm con số B-52 xuống so với trước:
"Thất bại này của Mỹ không chỉ đơn thuần là thất bại quân sự, mà là thất bại chiến lược toàn diện cả về quân sự lẫn chính trị"
Báo Đảng Cộng sản Việt Nam
"Trong 12 ngày đêm từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ."
Nhận định về kết quả quân sự - chính trị của chiến dịch nhìn từ phía Hà Nội, tờ báo viết:
"Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30-12-1972, đi đến việc ký kết Hội nghị bốn bên về 'chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam' tại Pa-ri ngày 27-1-1973".
Đây là quan điểm cho rằng vì 'thất bại' do số thiệt hại quá lớn, Hoa Kỳ phải ngưng không kích và chấp nhận đàm phán.

Nhìn từ Hoa Kỳ

Đã có rất nhiều tài liệu của các nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ, các nhà bình luận và phân tích quân sự về chiến dịch Hoa Kỳ gọi là Linebacker II (trận Linebacker I hồi tháng 5/1972 chỉ nhằm để kiểm tra sức mạnh phòng không Bắc Việt).
Một trong số bài viết gần đây nhất, của Rebecca Grant trên trang Bấm Airforce Magazine tháng 12/2012 mô tả:
"Các đội bay của B-52 xuất kích cả thảy 729 lần trong đêm...Cho đến khi chiến dịch kết thúc, Bắc Việt Nam đã quỳ gối, nói như lời của Cố vấn an ninh quốc gia Henry A. Kissinger. Họ đã sẵn sàng ký vào văn bản hòa đàm gồm cả phần trao trả tù binh Mỹ,"
Bà Rebecca Grant cũng trích sử gia không quân Walter J. Boyne nói có tám phi công Mỹ "bị giế́t khi tham chiến hoặc chết vì vết thương, 25 mất tích, 33 bị bắt làm tù binh chiến tranh, và chỉ có 26 được cứu thoát trước khi rơi bị bắt sống".
Con số B-52 bị bắn hạ, theo nguồn tin này là 15.

Năm nay Việt Nam kỷ niệm 40 năm 'Điện Biên Phủ trên không'
Bản thân sử gia Walter J. Boyne trong một tài liệu đăng năm 1997 nói rằng trên thực tế, hai đội bay B-52 ở Guam và U Tapao lên kế hoạch cho 741 lần xuất kích nhưng 12 chuyến phải bỏ.
Nhìn chung, các giới ở Hoa Kỳ đến nay vẫn cho rằng Linebacker II mà Mỹ cho là chỉ có 11 ngày (the 11- Day War) đã đem lại 'thắng lợi quân sự' và đã buộc Bắc Việt quay lại bàn đàm phán vốn bị bế tắc ở Paris.

Theo BBC News

Bài trên trang tiếng Anh của Bấm BBC Magazine 'North Vietnam, 1972: The Christmas bombing of Hanoi' (24/12/2012) thì nhấn mạnh đến sự tàn khốc của trận mưa bom.
"Vào thời điểm đó 1600 người Việt Nam bị giết, theo số liệu của nhà chức trách cộng sản, mà con số thực có thể còn cao hơn,"
Nhưng bài viết cũng cho rằng trận tấn công "có thể đã giúp cho việc ký kết hòa ước một tháng sau đó".
Viết về Đêm Giáng Sinh khủng khiếp năm 1972, bài báo cho rằng vì sự chống trả quyết liệt của phía Bắc Việt Nam, "không lực Hoa Kỳ mất hai chiếc B-52 đêm đó, trong tổng số 15 chiếc".
"Một số phản lực cơ và máy bay hỗ trợ cũng bị phá trong vòng 11 ngày diễn ra Linebacker II."
"Linebacker II chấm dứt ngày 29 tháng 12 và đến ngày 8 tháng 1/1973, mọi bên đều đã có mặt trở lại phòng hòa đàm ở Paris."
Bài của BBC cũng nói có yếu tố tâm lý tác động đến quyết định của Tổng thống Richard Nixon khi quyết định nghe theo quan điểm của phe quân sự Mỹ cho ném bom Hà Nội bằng B-52.
Đó là vì "hình ảnh các phi công bị cầm tù và tra tấn ở miền Bắc và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình là một sự xấu hổ cho Washington. Ông Nixon đã chịu một sức ép phải làm sao đưa quân về nước."
"Hòa đàm Paris được ký vào cuối tháng đó, cho phép trao trả một số tù binh Mỹ và mở đường cho sự chấm dứt cuộc can dự quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam."


Thêm về tin này

zondag 22 juli 2012

Hà Nội biểu tình chống TQ lần ba

chủ nhật, 22 tháng 7, 2012
Người dân Hà Nội liên tiếp lên tiếng phản đối Trung Quốc

Sau một tuần gián đoạn, hôm Chủ nhật ngày 22/7 Hà Nội một lần nữa chứng kiến một cuộc biểu tình chống các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông.

Đây là lần xuống đường lần thứ ba của người dân Hà Nội trong mùa hè năm 2012 kể từ khi cuộc biểu tình đầu tiên xảy ra và ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng 7.



Cũng giống như hai lần trước, những người biểu tình xuất phát từ Nhà hát lớn và diễu hành qua các con phố trung tâm Hà Nội để hướng đến đích là Tòa Đại sứ Trung Quốc nằm trên phố Hoàng Diệu.

Các hình ảnh video được đưa lên mạng cho thấy hô những khẩu hiệu ‘đả đảo, đả đảo’ Trung Quốc xâm lược rất khí thế và lấn át cả tiếng loa phát thanh của chính quyền Hà Nội yêu cầu giải tán vì hành động biểu tình ‘chỉ làm phức tạp tình hình và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của thủ đô’.

Tiếng loa phóng thanh cũng giải thích với những người biểu tình về những hành động của Đảng và chính phủ trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

‘Diễn ra tốt đẹp’


Ông Nguyễn Hữu Vinh, người tham gia quan sát và chụp ảnh cuộc biểu tình hôm 22/7, nói với BBC rằng số lượng người dân xuống đường lần này ‘không quá đông cũng không ít’ và dao động ở mức ‘vài trăm người’.

"Trời rất nắng nôi khổ sở mà nhiều người vẫn đi từ đầu đến cuối. Tôi đánh giá cao lòng yêu nước của họ."
Nguyễn Hữu Vinh, người quan sát cuộc biểu tình

Tuy nhiên, theo một số nhân chứng khác thì số người tham gia tuần hành chỉ vào khoảng trên dưới 100 người. BBC không có mặt tại chỗ nên không thể kiểm chứng một cách độc lập.

Những người biểu tình đã hô những khẩu hiệu như ‘Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam’, ‘Biển là máu thịt của Việt Nam’ và ‘Kiên quyết giữ gìn biển đảo’, ông Nguyễn Hữu Vinh kể lại.

Theo ông Vinh nhận xét thì cuộc biểu tình lần ba này ‘đã diễn ra tốt đẹp’ với ‘khí thế mạnh mẽ’ và ‘tinh thần ngày càng cao’.

“Trời rất nắng nôi khổ sở mà nhiều người vẫn đi từ đầu đến cuối,” ông nói, “Tôi đánh giá cao lòng yêu nước của họ.”

Ông kể lại trường hợp một người mẹ bế con nhỏ đi cùng trên tay cầm khẩu hiệu ‘Tổ quốc gọi chúng con có mặt’ đã làm cho ông ‘rất xúc động’.

Người biểu tình đi trong tiết trời nóng bức
Người biểu tình hô các khẩu hiệu rất khí thế

“Tôi cảm thấy xấu hổ cho những vị tai to mặt lớn mà không dám nói gì trong tình hình Tổ quốc lâm nguy,” ông nói.

Theo lời ông Vinh thì cuộc biểu tình cũng gặp một số trở ngại như những người tụ tập ở Nhà hát Lớn bị yêu cầu giải tán hoặc bị hàng rào chắn chặn lại trên phố Tràng Tiền phía đầu Bờ Hồ.

‘Ngăn là phản động’


Tuy nhiên, cũng như các lần trước thì đoàn biểu tình đã không tiếp cận được Đại sứ quán Trung Quốc.

Trước địa điểm này chính quyền Hà Nội đã dựng hai lớp hàng rào sắt với rất nhiều công an trong nhiều sắc phục khác nhau, dân quân tự vệ và đoàn thanh niên cộng sản.

Hình ảnh trên mạng cho thấy ở hai phía hàng rào sắt thì người biểu tình đối diện với rất đông thanh niên trong đồng phục xanh của Đoàn thanh niên cộng sản.

Sau cuộc biểu tình ngày 8/7 thì chính quyền Hà Nội đã thực hiện cuộc vận động một số nhân vật nổi bật không tiếp tục xuống đường.

"Không một ai được ngăn cản lòng yêu nước của người dân. Đất nước này còn là ở lòng yêu nước của người dân chứ không ở đảng phái nào cả."
Nguyễn Hữu Vinh, người quan sát biểu tình

Truyền thông Hà Nội thì đăng những bài đả kích những người tham gia tích cực vào cuộc biểu tình hôm 8/7 như luật sư Lê Quốc Quân và cụ bà Lê Hiền Đức.

Bản thân ông Nguyễn Hữu Vinh cũng được Mặt trận Tổ quốc phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, nơi ông cư trú đến vận động thuyết phục.

“Không một ai được ngăn cản lòng yêu nước của người dân. Đất nước này còn là ở lòng yêu nước của người dân chứ không ở đảng phái nào cả,” ông nói với BBC và gọi những ai ngăn cản biểu tình chống Trung Quốc là ‘phản động’.

Khi được hỏi có e ngại những động thái sắp tới của chính quyền Hà Nội đối với ông hay không thì ông nói rằng ‘Được thể hiện lòng yêu nước thì dù có xả thân tôi cũng không tiếc’.


Thêm về tin này